Xu Hướng 1/2023 # Đa Dạng Hóa Đầu Tư Cho Rừng Đặc Dụng # Top 8 View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Đa Dạng Hóa Đầu Tư Cho Rừng Đặc Dụng # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Đa Dạng Hóa Đầu Tư Cho Rừng Đặc Dụng được cập nhật mới nhất trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Các khu rừng đặc dụng Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, giàu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái. Nhiều khu rừng đặc dụng đã và đang tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái với các hình thức khác nhau.

Đa dạng hóa đầu tư cho rừng đặc dụng – Bài 1

Hiện nay, có 61/176 khu (chiếm gần 35%), trong đó có 25/34 vườn quốc gia (chiếm 74%) đã thực hiện kinh doanh du lịch sinh thái. Tuy vậy, số lượng các khu rừng đặc dụng thực hiện kinh doanh du lịch sinh thái đang rất hạn chế, “lãng phí” tiềm năng tạo nguồn thu rừng.

Thực trạng nguồn thu từ du lịch sinh thái

Tiến sĩ Bùi Thị Minh Nguyệt, Đại học Lâm nghiệp cho biết: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2014 và Luật Lâm nghiệp năm 2017 khẳng định du lịch sinh thái là một trong ba chức năng nhiệm vụ quan trọng nhất của các vườn quốc gia, khu bảo tồn. Hiện cả nước có 24/34 vườn quốc gia đã thực hiện kinh doanh du lịch sinh thái, với các hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng: 37 tự tổ chức, 11 tổ chức liên doanh, liên kết, 13 cho thuê môi trường rừng…

Việc thúc đẩy, tạo cơ chế tăng nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước sẽ góp phần tạo bước đệm cho các vườn quốc gia, khu bảo tồn thực hiện phương án tự chủ. Trong đó, cơ chế quản lý tài chính phải tạo được động lực huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội hóa, kích thích tính năng động, sáng tạo của ban quản lý các vườn quốc gia, khu bảo tồn; khuyến khích lợi ích vật chất đối với các hoạt động, các sáng kiến tăng nguồn thu ngoài ngân sách, nhất là nguồn thu từ kinh doanh du lịch sinh thái.

Tại một số vườn quốc gia, hình thức cho thuê môi trường rừng đang góp phần thu hút lượng lớn khách và đóng góp tích cực vào việc tăng nguồn thu cho các vườn quốc gia (chưa tính đến chi phí họ tự bỏ ra để bảo vệ diện tích rừng được thuê).

Theo thống kê mới nhất của Tổng cục lâm nghiệp tại hội thảo “Tương lai rừng cộng đồng ở Việt Nam: Định hình và kiến nghị chính sách” diễn ra ngày 9/1/2020, tại Hà Nội, cho thấy trong 3 năm trở lại đây, hệ thống khu rừng đặc dụng đã đón tiếp 1.153.858 lượt khách (tăng 8% so với những năm trước), tốc độ phát triển bình quân trong 3 năm đạt 116,8% so với kế hoạch.

Về kết quả thực hiện hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam cho thấy, phân bố khách đến các vườn quốc gia và các vhu bảo tồn ở Việt Nam không đều. Một số vườn quốc gia có điều kiện thuận lợi về giao thông hoặc có sự hấp dẫn đặc biệt về tài nguyên du lịch có khả năng đón được lượng khách lớn và đều đặn qua các năm. Năm 2016, có 7 vườn quốc gia có số lượng khách và doanh thu từ nguồn thu phí và lệ phí trên 3 tỷ đồng gồm: Vườn quốc gia Ba Vì đón tiếp trên 241.000 lượt khách (doanh thu đạt 8,4 tỷ đồng); Vườn quốc gia Cát Tiên đón tiếp 31.000 lượt khách (doanh thu 9,3 tỷ đồng); Vườn quốc gia Cúc Phương đón 82.500 lượt khách (doanh thu 5,15 tỷ đồng); Vườn quốc gia Hoàng Liên đón 94.000 lượt khách (doanh thu đạt 6,3 tỷ đồng); Vườn quốc gia U Minh Thượng và Tràm Chim trên 3 tỷ đồng. Đặc biệt, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng vẫn tiếp tục dẫn đầu với việc đón tiếp một lượng khách lên đến 655.748 lượt, doanh thu đạt 68,5 tỷ đồng, tăng gần 26 tỷ đồng so với năm 2015 (42,3 tỷ đồng).

Nguyên nhân chênh lệch về số lượng khách, nguồn thu là do sự khác nhau về vị trí địa lý; về cơ sở hạ tầng, dịch vụ du lịch; trình độ tổ chức, quản lý, trình độ nhân lực, mức độ chuyên nghiệp trong hoạt động dịch vụ du lịch; hình thức kinh doanh, các loại hình du lịch sinh thái… Đây là những yếu tố quan trọng tạo nên sự hài lòng của du khách, tạo uy tín, thương hiệu của điểm đến du lịch, là lợi thế trong kinh doanh của Vườn quốc gia.

Về cơ cấu nguồn thu qua kết quả nghiên cứu tại 33 vườn quốc gia, khu bảo tồn cho thấy, nguồn thu từ du lịch sinh thái (thu phí tham quan, dịch vụ du lịch sinh thái, thuê môi trường rừng kinh doanh du lịch sinh thái, liên doanh liên kết phát triển du lịch sinh thái) còn khiêm tốn nhưng phần đóng góp vào ngân sách nhà nước và đầu tư lại cho bảo tồn thời gian qua đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các đơn vị được giao quản lý rừng. Ngoài ra, còn các giá trị rất lớn khác chưa được tính đến đó là nâng cao sự hiểu biết của khách du lịch về tài nguyên rừng, giải quyết việc làm cho người dân địa phương, quảng bá những giá trị của rừng đến cho các thế hệ.

Thuê môi trường rừng – còn nhiều thách thức

Ông Nguyễn Quốc Dựng, Viện Điều tra, Quy hoạch rừng (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) cho biết, hiện có 13 khu vực được cho thuê môi trường rừng nhưng mới thí điểm cho thuê môi trường rừng ở Vườn Quốc gia Ba Vì (từ năm 2003), Vườn Quốc gia Cúc Phương, Budop – Núi Bà (hiện đang xây đề án). Các hình thức cho thuê môi trường rừng (rừng đặc dụng và rừng phòng hộ) chủ yếu là du lịch và phát triển dược liệu. Cùng với đó, vẫn thiếu chương trình, đề án chung để thực hiện hoạt động tăng nguồn thu đầu tư cho rừng đặc dụng và rừng phòng hộ như ở Vườn Quốc gia Ba Vì có 22 khu sinh thái trong Vườn Quốc gia, trong đó một số khu có diện tích 1/2 trong Vườn Quốc gia, 1/2 ở bên ngoài nên không triển khai được việc cho thuê môi trường rừng hay chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Điều 32 Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định nguồn thu từ cho thuê môi trường rừng “do các bên tự thỏa thuận nhưng không thấp hơn 1% tổng doanh thu thực hiện trong năm của bên thuê môi trường rừng”. Quy định rất bất cập dẫn đến việc không thu được (nếu doanh nghiệp lỗ) hoặc thu quá thấp từ cho thuê môi trường rừng so với các dịch vụ khác, ông Nguyễn Quốc Dựng cho biết thêm.

Theo Báo cáo của Vườn Quốc gia Ba Vì, Vườn Quốc gia cho thuê 11 khu vực sinh thái trong Vườn Quốc gia chỉ thu được 800 triệu đồng (chiếm 4% nguồn thu từ du lịch sinh thái) trong khi chỉ nguồn thu từ tiền giữ xe ở Vườn Quốc gia đã là 1 tỷ đồng. Hay ở Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng cho thuê môi trường Động Thiên Đường được 1 tỷ đồng/năm so với 300 tỷ đồng thu từ các dịch vụ du lịch hàng năm của Vườn Quốc gia này…

Có thể nhận thấy, để phát triển kinh doanh du lịch sinh thái nhằm gia tăng nguồn thu, nâng cao khả năng tự chủ tài chính, ngoài các yếu tố về lợi thế, tiềm năng, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên cần nhận được sự quan tâm sâu sát của các cấp, ngành về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo nhân lực phục vụ du lịch sinh thái, quản lý du lịch sinh thái bền vững.

Quảng Nam Đa Dạng Hóa Sản Phẩm Du Lịch Mới

Thời gian qua, ngành Du lịch Quảng Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Những chỉ tiêu về khách, thu nhập, tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳng định vai trò của ngành Du lịch Quảng Nam trong nền kinh tế của tỉnh, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường, giữ vững an ninh, quốc phòng.

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, Quảng Nam tiếp tục đa dạng các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch thông qua việc đầu tư, nâng cấp hạ tầng cơ sở phục vụ phát triển du lịch; xúc tiến, thu hút đầu tư vào những điểm có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, tạo sự liên kết vùng và phát triển cân bằng giữa vùng Đông và vùng Tây, tăng cường lồng ghép trong phát triển du lịch, tạo ra mối liên kết giữa du lịch sinh thái và du lịch văn hóa…

Việc đưa vào khai thác những sản phẩm du lịch mới nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng khả năng phục vụ và thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú, kích thích khả năng chi tiêu của du khách.

Tại hội nghị, tỉnh Quảng Nam cũng chính thức khai trương 4 sản phẩm du lịch mới nhằm tạo sức hút của ngành “công nghiệp không khói” của tỉnh, đó là: du lịch cộng đồng Chiêm Tây, làng nghệ thuật cộng đồng Tam Thanh, địa đạo Kỳ Anh và chợ quê Tiên Phước.

Bên cạnh Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm và hai Di sản Văn hóa thế giới Hội An và Mỹ Sơn, Quảng Nam còn có cả không gian rộng lớn phía Tây để phát triển du lịch dựa vào hệ thống núi rừng trùng điệp và các nét văn hóa đặc trưng của các tộc người bao đời sinh sống. Ngoài ra, phía Nam cầu Cửa Đại với bờ biển dài đầy tiềm năng, nhiều bãi tắm đẹp kết hợp các điểm du lịch mới… sẽ là không gian đầy tiềm năng hứa hẹn trở thành vùng đất thịnh vượng để phát triển ngành công nghiệp không khói.

PV

Phát Triển Du Lịch Tây Nguyên Nhờ Tính Đa Dạng Của Văn Hóa Bản Địa

Sự suy giảm đa dạng văn hóa ở Tây Nguyên là thách thức lớn đối với sự phát triển các loại hình du lịch văn hóa ở Tây Nguyên.

Thực trạng phát triển du lịch ở Tây Nguyên với văn hóa bản địa

Chúng ta đang xây dựng và triển khai nhiều dự án về nông nghiệp và phát triển nông thôn, về Tây Nguyên… với mục tiêu phát huy giá trị của văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc, gắn với phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái. Chúng ta đang xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, xã hội bằng cách dựa vào tiềm năng mô hình làng du lịch văn hóa, nhằm phát huy giá trị văn hóa dân tộc song song với phát triển kinh tế gia đình. Phát triển nông thôn hay phát triển du lịch văn hóa ở Tây Nguyên nên xuất phát từ một nền tảng nội sinh của chủ thể văn hóa thể hiện qua các đặc trưng về ẩm thực, nhà mồ, điêu khắc, dân ca, dân vũ… Ở Tây Nguyên hiện nay, Lâm Đồng được nhận xét là phát triển du lịch văn hóa bản địa khá rõ nét, khá bài bản. Du lịch văn hóa ở Đà Lạt – Lâm Đồng do chính quyền tổ chức, còn các tỉnh khác mang tính tự phát, do các doanh nghiệp tư nhân thực hiện. Thành phố Buôn Ma Thuột (Đăk Lăk) đã quy hoạch làng du lịch, nhưng đến bây giờ là 11 năm, người dân tham gia vẫn chưa được giao đất. Gia Lai, Kon Tum, vẫn còn văn hóa nhà rông rất rõ nét là do các dân tộc bản địa còn chiếm tỷ lệ lớn, tình trạng cộng cư chưa diễn ra mạnh mẽ như ở Đăk Lăk, hay Lâm Đồng.

Giải pháp đặt ra cho du lịch Tây Nguyên

Cần tạo điều kiện để đồng bào có không gian thể hiện được đặc trưng của từng dân tộc, mới có thể nói đến bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa, tăng cường tính hấp dẫn đối với các di sản văn hóa quan trọng. Các vấn đề nghiên cứu tổng thể, gắn các tài nguyên du lịch, kiểm kê các di sản văn hóa một cách có hệ thống theo hướng quảng bá, phổ biến qua kênh du lịch cũng là việc cần làm ngay. Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng đang sinh sống, làm việc ở Tây Nguyên hiểu sâu sắc về giá trị, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa và con người Tây Nguyên đối với sự phát triển kinh tế – xã hội hiện nay; đồng thời bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, có tâm huyết gắn bó với văn hóa – xã hội Tây Nguyên để phát huy tốt giá trị văn hóa gắn với phát triển xã hội; tạo điều kiện cho các chủ thể văn hóa được hưởng lợi từ các dự án, chính sách về Tây Nguyên.

Đồng bào dân tộc Lạch ở Đà Lạt làm rất tốt

Có một thực tế đang diễn ra là hoạt động của các nhóm cồng chiêng của dân tộc Lạch ở huyện Lạc Dương – Đà Lạt (Lâm Đồng) trong hoạt động du lịch của Khu du lịch Lang Bian tạo ra cơ hội để khôi phục và giữ gìn các điệu cồng, điệu chiêng, bài dân vũ, dân ca, hát kể… cùng với đó là nghệ thuật ẩm thực, nghi lễ cộng đồng, phong tục truyền thống… Đó chính là tác động của sự phát triển du lịch văn hóa đối với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản ở cộng đồng thể hiện qua việc thu được nguồn lợi kinh tế từ bán các sản phẩm văn hóa vật thể cho du khách và trở thành chất xúc tác cho người dân tự sưu tầm, bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Phát huy lợi thế tính đa dạng của văn hóa Tây Nguyên

Tính đa dạng của văn hóa Tây Nguyên là lợi thế, là tiềm năng quan trọng cho phát triển du lịch văn hóa ở Tây Nguyên. Để phát triển du lịch mà vẫn bảo tồn và duy trì được vốn văn hóa đặc sắc của Tây Nguyên, cần xây dựng được khung pháp lý cần thiết để quản lý các loại hình du lịch mới và bảo vệ quyền lợi của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, và khi ban hành và thực thi các chính sách về kinh tế – xã hội… cần xem xét đến các vấn đề đặc trưng của văn hóa Tây Nguyên, tạo điều kiện cho người dân tham gia giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc mình thông qua hoạt động du lịch…

Trong Hội thảo: “Văn hóa và sự phát triển du lịch Tây Nguyên”, nhà văn Nguyên Ngọc nói: “Bàn về du lịch Tây Nguyên không chỉ bàn về một “nghề” như bao nghề khác, ở những nơi khác. Du lịch Tây Nguyên trong bối cảnh này cần được coi là một phần cốt lõi trong định hướng phát triển mới của Tây Nguyên. Du lịch Tây Nguyên phải là du lịch văn hóa, du lịch sinh thái – thực ra là một, vì không gian văn hóa Tây Nguyên chính là môi trường sinh thái đó. Vốn “tài nguyên” đặc biệt của Tây Nguyên chính là văn hóa, là truyền thống văn hóa đặc sắc được hòa mình vào tự nhiên”.

Lê Hoa

Đa Dạng Ấn Phẩm Quảng Bá Du Lịch

Quảng bá du lịch thông qua các ấn phẩm được xem là cầu nối thông tin giữa du khách với ngành du lịch địa phương nhằm tạo điều kiện cho du khách trong và ngoài nước biết đến những địa danh du lịch, nét văn hóa nổi bật của Đà Nẵng.

Các ấn phẩm du lịch được trưng bày tại các hội nghị, hội thảo xúc tiến du lịch.

Bà Huỳnh Thị Hương Lan, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến du lịch thành phố cho biết, tại hầu hết các thành phố, quốc gia trên thế giới, ấn phẩm du lịch được xem là phương tiện quan trọng để giới thiệu, quảng bá du lịch. Chính vì vậy, các ấn phẩm du lịch của địa phương luôn được chú trọng đầu tư từ nội dung đến hình thức. Hiện cẩm nang du lịch Đà Nẵng đã được xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ như: tiếng Việt, Anh, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Nga. Hệ thống ấn phẩm do Trung tâm Xúc tiến du lịch thiết kế cung cấp những thông tin thiết yếu cho du khách như: các tuyến điểm du lịch, hệ thống giao thông, điểm mua sắm, điểm vui chơi giải trí…

Hiện có 2 loại ấn phẩm mà Trung tâm Xúc tiến du lịch giới thiệu tới du khách mỗi năm, thứ nhất là loại cơ bản có thể sử dụng thời gian dài như bản đồ, cẩm nang du lịch, tập gấp ẩm thực… vì nội dung không thay đổi nhiều sau mỗi năm, được in số lượng lớn mỗi năm từ 20.000 – 30.000 bản; loại thứ hai là các tập gấp được in mới mỗi năm giới thiệu về lễ hội và sự kiện diễn ra trong năm đó. Đối với loại ấn phẩm thứ hai, Trung tâm Xúc tiến du lịch phối hợp với các công ty lữ hành và một số ứng dụng cung cấp về dịch vụ du lịch như Traveloka, Agoda… để giới thiệu tới khách du lịch. Tuy nhiên, với các sự kiện như Lễ hội Pháo hoa quốc tế (DIFF) hoặc các hội nghị, hội thảo quốc tế sẽ do đơn vị chủ quản tự in ấn ấn phẩm để giới thiệu tới du khách.

Tại các hội chợ, hội thảo, gian hàng du lịch Đà Nẵng thường xuyên trưng bày nhiều ấn phẩm về tiềm năng phát triển của thành phố, chương trình, sản phẩm du lịch của những doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố. Bên cạnh các kênh quảng bá du lịch trên mạng Internet, truyền thông… thì ấn phẩm du lịch luôn có chỗ đứng riêng và đóng vai trò quan trọng. Vì vậy, theo bà Huỳnh Thị Hương Lan, ngành du lịch thành phố sẽ tiếp tục chú trọng đổi mới thiết kế, đa dạng cách truyền tải nội dung để mỗi ấn phẩm du lịch luôn mang chất lượng tốt nhất.

Bài và ảnh: MAI QUẾ

Cập nhật thông tin chi tiết về Đa Dạng Hóa Đầu Tư Cho Rừng Đặc Dụng trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!