Xu Hướng 2/2024 # Đặc Điểm Tâm Lý Của Khách Du Lịch Theo Tín Ngưỡng Tôn Giáo # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đặc Điểm Tâm Lý Của Khách Du Lịch Theo Tín Ngưỡng Tôn Giáo được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tâm lý khách du lịch theo tôn giáo

Tâm lý khách du lịch theo đạo Hồi

Điều khách sạn cần làm khi đón tiếp du khách Hồi giáo

Rất nhiều người theo các tín ngưỡng tôn giáo, từ đó ảnh hưởng đến thói quen, cách sinh hoạt của họ. Vì vậy, làm sao để mọi đối tượng du khách hài lòng không đơn giản. Từ chủ khách sạn đến người quản lý cũng như nhân viên khách sạn cần hiểu rõ tâm lý khách du lịch theo tôn giáo. Cùng Nhà thầu thi công Nội thất Vinapad tìm hiểu điều này qua các thông tin sau.

Tâm lý khách du lịch theo tôn giáo

Tôn giáo có ảnh hưởng không nhỏ tới nhu cầu, thói quen của khách du lịch trên khắp thế giới. Khi theo một đạo giáo nào đó, các tín đồ có thể chỉ sử dụng các dịch vụ phù hợp hoàn toàn với đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo của họ. Từ đó, yêu cầu dịch vụ cũng khác nhau ở mỗi bộ phận du khách. Vì vậy, khi tiếp nhận khách lưu trú đặt phòng và sử dụng dịch vụ, quản lý khách sạn cần nắm rõ đặc điểm tâm lý của khách. Từ tôn giáo, tới đặc trưng dân tộc, văn hóa của họ để định hướng nhân viên có cách phục vụ phù hợp nhất.

Lấy một số ví dụ về tâm lý du khách theo tôn giáo. Với người theo đạo Phật thường ưa thích sự yên tĩnh và dễ hòa hợp với người của các đạo khác. Họ cũng tuân theo nhiều tập tục kiêng kỵ như kiêng hoặc hạn chế ăn thịt (không ăn thịt vào các ngày rằm, mồng 1…), tránh nói năng thô lỗ, to tiếng…

Còn người theo đạo Thiên Chúa tin tưởng hoàn toàn vào Chúa trời (Giê Su). Họ thường chân thật, tử tế, trung thực và tốt bụng. Tương tự các tín đồ đạo giáo khác, người Thiên Chúa giáo cũng có nhiều tập tục kiêng kỵ, lễ nghi văn hóa đặc trưng. Chẳng hạn, họ thường xuyên cầu nguyện, thứ 6 hàng tuần là ngày họ thường đi lễ nhà thờ. Bên cạnh đó, họ rất tôn sùng đạo nên các khách sạn cần chú ý trong giao tiếp nên cẩn trọng để tránh làm họ phật ý.

Tâm lý khách du lịch theo đạo Hồi

Thị trường khách du lịch Hồi giáo luôn chiếm thị phần không nhỏ. Theo thống kê, trên thế giới hiện có khoảng 1,8 tỷ người theo đạo Hồi – chiếm hơn 24% dân số toàn cầu. Đối tượng du khách này có thể mang lại lợi nhuận khá cao nếu biết làm hài lòng họ.

Khách theo đạo Hồi là một thị trường khách đặc biệt với khá nhiều điều kiêng kỵ. Tâm lý của khách du lịch Hồi giáo phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của đạo giáo này. Đây là những tín đồ thờ thần A la, tin tưởng tuyệt đối, có tập tục kiêng ăn thịt vào tháng 3 hàng năm. Họ luôn tuân thủ chặt chẽ các quy định của Lễ hội, ăn chay nhịn đói, lễ hiếu sinh.

Thời gian quan trọng nhất trong năm với người Hồi giáo là Tháng Ramadan – tháng thứ 9 theo lịch Ả rập. Trong suốt tháng lễ này, tất cả tín đồ theo đạo Hồi không được ăn, uống, hút thuốc… (không đưa bất kể thứ gì vào miệng) vào ban ngày (từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn). Nhưng có các đối tượng sau được miễn trừ: phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 5 tuổi, người đi du lịch ở nước ngoài mà quốc gia đó không lấy đạo Hồi làm quốc giáo. Đặc biệt, cầu nguyện là việc không thể thiếu với đàn ông đạo Hồi. Họ cầu nguyện 5 lần/ ngày, quay mặt về hướng Đông, nơi có thánh địa Mecca.

Trang phục truyền thống của người Hồi giáo là áo dài màu trắng và quần trắng, khi làm lễ thường đội chiếc mũ nhỏ màu trắng. Đàn ông Hồi giáo được khuyến khích để ria mép hoặc râu, khi đi làm công sở mặc âu phục vest. Trang phục của phụ nữ Hồi giáo có phần khắt khe hơn, trùm kín từ đầu đến chân, không để lộ tóc trước mặt người lạ. Với riêng Thổ Nhĩ Kỳ – do ảnh hưởng của văn hóa châu Âu nên phụ nữ dần được ăn mặc thoải mái hơn như phụ nữ phương Tây.

Điều khách sạn cần làm khi đón tiếp du khách Hồi giáo

Các khách sạn chuyên đón và phục vụ khách Hồi giáo cần chú ý đảm bảo đủ các yêu cầu cần thiết. Về cơ sở vật chất, nên có nơi cầu nguyện, khu ăn uống riêng biệt, dịch vụ spa phù hợp. Khách sạn cần có chứng chỉ Halal nghĩa là “được cho phép” về chế biến và phục vụ ẩm thực cho người Hồi giáo. Bên cạnh đó cần đào tạo nhân viên các kiến thức cần thiết.

Những du khách theo Hồi giáo có nhu cầu sử dụng các dịch vụ phù hợp với văn hóa dân tộc, tín ngưỡng của họ. Từ đồ nội thất, màu sắc, cách sắp đặt nội thất, vật dụng trên bàn ăn. Cho đến cách phục vụ, cách giao tiếp, ứng xử và cách ăn uống, món ăn đều có đặc trưng riêng. Các khách sạn cần chú ý từ cách ứng xử, giao tiếp, phục vụ cho đến đồ nội thất, trang trí, các vật dụng được sắp xếp phù hợp để có được sự hài lòng của khách.

Nhân viên khách sạn cũng cần chú ý về ẩm thực, người Hồi giáo chỉ ăn thịt dê, cừu, trâu, bò, gia cầm… và không ăn thịt heo, huyết động vật, không uống rượu.

Kinh Doanh Du Lịch Tại Các Điểm Tôn Giáo, Tín Ngưỡng

Tuy nhiên, cùng với sự tham gia của hoạt động du lịch là quá trình thương mại hóa các giá trị tâm linh, dẫn đến nhiều mâu thuẫn nội tại. Đó là mâu thuẫn giữa những người tham gia vào hoạt động tại các điểm tôn giáo, tín ngưỡng khi mục đích của họ không đồng nhất. Đó là mâu thuẫn về việc sử dụng và đáp ứng các dịch vụ cho du khách. Đó là mâu thuẫn về chi phí và đóng góp cho các công tác nảy sinh khi có hoạt động du lịch. Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất mà khi xem xét khai thác bất cứ một điểm tôn giáo, tín ngưỡng nào phục vụ hoạt động du lịch cần quan tâm giải quyết.

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng du lịch tâm linh rất lớn với hệ thống các đình, đền, chùa, miếu, quán, lăng … dọc theo chiều dài của đất nước, rộng cùng 54 dân tộc anh em và sâu trong bốn ngàn năm lịch sử. Các nhà kinh doanh du lịch cũng đang từng bước khám phá và khai thác các giá trị này với một số các công trình mới có quy mô như khu Bái Đính Tràng An (Ninh Bình), khu Đại Nam Quốc Tự (Bình Dương), công viên Tâm Linh (Đà Nẵng) … Để việc kinh doanh du lịch tại cả các công trình cũ và mới đi đúng hướng, bài viết đề cập đến một số vấn đề vướng mắc trên để các nhà quy hoạch, quản lý có được cái nhìn chiến lược trong từng bước phát triển loại hình du lịch này ở nước ta.

Vấn đề mâu thuẫn giữa những con người tham gia vào hoạt động du lịch tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng:

Mâu thuẫn này thường nảy sinh khi có sự trái ngược về mục đích và quyền lợi giữa những con người tham gia vào hoạt động du lịch các các điểm này.

Thứ nhất, mâu thuẫn không chỉ ở các điểm tôn giáo, tín ngưỡng mà như ở bất cứ điểm du lịch mới khai thác nào khác là giữa du khách và dân địa phương. Sự xuất hiện ồ ạt của những người từ nơi khác đến vào một thời điểm làm thay đổi bầu không khí và nhịp điệu sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương. Sau đó họ cũng để lại những hệ quả mà địa phương không mong muốn như ô nhiễm môi trường từ xả thải, biến đổi tập quán và các giá trị văn hóa từ hành vi,… Hơn nữa, như một vấn đề tâm lý, việc chia sẻ đức tin, chia sẻ “thần hộ mệnh” của mình cho những đối tượng khác nhau khiến người dân bản địa không cảm thấy hài lòng trong việc tiếp đón du khách. Trong một số trường hợp, họ chỉ coi du khách như những người mang đến một phần lợi ích kinh tế cho họ trong việc kinh doanh một số các dịch vụ mà du khách cần tại điểm. Nếu các hoạt động này tự phát và với thái độ chủ quan của dân địa phương sẽ dẫn tới tình trạng “chèo kéo”, “chặt chém” du khách. Điều này làm cho hình ảnh địa phương trong con mắt khách du lịch càng trở nên tồi tệ hơn.

Để giải quyết vấn đề này, cần nhận định rõ vai trò của dân địa phương trong việc xây dựng văn hóa ứng xử tại điểm du lịch. Họ là người chủ duy nhất của các di sản trên địa bàn của họ, trong đó có các công trình tín ngưỡng tâm linh. Bởi vậy cần trao quyền làm chủ cho họ trong mọi hoạt động, trong đó có hoạt động kinh doanh du lịch theo các bước sau:

(i) Ý kiến và quan điểm của người dân địa phương cần được tham khảo trong ý tưởng quy hoạch du lịch ở bất cứ di sản nào. Đặc biệt nhạy cảm đối với các công trình tôn giáo, tín ngưỡng, bởi nếu không có sự tham vấn ý kiến địa phương, đôi khi dự án vi phạm phải những điều cấm kỵ và mãi mãi không thể thực hiện được trong sự phản đối quyết liệt của toàn bộ dân trong vùng.

(ii) Người dân địa phương cần được tham gia vào từng lộ trình cũng như mọi hoạt động của dự án quy hoạch du lịch. Mọi cơ hội lao động từ dự án phải luôn ưu tiên người dân bản địa: từ quản lý, giám sát; hướng dẫn, thuyết minh đến những đơn vị cung cấp dịch vụ bán lẻ. Lợi nhuận thu được từ du lịch cũng cần có sự phân chia bình đẳng cho sự tham gia của chính quyền địa phương.

Để người dân địa phương thấy được vai trò, trách nhiệm và lợi ích của họ, song song với việc thực hiện dự án là mở các lớp giáo dục về kiến thức, đào tạo, huấn luyện về kỹ năng. Từng người dân phải thấy được họ có thể phát huy khả năng của họ trong lĩnh vực gì để đăng ký và qua sát hạch với ban quản lý dự án. Điều quan trọng nhất là từng người dân phải nhận thức được vốn tài sản tinh thần vô giá mà họ đang nắm giữ để trở thành người truyền bá, người dẫn dắt du khách tới chân giá trị của đức tin như mục đích họ mong muốn đến đây.

Thứ hai, một mâu thuẫn chỉ nảy sinh tại các điểm tôn giáo, tín ngưỡng là giữa các tín đồ và những du khách phi tôn giáo. Trước đây chùa là nơi dành cho các tín đồ Phật giáo ăn chay, niệm Phật. Đông đảo nhất là vào dịp lễ hội khi các con nhang, đệ tử thập phương hành hương về đây thể hiện sự thành tâm với đức Phật. Ngày nay, khi du lịch tâm linh phát triển, du khách đến đây không chỉ với mục đích thờ tự, đôi khi họ đến chỉ để tìm hiểu về kiến trúc, thưởng ngoạn phong cảnh, thỉnh kinh pháp hay ngồi thiền, ăn chay … như một sự trải nghiệm những điều mới lạ và dành khoảng thời gian tĩnh tại cho tâm hồn. Không đến với mục đích chính, đôi khi họ bị các tín đồ coi như những kẻ quấy rối, gây phiền hà, làm ảnh hưởng đến bầu không khí thanh tịnh của thế giới tâm linh. Để giải quyết vấn đề này, ban quản lý dự án quy hoạch du lịch cần kêu gọi tinh thần tự nguyện tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch của các tín đồ, đặc biệt trong việc hướng dẫn, thuyết minh. Sự trải lòng mình với du khách cũng chính là con đường hiệu quả nhất giúp du khách giác ngộ các chân lý của đức tin mà họ theo đuổi. Mâu thuẫn sẽ trở nên nghiêm trọng với những du khách và tín đồ của những tôn giáo vốn đối lập và kỳ thị nhau hoặc lợi dụng tôn giáo cho mục đích chính trị. Tuy nhiên, cái thiện căn mà bất cứ tôn giáo nào cũng hướng đến thể hiện trong hành vi ứng xử của các tín đồ với du khách sẽ là biện pháp tốt nhất để hóa giải điều này.

Vấn đề mâu thuẫn giữa con người luôn khó phân định và giải quyết trong bất cứ lĩnh vực đời sống xã hội nào. Nhưng trong kinh doanh du lịch khi sức hấp dẫn được tạo ra bởi chính hành vi của con người tại nơi đón tiếp thì việc giải quyết được vấn đề này đã trở thành yếu tố cốt lõi để thu hút ngày càng đông du khách đến đây.

Vấn đề đáp ứng các dịch vụ du lịch tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng:

Khách du lịch ngày nay đến các điểm tôn giáo, tín ngưỡng không chỉ đơn thuần với mục đích thờ tự hay tìm hiểu một nét kiến trúc văn hóa, nghe kể về một huyền thoại gắn với di tích mà cần có sự trải nghiệm thực tế tại điểm. Để có được sự trải nghiệm này cần sự hỗ trợ của các dịch vụ bổ sung. Để sự hỗ trợ này trở nên chu đáo, bài bản và làm hài lòng du khách cần sự quy hoạch đồng bộ.

Đầu tiên và quan trọng nhất để tạo ấn tượng tốt đẹp với du khách là khu vực tiếp đón. Khu vực này bao gồm đầy đủ các dịch vụ như:

(i) Đường vào rộng rãi, thuận tiện, có phân làn cho từng loại xe cơ giới, có biển chỉ dẫn rõ ràng, dễ hiểu.

(ii) Bãi đỗ xe đủ rộng với sự phân loại các phương tiện như ô tô lớn, nhỏ, xe máy,… đảm bảo an ninh.

(iii) Trung tâm thông tin tại cổng là nơi bán vé tham quan cũng như cung cấp tài liệu, thông tin, thuyết minh viên, phương tiện, phục trang và những yêu cầu phải tuân thủ tại điểm.

(iv) Lối vào được sắp xếp quy củ, trật tự sẽ làm tăng tính linh thiêng cho điểm tôn giáo. Một số nơi phân chia du khách thành 2 làn: một làn cho khách du lịch theo đoàn và một làn cho khách lẻ (đa phần là các tín đồ) sẽ hạn chế mâu thuẫn nảy sinh và tăng cường sự hợp tác giữa họ.

Trong khuôn viên của công trình, cần phân định rõ khu vực nguyên bản – khu vực tuyệt đối không có sự tham gia của các công trình xây mới, phục vụ cho việc bảo tồn – và khu vực dịch vụ du lịch. Tại các khu vực này, cần xây dựng các nhà chờ phục vụ đồ ăn, thức uống, nhà vệ sinh, quầy bán đồ lưu niệm, đặc sản địa phương. Ở một số điểm, các nhà cung ứng quy hoạch một khu vực ngoài trời hoặc xây dựng một hội trường lớn dành cho các sinh hoạt cộng đồng tôn giáo hay tín ngưỡng, là nơi gặp mặt của các tín đồ với du khách, là điểm tổ chức các hoạt động tâm linh cho du khách như nghe giảng kinh pháp, tọa thiền hay học và thưởng thức các đồ ăn chay…

Các hoạt động này ngày nay đã trở thành các hoạt động chính trong các chương trình du lịch đến các điểm tín ngưỡng tâm linh. Phát sinh từ nhu cầu của du khách, không chỉ mong muốn khám phá các giá trị về môi trường tự nhiên và văn hóa nhân văn mà còn mong muốn chạm tới sự cảm hóa của đức tin thông qua các khóa tu, các bài thiền, công tác từ thiện với trẻ mồ côi, người tàn tật … Từ đó mà một số chương trình và loại hình du lịch đặc trưng ra đời như loại hình du lịch Thiền, chương trình các khóa tu mùa hè dành cho thanh thiếu niên hiện nay đã được triển khai ở Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc), chùa Hoằng Pháp (Thành phố Hồ Chí Minh), chùa Phước Long (Bình Định)…

Bên cạnh đó, để các sản phẩm du lịch khai thác các giá trị tín ngưỡng tâm linh thực sự mang lại hiệu quả cần sự quan tâm quy hoạch vùng đệm. Đó là khu vực xung quanh nơi cung cấp cơ sở lưu trú, nhà hàng, trạm trung chuyển phương tiện vận chuyển, cơ sở y tế, trạm xăng dầu, các cửa hàng và đại lý bán lẻ … Việc đáp ứng được đầy đủ các dịch vụ này cần sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ trong xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch từ chính quyền đến địa phương, từ nhà quản lý đến từng đơn vị kinh doanh du lịch.

3) Vấn đề chi phí cho công tác quản lý tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng:

Hoạt động du lịch sẽ kéo theo các vấn đề phát sinh như sự xuống cấp của di tích, ô nhiễm môi trường bởi sự xả thải và tiếng ồn do du khách gây ra, sự phá hoại do sự thiếu ý thức của du khách như viết, vẽ bậy, sờ tay hay lấy trộm, ăn cắp di vật chỉ để làm một món đồ lưu niệm. Thậm chí việc du khách ăn mặc, ứng xử không đúng với phép tắc trong không gian linh thiêng của công trình tâm linh cũng được coi là một ảnh hưởng xấu tới cảnh quan của điểm. Bởi vậy, vấn đề đặt ra là phải quản lý để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực do du lịch mang lại.

Trước tiên, cần sự nhận định rõ ràng về quan điểm. Đối với những xuống cấp do áp lực của tự nhiên như thời gian, biến đổi môi trường hay những áp lực có thể lường trước được do sự tăng lên của số lượng du khách cần một chiến lược quản lý dài hạn. Còn đối với những vấn đề có thể kiểm soát được như hành vi của du khách cần những biện pháp quản lý kịp thời.

Tuy nhiên tất cả các hoạt động quản lý này cần những chi phí không nhỏ. Thông thường lợi nhuận lớn thu được từ các dịch vụ trực tiếp tại điểm “chảy” vào “túi” của các nhà kinh doanh nhỏ lẻ thức thời. Chỉ một phần thuế họ chi trả là phục vụ cho các hoạt động chung của điểm và của địa phương. Còn các khoản thu khác từ vé tham quan hay sự quyên góp của du khách không đáng kể so với chi phí quản lý, đặc biệt là chi phí cho công tác bảo tồn và nâng cấp di tích định kỳ. Bởi vậy, vấn đề đặt ra là cần xây dựng mối quan hệ đối tác giữa ban quản lý tài nguyên với các nhà cung ứng dịch vụ. Các nhà quản lý du lịch tại điểm cần được trao quyền tuyển chọn những nhà cung ứng dịch vụ cho mình theo hình thức đấu thầu mà đơn vị có kế hoạch đóng góp lợi ích cho việc bảo tồn được ưu tiên. Các nhà cung ứng dịch vụ cũng cần nhận thức rõ quan điểm phát triển bền vững. Đó là cần sự đầu tư lại cho việc phục hồi di sản và quản lý các hành vi phá hủy tài nguyên để duy trì sức hấp dẫn lâu dài cho điểm du lịch. Mối quan hệ này cần được xây dựng theo mô hình đầu vào – đầu ra trong sản xuất sản phẩm. Trong đó, đầu vào là các dịch vụ được cung cấp để thỏa mãn nhu cầu du khách. Tất cả được vận hành theo quy trình và nguyên tắc do bộ máy quản lý du lịch tại điểm đề ra để cho ra đời các sản phẩm du lịch hoàn hảo.

(i) Chi phí lâu dài cho bảo tồn và khôi phục di sản.

(ii) Chi phí cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh tại điểm.

(iii) Chi phí cho các chiến dịch quảng bá lớn.

(iv) Các chi phí khác.

Bởi vậy để hoạt động du lịch tại điểm có hiệu quả, không phát sinh mâu thuẫn về quyền lợi giữa các bên tham gia cần một bộ máy quản lý có trách nhiệm và nắm vững quan điểm của phát triển bền vững:

(i) Bảo vệ môi trường.

(ii) Khai thác tối ưu các giá trị kinh tế.

Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất trong quá trình khai thác một điểm tôn giáo, tín ngưỡng phục vụ kinh doanh du lịch. Để những điểm tôn giáo, tín ngưỡng không ngủ yên trong những giá trị mà lịch sử mang lại cho nó, cần trao cho nó một sức sống đương đại. Sức sống đó được mang lại bởi hoạt động du lịch. Nhưng để đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra có hiệu quả, không làm tổn hại đến những gì mà quá khứ để lại, không khơi nguồn cho những mâu thuẫn xã hội, cần một tầm nhìn chiến lược trong công tác quản lý. Bài viết đưa ra một số hướng giải quyết cho những vấn đề cụ thể thường phát sinh tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng có sự tham gia của hoạt động du lịch với mong muốn hoạt động du lịch tâm linh bước đầu nhen nhóm ở Việt Nam sẽ có một hướng đi đúng mục đích – con đường giúp con người tìm về với bản thể, vươn tới những điều tốt đẹp hơn. Đây là xu hướng của du lịch hiện đại trên thế giới và nếu được quản lý đúng đắn ở Việt Nam nó sẽ mang đến những giá trị mới cho du lịch nước nhà.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Peter Robinson, Sine Heitmann & Dr Peter Dieke (2011) – Research themes for tourism (Toàn cảnh nghiên cứu về du lịch) – CABI Publishing.

[2] Dallen J. Timothy & Daniel H. Olsen (2006) – Tourism, Religion and Spiritual Journeys (Du lịch và các chuyến đi tâm linh và tôn giáo) – Routledge Publishing.

Nguồn: Bài đã đăng trên Tạp chí Văn hóa học (ISSN 1859 – 4859), số 3, năm 2012

Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Người dân Việt Nam có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời. Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình.

Bên cạnh đó, một phong tục, tập quán lâu đời phổ biến nhất của người Việt và một số dân tộc thiểu số khác là việc thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ những người đã mất. Ở các gia đình người Việt, nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên và việc cúng giỗ, ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân rất được coi trọng. Bên cạnh việc cúng giỗ tổ tiên ở từng gia đình, dòng họ, nhiều làng ở Việt Nam có đình thờ thành hoàng. Tục thờ thành hoàng và ngôi đình làng là đặc điểm độc đáo của làng quê Việt Nam. Thần thành hoàng được thờ trong các đình làng có thể là các vị thần linh hoặc là những nhân vật kiệt xuất có nhiều công lao to lớn như những ông tổ làng nghề hoặc anh hùng dân tộc có công “khai công lập quốc”, chống giặc ngoại xâm. Ngoài ra, người Việt còn thờ các dạng thần như thần bếp, thần thổ công…

Ở Việt Nam có mặt hầu hết các tôn giáo lớn với đông đảo tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo hay một số tôn giáo bản địa như Cao Đài, Hòa Hảo.

Phật giáo: Có hai phái: Đại thừa và Tiểu thừa. Phái Đại thừa du nhập vào Việt Nam thế kỷ thứ II trước Công nguyên; Phái Tiểu thừa du nhập vào Việt Nam thế kỷ thứ II sau Công nguyên. Từ thế kỷ thứ X, Phật giáo phát triển nhanh chóng, được coi là quốc đạo và đạt đỉnh cao ở thời Lý-Trần. Phật giáo hiện nay ở Việt Nam có khoảng 10 triệu tín đồ, với 20.000 chùa thờ Phật, hơn 38.000 tăng ni; nhiều trung tâm đào tạo các chức sắc tôn giáo.

Công giáo: được các giáo sỹ Phương Tây truyền vào Việt Nam từ thế kỷ XV. Thiên chúa giáo đầu tiên được phổ biến trong các cư dân ven biển Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… sau đó đi vào các vùng châu thổ sông Hồng và các thành phố; hiện nay có khoảng 6 triệu tín đồ, 6.000 nhà thờ; 15.000 chức sắc.

Tin Lành: du nhập vào Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, tới năm 1920 đạo Tin Lành mới bắt đầu được truyền giáo tại khắp các vùng của Việt Nam và hiện có khoảng 1 triệu tín đồ, 500 nhà thờ Tin Lành.

Đạo Hồi: truyền vào Việt Nam qua cộng đồng người Chăm vào thế kỷ X-XI. Hiện nay Đạo Hồi ở Việt Nam có khoảng 100 nhà thờ Hồi giáo, 70.000 tín đồ, 700 vị chức sắc tại các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Có hai khối người Chăm theo Hồi giáo: Hồi giáo chính thống bao gồm những người Chăm theo Hồi giáo ở Châu Đốc, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai; Hồi giáo không chính thống (hay còn gọi là Chăm Bà Ni) gồm những người Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận.

Đạo Cao Đài: Là một tôn giáo bản địa, sáng lập năm 1926 tại Tây Ninh. Đạo Cao Đài tôn thờ ba đấng tối cao Đức Phật, Chúa Giê-xu và Đức Cao Đài. Hiện nay có khoảng 2,3 triệu tín đồ, 7.100 chức sắc, 6.000 đền thờ, trung tâm là tỉnh Tây Ninh.

Đạo Hòa Hảo: còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo, là một tôn giáo bản địa, được sáng lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang. Đạo Hòa Hảo tập hợp nhiều tín đồ ở miền Tây Nam Bộ, số tín đồ vào khoảng 1,2 triệu người.

Quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của công dân Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và được bảo đảm trên thực tế. Hiến pháp năm 1992 của nước CHXHCN Việt Nam, điều 70 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp quy khác. Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo có hiệu lực từ 15/11/2004, đã thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước Việt Nam, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi công dân – không phân biệt có hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo – đều bình đẳng trước pháp luật; có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào; được bày tỏ đức tin tôn giáo của mình; được thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt phục vụ lễ nghi tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo hộ cơ sở vật chất, tài sản của cơ sở tín ngưỡng tôn giáo như chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, điện, đền, trụ sở của tổ chức tôn giáo, trường lớp tôn giáo, kinh bổn và các đồ dùng thờ cúng của tín ngưỡng, tôn giáo. Ngày 1/3/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2005/NĐ_CP để hướng dẫn một số điều trong Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo. Đối với đạo Tin lành, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 01/2005/CT-TTg ngày 4/2/2005 về một số công tác đối với đạo Tin lành nhằm tạo điều kiện cho hoạt động của các tín đồ, chức sắc đạo Tin lành.

Tham gia vào các sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam có khoảng 20 triệu người, gần 62.500 chức sắc, nhà tu hành và 22.354 cơ sở thờ tự tôn giáo; các cơ sở đào tạo tôn giáo được mở rộng. Hiện nay, tại Việt Nam có 10 trường Đại học Tôn giáo, 3 Học viện Phật giáo, 6 Đại Chủng viện Thiên chúa giáo, 1 Viện Thánh kinh thần học của Tổng liên hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, 40 trường đào tạo các giáo chức tôn giáo ở các cấp độ khác nhau, các ấn phẩm tôn giáo, nhất là kinh sách được xuất bản theo yêu cầu của các tôn giáo.

Tín đồ tôn giáo hoàn toàn tự do trong việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo, bày tỏ và thực hành đức tin tôn giáo của mình. Chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo được tự do trong việc thực hành các hoạt động tôn giáo theo giáo luật. Việc phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc được thực hiện theo quy định của giáo hội. Các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp nhân trong những năm qua đều có sự phát triển về số lượng cơ sở giáo hội, về tín đồ, chức sắc nhà tu hành, về việc xây dựng mới hoặc tu bổ các cơ sở thờ tự, bảo đảm kinh sách, các hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và giáo lý, giáo luật. Các chức sắc, nhà tu hành được tham gia học tập, đào tạo ở trong nước và nước ngoài hoặc tham gia các sinh hoạt tôn giáo ở nước ngoài. Nhiều tổ chức tôn giáo nước ngoài đã vào giao lưu với các tổ chức tôn giáo Việt Nam.

Theo Website ĐSQ VN tại Rumani

Sự Ảnh Hưởng Của Tôn Giáo, Tín Ngưỡng Đến Du Lịch Việt Nam

1. Tôn giáo và tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam             Ðạo Phật             Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 2, đến đời Lý (thế kỷ thứ 11) Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh và được coi là hệ tư tưởng chính thống. Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong nhân dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống xã hội, để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hoá, kiến trúc. Nhiều chùa, tháp được xây dựng trong thời kỳ này.             Cuối thế kỷ thứ 14, Phật giáo phần nào bị lu mờ, nhưng những tư tưởng của Phật giáo còn ảnh hưởng lâu dài trong đời sống xã hội và sinh hoạt của Việt Nam. Hiện nay, số người theo đạo Phật và chịu ảnh hưởng của đạo Phật khoảng trên 70% số dân cả nước.             Công giáo             Ðược du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 17, nơi tập trung nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam hiện nay là vùng Bùi Chu – Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình) và vùng Hố Nai – Biên Hoà (tỉnh Ðồng Nai). Số lượng tín đồ theo đạo Kitô chiếm khoảng trên 5 triệu người.             Ðạo Tin Lành             Ðược du nhập vào Việt Nam vào năm 1911 nhưng ít được phổ biến. Hiện nay, các tín đồ theo đạo Tin Lành sống chủ yếu ở vùng Tây Nguyên. Tại Hà Nội cũng có nhà thờ đạo Tin Lành tại phố Hàng Da. Số tín đồ theo đạo Tin Lành khoảng trên 400 nghìn người.             Ðạo Hồi             Ðạo Hồi du nhập vào Việt Nam khá sớm, tín đồ đạo Hồi chủ yếu là người Chăm ở miền Trung , có khoảng hơn 60 nghìn người.             Ðạo Cao Ðài             Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1926. Toà thánh Tây Ninh là trung tâm hội tụ những người theo đạo Cao Ðài ở miền Nam. Số tín đồ theo đạo này khoảng hơn 2 triệu người.             Ðạo Hoà Hảo             Xuất hiện ở Việt Nam năm 1939. Số tín đồ theo đạo này khoảng trên 1 triệu người, chủ yếu ở miền Tây Nam bộ.             Tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu             Trong đời sống tâm linh của người Việt Nam đã từng tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Người Việt có tục thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng làng, thờ Phật, thờ các thần linh, thờ các anh hùng có công với nước, với dân…, đặc biệt thờ Mẫu (Mẹ).             Thờ Mẫu có nguồn gốc của tục thờ thần thời cổ đại, thờ các nữ thần núi, rừng, sông, nước. Sau này, Mẫu được thờ ở các đền, phủ, và Mẫu luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất.  Thờ Mẫu có nguồn gốc ở miền Bắc, vào đến miền Nam, “Ðạo” này đã hoà nhập “Mẫu” với các nữ thần trong tín ngưỡng địa phương: Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Huế), Thánh Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh)             Trong thực tế việc thờ cúng của “Ðạo” Mẫu có sự hội nhập các hình thức của nhiều tôn giáo khác. Ngày nay, tín ngưỡng dân gian được coi trọng nên nhiều đền, phủ đã và đang được phục hồi và hoạt động sôi nổi. 2. Thực trạng hoạt động du lịch tâm linh             Tuy nhiên, cùng với sự tham gia của hoạt động du lịch là quá trình thương mại hóa các giá trị tâm linh, dẫn đến nhiều mâu thuẫn nội tại. Đó là mâu thuẫn giữa những người tham gia vào hoạt động tại các điểm tôn giáo, tín ngưỡng khi mục đích của họ không đồng nhất. Đó là mâu thuẫn về việc sử dụng và đáp ứng các dịch vụ cho du khách. Đó là mâu thuẫn về chi phí và đóng góp cho các công tác nảy sinh khi có hoạt động du lịch. Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất mà khi xem xét khai thác bất cứ một điểm tôn giáo, tín ngưỡng nào phục vụ hoạt động du lịch cần quan tâm giải quyết.             Việt Nam là quốc gia có tiềm năng du lịch tâm linh rất lớn với hệ thống các đình, đền, chùa, miếu, quán, lăng … dọc theo chiều dài của đất nước, rộng cùng 54 dân tộc anh em và sâu trong bốn ngàn năm lịch sử. Các nhà kinh doanh du lịch cũng đang từng bước khám phá và khai thác các giá trị này với một số các công trình mới có quy mô như khu Bái Đính Tràng An (Ninh Bình), khu Đại Nam Quốc Tự (Bình Dương), công viên Tâm Linh (Đà Nẵng) … Để việc kinh doanh du lịch tại cả các công trình cũ và mới đi đúng hướng, bài trao đổi đề cập đến một số vấn đề vướng mắc trên để các nhà quy hoạch, quản lý có được cái nhìn chiến lược trong từng bước phát triển loại hình du lịch này ở nước ta.             Nắm bắt được nhu cầu của đông đảo người dân, các công ty du lịch lữ hành đã đầu tư vào lĩnh vực du lịch tâm linh. Du lịch tâm linh không chỉ đơn thuần là hoạt động hành hương, tôn giáo tín ngưỡng thuần túy mà còn là động lực thúc đẩy sự giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội. Đó cũng là cách thức để thế hệ hôm nay bày tỏ sự tưởng nhớ đối với công lao của các bậc tiền bối.             Du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Do đó, việc sử dụng có trách nhiệm và bền vững các giá trị văn hóa và tự nhiên trong phát triển du lịch tâm linh sẽ mang lại cơ hội việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại. Mô hình du lịch này hiện đang rất phát triển tại nhiều nước theo Phật giáo trên thế giới như Nepal, Ấn Độ và các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, Myanmar…              Hầu hết các địa phương ở nước ta đều có những điểm du lịch tâm linh như: đền Hùng (Phú Thọ), chùa Hương (Hà Nội), chùa Bái Đính và nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình), chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên-Huế), núi Bà Đen và Thánh thất Cao Đài (Tây Ninh)… Một trong những tỉnh đi đầu và thành công trong loại hình du lịch này là Ninh Bình nơi có chùa Bái Đính, ở đây, người dân địa phương được chủ động tham gia vào các hoạt động phục vụ khách du lịch tại các điểm du lịch tâm linh: chèo đò, xích lô, bán hàng lưu niệm, hướng dẫn, tiêu thụ sản vật địa phương, phục vụ ăn uống… mang lại nguồn thu đáng kể. .              Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam đã cho thấy sự quan tâm của Việt Nam trước sự phát triển của loại hình du lịch này. Trong quá trình phát triển du lịch tâm linh phải luôn gắn với phát huy các giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường, cảnh quan để du khách có thể cảm nhận được nét đẹp văn hóa của con người ở vùng đất đó. Bên cạnh đó, phải có sự tham gia của chính người dân địa phương trong việc bảo tồn và gìn giữ các giá trị di sản văn hóa của địa phương, tạo sự kết nối để hình thành các tuyến du lịch tâm linh chuyên đề tạo ra những trải nghiệm hết sức ấn tượng cho du khách.             Việt Nam có gần 8.000 lễ hội truyền thống, trong đó có rất nhiều lễ hội lớn mang tầm quốc gia. Cả nước có khoảng 40.000 khu di tích, thắng cảnh, tập trung chủ yếu ở đền, chùa, miếu mạo, tòa thánh, đài, lăng tẩm, phủ, khu tưởng niệm, trong đó hơn 3.000 địa danh được xếp hạng di tích quốc gia. Đi kèm di tích là các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, thể thao như thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân anh dùng dân tộc, danh nhân, báo hiếu, chiêm bái, tụng kinh, thiền, yoga.             Chính kho tàng văn hóa và tín ngưỡng phong phú trên đã tạo hình cho cốt cách và bản sắc của dân tộc Việt Nam, làm nên nét riêng cho du lịch Việt Nam.             Văn hóa và tín ngưỡng là sản phẩm cốt lõi của du lịch tâm linh. Phát triển du lịch tâm linh chính là biến văn hóa thành hàng hóa. Do vậy, những lợi ích của ngành kinh tế này không chỉ về kinh tế mà hơn hết là giá trị tinh thần.             Theo Ts Dương Văn Sáu, Trưởng khoa Văn hóa Du lịch, Đại học Văn Hóa Hà Nội, một vài bộ phận công chúng do chưa có sự hiểu biết đúng đắn về giá trị của các di sản văn hóa và tín ngưỡng đã đánh đồng việc đi chùa, đi lễ, hát văn, hầu đồng là mê tín dị đoan. Dưới góc nhìn văn hóa, những phong tục, truyền thống và tín ngưỡng thuần Việt không chỉ mang giá trị nghệ thuật, mà còn là bản sắc dân tộc. Một số đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.             Du lịch tâm linh có thể xem là một công cụ đặc hữu giúp xóa đi cái nhìn khiên cưỡng về di sản văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng. Du lịch tâm linh còn là cách tiếp cận hữu hiệu giúp nâng cao hiểu biết của công chúng về giá trị nghệ thuật của loại hình di sản phi vật thể này. Thông qua hoạt động du lịch, du khách được trực tiếp tiếp xúc, thẩm nhận, và trải nghiệm, từ đó nuôi dưỡng và phát triển các giá trị tâm linh tín ngưỡng từ trong tiềm thức của mình.             Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cho biết các điểm du lịch tâm linh thường gắn với đền, chùa, lăng tẩm, tòa thánh và lễ hội. Cả nước có gần 500 ngôi chùa được xếp hạng di tích quốc gia. Đây chính là những điểm thu hút du khách tới tham quan, trải nghiệm, chiêm bái, nghe giảng và trải nghiệm đời sống thiền tu. Đạo Phật và các tôn giáo, tín ngưỡng chính thống khác đều hướng con người tới giá trị Chân – Thiện – Mỹ.             Những trải nghiệm tâm linh tại nơi thờ tự giúp con người thư giãn, đạt tới sự cân bằng trong tâm hồn. Hòa mình vào không khí thân thiện, cởi mở của lễ hội cổ truyền cũng giúp con người dễ hòa hợp với nhau hơn. Vì vậy, du lịch tâm linh giúp phát triển hành vi hướng thiện, nâng cao tinh thần đoàn kết, hướng về cội nguồn, xây dựng xã hội hài hòa, tốt đẹp.             Trong bối cảnh thế giới đang ngày đối mặt với nhiều thách thức về chính trị, tôn giáo và môi trường, văn hóa và tín ngưỡng sẽ là sợi dây kết nối con người với nhau. Du lịch tâm linh góp phần xây dựng mối quan hệ thân thiện, khuyến khích tình bằng hữu, giúp vượt qua các thành kiến văn hóa và tôn giáo. Có thể xem du lịch tâm linh là công cụ kiến tạo hòa bình, Hòa thượng nói.             Những năm qua, ngành du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó có sự đóng góp to lớn và bền vững từ du lịch tâm linh. Trong quy hoạch phát triển du lịch tổng thể, gồm bốn nội dung: du lịch sinh thái, du lịch thành thị, du lịch biển đảo và du lịch văn hóa – tâm linh – lịch sử, thì dòng thứ tư này có vị trí đặc biệt quan trọng. Năm 2024, ngành du lịch phục vụ 62 triệu du khách nội địa. Riêng du khách đến các địa điểm du lịch tâm linh chiếm tới một phần ba.             Theo Ts Dương Văn Sáu, chiến lược phát triển du lịch của bất kỳ quốc gia nào cũng lấy chính người dân sở trị làm gốc. Nước ta có hơn 90 triệu dân. Thu nhập bình quân đầu người tăng hàng năm. Đời sống tinh thần ngày càng được chú trọng, dẫn tới nhu cầu du lịch ngày càng cao. Tâm lý người Việt lại trọng tín ngưỡng. Hoạt động du lịch tâm linh vừa đáp ứng nhu cầu thư giãn, vừa tìm hiểu các trang lịch sử, phong tục, tập quán, tín ngưỡng thông qua các di tích và lễ hội. Vì vậy, đẩy mạnh phát triển du lịch tâm linh chính là đánh trúng tâm lý du khách nội địa.             Tâm linh và các giá trị di sản văn hóa tín ngưỡng gắn bó và tồn tại song hành cùng dân tộc từ hàng ngàn năm nay. Còn con người thì còn tôn giáo tín ngưỡng. Các di sản văn hóa, tín ngưỡng thuần Việt không chỉ được thể hiện qua các loại hình nghệ thuật, lễ hội dân gian, bài học lịch sử, mà còn ăn sâu vào đời sống dân gian của người Việt. “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”, “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng Ba” chính là những lời nhắc nhở các thế hệ về công ơn của Đức thánh Trần, thánh Mẫu Liễu Hạnh và các Vua Hùng.             Truyền thống và tín ngưỡng sẽ thổi hồn vào di sản văn hóa. Du lịch tâm linh hay bất cứ loại hình du lịch nào khác sẽ vững chắc hơn nếu lấy các giá trị cốt lõi, trong đó có di sản văn hóa và tín ngưỡng truyền thống làm bản lề, và dựa vào người dân của chính dân tộc mình, Ts Dương Văn Sáu đánh giá.             Việt Nam có 11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là di sản thế giới, trong đó có 9 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, 2 di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Những di sản văn hóa và tín ngưỡng này chính là những giá trị làm nên nét riêng biệt của du lịch Việt Nam.             Một du khách người Mỹ tại khu di tích chùa Hương nói: “Tôi đến Việt Nam không phải để các bạn chiều lòng chúng tôi. Tôi đến để xem văn hóa bản địa của các bạn, những điều chúng tôi không có. Cho nên, các bạn muốn lôi cuốn chúng tôi thì hãy làm những gì như các bạn vẫn làm hàng nghìn năm nay”.             Giá trị văn hóa tín ngưỡng truyền thống là thế mạnh, làm nên sức hấp dẫn cho du lịch Việt Nam. Ngành du lịch cần giới thiệu du khách đến với giá trị đích thực của các di sản văn hóa và tín ngưỡng truyền thống từng vùng miền. Mỗi tour du lịch tâm linh cần đọng lại trong tâm trí du khách, đặc biệt là du khách quốc tế một cách sâu sắc và riêng biệt và khi đó, số du khách đến Việt Nam sẽ không dừng lại ở 10 triệu lượt, Ts Dương Văn Sáu nói. 3. Giải pháp nhằm phát triển bền vững loại hình  du lịch tâm linh             Ngành kinh tế du lịch cũng như nhiều ngành kinh tế khác, muốn phát triển trước hết, nó phải dựa vào nguồn tài nguyên du lịch (còn được gọi là nguồn lực để phát triển du lịch). Nhìn chung, những điểm du lịch tôn giáo đã và đang được khai thác du lịch tôn giáo (hay du lịch tâm linh) nhưng vấn đề là làm thế nào để khai thác nguồn lực tôn giáo tại các điểm du lịch tôn giáo nói trên theo hướng bảo tồn và phát huy các giá trị của chúng để có thể khai thác bền vững theo tinh thần của Luật Du lịch Việt Nam 2005: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”             Để phát triển du lịch tôn giáo bền vững ở đây, theo chúng tôi cần có những điều kiện cơ bản như sau:             Đảm bảo việc bảo tồn tốt các điểm du lịch tôn giáo tại địa phương. Chúng ta biết rằng, ngành du lịch được mệnh danh là một ngành “công nghiệp không khói”, “con gà đẻ trứng vàng”, “xuất khẩu tại chỗ” v.v… Du lịch đem lại lợi ích kinh tế nhưng nó cũng đem lại những tác động có hại đến các điểm du lịch tôn giáo như làm biến đổi môi trường tại chỗ của các điểm du lịch tôn giáo, các điểm tham quan xuống cấp.             Bên cạnh việc bảo tồn tốt các điểm du lịch tôn giáo, chúng ta còn phải phát huy giá trị của các điểm du lịch tôn giáo bằng cách nâng cao nhận thức của người dân tại chỗ về các điểm du lịch tôn giáo trong vùng. Song song đó là nâng cao nhận thức của du khách hành hương, tham quan về các điểm du lịch tôn giáo mà họ đến tham quan. Mọi người đều thấy rằng các địa điểm du lịch tôn giáo mà họ đến tham quan là có ý nghĩa, có giá trị trong chuyến đi của họ. Người dân tại chỗ thì nhận thức được rằng những điểm du lịch tôn giáo trong vùng của họ là những tài sản quý giá có thể sinh lợi mà họ cần gìn giữ để khai thác hiệu quả lâu dài.             Có sự phối hợp quản lý tốt giữa chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng của ngành du lịch và các đơn vị khai thác các điểm du lịch tôn giáo. Trong cả nước, sự phối hợp quản lý giữa chính quyền địa phương và các ngành chức năng và các đơn vị khai thác du lịch tôn giáo vẫn chưa có sự phối hợp đồng bộ làm cho các điểm du lịch tôn giáo xuống cấp, mất sự thu hút vốn có của nó bởi các tệ nạn ăn xin, mất an ninh trật tự hoặc là sự cấm đoán dè chừng của chính quyền địa phương làm cho sản phẩm du lịch bị gián đoạn.             Chuyên môn hóa lực lượng lao động chuyên khai thác du lịch tôn giáo: Chúng ta biết rằng nhiều tài nguyên du lịch được kết tinh trong sản phẩm du lịch bán cho khách cần phải được diễn giải khi khách tiêu thụ sản phẩm. Đây là một khâu rất quan trọng trong quá trình cung cấp sản phẩm. Tài nguyên tín ngưỡng tôn giáo cần phải được diễn giải nhiều hơn để du khách có thể thấu hiểu được tôn giáo bản địa, tại địa phương mà họ đến tham quan. Thông qua các khóa đào tạo kỹ năng và kiến thức cho lực lượng lao động phục vụ các chương trình du lịch tôn giáo để khi khách tham gia vào các tour du lịch tôn giáo, du lịch hành hương đến các điểm du lịch tôn giáo trên để đảm bảo du khách được cung cấp những sản phẩm du lịch tôn giáo tốt nhất, thỏa mãn nhu cầu của họ. Việc chuyên môn hóa lực lượng lao động để khai thác du lịch tôn giáo ở Việt Nam là chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều lao động phục vụ khách trực tiếp trong các chương trình du lịch tôn giáo, tại các điểm du lịch tôn giáo còn chưa nắm rõ được những giá trị tại các điểm du lịch tôn giáo mà họ cung cấp cho du khách, khiến cho du khách không nhận ra hết những giá trị độc đáo tại các điểm du lịch tôn giáo mà họ đến. Tôi tin rằng, nếu chúng ta có những lực lượng lao động được đào tạo về du lịch tôn giáo tốt, khả dĩ cung cấp cho du khách những sản phẩm mang tính giá trị tôn giáo cao thì sẽ có nhiều khách tham gia vào các chương trình du lịch tôn giáo hơn. Một phần của việc chuyên môn hóa lực lượng lao động làm việc tại các điểm du lịch tôn giáo này phải lấy từ lực lượng tại chỗ. Một khi ngành du lịch cung cấp được những lợi ích thiết thực nhất cho cộng đồng địa phương như tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, đóng góp một phần lợi nhuận để phát triển cộng đồng địa phương thì chúng ta có được thuận lợi lớn để phát triển du lịch tôn giáo tại địa phương.             Đối với những tín đồ của một tôn giáo, thì việc hành hương đến những thánh địa tôn giáo là một nhu cầu tâm linh không thể thiếu khi họ có điều kiện. Họ sẵn sàng chi trả tối đa để thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Đối với những khách du lịch khác (khách du lịch bình thường khác trong hoặc ngoài nước), việc họ đến tham quan các thánh địa tôn giáo là một nhu cầu bình thường với những động cơ thông thường như tìm hiểu, nghiên cứu các tín ngưỡng, tôn giáo hoặc chỉ với mục đích rất bình thường là do hiếu kỳ mà tới..             Giá trị đầu tiên và quan trọng nhất của tín ngưỡng, tôn giáo là sự cố kết cộng đồng. Tôn giáo như là vật biểu trưng trung gian phát huy tác dụng đảm bảo sự liên hợp hòa hài giữa thế gian và siêu thế gian, xã hội và vũ trụ, phàm tục và thiêng liêng, và trên cơ sở đó, cũng đảm bảo sự liên hợp hòa hài giữa các thành phần xã hội với nhau, giữa các con người với nhau, vượt trên những mâu thuẫn cá biệt, những va chạm cá nhân. Giá trị này không chỉ khu biệt ở trong nước hay cộng đồng của một tôn giáo cụ thể mà còn có giá trị phổ quát đối với nhân loại.             Giá trị kế đến của tôn giáo là giáo dục, hướng thượng các thành viên trong cộng đồng. Bất kỳ tôn giáo nào cũng tác dụng giáo dục những thành viên trong cộng đồng sống hài hòa, đoàn kết, có ích và làm lợi cho cộng đồng, và ngoài ra, nó còn hướng con người tới những giá trị tốt đẹp như chân, thiện, mỹ, làm thăng hoa đời sống cá nhân và cộng đồng. Đề cao sự sáng tạo của các cá nhân trong cộng đồng. Chúng ta biết rằng, nhu cầu sáng tạo là một nhu cầu vốn có của mỗi cá nhân con người.             Nhu cầu tìm hiểu, học tập, nghiên cứu xem xét những tín ngưỡng bản địa của các tộc người là một nhu cầu có thực của khách du lịch. Khách du lịch đến những vùng đất lạ, họ có nhu cầu tìm hiểu phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, những quan niệm sống của các tộc người địa phương dù những giá trị đó có giá trị phổ quát toàn cầu hay chỉ là những giá trị trong nội bộ của tôn giáo, tín ngưỡng. 4. Kết luận             Trong thời đại hiện nay, dù là phát triển kinh tế nói chung hay phát triển kinh tế du lịch nói riêng đều phải nhắm đến định hướng phát triển bền vững, đảm bảo được lợi ích kinh tế cũng như các mục tiêu về môi trường, xã hội và nhất là về con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của mọi sự phát triển. Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng đã nhận ra phát triển bền vững là một yêu cầu cấp bách và đã định hướng tại Đại hội Đảng lần thứ XI, thông qua Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững… Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải tạo môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu… Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị-xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”             Ngoài ra, như tôi đã trình bày, để khai thác được hết những giá trị phổ quát của tôn giáo nói chung, những giá trị đặc thù của từng tôn giáo nói riêng, thì chúng ta phải có những đội ngũ nhân viên am hiểu về du lịch tôn giáo, du lịch tâm linh, đặc biệt là những người trực tiếp làm việc với khách trong hành trình du lịch tôn giáo như hướng dẫn viên theo chương trình, thuyết minh viên tại các điểm du lịch tôn giáo. Chúng ta có tài nguyên du lịch tôn giáo đa dạng và phong phú, nhưng chúng ta không có lực lượng lao động lành nghề thì chúng ta không thể khai thác tốt được các giá trị của tôn giáo trong hoạt động du lịch được             Đây là những vấn đề tiêu biểu nhất trong quá trình khai thác một điểm tôn giáo, tín ngưỡng phục vụ kinh doanh du lịch. Để những điểm tôn giáo, tín ngưỡng không ngủ yên trong những giá trị mà lịch sử mang lại cho nó, cần trao cho nó một sức sống đương đại. Sức sống đó được mang lại bởi hoạt động du lịch. Nhưng để đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra có hiệu quả, không làm tổn hại đến những gì mà quá khứ để lại, không khơi nguồn cho những mâu thuẫn xã hội, cần một tầm nhìn chiến lược trong công tác quản lý. Bài viết đưa ra một số hướng giải quyết cho những vấn đề cụ thể thường phát sinh tại điểm tôn giáo, tín ngưỡng có sự tham gia của hoạt động du lịch với mong muốn hoạt động du lịch tâm linh bước đầu nhen nhóm ở Việt Nam sẽ có một hướng đi đúng mục đích – con đường giúp con người tìm về với bản thể, vươn tới những điều tốt đẹp hơn. Đây là xu hướng của du lịch hiện đại trên thế giới và nếu được quản lý đúng đắn ở Việt Nam nó sẽ mang đến những giá trị mới cho du lịch nước nhà.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1)    Luật Du lịch 2005 & Văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị Quốc gia 2013. 2)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2011: Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, NXB Khoa học Xã hội. 3)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2012: Tín ngưỡng & Văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, NXB Trẻ. 4)   Ngô Đức Thịnh (cb) 2013: Văn hóa thờ Nữ thần-Mẫu ở Việt Nam và Châu Á – Bản sắc và Giá trị, NXB Thế giới.

Phân Loại Đặc Điểm Tâm Lý Khách Du Lịch

Tâm lý khách du lịch là nhu cầu, sở thích, tâm trạng, thái độ…của du khách. Việc nắm bắt được tâm lý khách du lịch sẽ giúp các hướng dẫn viên phục vụ du khách tốt hơn và đây là một trong những yếu tố rất quan trọng quyết định đến sự thành công, đánh giá năng lực chuyên môn, năng lực giao tiếp của hướng dẫn viên du lịch trong quá trình dẫn tour.

Phân loại tâm lý khách du lịch 1. Tâm lý khách du lịch theo giới tính 1.1. Khách du lịch là nữ

Có độ nhạy cảm, tinh tế và tế nhị

Thích mua sắm

Tính toán tiền nhanh, thận trọng trong việc mua sắm

Phụ nữ Châu Á thường e dè hơn phụ nữ Châu Âu

1.2. Khách du lịch là nam

Tính tình cởi mở, chi tiêu thoáng, thích mạo hiểm, khám phá

Thích ăn của lạ, dùng đồ sang, tốt

2. Tâm lý khách du lịch theo lứa tuổi 2.1. Du khách là người cao tuổi 2.2. Khách du lịch là trẻ em

Tính cách hiếu động, nghịch ngợm, mải chơi, liều lĩnh

Hay bắt chước người lớn và bạn bè, không biết tính toán trong chi tiêu

3. Tâm lý khách du lịch theo châu lục 3.1. Tâm lý người châu Á

Đời sống tình cảm kín đáo, nặng tình

Ăn uống rất cầu kỳ và ngồi lâu

Chi tiêu hay tính toán, tiết kiệm

Xưng hô thân mật, thích mời chào vồn vã

Tôn trọng lễ nghi, tín nghĩa, chú trọng vấn đề chào hỏi

Kín đáo, dè dặt trong giao tiếp, ít bộc lộ cá tính

3.2. Tâm lý người châu Âu

Sống thực tế, cởi mở, đề cao chủ nghĩa cá nhân

Tác phong nhanh nhẹn, giờ giấc chuẩn xác

Không thích nói chuyện về đời tư, song phẳng, làm việc có kế hoạch

Chú trọng các nghi thức giao tiếp

3.3. Tâm lý người châu Phi 3.4. Tâm lý người châu Mỹ 4. Tâm lý khách theo quốc gia dân tộc Người Mỹ

Nước Mỹ là nơi tập hợp nhiều dân tộc thành hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Đặc điểm khách du lịch người Mỹ rất đa dạng và phức tạp. Họ có một số đặc điểm tâm lý chung như sau:

Thông minh, thủ đoạn, thích phô trương

Năng động, thực dụng. Mọi hành động của họ đều được cân nhắc kỹ và dựa trên nguyên tắc lợi ích thực tế.

Giao tiếp rộng, hòa đồng, không khách sáo hay câu nệ hình thức

Làm việc nghiêm túc, nhanh chóng.

Tính cách cởi mở, nhiệt tình, thoải mái

Người Mỹ ít bắt tay: nam bắt tay khi được giới thiệu hoặc lâu ngày gặp lại, nữ không bắt tay.

Đề tài yêu thích: Thể thao – Gia đình – Công việc

Đề tài nên tránh: Sự thống trị của thế lực Hoa Kỳ, hội chứng Mỹ ở Việt Nam.

Người Trung Quốc

Đặc điểm tâm lý chung người Trung Quốc:

Giàu lòng thương người, cao thượng trong cách ứng xử

Thông minh, cần cù và kiên nhẫn

Rất kín đáo và thâm thúy

Thích bầu không khí thân mật, cởi mở như trong gia đình

Người Trung Quốc thường nói to, nói nhiều, coi trọng lời mời trực tiếp

Họ ăn nhiều và biết thưởng thức đồ ăn, thích uống trà

Khách du lịch Trung Quốc nội địa thường có thói quen làm ảnh hưởng đến người xung quanh như ồn ào, đi kéo dép lê lẹt xẹt trong khách sạn.

Thường chú ý giá rẻ nhưng giá trị chuyến đi cao.

Người Anh

Lạnh lùng, trầm lặng, thực tế (là người của công việc)

Thực tiễn, ngắn gọn, không thích dài dòng

Luôn tôn thờ gia đình, ít thay đổi và có tính truyền thống

Người Anh thường tỏ ra khó gần trước khi được giới thiệu nghiêm chỉnh

Đề tài yêu thích: Lịch sử – Kiến trúc – Làm vườn

Đề tài nên tránh: Tôn giáo – Bắc Ailen – Tiền và giá cả

Người Nhật Bản

Người Nhật thường đưa card trước khi bắt tay

Rất cẩn thận khi thực hiện nghi lễ chào hỏi: Trước hết họ đứng im tại chỗ, sau đó cúi gập lung khiến hai cánh tay vươn thẳng xuống chạm vào đầu gối trong tư thế đó vài giây, đứng thẳng trước là bất nhã nên hai người đang chào nhau phải theo dõi nhau để cùng đứng thẳng lên.

Người Nhật rất kiên nhẫn, lịch sự và khiêm nhường

Họ thích ăn thủy hải sản tươi sống

Điều nên tránh: Hoa sen là biểu tượng buồn, tang tóc với người Nhật.

5. Tâm lý khách du lịch theo nghề nghiệp 5.1. Khách du lịch là người chỉ huy

Thích hoạt động, nhiều ham muốn, hành động theo lý trí, tiết kiệm thời gian

Yêu cầu cao về tiện nghi, vật chất, hay phán xét bắt lỗi nhân viên phục vụ.

5.2. Khách du lịch là nghệ sỹ 5.3. Khách du lịch là các nhà kinh doanh 5.4. Khách du lịch là các nhà khoa học 5.5. Khách du lịch là công nhân

Năng nổ, hoạt bát, chân thành

Sinh hoạt giản dị, dễ hòa đồng, thích sinh hoạt theo tính chất hội nghề nghiệp.

6. Tâm lý khách du lịch theo tín ngưỡng, tôn giáo 6.1. Tâm lý người theo đạo Phật 6.2. Tâm lý người theo đạo Hồi

Là tín đồ thờ thần A la, tin tưởng tuyệt đối, có tập tục kiêng ăn thịt vào tháng 3 hàng năm

Tuân thủ chặt chẽ các quy định của Lễ hội, ăn chay nhịn đói, lễ hiếu sinh

6.3. Tâm lý người theo đạo Thiên Chúa

Tin tưởng vào Chúa trời một cách tuyệt đối

Tín đồ là những người hiền lành, thật thà, tốt bụng

Có nhiều tập tục kiêng kỵ, lễ nghi văn hóa đa dạng

Trong giao tiếp nên cẩn trọng vì họ rất tôn sùng đạo.

Tư vấn làm thẻ hướng dẫn viên du lịch nội địa và quốc tế cho những bạn không học đúng chuyên ngành hướng dẫn du lịch.

Đặc Điểm Tâm Lý Khách Du Lịch Việt Nam

Khách nội địa giờ là “cứu tinh” của ngành du lịch Việt. Việc tìm hiểu đặc điểm tâm lý thị trường khách Việt có ý nghĩa quan trọng đối với khách sạn, giúp đưa ra những sản phẩm dịch vụ tương ứng phù hợp để kích cầu, tạo lượt book phòng, tăng doanh thu. Hiểu được điều này, chúng tôi đã dành nhiều ngày tìm hiểu và tổng hợp chi tiết giúp bạn.

Việt Nam đang khuyến khích người Việt đi du lịch Việt

Có nhiều định nghĩa chính thức và bán chính thức về đối tượng khách du lịch nội địa.

Hiểu một cách đơn giản, khách du lịch nội địa là công dân của một nước đi tham quan, du lịch đến các địa điểm du lịch trong phạm vi của chính nước đó. Tại Việt Nam, nhu cầu đi du lịch của khách nội địa khá lớn, chủ yếu tập trung đông tại những điểm đến nổi tiếng như SaPa, Hà Nội, Hà Giang, Ninh Bình, Quảng Bình, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phú Yên, Đà Lạt, chúng tôi Phú Quốc…

Có thể hiểu đây chính là những cảm xúc và suy nghĩ riêng của mỗi người; họ cũng sẽ có lối sống, tính cách, thời gian biểu khác nhau, từ đó, hình thành nên sở thích và nhu cầu cần được phục vụ riêng. Mỗi đối tượng khách khác nhau sẽ có những đặc điểm tâm lý khác nhau. Việc hiểu rõ tâm lý của từng du khách (theo vùng miền, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, tôn giáo…) giúp khách sạn – cơ sở cung cấp dịch vụ dùng làm cơ sở thiết kế không gian, bày trí nội thất, setup đồ dùng phù hợp; đồng thời, cân nhắc tư vấn để đưa ra những gợi ý sản phẩm dịch vụ phù hợp nhằm chốt deal nhanh và hiệu quả hơn; ngoài ra, cũng giúp đưa ra phương án quản bá thích hợp, cung cấp dịch vụ chất lượng, tạo thiện cảm và tăng mức độ hài lòng lên mức tối đa, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Đặc điểm tâm lý khách du lịch Việt Nam

Người châu Á nói chung đa phần đều sống trọng tình nghĩa, thích sự thoải mái trong một không gian sạch sẽ, kín đáo. Bên cạnh đó, họ cũng thiên về xu hướng đi du lịch cùng người thân, hội nhóm, muốn tiết kiệm chi phí nhưng hưởng nhiều lợi ích.

Ngoài ra, xét riêng thị trường khách Việt, mỗi đối tượng khách theo vùng miền, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, tôn giáo… sẽ có những đặc điểm tâm lý, cảm xúc, sở thích và nhu cầu được phục vụ riêng. Cụ thể:

+ Tâm lý khách du lịch Việt theo vùng miền

– Chú ý nhiều đến hình thức, không gian khách sạn; mọi thứ cần phải chỉnh chu, lề lối, vì thế mà khi chọn dịch vụ họ cũng cân nhắc tính duy mĩ cao;

– Ăn nói nhẹ nhàng, ăn mặc kín đáo, chỉnh tề, suy nghĩ sâu xa, thường thể hiện mình qua lời nói; tuy nhiên, khi gặp vấn đề gì không hài lòng, họ thường không nói thẳng mà tỏ thái độ khó chịu cùng lời lẽ nghe thì lịch sự nhưng rất khó chịu;

– Thường đi du lịch vào dịp hè và các dịp lễ lớn, đợt nghỉ dài ngày như Tết Dương, Tết Âm, lễ 30/4, 1/5, 2/9…;

– Dùng chuyến du lịch để gắn kết tình cảm, họ có thiên hướng đi với người thân nhiều hơn các vùng, miền khác với 60% đi cùng gia đình – 30% đi cùng bạn bè;

– Có thói quen tự tổ chức tour riêng thay vì đi thông qua công ty du lịch;

– Thích chọn loại hình du lịch nghỉ dưỡng hơn thay vì tham quan;

– Quan trọng hình thức, gồm không gian, nội thất, vật dụng và cả chất lượng phục vụ – thường đòi hỏi sự kỹ lưỡng và chi tiết, trọn vẹn và chỉn chu. Vì thế, khách sạn cần được chăm chút cẩn thận, cung cấp dịch vụ chất lượng cao, nội thất sang trọng, sạch sẽ, sắp xếp ngăn nắp;

– Tiền bạc sòng phẳng nên các khoản chi phí cần phải cụ thể, rõ ràng;

– Phần đa đều ăn mặn, món ăn được nấu cầu kỳ, đúng gia vị và khẩu vị đặc trưng…

Phần lớn khách Việt thích đi du lịch với người thân, bạn bè

-Tính tình năng động, thoải mái, cởi mở, hào phóng và quảng giao hơn khách miền Bắc và miền Trung;

– Dễ kết thân, hòa nhập cộng đồng hơn; không sĩ diện, không trọng hình thức, thích sự tối giản;

– Khá dễ tính, bao dung, dễ bỏ qua những sai lầm không quá nghiêm trọng hay những sự cố ngoài mong muốn, bất đắc dĩ;

– Muốn tự tổ chức cho chuyến đi, nhất là khi đi du lịch với bạn bè;

– Chuộng sự hiện đại, mới mẻ; thích vui chơi giải trí và tận hưởng dịch vụ;

– Giá là yếu tố quan trọng nhất khi lựa chọn dịch vụ, tiếp đến là địa điểm, lời khuyên từ người quen, thông tin trên Internet…

– Thường thích ăn ngọt, món ăn nhiều màu sắc…

Nằm ở giữa 2 đầu đất nước nên tâm lý khách miền Trung vì thế mà có sự giao thoa, ảnh hưởng từ 2 vùng miền. Các tỉnh, thành càng tiếp giáp, mức độ ảnh hưởng càng nhiều và rõ nét. Nhìn chung, họ cũng:

– Tính tình hào phóng, thẳng thắng, bộc trực, nóng nảy nhưng rất mau nguội lạnh. Khi có điều gì không hài lòng họ thường nói ngay, nói thẳng, dù lời nói đôi khi rất khó nghe nhưng lại dễ bỏ qua và nguôi giận, không nhắc lại;

– Giỏi tính toán, xoay xở, chi li nên ít đi du lịch hơn, khi đi thì lựa chọn kỹ để chuyến đi thật ý nghĩa nhưng tiết kiệm, ưu tiên giá rẻ, nhiều ưu đãi, chất lượng tốt;

– Thường đi du lịch chủ yếu vào dịp hè và các dịp lễ đặc biệt được nghỉ dài ngày trong năm, tuy nhiên, sẽ ít khi đi với người thân hơn so với khách miền Bắc;

– Cũng có thói quen tự tổ chức tour đi riêng thay vì mua tour có sẵn; vì thế thường tự mua tour, đặt phòng, đặt dịch vụ online;

– Thích ăn cay nhiều hơn 2 miền còn lại…

+ Tâm lý khách du lịch Việt theo độ tuổi

– Hiếu động, nghịch ngợm, mê khám phá cái mới lạ

– Ham chơi, dễ mất kiểm soát, không nghe lời

– Nên cung cấp các đồ dùng đảm bảo an toàn tuyệt đối

– Tạo nhiều chương trình ưu đãi đặc biệt vào dịp lễ thiếu nhi, nghỉ hè… dành riêng cho trẻ nhỏ hoặc combo gia đình;

– Khéo léo chăm sóc và phục vụ để không gây thiệt hại đồng thời không làm phật ý bố mẹ đi cùng;

– Để mắt đến chúng để hạn chế tối đa những sự cố ngoài ý muốn.

– Ưa thích sự mới mẻ, độc đáo, bắt kịp xu hướng (KPOP, HIPHOP, bảo vệ môi trường…)

– Tâm lý phấn khích, tò mò, ưa thích những hoạt động nhanh nhẹn, kích thích

– Chuộng mô hình homestay, village nhiều phong cách

– Mê check-in, thích trải nghiệm, ưa khám phá

– Thoải mái trong giao tiếp, dễ kết giao, dễ làm hài lòng.

Giới trẻ hiện nay rất thích chụp ảnh check-in khi đi du lịch

– Thiết thực

– Chịu chi

– Có thể đi du lịch bất cứ lúc nào họ muốn

– Có thể dẫn theo gia đình, bạn bè nếu muốn

– Cần giải tỏa áp lực công việc vô cùng lớn

– Thích không gian yên tĩnh, tiện nghi nhưng đơn giản; tiết trời ôn hòa; lối sống chậm rãi (chẳng hạn: phố cổ, làng quê, biển, chùa chiềng…)

– Chuyện trò nhỏ nhẹ, giao tiếp ôn hòa, lịch sự

– Không gian dễ di chuyển, ngại đi xa

– Chuộng nghỉ dưỡng hơn là tham quan, giải trí

– Thiên về giá trị thực tế, đề cao tính tiện dụng, thái độ phục vụ hơn là hình thức

– Muốn được tư vấn kỹ, ưu tiên phù hợp với sức khỏe, sở thích, khả năng tài chính

– Chú trọng chất lượng phục vụ, chất lượng ăn uống

– Đảm bảo an toàn và thuận tiện trong di chuyển và nghỉ ngơi

– Trang bị tủ thuốc y tế, kỹ năng sơ cấp cứu cho các trường hợp thường gặp

+ Tâm lý khách du lịch Việt theo giới tính

– Nhạy cảm, tinh tế, tế nhị

– Tính toán, chi li

– Thích mua sắm nhưng tính toán kỹ lưỡng

– Quan tâm nhiều đến chi tiết, hay đánh giá cảm quan, trọng hình thức

– Hào phóng, cởi mở

– Thực tế, trọng chất lượng

– Chịu chi, dễ bị thuyết phục bởi cái đẹp

Mỗi đối tượng khách sẽ có nhu cầu và mong muốn được phục vụ ở mức độ khác nhau

+ Tâm lý khách du lịch Việt theo nghề nghiệp

Mức thu nhập, đặc thù công việc của từng ngành nghề sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu của du khách.

Nghề nghiệp mang lại mức thu nhập cao giúp du khách thuộc nhóm nghề đó có điều kiện tốt hơn khi đi du lịch, từ đó có nhiều sự lựa chọn hơn, chi tiêu cũng hào phóng hơn, thậm chí có thể sử dụng dịch vụ cao cấp hơn… vì thế nên đòi hỏi và yêu cầu đôi khi cũng cao hơn về chất lượng dịch vụ, phòng ở, món ăn, thái độ phục vụ…

Ngược lại, nghề nghiệp mang lại mức thu nhập thấp đến trung bình sẽ chuộng các dịch vụ bình dân hơn, quan tâm nhiều đến chương trình ưu đãi, cần dịch vụ chất lượng nhưng chi phí phải chăng. Đối tượng khách này thường tính toán kỹ lưỡng trước khi chi tiêu sao cho được lợi nhất với chi phí thấp nhất.

Một số gợi ý chi tiết:

– Khách du lịch là nhà kinh doanh, dân văn phòng sẽ ưa thích các hoạt động giao lưu nơi đông người, thích giao tiếp và kết giao – thích sự rõ ràng, nhanh gọn, tiện lợi – ưa phô trương, tin vào sự may rủi (lưu ý trong xếp số phòng), ưu tiên sử dụng dịch vụ sang trọng, đắt tiền nếu thu nhập cao; ngoài ra, cần lưu ý trang bị bàn làm việc cùng các vật dụng thiết yếu khác.

– Khách du lịch là nghệ sĩ yêu thích sự bay bổng, lãng mạn, muốn tận hưởng – thường thích ở những khu resort, khách sạn sang trọng, nội thất đẹp, giàu tính nghệ thuật cùng với chất lượng phục vụ chu đáo và kỹ lưỡng; đảm bảo an toàn thông tin

– Khách du lịch là công nhân, lao động phổ thông thường đơn giản, chân thành, dễ hòa đồng – chuộng sự nhanh gọn và giá rẻ

+ Tâm lý khách du lịch Việt theo tín ngưỡng tôn giáo

– Khách theo đạo Phật giàu lòng nhân ái, thích sự nhẹ nhàng, yên tĩnh và đơn giản – phục vụ thực phẩm chay, ứng xử lịch thiệp, có chừng mực, nói năng nhẹ nhàng, lịch sự

– Khách theo đạo Thiên Chúa đặc biệt tôn thờ tôn giáo của họ và tuyệt đối tránh những điều kiêng kị – trọng sự chân thật, tử tế, trung thực và tốt bụng

Thái độ phục vụ có ý nghĩa quan trọng trong ngành dịch vụ, tạo thiện cảm với khách hàng

Ms. Smile

Cập nhật thông tin chi tiết về Đặc Điểm Tâm Lý Của Khách Du Lịch Theo Tín Ngưỡng Tôn Giáo trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!