Xu Hướng 11/2022 # Đề Tài Phát Triển Du Lịch Outbound Đến Nhật Bản / 2023 # Top 11 View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Đề Tài Phát Triển Du Lịch Outbound Đến Nhật Bản / 2023 # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Phát Triển Du Lịch Outbound Đến Nhật Bản / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản MỤC LỤC MỞ ĐẦU . 1 1.Lý do chọn đề tài . . 5 2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu . . 5 3.Đối tượng nghiên cứu . 6 4.Phạm vi nghiên cứu . 6 5.Phương pháp nghiên cứu . . 6 6.Bố cục của khóa luận . 6 CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH OUTBOUND . . 7 1.1.Khái niệm du lịch outbound . . 7 1.2.Điều kiện phát triển du lịch . 7 1.2.1.Những điều kiện chung . 7 1.2.1.1.Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội . . 7 1.2.1.2.Điều kiện kinh tế . . 9 1.2.1.3.Chính sách phát triển du lịch . . 11 1.2.2.Các điều kiện tự thân làm nảy sinh nhu cầu du lịch . . 12 1.2.2.1.Thời gian rỗi . 12 1.2.2.2.Khả năng tài chính của du khách tiềm năng . . 14 1.2.2.3.Trình độ dân trí . . 15 1.2.3.Rào cản . . 15 1.2.3.1.Ngôn ngữ . . 15 1.2.3.2.Văn hóa . . 15 1.2.3.3.Mức sống . . 17 CHƯƠNG 2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHẬT BẢN . . 18 2.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên . . 18 2.1.1. Vị trí địa lý . . 18 2.1.2. Địa hình . 18 2.1.3.Khí hậu . . 19 2.1.4.Thủy văn . 20 2.1.5.Thế giới động thực vật . . 20 2.2.Điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn . . 21 2.2.1.Điều kiện kinh tế xã hội . 21 2.2.2.Tài nguyên du lịch nhân văn . . 22 2.2.2.1.Di tích . . 22 2.2.2.2.Các công trình đương đại . . 30 2.2.2.3.Lễ hội truyền thống . . 32 2.2.2.5.Trang phục . 43 2.2.2.6.Văn hóa nghệ thuật dân gian . . 46 2.2.2.7.Các điểm du lịch văn hóa – lịch sử . . 51 CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH OUTBOUND ĐẾN NHẬT BẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DU LỊCH OUTBOUND ĐẾN NHẬT BẢN . 70 3.1. Thực trạng hoạt động du lịch outbound đến Nhật Bản . 70 3.1.1. Thị trường khách du lịch Việt Nam đi du lịch Nhật Bản . 70 3.1.1.1. Số lượng và tốc độ tăng trưởng của khách du lịch Việt Nam đến Nhật Bản 70 3.1.1.2. Thị phần khách du lịch Việt Nam trong thị trường khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản . . 71 3.1.1.3. Các phân đoạn thị trường . 73 3.1.1.3.1. Phân đoạn thị trường theo độ tuổi, giới tính . . 73 3.1.1.3.2. Phân đoạn thị trường theo nghề nghiệp . . 73 3.1.1.3.3. Phân đoạn thị trường theo mục đích chuyến đi . . 74 3.1.1.4. Các hoạt động ưa thích của khách du lịch Việt Nam . 75 3.1.1.5. Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch Việt Nam . . 75 3.1.1.6. Thời gian đi du lịch của khách du lịch Việt Nam . . 76 3.1.1.7. Số ngày lưu trú trung bình của khách du lịch Việt Nam . 77 3.1.1.8. Cách thức tổ chức đi du lịch của khách du lịch Việt Nam . 77 3.1.2. Hoạt động phục vụ khách du lịch Việt Nam tại Nhật Bản . . 78 3.1.2.1. Phục vụ các dịch vụ du lịch . 78 3.1.2.1.1. Phục vụ vận chuyển . . 78 3.1.2.1.2. Phục vụ lưu trú và ăn uống . 80 3.1.2.1.3. Phục vụ tham quan . . 81 3.1.2.1.4. Phục vụ mua sắm . 82 3.1.2.1.5. Kênh phân phối sản phẩm du lịch . . 83 3.1.2.1.6. Thông tin về sản phẩm du lịch . . 84 3.1.2.1.7. Các dịch vụ khác . . 84 3.1.2.2. Hoạt động kinh doanh du lịch của các công ty du lịch, lữ hành đối với thị trường khách du lịch Việt Nam sang Nhật Bản . . 85 3.2. Các giải pháp nhằm góp phần phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản. 86 3.2.1. Các giải pháp . . 86 3.2.1.1. Xây dựng sản phẩm đặc trưng . . 86 3.2.1.2. Chính sách giá linh hoạt . . 87 3.2.1.3. Tăng cường công tác xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch đến người tiêu dùng. 88 3.2.1.4. Liên kết các doanh nghiệp, xây dựng mạng lưới thu gom khách . . 89 3.2.1.5. Giải pháp nâng cao năng lực về công tác quản lý, tổ chức tour . . 90 3.2.1.2.1. Nhà điều hành du lịch . . 90 3.2.1.2.2. Hướng dẫn viên . 91 3.2.1.2.3. Đào tạo nhân viên phục vụ khác . . 92 KẾT LUẬN . 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 95 3

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đã từ lâu, du lịch là một hoạt động mang tính tích cực của con người. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu đi du lịch của con người càng tăng. Người ta đi du lịch để khám phá những chân trời mới lạ, tìm hiểu những nền văn hóa độc đáo khác biệt và đặc biệt là nghỉ ngơi, thư giãn sau những giờ phút lao động căng thẳng mệt nhọc. Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đời sống được cải thiện, trình độ dân trí được nâng cao thì khát khao tìm hiểu thế giới càng mạnh mẽ, ngành du lịch thế giới có điều kiện phát triển vượt trội. Hiện nay ở nhiều nước, du lịch được coi là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Ở Việt Nam, sau 20 năm Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện chính sách đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được tăng lên, nhu cầu vui chơi giải trí, trong đó có du lịch cũng phát triển không ngừng. Người Việt Nam không chỉ đi du lịch trong nước mà còn có nhu cầu du lịch nước ngoài, trong đó có thị trường du lịch Nhật Bản. Tuy nhiên, việc đưa khách Việt Nam đi du lịch Nhật Bản đang còn nhiều vấn đề cần giải quyết như: tổ chức chuyến đi, thủ tục xuất nhập cảnh, hoạt động marketing thu hút khách Vì vậy nghiên cứu “ phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản” là một việc làm cấp thiết. Hy vọng, khóa luận sẽ góp một phần nhỏ vào giải quyết những vấn đề còn tồn tại, nâng cao hiệu quả hoạt động gửi khách Việt Nam đến Nhật Bản. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích: Nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch outbound nhằm đưa ra các giải pháp góp phần phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản. Nhiệm vụ: – Nghiên cứu tài nguyên du lịch Nhật Bản – Khảo sát thực trạng hoạt động du lịch outbound sang Nhật Bản. – Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch outbound đến Nhật – Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản. 3. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu cầu du lịch Việt Nam đi Nhật Bản, sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch Nhật Bản đối với khách du lịch Việt Nam. 4. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản Thời gian: nghiên cứu hoạt động khách du lịch Việt Nam đến Nhật Bản giai đoạn 1998 -2009. 5. Phương pháp nghiên cứu đến đề tài nghiên cứu, xử lý các thông tin nhằm chọn lọc những thông tin cần thiết nhất. Các tư liệu có thể là các công trình nghiên cứu trước đó, các bài viết, các báo cáo kinh doanh, báo cáo tổng kết – Phương pháp sử dụng biểu đồ, đồ thị nhằm so sánh mức độ khác nhau giữa các số liệu, chứng minh các số liệu thống kê. – Phương pháp tính toán và thống kê du lịch: nhằm tính toán tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ phần trăm của khách du lịch qua các năm. – Phương pháp so sánh: so sánh các số liệu thống kê hàng năm nhằm đưa ra nhận xét và giải pháp. – Phương pháp phỏng vấn xã hội học: phỏng vấn trực tiếp từ 100 khách đã đi du lịch Nhật Bản 6. Bố cục của khóa luận Ngoài lời cảm ơn, phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, khóa luận được chia làm 3 chương chính bao gồm các chương sau: Chương 1. Điều kiện phát triển du lịch outbound Chương 2. Tài nguyên du lịch Nhật Bản Chương 3. Thực trạng hoạt động du lịch outbound đến Nhật Bản và các giải pháp nhằm góp phần phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản.

du lịch Việt Nam do sự hấp dẫn của các điểm du lịch ở Nhật Bản. Mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8 là thời điểm khách Việt Nam ít đi du lịch Nhật Bản nhất. Vào mùa thu từ tháng 9 đến tháng 11 là thời điểm thu hút khách du lịch do nhiệt độ ôn hòa, cảnh sắc thiên nhiên vô cùng tươi đẹp. Vào mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 thì lại rất lạnh và có tuyết rơi. Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 77 Phần lớn các du khách Việt Nam thường mua các tour tham quan Nhật Bản trong khoảng 5 đến 6 ngày và lưu trú ở các khách sạn 3 đến 4 sao. Thông thường các tour du lịch của các công ty du lịch Việt Nam đến Nhật Bản có thời gian trung bình khoảng 1 tuần. Để ngành du lịch Việt Nam phát triển được thị trường khách Việt Nam sang Nhật nhiều hơn nữa, cần phải quảng bá nhiều hơn hình ảnh của Nhật Bản trên các phương tiện thông tin đại chúng, hiểu hơn về luật hoạt động của các công ty lữ hành Nhật Bản cũng sẽ là một lợi thế. Nếu hiểu biết rõ hơn về thời điểm người Việt hay đi du lịch hay các hoạt động ưa thích của khách Việt Nam cũng giúp ích cho các công ty du lịch Việt Nam lên kế hoạch để thu hút khách. 3.1.1.7. Số ngày lưu trú trung bình của khách du lịch Việt Nam Người Việt thường có chuyến đi nghỉ khoảng 6 đến 7 ngày và phần lớn ngày lưu trú trung bình của họ ngắn hơn ở các nước cùng khu vực như: Trung Quốc, Thái Lan, Malaisia…do giá tour cao hơn các nước cùng khu vực, chi tiêu tại điểm đến đắt đỏ. Ở Nhật Bản năm 2005, khách Việt Nam lưu trú trung bình 4,8 ngày(theo nguồn JNTO). Đối với khách đi tour thì thời gian lưu trú trung bình cũng sẽ kéo dài cho tới 5-6 ngày. Đối với phân đoạn thị trường là nhân viên các công ty liên doanh với Nhật Bản thì thời gian này kéo dài hơn, trên 1 tuần và đôi khi là một tháng. 3.1.1.8. Cách thức tổ chức đi du lịch của khách du lịch Việt Nam Khách du lịch Việt Nam sử dụng nhiều hình thức để tổ chức chuyến đi của họ. Theo điều tra cho thấy có khoảng 2/3 số khách Việt sử dụng mua tour thông qua các công ty lữ hành, số còn lại thì dùng thư tín, điện thoại hoặc dùng internet. Hiện nay người tiêu dùng đã bắt đầu sử dung internet và mạng lưới bán tour cho các đại lý nối mạng với nhau. Mặc dù số khách sử dụng internet để mua tour có tăng lên nhưng đến nay vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ(1-2% trên tổng lượng khách đi du lịch nước ngoài). Đa số khách Việt vẫn muốn đi tour trọn gói bao gồm: nhân viên công ty, cán bộ các cơ quan nhà nước…Số lượng khách đi lẻ ngày càng tăng, tuy ít nhưng đều đặn. Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 78 Rất ít khi thấy khách Việt Nam đi du lich một mình trừ khi chuyến đi có mục đích thương mại. Tour du lịch trọn gói vẫn hấp dẫn với du khách Việt Nam. Xu hướng giá tour phục vụ khách Việt đang giảm. Người Việt Nam rất chú ý đến giá tour, giá trị tour mà họ sẽ mua. 3.1.2. Hoạt động phục vụ khách du lịch Việt Nam tại Nhật Bản 3.1.2.1. Phục vụ các dịch vụ du lịch 3.1.2.1.1. Phục vụ vận chuyển Đường hàng không: theo thống kê của các hãng hàng không Việt Nam và Nhật Bản thì Việt Nam đã có các đường bay tới các thành phố lớn của Nhật Bản như Tokyo và Osaka. Từ Hà Nội sang Tokyo có tới 6 chuyến bay trong một tuần (trừ thứ ba). Nếu đi bằng đường hàng không Nhật Bản (Japan Airlines) thì có 4 chuyến trong một tuần (trừ thứ ba, thứ năm và chủ nhật), nếu đi bằng đường hàng không Việt Nam (Viet Nam Airlines) từ thành phố Hồ Chí Minh tới Osaka và Tokyo thì có thể đi vào bất cứ ngày nào trong tuần bằng cả hai hãng hàng không Nhật Bản và Việt Nam. Một điều đáng nói ở đây là giá vé máy bay của hãng hàng không Việt Nam quá cao dẫn đến giá tour du lịch cao. Vấn đề đặt ra là ngành du lịch Việt Nam phải phối hợp với hãng hàng không Việt Nam để giảm giá vé, kích thích khách du lịch Việt Nam đi Nhật Bản. Theo văn phòng đại diện của hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) tại Nhật Bản cho biết: kể từ ngày 28/3, Vietnam Airlines sẽ tăng số lượng chuyến bay giữa thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Tokyo của Nhật Bản từ 7 chuyến/ tuần lên thành 14 chuyến/ tuần. Cụ thể, chuyến bay mang hiệu VN952 sẽ xuất phát từ sân bay Tân Sơn Nhất (TP. HCM) vào lúc 6 giờ 5 phút và đến sân bay quốc tế Narita (thủ đô Tokyo) vào lúc 13 giờ 50 phút hàng ngày. Chuyến bay VN953 sẽ khởi hành từ sân bay Narita lúc 19 giờ về đến sân bay Tân Sơn Nhất vào lúc 23 giờ cùng ngày. Các chuyến bay mới sẽ được đưa vào khai thác bằng máy bay Airbus A321-200 với 168 ghế hạng phổ thông và 16 ghế hạng thương gia. Nhân dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, từ ngày 1/7, Vietnam Airlines Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 79 cũng sẽ tăng số lượng chuyến bay trên tuyến Hà Nội – Kansai từ 5 chuyến lên 7 chuyến/tuần. Như vậy với việc tăng thêm các chuyến bay tới Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Vietnam Airline sẽ khai thác 43 chuyến bay/tuần từ sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất tới 4 thành phố của Nhật Bản gồm thủ đô Tokyo, Osaka, Nagoya và Fukuoka, chiếm hơn 50% thị phần hàng không từ Nhật Bản tới Việt Nam. Tuy nhiên có thể đẽ dàng thấy rằng sự hợp tác giữa ngành du lịch cũng như các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam với các hãng hàng không nước ngoài rất yếu trong đó có hãng hàng không Nhật Bản. Nguyên nhân là do công tác tiếp thị của du lịch Việt Nam còn yếu. Hơn nữa, số lượng du khách Việt Nam bay trên các chuyến của hàng không nước ngoài không lớn. Mặt khác, tuy hàng không công bố giảm giá vé nhưng không phải doanh nghiệp du lịch nào cũng tiếp cận được, đặc biệt với đơn vị nhỏ. Các công ty tiếp cận được thì phải chấp nhận điều kiện ngặt nghèo về đặt chỗ, số lượng khách, thời gian xuất vé. Đường bộ: Tại Nhật Bản, hệ thống giao thông rất hiện đại, dịch vụ tốt, tàu điện ngầm, tầu nối và xe buýt rất phổ biến và thuận tiện. Hệ thống thông tin, chỉ dẫn tại các ga tàu rất rõ ràng, dễ hiểu. Có cả chỉ dẫn tiếng Anh kèm theo. Cuộc sống ở Nhật Bản không thể không kể đến tàu điện, phương tiện thông dụng nhất của người dân Nhật Bản. Tàu điện ở Nhật gồm loại tàu thường và tàu cao tốc. tàu thường hay đỗ tại các ga mà nó chạy qua. Khoảng cách của các ga trong thành phố chỉ cách nhau khoảng 1km và ngoại ô khoảng 2,3km. Hệ thống đường bộ cao tốc ở Nhật Bản có lịch sử phát triển lâu dài. Với hệ thống tàu cao tốc hiện đại, đảm bảo an toàn cho du khách. Tàu Shinkansen có tốc độ cao(300km/h), tiết kiệm thời gian, tiện nghi và hoạt động đúng giờ, đáp ứng tối đa nhu cầu đi lại của du khách. Tuy nhiên giá vé Shinkansen khá đắt, từ Tokyo về Kyoto, vé 1 chiều là 13,500 yên(trong khi đó vé roundtrip đi máy bay ANA chỉ khoảng 21,000 yên). Tuy nhiên Shinkansen tiện hơn ở chỗ nhà ga ngay trung tâm, lên xuống tàu rất nhanh, trong khi đi máy bay phải tốn thời gian check-in, máy bay lên xuống và các sân bay thường ở xa trung tâm nên tốn thời gian di Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 80 chuyển. Ngoài ra, shinkansen chạy rất thường xuyên, tuyến từ Tokyo về Kyoto trung bình 7-10 phút có một chuyến, hết sức tiện lợi. Trong tàu điện luôn bố trí máy lạnh vào mùa hè và máy sưởi vào mùa đông, vì vậy cho dù thời tiết có khắc nghiệt đến đâu, du khách vẫn có thể yên tâm khi lên tàu điện ở Nhật Bản. hai bên tàu điện luôn luôn có các bảng điện tử chỉ dẫn khi đến các ga khác nhau, tiện lợi cho hành khách trong việc tra cứu lộ trình đi của mình. Hệ thống xe buýt tại Nhật Bản: cũng giống như xe buýt của Việt nam, thậm chí còn ít ghế ngồi hơn. Khoảng các giữa các trạm xe buýt cũng giống như ở Việt Nam. Tại bất kỳ trạm xe buýt nào cũng gắn bảng thời gian xe buýt đến, những tuyến xe buýt sẽ đi qua. Thời gian hoạt động của xe buýt là từ 6 giờ đến 22 giờ. Giờ cao điểm 8- 10 phút có một chuyến. Giờ thấp điểm 20-30 phút/ chuyến. thời giam xe buýt tới trạm chính xác đến từng giây. Giá cước của xe buýt cũng rất đắt và phương thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc thẻ từ. xe buýt của Nhật Bản phục vụ rất chu đáo và lịch sự. Trên xe buýt không có tiếp viên nhưng qua hệ thống loa, khách hàng được hướng dẫn rất chu đáo. Bất kỳ hành khách nào khi xuống xe cũng nhận được lời cảm ơn từ bác tài. Bác tài ăn mặc rất lịch sự và gọn gàng. 3.1.2.1.2. Phục vụ lưu trú và ăn uống Theo thống kê, hiện nay ở Nhật có khoảng hơn một triệu nhà hàng, tức là cứ khoảng 120 người dân thì có một hiệu ăn. Trong số cả triệu nhà hàng đó tại Nhật Bản, có rất nhiều nhà hàng của người nước ngoài. Các món ăn Pháp, Italia, Mêhicô, Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên đã trở thành những món ăn quen thuộc từ lâu đối với người Nhật. Gần đây, các món ăn châu Á, nhất là những nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Campuchia… đang dần dần được biết tới và được nhiều người ưa chuộng. Vì vậy nếu du khách Việt không thích món ăn của Nhật thì cũng có thể tìm đến các món ăn Việt Nam ngay tại Nhật Bản. Các nhà hàng Việt Nam xuất hiện tại Nhật Bản đã nhiều năm và cũng có tiếng tăm nhất định. Nhắc tới nhà hàng Việt Nam tại Nhật, những người sành ăn Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 81 hiệu và thích tìm tòi có thể kể tên những quán như “Mỹ Dung”, “Áo Dài”, “Hương Việt”, “Miss Saigon” ở Tokyo hay “Lâm Hà Nội” và “Mekong” ở Kobe. Tokyo là nơi tập trung nhiều nhà hàng Việt Nam nhất. Ngay gần tàu điện Shibuya- một trong những trung tâm của thủ đô – có một nhà hàng tên là “Hoa giấy”, lúc nào cũng chật chội khách. Chỉ cách đó vài nhà vừa xuất hiện “Miss Saigon” cũng thu hút khá nhiều khách. Tại những nhà hàng này, thực khách có thể làm quen, tìm và thưởng thức cả một nền văn hóa ẩm thực của Việt Nam. Đặc biệt các nguyên liệu và gia vị chính tạo nên các món ăn mang phong cách Việt đều được mang tới từ chính quốc. Ở đó, khách Việt có thể tìm thấy đúng sở thích của mình và thực khách khắp nơi cũng cảm nhận được phần nào về đất nước Việt Nam. Về dịch vụ lưu trú: theo thống kê, hiện nay ở Nhật Bản có khoảng 1149 khách sạn đang ở mức giảm giá. Hiện nay, khách du lịch sang Nhật Bản cũng có thể đặt phòng khách sạn trực tuyến qua internet. Dịch vụ này vô cùng thuận tiện và cũng được nhiều khách hàng lựa chọn. 3.1.2.1.3. Phục vụ tham quan Các điểm du lịch của Nhật Bản hiện nay đã được trùng tu và nâng cấp cùng với sự đa dạng của các điểm du lịch tự nhiên và nhân văn. Các cơ sở vật chất được tăng cường, quy mô được mở rộng và phát triển thêm nhiều loại hình dịch vụ với mục đích thu hút ngày càng đông số khách du lịch. Đối với khách du lịch Việt Nam, nhìn chung khách Việt đến các vùng núi, vùng biển của Nhật Bản còn ít mà chủ yếu là đến các đô thị, các điểm di tích lịch sử, các khu mua sắm…Tiêu biểu như: chùa Gỗ Todaiji, đền Sakuga, công viên Nara, đền Kiyomizu, chùa Vàng, cung điện Hoàng gia, trung tâm thhương mại Ginza, chợ điện tử Akihabara và các khu tham quan khác… Những khách du lịch đi du lịch trọn gói thường đến các điểm du lịch đã được ấn định trước và thông thường các điểm này là các điểm chính trong tour du lịch truyền thống của Nhật Bản. Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 82 Dịch vụ vui chơi giải trí của Nhật Bản: rất hấp dẫn , bao gồm nhiều khu vui chơi giải trí, các công viên giải trí ở khắp nơi đáp ứng nhu cầu của du khách. Các khu vui chơi giải trí: Osaka Universal Studio. Đây là thế giới thu nhỏ của các công trình kỹ xảo điện ảnh Holywood, tham gia các trò chơi không giới hạn như: người nhện, phim không gian 4D, xem show diễn thế giới nước, kỹ xảo về lửa cháy trong phim… khu vui chơi giải trí Tokyo Disneyland. Đây là một trong năm công viên lớn nhất của Nhật Bản, đến đây, du khách sẽ lạc vào xứ sở thần tiên của các câu chuyện cổ tích và tham gia rất nhiều trò chơi hấp dẫn… Ngoài ra ở Nhật Bản còn rất nhiều khu vui chơi giải trí hấp dẫn khác, đáp ứng nhu cầu giải trí cho du khách quốc tế đến Nhật Bản. Người việt Nam vốn rất thực tế, so với các nước trong khu vực thì giá vé máy bay, cước điện thoại tại Nhật đang vượt trội cũng là một rào cản không nhỏ. Đặc biệt giá vé tại các điểm vui chơi giải trí rất cao nên chưa thu hút được nhiều khách Việt Nam. 3.1.2.1.4. Phục vụ mua sắm Một phần quan trọng khi đi du lịch đối với du khách Việt Nam là mua sắm, không chỉ muốn đem về những gì ở Việt Nam không thể mua được mà còn là những món quà nhỏ cho người thân, gia đình và bạn bè. Giá cả tại Nhật không quá đắt như người Việt Nam thường nghĩ, nhất là những mặt hàng công nghệ, còn chất lượng “made in Japan” thì đã tạo được uy tín lâu đời trong lòng người tiêu dùng. Ở Nhật Bản, các món đồ đều có giá rõ ràng, vì vậy du khách thường không phải trả giá, trừ những nơi đặc biệt như chợ trời, tiệm bán đồ cũ hay chợ điện tử Akihabara. Mua hàng ở Nhật phần lớn phải chịu thuế tiêu thụ 5% và mùa giảm giá hàng nhiều nhất là mùa hè(tháng 7, tháng 8) và mùa tết(tháng 12 và tháng Giêng). Khu điện tử Akihabara(thành phố điện tử), tòa nhà Sony(được xem là tâm điểm công nghệ của Sony trên thế giới), chợ trung tâm Tsukiji(chợ hải sản tươi sống lớn nhất thế giới), đại lộ Ômte- Sando(tập trung các cửa hiệu thời Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 83 trang danh tiếng của Nhật, Pháp, Ý…các cửa hàng ẩm thực độc đáo của Nhật), Mandarake, Kapasashi- Dori, Ameyoko, trung tâm nghệ nhân truyền thống Japan, nhà sách Kinokuniya, đồi Roppongi, Venus Ford, biểu diễn Decks Tokyo, Ginza… và rất nhiều các trung tâm mua sắm nổi tiếng khác. Nếu muốn mua một món đồ quý giá, có chất lượng tốt thì nên mua ở Ginza. Còn mua hàng điện tử thì khách hàng nên đến các chợ trời hoặc chợ điện tử. Với những món quà lưu niệm đặc biệt của Nhật như là búp bê, nón, quạt, áo kimono, túi xách…thì nên đến khu Asakusa. Tuy nhiên giá của các mặt hàng lưu niệm này cũng rất cao, chưa phù hợp với tâm lý tiêu dùng của người Việt Nam. Lượng du khách đến với Nhật Bản có đúng với dự đoán không còn tùy thuộc rất nhiều vào mức độ tiện ích và tình chuyên nghiệp của ngành du lịch và các dịch vụ đi kèm. Vấn đề đặt ra là ngành du lịch và các nhà cung ứng dịch vụ không chỉ đòi hỏi ở chất lượng của các tour mà cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa ngành du lịch, các hãng hàng không. 3.1.2.1.5. Kênh phân phối sản phẩm du lịch Để phục vụ thị trường khách du lịch Việt Nam thì hiện nay có khoảng 20 công ty du lịch, lữ hành Việt Nam là thành viên của JATA. Trên thực tế số công ty chuyên gửi khách Việt có thể nhiều hơn nhưng với quy mô nhỏ, số lượng khách đi tour không lớn. Tour trọn gói/ theo đoàn Rất ít khi thấy khách Việt Nam đi du lịch một mình trừ khi chuyến đi có mục đích thương mại hoặc một số mục đích cá nhân khác. Nhìn chung tour du lịch trọn gói vẫn được nhiều khách du lịch Việt Nam lực chọn. Mặt khác giá tour phục vụ khách Việt Nam đang giảm. Người Việt rất chú ý đến giá tour, giá trị của tour mà họ sẽ mua. Các tour du lịch quốc tế có: Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc Du lịch liên tuyến Hoa Kỳ – Nhật Bản Nhật Bản – Hàn Quốc Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 84 Sài Gòn – Osaka – Sài Gòn Hà Nội – Tokyo – Hà Nội Các tour du lịch nội địa Nhật Bản có: Osaka – Tokyo Tokyo – Osaka – Fukuoka Tokyo – Hakone – Kyoto – Osaka Hành trình Tokyo- một ngày Hành trình Tokyo – 5 ngày Hành trình Nhật Bản 14 ngày: Tokyo – Núi Fuji, Kyoto, Osaka, Hiroshima. 3.1.2.1.6. Thông tin về sản phẩm du lịch Thông tin về sản phẩm du lịch Nhật Bản nhìn chung khó tiếp cận trên thị trường quốc tế do khâu xúc tiến, quảng bá còn yếu kém làm giảm khả năng thu hút khách Việt Nam đến Nhật Bản. Các kênh thông tin về du lịch Nhật Bản trên truyền hình Việt Nam hay báo chí rất hạn hẹp, chưa nêu được bật các điểm du lịch, khu nghỉ dưỡng hấp dẫn của Nhật Bản. Hiện nay hình ảnh Nhật Bản trên thị trường Việt Nam mới chỉ thể hiện qua hình ảnh của các tour du lịch tham quan thắng cảnh, di tích lịch sử. Nhiều hình ảnh khác nhau về sản phẩm du lịch Nhật Bản chưa được đề cập đến hoặc hội thảo, hội nghị, du lịch kết hợp học tập, nghiên cứu…cho nên khách Việt Nam ít biết đến các sản phẩm du lịch này và điều đó ảnh hưởng tới sự lựa chọn điểm du lịch của du khách. Tuy nhiên để khách du lịch Việt Nam có thể đến Nhật Bản nhiều lần thì ngành du lịch Việt Nam cần phải đưa ra các chiến lược xây dựng các tour đặc thù, các sản phẩm du lịch đặc biệt dựa trên sự nghên cứu nhu cầu khách du lịch. 3.1.2.1.7. Các dịch vụ khác Hàng hóa (đồ điện tử, đồ dân dụng…) tại Nhật có chất lượng rất tốt. Vì vậy, dịch vụ mua sắm các mặt hàng này cũng được rất nhiều khách du lịch ưa chuộng. Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 85 Dịch vụ thông tin liên lạc ở Nhật hiện nay được cung cấp rất tốt cho du khách, tuy nhiên, giá cả cước viễn thông lại khá đắt. Bên cạnh đó, các dịch vụ khác như vận chuyển, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chuyển phát nhanh, giặt là…tại Nhật Bản luôn phục vụ ở mức độ tốt nhất đáp ứng nhu cầu của du khách đến Nhật. 3.1.2.2. Hoạt động kinh doanh du lịch của các công ty du lịch, lữ hành đối với thị trường khách du lịch Việt Nam sang Nhật Bản Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch thì nhìn chung các công ty lữ hành Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng các chương trình tour. Công tác tuyên truyền, quảng bá – xúc tiến du lịch có nhiều cố gắng, nội dung toàn diện hơn, hình thức đa dạng và phong phú. Nhiều ấn phẩm quảng cáo, đĩa CD…giới thiệu về Nhật Bản được phát hành, góp phần làm hình ảnh của Nhật Bản ngày càng phong phú và rõ nét hơn. Việc tổ chức các sự kiện du lịch, hội thảo ngày càng khoa học, hấp dẫn và hiệu quả, thu hút nhiều khách du lịch và có sức lan tỏa rộng, tạo nên những nét mới trong việc thu hút khách du lịch. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh du lịch còn gặp phải một số yếu kém. Các chương trình tour phục vụ khách du lịch Việt Nam mới chỉ là những tour truyền thống. Khách du lịch mới chỉ biết đến những điểm du lịch nổi tiếng mà những người khác đã từng biết đến. Điều này chỉ có thể hấp dẫn đối với khách du lịch lần đầu tiên đi du lịch Nhật Bản. Hầu như khách du lịch Việt Nam đã từng đi du lịch Nhật Bản một lần thì không muốn đi lần thứ hai vì chủ yếu không có những tour đến những điểm mới mẻ, hấp dẫn. Việc hợp tác liên doanh, liên kết trong và ngoài nước còn yếu. Còn ít doanh nghiệp mạnh trên loại hình du lịch outbound. Nhận thức về quảng bá, xúc tiến du lịch còn yếu, các doanh nghiệp thiếu sự đầu tư chiến lược và phối hợp, hỗ trợ nhau để tạo thành sức mạnh tổng hợp. Hoạt động quảng bá – xúc tiến chưa có hệ thống và sâu rộng, chất lượng thấp, hình thức nghèo nàn. Nhiều thị trường khách du lịch trong nước còn thiếu thông tin và hình ảnh về Nhật Bản. Chậm xây dựng được thương hiệu mạnh và những sản phẩm du lịch hấp dẫn, chất lượng cao. Nguồn nhân lực trình độ thấp, chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 86 và chât lượng, nhất là đội ngũ hướng dẫn viên và thuyết minh viên; công tác đào tạo thiếu tập trung, quy mô nhỏ, không đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu, nhất là đối với yêu cầu hội nhập quốc tế. 3.2. Các giải pháp nhằm góp phần phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản. 3.2.1. Các giải pháp 3.2.1.1. Xây dựng sản phẩm đặc trưng Xây dựng các sản phẩm du lịch mới và nâng cao chất lượng dịch vụ là một trong những giải pháp mang tính lâu dài cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch. Đối với du lịch Nhật Bản, do giá tour cao nên khách du lịch Việt Nam đi du lịch rất ít khi đi du lịch với mục đích thuần túy mà chủ yếu đi du lịch với mục đích học tập kinh nghiệm, nghiên cứu. Mặt khác Nhật Bản là một trong những nước phát triển kinh tế hàng đầu thế giới vì vậy quản lý, tổ chức sản xuất doanh nghiệp Nhật Bản cũng là những kinh nghiệm lớn cho các nhà quản lý của Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển trên thế giới nói chung. Vì vậy để tao được một sản phẩm du lịch độc đáo và mới mẻ, thu hút khách du lịch cần phải tập trung phát triển sản phẩm du lịch đó là các study tour. Tổ chức các đoàn đi tham quan khảo sát và đào tạo ngắn hạn tại Nhật Bản – study tour cho các đoàn của công ty, doanh nghiệp, các Bộ và dự án theo tạo, các cơ sở kinh tế, các bộ và cơ quan ban ngành cùng cấp ở Nhật Bản nhằm trao đổi kinh nghiệm và phát triển các cơ hội hợp tác. Bên cạnh đó, cần xây tổ chức các tour mua sắm hạ giá tại Nhật Bản (quần áo, đồ điện tử, mĩ phẩm…) đặc biệt là vào các dịp đầu mùa hè. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam, trong đó có ngành du lịch. Để thu hút khách du lịch, ngành du lịch đã công bố một chương trình hành động với nhiều giải pháp cấp bách. Đây là giải pháp lâu dài tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch. Theo đó ngành du lịch sẽ tiếp tục nghiên cứu, khảo sát xây dựng các sản phẩm du lịch mới. Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 87 Đối với các tour du lịch dành cho khách du lịch Việt Nam cần chú ý một số vấn đề sau: Xây dựng các tour du lịch chuyên đề và bán các sản phẩm du lịch độc đáo. Lập chương trình trọn gói và tiếp thị do văn phòng đại diện của tổng cục du lịch ở Nhật Bản phối hợp cùng các nhà điều hành tour du lịch của Việt Nam. Bất cứ sản phẩm nào cũng được nghiên cứu và làm cho phù hợp với các nhu cầu của khách du lịch. Mặt khác cũng cần phát triển các tour du lịch liên tuyến, giao lưu, trao đổi và ký kết với các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ…trong việc xây dựng các tour du lịch liên tuyến giữa các quốc gia. Từng bước xây dựng những tuyến du lịch liên tuyến xa hơn và phong phú hơn như tuyến du lịch Việt Nam – Nhật Bản – Hàn Quốc, Việt Nam – Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc, Việt Nam – Nhật Bản – Hoa Kỳ. 3.2.1.2. Chính sách giá linh hoạt Chính sách giá có vai trò quan trọng bởi vì nó có tác dụng điều tiết mối quan hệ cung cầu, tác động đến hiệu quả kinh doanh du lịch. Phần lớn trong chúng ta thường nhìn nhận giá cả là yếu tố đầu tiên quyết định việc lựa chọn chuyến đi của mình. Với hai điểm mà chúng ta muốn nhắc đến, chắc chắn ta sẽ chọn điểm có giá tour và giá dịch vụ rẻ hơn. Tuy nhiên, việc định giá cho sản phẩm là cũng là một điều rất khó không thể tùy tiện giảm giá, nâng giá. Nếu xác định được mức giá hợp lý thì sẽ thu hút được khách và ngược lại. Giá tour của Việt Nam cũng khá cao, đăc biệt là các tour đi Nhật. Do đó Việt Nam cần đưa ra chính sách giá cả hợp lý, phù hợp với giá trị của sản phẩm để khách du lịch cảm thấy thoải mái trong chuyến du lịch. Đặc tính của người Việt là thích các tour giá rẻ. Vì vậy, tùy theo từng sản phẩm mà chúng ta có chiến lược giá khác nhau. Ví dụ như nên hạ giá tour để cho khách du lịch ban đầu đến Nhật Bản. Còn đối với sản phẩm du lịch mà khách du lịch thường cho là độc đáo, hấp dẫn, mới lạ thì vẫn giữ mức giá cao mà vẫn có thể kích thích được sức mua của khách. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạ giá tour du lịch? Giá tour là tổng các giá có trong chương trình du lịch. Muốn có giá tour rẻ thì giá dịch vụ phải rẻ, do Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 88 đó cần có sự gắn kết các dịch vụ du lịch với nhau và ngành du lịch với các ngành khác. Cần phối hợp với ngành hàng không để giảm giá vé máy bay, phối hợp với các ngành khác để giảm giá phòng cho khách…Vào thời kỳ thấp điểm cần có chính sách giảm giá để kích thích khách sang Nhật. 3.2.1.3. Tăng cường công tác xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch đến người tiêu dùng. Ngành du lịch Việt Nam đang xúc tiến các hoạt động quảng bá với du khách Việt, đặc biệt là nhắm đến các công ty có vốn đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam vì những doanh nghiệp này thường có nhu cầu đưa nhân viên đi du lịch hoặc tham gia các chương trình giao lưu, huấn luyện tại Nhật Bản. Tuy nhiên thông tin về sản phẩm du lịch Nhật Bản nói chung khó tiếp cận trên thị trường Việt Nam do khâu xúc tiến, quảng bá còn yếu kém nên đã làm giảm khả năng thu hút khách đến Việt Nam. Đối với ngành kinh doanh du lịch, xúc tiến quảng bá có nhiều ý nghĩa bởi những lý do sau đây: Nhu cầu về sản phẩm du lịch thường mang tính thời vụ rõ nét, do vậy cần phải có các kích thích cần thiết để tăng nhu cầu vào những lúc trái vụ. Nhu cầu về sản phẩm thường rất co giãn theo giá cả và nó thay đổi rất lớn tùy thuộc vào sự biến động của tình hình kinh tế, xã hội. Khách hàng khi mua các sản phẩm du lịch thường đã tìm hiểu thông tin trước khi thấy được sản phẩm. Do đặc điểm của sản phẩm du lịch, khách hàng thường ít trung thành với nhãn hiệu. Hầu hết các sản phẩm du lịch đều bị cạnh tranh gay gắt và có nhiều sản phẩm thay thế. một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo cho khách hàng tiềm năng một cái nhìn sơ lược về sản phẩm. Song mọi cố gắng về thông tin sản phẩm càng trở nên khó khăn hơn khi người mua các sản phẩm du lịch nghỉ mát hay đi tham quan thường phải quyết định một thời gian khá dài trước khi chuyến du lịch thực sự Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 89 tin thuyết phục, phải lôi kéo được sự chú ý, tạo sự quan tâm, mong muốn và dẫn mình cho khách hàng tiềm năng; nhắc nhở khách hàng hiện tại về sản phẩm của doanh nghiệp; thuyết phục cả khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng là họ đang cần sản phẩm nào đó và sản phẩm đó chính là điều họ đang mong muốn, doanh nghiệp có thể đáp ứng tốt cho nhu cầu của họ và họ nên mua ngay sản phải thuyết phục và góp phần thay đổi thói quen của du khách tiềm năng, nghĩa là tìm cách khuyến khích họ sử dụng một chuyến đi mà họ chưa hề biết đến hay có ý định mua. Đồng thời, nhiều chương trình khuyến mại của ngành du lịch tiếp tục được kéo dài, các doanh nghiệp lữ hành đã tranh thủ chiến dịch giảm giá tour của các hãng hàng không để điều chỉnh giá tour đến mức thấp nhất để thu hút khách. Bên cạnh đó ngành du lịch cũng tổ chức quảng bá du lịch Nhật Bản trên các phương tiện thông tin đại chúng, đến các công ty, các cơ quan nhà nước, các đối tượng thương nhân thành đạt, giàu có… Mặt khác, cần phối hợp với các công ty, các hãng lữ hành tại Nhật Bản tổ chức giới thiệu du lịch Nhật Bản ở Việt Nam Tổ chức quảng bá về các điểm du lịch mới ở Nhật Bản (các thành phố khoa học công nghệ, thành phố du lịch thể thao, các trường đại học danh tiếng…) nhằm thu hút khách du lịch. Mở rộng phạm vi các công cụ sử dụng trong công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, trong đó vai trò của Internet phải được coi trọng đặc biệt. Mặt khác cần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến. 3.2.1.4. Liên kết các doanh nghiệp, xây dựng mạng lưới thu gom khách Đối với tour du lịch Nhật Bản do giá tour cao nên số lượng khách đi du lịch còn tương đối nhỏ lẻ và còn phân tán tại các tỉnh, thành phố khác nhau Mặt khác các công ty du lịch lớn chuyên tổ chức các tour du lịch Nhật Bản thường tập trung ở các thành phố lớn: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng… Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 90 Vì vậy cần thiết phải liên kết các doanh nghiệp du lịch để tạo thành mạng lưới thu gom nguồn khách tại các tỉnh thành trên phạm vi cả nước nhất là tại các khu công nghiệp, các công ty liên doanh với Nhật. Bên cạnh đó, việc liên kết các doanh nghiệp còn góp phần mở rộng thị trường để phục vụ khách ngày một tốt hơn. Các công ty du lịch Việt Nam bên cạnh việc liên kết với các doanh nghiệp trong nước còn phải liên kết với các đối tác bên Nhật để tạo điều kiện cho người dân đi du lịch thuận tiện. 3.2.1.5. Giải pháp nâng cao năng lực về công tác quản lý, tổ chức tour 3.2.1.5.1. Nhà điều hành du lịch Để phục vụ thị trường khách du lịch Việt Nam thì hiện nay có trên 20 công ty của Việt Nam là thành viên của JATA. Trên thực tế, số công ty chuyên gửi khách Việt Nam sang Nhật có thể nhiều hơn nhưng với quy mô, số lượng khách đi tour không lớn. Khách du lịch Việt Nam đến Nhật Bản thường là lần đầu tiên nên công tác đón, tiễn khách tại các sân bay, bến tàu, nhà ga… cần phải đặt lên trên hàng đầu nhằm tránh cho họ lo lắng, sợ sệt khi xa nhà. Các công ty du lịch Việt Nam cần liên kết với đối tác bên Nhật để điều những hướng dẫn viên có kinh nghiệm chuyên đón tiễn khách thực hiện công việc này. Cung cấp đầy đủ, chính xác dữ liệu của đoàn khách cho phía đối tác. Các thủ tục nhập cảnh phải được thực hiện nhanh chóng, không lãng phí thời gian. Khi khách du lịch Việt Nam đến Nhật Bản, thông tin về luật pháp của Nhật Bản, sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, múi giờ phải cung cấp cho khách để tránh rắc rối xảy ra. Đối với các hãng hàng không, nhà điều hành cần phải nắm được các hãng hàng không đang hoạt động, đường bay của từng hãng, giờ của các chuyến bay, các điều kiện book và mua vé. Cần có nhiều hơn một đối tác bán vé máy bay, ghi chú các điều kiện book và mua vé của các đại lý. Đặc biệt cần phải lưu ý giá vé lẻ/ đoàn, phí+thuế, thời hạn xuất vé, tiền cọc, phí hủy hoàn vé. Các thủ tục Hộ chiếu – Visa: tập hợp các điều kiện và quy trình xin cấp Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 91 Visa của Nhật Bản. Đối tác vận chuyển: ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, tàu cao tốc, máy bay…Cần có bảng giá cập nhật mới. Với ô tô, tận mắt đánh giá chất lượng xe hay sưu tập hình ảnh sẽ hạn chế nhiều rủi ro. Ghi chú những tài xế tốt và chưa tốt để yêu cầu cho các tour sau. Đối với các đối tác cung cấp du lịch tại Nhật: cần phải có đủ thông tin về các đối tác cung cấp mà công ty đang bán hay sẽ bán. Ghi chú về điểm mạnh, điểm yếu của đối tác(cập nhật sau khi kết thúc mỗi tour) để nâng cao chất lượng tour lần sau. Hướng dẫn viên địa phương, phương tiện vận chuyển, chất lượng khách sạn, nhà hàng, tiêu chuẩn ăn, điểm tham quan, mua sắm và lịch trình chi tiết. Tất cả các dịch vụ này, vị thế và nguồn khách định kỳ của công ty cũng có ảnh hưởng lớn đến giá của đơn vị cung ứng. Chương trình tour: các nhà điều hành nên soạn thảo chương trình tour cho bộ phận điều hành thật chi tiết. Cần phải chi rõ thời gian (tiêu chuẩn) cho từng nội dung. Bất cứ lúc nào cũng hình dung được khách đang làm gì, ở đâu trên đường tour. Điều này rất quan trọng, nhất là khi có sự cố. Sự ứng phó nhanh nhạy có thể hạn chế nhiều thiệt hại. Đối với trưởng đoàn: lập danh sách với đầy đủ thông tin của người này. Họ phải biết một ngoại ngữ thông dụng tại điểm đến. Năng lực của trưởng đoàn thể hiện rõ nhất khi giải quyết các sự cố từ nhỏ đến lớn. Ngay cả việc thống nhất với hướng dẫn viên địa phương về lịch trình thực tế cũng là vấn đề không đơn giản. Vì vậy, nếu chưa rõ về các đối tác cung cấp thì nên mời các trưởng đoàn có nhiều kinh nghiệm và thông thạo tour. Khi ra ngoài, bởi vì chúng ta là người Việt Nam, nên các trưởng đoàn cần có trách nhiệm cao để đề cao lòng tự trọng và hình ảnh đẹp của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra trưởng đoàn cũng nên tìm hiểu chương trình tour của các đơn vị khác. Thử đóng vai khách hàng để so sánh các tour. Những nhận định cụ thể sẽ trở thành kinh nghiệm hữu ích sau này. 3.2.1.5.2. Hướng dẫn viên Điều cần nhất của Hướng dẫn viên du lịch outbound là phải biết làm thủ Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 92 tục nhập cảnh, thủ tục lên, xuống máy bay(check-in, check-out) và có kinh nghiệm xử lý các tình huống phát sinh hay sự cố xảy ra ở hải ngoại hay trên đường vận chuyển. Về mặt nào đó, họ chỉ là người hướng dẫn(đường đi, cách thức đi…) chứ không phải là hướng dẫn viên du lịch đúng nghĩa. Khi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, họ được gọi là Tour Leader và có nhiệm vụ là một trưởng đoàn chứ không phải Tour Guide. Việc đào tạo hướng dẫn viên này có thể nói là không quá cần thiết. Người làm công tác hướng dẫn du lịch outbound ngoài việc rèn luyện, trau dồi kỹ năng nghề, kiến thức nghề thì cũng cần phải nắm rõ vai trò, vị trí của mình trong mỗi chuyến đi để việc hướng dẫn đạt được hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó cũng cần phải tăng cường đội ngũ hướng dẫn viên nói tiếng Nhật để phục vụ cho các tour Nhật. 3.2.1.5.3. Đào tạo nhân viên phục vụ khác Đối với nhân viên marketing thị trường khách du lịch Việt Nam, ta cần tổ chức đào tạo chuyên nghiệp, có khả năng biên tập, soạn thảo các nội dung Việt Nam. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu sâu thị trường khách du lịch Việt, đặc biệt là tâm lý và đặc điểm tiêu dùng của họ. Có chương trình hợp tác thường xuyên với chính phủ Nhật Bản, các tổ chức xã hội, các hãng lữ hành, khách sạn lớn ở Nhật. Qua đó có thể góp phần phục vụ du khách chu đáo hơn. Tiểu kết chƣơng 3 Chương 3 đã nêu lên thực trạng về họat động du lịch outbound đến Nhật Bản qua đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục các điểm yếu, tận dụng điểm mạnh để phát triển thị trường khách du lịch Việt Nam đến Nhật Bản. Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 93 KẾT LUẬN Đất nước Nhật Bản là một đất nước có nhiều di sản tự nhiên và nhân văn, là một điểm đến được rất nhiều du khách lựa chọn. Đất nước Nhật Bản có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về văn hóa, phong tục tập quán, thức ăn ngon cùng với khoảng cách từ Việt Nam đến Nhật Bản cũng không quá xa. Lượng du khách Việt Nam đến Nhật Bản đều đặt và tăng mỗi năm trong tương lai, du khách Việt Nam sẽ còn tăng cao hơn nữa. Tuy nhiên, trong thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch outbound đến Nhật Bản, bên cạnh những lợi thế thì còn tồn tại rất nhiều khó khăn gây cản trở hoạt động du lịch. Trên cơ sở đó có các giải pháp cơ bản nhằm khai thác có hiệu quả thị trường khách du lịch Việt Nam đó là: 1. Đa dạng hóa loại hình du lịch ở Nhật Bản, tạo ra được sản phẩm du lịch mới, đặc trưng thỏa mãn được nhu cầu của khách du lịch, đó loại hình du lịch kết hợp học tập, nghiên cứu. 2. Phát triển các tour du lịch liên tuyến, giao lưu, trao đổi và ký kết với các nước khác để xây dựng các tour du lịch liên tuyến giữa các quốc gia làm cho chương trình du lịch phong phú, mới lạ hơn. Bên cạnh đó, kiến nghị từng bước tháo bỏ Visa và thủ tục rườm rà. 3. Có chính sách giá phù hợp, liên kết với các hãng hàng không Việt Nam, hãng hàng không Nhật Bản để giảm giá vé máy bay, từ đó giảm giá thành tour. 4. Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá đến người tiêu dùng thông qua 5. Tăng cường công tác quản lý, tổ chức tour của nhà điều hành du lịch, hướng dẫn viên. 6. Liên kết các doanh nghiệp, xây dựng mạng lưới thu gom khách. KIẾN NGHỊ Để triển khai được những giải pháp trên xin kiến nghị chính phủ, ngành du lịch hỗ trợ một số vấn đề sau: Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 94 – Hợp tác song phương giữa hai chính phủ : Trong khuôn khổ hợp tác với ASEAN, Nhật Bản đã hỗ trợ các nước thành viên trong xúc tiến ASEAN là một hiện các dự án phát triển du lịch. Là nước thành viên ASEAN, Việt Nam nên tranh thủ cơ hội, tạo điều kiện để các hãng lữ hành Việt Nam có cơ hội cùng các hãng lữ hành của nước thành viên cùng hợp tác trong hoạt động đón, gửi khách du lịch Việt Nam sang Nhật Bản. Do thông lệ, Nhật Bản không có tiền lệ ký hiệp định với du lịch Việt Nam, tuy nhiên trên cơ sở thực hiện các chương trình hợp tác, dự án có thể thu hút đầu tư của Nhật Bản vào các dự án du lịch, sử dụng người Nhật khai thác thị trường khách du lịch Việt Nam sang Nhật Bản. ngoại giao, hải ngoại, Bộ ngoại vụ về thủ tục đến Nhật Bản thuận lợi, xóa bỏ các thủ tục rườm rà, miễn thị thực cho người dân đi du lịch. – Tổng cục du lịch Việt Nam đẩy mạnh hợp tác với tổng cục du lịch Nhật Bản nhằm đưa ra những chính sách thuận lợi, tạo điều kiện cho 2 nước qua lại du lịch thuận lợi. – Đối với ngành hàng không Việt Nam: cần mở rộng thêm các đường bay đến Nhật Bản để tạo điều kiện cho người dân Việt Nam đi du lịch dễ dàng. Nếu những kiến nghi được triển khai và thực hiện tốt thì ngành du lịch Việt Nam sẽ góp phần đưa khách du lịch Việt Nam đến Nhật Bản ngày một đông hơn, đồng thời cũng tạo cơ hội được giao lưu, học tập và đây cũng là cơ hội để nền kinh tế của Việt Nam phát triển. Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình “nhập môn khoa học du lich” – Trần Đức Thanh, NXB ĐH quốc gia Hà Nội. 2. Luật du lịch 3. Văn hóa du lịch châu Á – Nguyễn Thị Hải Yến, NXB thế giới. 4. Tài liệu nghiên cứu tại Viện nghiên cứu và phát triển du lịch. 5. Tài liệu thu thập tại tổng cục du lịch. 6. Tài liệu thu thập từ các website: www.gso.gov.vn( Tổng cục thống kê Việt Nam) www.nhatban.net www.vietnamtourism.edu.vn www.toiyeunhatban.wordpress.com www.google.com.vn Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 96 Phụ lục1: Một số hình ảnh về Nhật Bản Chùa Vàng(Kinkakuji) Trang phục truyền thống Kimono Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 97 Lễ hội ngắm hoa(Hanami) Toàn cảnh đảo Hokkaido Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 98 Lễ hội Sumo tại Nhật Núi Phú Sĩ Công viên tại Nhật Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 99 Tàu Shinkanshen tại Nhật Ẩm thực Nhật Bản Hệ thống giao thông tại Nhật Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 100 Các công trình đƣơng đại Văn hóa nghệ thuật dân gian Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 101 Phụ lục 2: Hƣớng dẫn du lịch Nhật Bản Nhật Bản có 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông rõ rệt. Tuy nhiên do địa hình đa số là đồi núi nên khí hậu ở Nhật Bản có sự khác biệt giữa các vùng. Mùa xuân (vào khoảng tháng 3 đến tháng 5) thời tiết thường dễ chịu, hoa anh đào nở khắp nơi và cũng là thời điểm nhiều lễ hội được diễn ra. Người Nhật thường đi du lịch vào Tuần lễ Vàng (khoảng 29/4 đến 7/5). Đó là kỳ nghỉ của người Nhật, các khu du lịch luôn đông đúc những du khách địa phương. Mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 8) là thời điểm mà các khu du lịch vắng nhất so với các thời điểm khác trong năm. Tuy nhiên tháng 6 lại là thời điểm mưa nhiều nhất, ngoại trừ Hokkaido ra. Vì vậy bạn không nên đi vào thời điểm này nếu không muốn mình bị mắc những cơn mưa tầm tã. Thay vào đó, bạn có thể đến đây vào dịp cuối tháng 7. Bạn sẽ có cơ hội xem những màn trình diễn pháo hoa ngoạn mục trong lễ hội pháo hoa tổ chức hằng năm bên bờ sông Namida ở Tokyo. Còn mùa thu (từ tháng 9 đến tháng 11) là thời điểm tốt nhất để đi du lịch. Nhiệt độ thì dễ chịu, màu sắc cảnh vật ở miền quê thì đẹp tuyệt vời. Bạn có thể thấy những cây lá đỏ chuyển màu vào mùa này. Vào mùa đông (từ tháng 12 đến tháng 2) thì lại rất lạnh. Ở Hokkaido có tuyết rơi nhiều nhất. Vì vậy nếu bạn thích ngắm tuyết rơi hay trượt tuyết thì đi du lịch vào thời điểm này là thích hợp nhất. Tuy nhiên nếu bạn không thích sự ồn ào, đông đúc thì không nên đến Nhật vào dịp tết dương lịch, tuần lễ vàng cũng như lễ hội Obon vào mùa hè. Bởi có rất nhiều người vào thời điểm này có thể sẽ khiến cho bạn cảm thấy khó chịu. Đến Nhật Bản, đi những đâu? Nhật Bản có rất nhiều điểm du lịch nổi tiếng, trải dài ở các đảo từ Bắc đến Nam Hokkaido là một hòn đảo nằm ở phía Bắc Nhật Bản. Phong cảnh ngoạn mục và thiên nhiên xinh đẹp nơi này thu hút rất nhiều du khách đến viếng thăm. Thời tiết vào mùa hè ở Hokkaido khá là dễ chịu. Và ở nơi này không có mùa mưa. Vào mùa đông thì rất lạnh, nhưng lại là thời điểm thích hợp cho việc trượt tuyết. Bên cạnh đó Hokkaido còn là nơi có nhiều suối nước nóng. Bạn có thể Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 102 đến tham quan và đắm mình vào dòng nước ấm áp để giải tỏa stress. Còn Tokyo là một thành phố lớn vốn được mệnh danh là thành phố bận rộn nhất thế giới, luôn náo nhiệt và đông đúc người qua lại. Đây là một địa điểm thích hợp cho những du khách muốn tận hưởng cuộc sống thành thị. Có rất nhiều nhà hàng, khu thương mại, rạp chiếu phim, khu vui chơi và đền miếu ở Tokyo. Đặc biệt nơi này có nhiều biển hiệu bằng tiếng Anh, vì vậy nó không gây khó khăn cho du khách khi đi dạo xung quanh Tokyo. Nếu thích mua sắm bạn có thể đến khu Ginza, Shinkuku, Shinbuya… hay phố thời trang Harajuku lúc nào cũng có thể bắt gặp hình ảnh thanh niên Nhật trong trang phục của các nhân vật trong phim hoạt hình. Nếu thích, bạn có thể đi đến tháp Tokyo để ngắm nhìn thành phố từ trên cao. Còn gì thích hơn khi ngắm nhìn những tòa nhà và đèn điện trải dài hun hút đến tận chân trời. Một nơi khác cũng nhộn nhịp không kém Tokyo đó là Osaka. Bạn có thể đón xe điện từ Tokyo để đến đây một cách dễ dàng. Nơi đây có khu giải trí Universal Studio, nơi bạn có thể say sưa trong khung cảnh của các bộ phim nổi tiếng của hãng Universal Studio như phim “E.T”, Terminator”, “Jurassic Park” cũng như thưởng thức các món ăn tuyệt vời như đùi gà hun khói, bắp hấp bơ, xúc xích nướng với wasabi… Nếu không thích nét hiện đại của những khu đô thị, bạn có thể đến Kyoto. Kyoto là thủ đô cũ của Nhật và là điểm đến của hầu hết các khách du lịch. Có rất nhiều ngôi đền miếu ở nơi này. Bạn có thể hòa mình vào văn hóa truyền thống của Nhật khi ở Kyoto. Cung điện hoàng gia Kyoto và lâu đài Nijyo là những ví dụ rõ nét về kiến trúc Nhật Bản. Tại Kyoto cũng có hai đền thờ của đạo Jyodo Shinshu với lối kiến trúc Phật giáo là Nishi Honganji và Higashi Honganji và ngôi chuàToji 5 tầng nổi tiếng. Còn nếu đến đảo Kyushyu thì bạn hãy ghé Nagasaki, một thị trấn độc đáo của Nhật Bản. Ở đây có công viên Hauis Ten Bosch. Thích mạo hiểm thì bạn có thể tham quan các ngọn núi lửa như núi Sakura ở Kagoshima, núi Aso ở Kumamoto đó là một tòa lâu đài nổi tiếng của Nhật Bản. Hay thích đắm mình vào làn nước mát, thỏa chí đùa nghịch với sóng biển thì nhớ ghé Okinawa. Các Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 103 bãi biển và hòn đảo ở đây chắc chắn sẽ làm cho bạn không phải thất vọng. Hiroshima là một thành phố nổi tiếng khác của Nhật. Bạn có thể nhìn thấy ở giữa thành phố hiện đại còn sót lại tòa nhà từ bị bom nguyên tử nổ phá trong thời thế chiến thứ 2. Hiện nay ngôi nhà này vẫn còn nguyên hiện trạng lúc đầu, đang được bảo tồn và xem đó như là di tích lịch sử, hậu quả của những cuộc chiến tranh tàn khốc lúc bấy giờ. Bạn cũng nhớ ghé qua đảo Miyajima nổi tiếng để tham quan cổng vào đền Thần có dạng chữ “Thiên” được dựng ở giữa biển. Nếu bạn yêu thích động vật hoang dã thì hãy ghé qua công viên Nara. Ở đây bạn có thể bắt gặp những chú hươu tự do đi lang thang ở trên đường phố. Theo Thần đạo Shinto, hươu được xem là sứ giả của các thần linh, do đó những con hươu ở Nara đã trở thành biểu tượng của thành phố và thậm chí được đăng ký để thành Tài sản Quốc gia. Bạn có thể mua những túi thức ăn được bày bán sẵn ở đây và tự tay mình cho chúng ăn cũng rất là thú vị. Đến, đi lại bằng gì? Sân bay Quốc tế Narita là một sân bay lớn ở Nhật, nằm cách Tokyo khoảng 50km theo đường chim bay. Chính vì vậy mà hầu hết mọi du khách đều đi máy bay đến Nhật thông qua sân bay này. Tuy nhiên vẫn còn có khá nhiều sân bay lớn khác ở Nhật như sân bay Kansai ở Osaka. Hiện Việt Nam Airline có chuyến bay từ thành phố Hồ Chí Minh đến Tokyo và Osaka mỗi ngày. Giá vé khứ hồi khoảng 720$. Và thường thì bạn sẽ mất khoảng 2 tiếng rưỡi mới có thể đến nơi. Đến Nhật sẽ có khá nhiều phương tiện đi lại cho bạn lưạ chọn. Nếu như bạn đi lại trong khu vực với quãng đường ngắn thì có thể chọn tàu lửa, một phương tiện giao thông phổ biến ở Nhật. Tàu lửa chạy nhanh, thoải mái, sạch sẽ và khá tiện lợi. Tuy nhiên giá của nó hơi cao một chút so với máy bay. Các phương tiện nội bộ như xe buýt, xe điện ngầm… cũng thích hợp cho bạn nếu muốn đi dạo quanh và khám phá thành phố. Xe buýt thì chạy tương đối chậm so với tàu lửa, tuy nhiên giá vé thì lại rẻ hơn nhiều. Nếu như chuyến đi của bạn kéo dài suốt cả đêm thì việc ngồi ở ghế có chỗ tựa đầu trên xe buýt thì tốt hơn là cứ đứng mãi trên tàu lửa. Các thành phố lớn ở Nhật đều có hệ thống xe điện ngầm rất thuận tiện, có Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 104 thể đưa bạn đi tham quan thành phố mà không phải tốn nhiều tiền. Ngoài ra còn có tàu Shinkanshen – biểu tượng của nước Nhật hiện đại. Tàu có thể chạy với tốc độ tối đa 300km/h. Hãng tàu shinkanshen nổi tiếng ở Nhật đó là Japan Rail Pass. Taxi ở Nhật thì không được du khách ưa thích cho lắm vì giá cả cao rất nhiều so với những phương tiện khác. Nếu như bạn đi du lịch từ các đảo lớn đến các hòn đảo nhỏ thì máy bay là phương tiện hiệu quả nhất mà bạn có thể lựa chọn. Việc khám phá nước Nhật bằng xe đạp là hoàn toàn khả thi. Nếu thích, bạn có thể du ngoạn với chiếc xe đạp, rời khỏi những thành phố náo nhiệt để đến những vùng quê yên tĩnh hơn. Chắc chắn bạn sẽ tìm được nhiều điều thú vị lắm đấy. Còn phà là một phương tiện tuyệt vời để đi khám phá các địa điểm khác mà bạn không thể nào bỏ lỡ được. Với mạng lưới phà dày đặc, kết nối Kyushyu, Shikoku với phía nam của bờ biển Honsyu. Phà cũng nối liền các đảo lớn với các đảo nhỏ, xuống tận cả đảo Okinawa ở gần Đài Loan. Chi tiêu tại Nhật Đơn vị tiền tệ của Nhật là Yên (¥). Tỉ giá hiện nay 1 yên bằng khoảng 150 đồng tiền Việt. Ở đây thanh toán bằng tiền mặt vẫn được ưa chuộng hơn là bằng thẻ, mặc dù việc sử dụng thẻ tín dụng khá là phổ biến ở các thành phố lớn trong việc mua sắm, chi trả nhà hàng, khách sạn. Nhật Bản là một nước có nền kinh tế phát triển vượt bậc. Tuy nhiên giá cả thì lại có thể xem là cao nhất trên thế giới. Chính vì vậy bạn hãy lưu ý xem kỹ giá tiền trước khi quyết định mua hay ăn bất kỳ cái gì. Giá phòng khách sạn ở đây trung bình khoảng 70$/ đêm, nhưng phòng hơi chật chội. Một tô cà ri Nhật giá khoảng 400 yên tương đương 60.000VND. Hơi mắc một chút, để tiết kiệm bạn nên ở những khách sạn rẻ tiền, đi đến những nơi gần… sẽ giúp bạn tiết kiệm được khoảng 69$/ ngày. Bạn sẽ dư ra 10$ để trả thêm cho tiền quà vặt, phí công cộng. Nếu ở khách sạn lớn, ăn ở nhà hàng sang trọng thì bạn có thể tốn đến 200$ đấy. Đi du lịch đến những địa điểm xa bạn sẽ tốn khá nhiều tiến. Nếu muốn bạn có thể đón xe điện ngầm để tiết kiệm. Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 105 1 lít sữa……………………………….190 yên………….28.500 VND 12 quả trứng………………………….300 yên……………45.000 VND 1 tô mì………………………………400 yên……………60.000 VND Phí tham quan đền thờ, bảo tàng…..500 yên…………..75.000 VND Bữa ăn đơn giản ở nhà hàng……….1000 yên…………150.000 VND Phòng trọ……………………………2800 yên/ đêm……420.000 VND/ đêm Internet 1 giờ…………………………500 yên……………75.000 VND Lƣu ý khác: Nếu bạn đi máy bay để sang các hòn đảo nhỏ thì nên kiểm tra xem mình giá cho nhóm có 3 phụ nữ đi với nhau hay cho những cặp vợ chồng mà tổng số tuổi của họ từ 88 tuổi trở lên. Ở Nhật, tỷ lệ trộm cắp khá thấp. Vì vậy người Nhật thường có thói quen mang theo số lượng tiền mặt lớn trong những giao dịch cần phải thanh toán bằng tiền mặt. Vì vậy du khách nước ngoài cũng có thể yên tâm khi mang theo tiền mặt bên mình, tuy nhiên cũng không thể lơi là, mất cảnh giác được. Hệ thống số đếm của Nhật hơi phức tạp. Đơn vị đếm là: chục, trăm, ngàn, vạn (10 ngàn), chục vạn (100 ngàn) triệu… chính vì vậy bạn nên làm quen với định nghĩa VẠN và CHỤC VẠN để tránh bỡ ngỡ và nhầm lẫn khi giao dịch ở Nhật. Bạn có thể đổi tiền mặt tại ngân hàng ngoại giao, hay ở quầy giao dịch ở các khách sạn cũng như cửa hàng lớn. Đô la Mỹ là được ưa chuộng nhất. Trong khi bạn sẽ khộng thể nào đổi được tiền Đài Loan hay Hàn Quốc khi ở Nhật. Đa số các máy ATM không chấp nhận thẻ nước ngoài. Bạn hãy nhìn xem có dấu + ở trên máy hay không, hoặc kiểm tra ngân hàng của bạn trước khi giao dịch. Các thẻ Master Card, Visa được chấp nhận rộng rãi ở các khu đô thị. Nếu ra khỏi đó bạn sẽ khó tìm thấy máy ATM. Hệ thống ATM hoạt động từ 7h – 23h (thứ 2 đến thứ 6) và từ 9h – 19h (thứ 7 và chủ nhật). Máy của Cities Bank chấp nhận thẻ nước ngoài và hoạt động liên tục 24 giờ. Mùa bão ở Nhật bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 10 hằng năm và thường xảy Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 106 ra động đất với cường độ khác nhau. Nếu bị động đất bạn hãy bình tĩnh mà trốn dưới gầm bàn hay gầm giường, chớp vội chạy ra ngoài đường. Và nhớ đừng có đứng gần các cửa sổ, và dùng 2 tay để ôm bảo vệ đầu của mình. Nếu đón Taxi, bạn hãy chú ý khi bước ra ngoài mở cửa. Nếu không có thể bạn sẽ bị tai nạn do môtô đâm trúng đấy. Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản Sinh viên: Vũ Thị Chúc – Lớp: VH 1003 107

Các file đính kèm theo tài liệu này:

Phát triển du lịch outbound đến Nhật Bản.pdf

Đề Tài Phát Triển Du Lịch Thừa Thiên Huế Rất Hay 2022 / 2023

, DOWNLOAD ZALO 0932091562

Published on

1. PHẦN THỨ NHẤT. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, với đầy đủ lợi thế và tiềm năng để phát triển du lịch, Việt Nam hoàn toàn có khả năng khai thác và phát triển du lịch theo xu hướng chung của các nước trong khu vực và trên thế giới. Thực tế trong thời kỳ đổi mới ở nước ta cho thấy du lịch ngày càng thể hiện là một ngành kinh tế quan trọng, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, một ngành tham gia vào chiến lược xuất khẩu trực tiếp tại chỗ có tác động thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp một phần không nhỏ vào GDP của đất nước đồng thời có tác dụng thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Theo tinh thần “Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước”, cùng với xu thế hội nhập Quốc tế, toàn cầu hoá và khu vực hoá là điều kiện thuận lợi cho du lịch không ngừng phát triển và mở rộng. Đặc biệt, du lịch Quốc tế đang được thể hiện như là một phương tiện xuất khẩu tại chỗ, tạo việc làm cho xã hội, nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ, cải thiện đời sống cho nhân dân. Nằm ở khu vực miền Trung, tỉnh Thừa Thiên Huế có một vị trí chiến lược về kinh tế, văn hoá, xã hội vô cùng quan trọng, Thừa Thiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc – Nam, trục hành lang Đông – Tây nối Thái Lan – Lào – Việt Nam theo đường 9. Thừa Thiên Huế ở vào vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta, là nơi giao thoa giữa điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của cả hai miền Nam – Bắc. Thừa Thiên Huế là một trong những trung tâm văn hoá, du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo, y tế lớn của cả nước và là cực phát triển kinh tế quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.. Với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa trong những năm qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đang từng bước khẳng định được vai trò trung tâm về kinh tế, văn hóa của cả nước. Về du lịch, Thừa Thiên Huế là một tỉnh có nhiều di tích lịch sử văn hoá cách mạng kháng

2. chiến. Đến với Thừa Thiên Huế không chỉ có sông Hương, núi Ngự đep, thơ mộng gắn với nhiều sự kiện lịch sử, mà là đến với nơi quy tụ nhiều di tích lịch sử, văn hoá với các di tích, danh thắng nổi tiếng như: Đại Nội Huế, chùa Thiên Mụ, chùa Từ Đàm, các lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn như: vua Minh Mạng, vua Tự Đức, vua Khải Định…,biển Thuận An, cầu Trường Tiền, suối Mơ, suối Voi, Đàn Nam Gia, Đàn xã Tắc, hồ Tịnh Tâm, đầm phá Tam Giang, cầu ngói Thanh Toàn …Như vậy với sự đa dạng phong phú về tài nguyên thiên nhiên, nhân văn, tỉnh Thừa Thiên Huế là trung tâm du lịch lớn của miền trung và cả nước. Một trong những kết nối quan trọng với thành phố Huế với hệ thống các tuyến điểm du lịch cần được đẩy mạnh khai thác là huyện Quảng Điền. Quảng Điền là huyện có chiều dày về văn hóa lịch sử, lại có bề dày về truyền thống đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc. Quảng Điền là vùng đất sản sinh ra nhiều bậc danh nhân như Đặng Tất, Đặng Dung, Tố Hưu, đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Ngoài những yếu tố trên, Quảng Điền còn là vùng đất có nhiều cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa dạng. Đặc biệt đây là vùng đất mang nét đặc thù chung của nền văn hóa Huế, và cũng như là nơi có nền văn hóa Chăm Pa như Thành Hóa Châu, phủ Phước Yên. Mỗi địa danh của huyện Quảng Điền hôm nay đều gắn liền với các sự kiện lịch sử của cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm”. Với ý thức tôn trọng và tôn vinh những di tích lịch sử của các thế hệ cha ông để lại, gắn liền với việc khai thác sử dụng có hiệu quả giá trị của những di tích ấy vào việc phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh, đó là tiềm năng vô cùng quý giá để phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong những năm gần đây, ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên huế đang trên đà tăng trưởng mạnh, đặc biệt khi Cố Đô Huế là thành phố di sản, thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam, có thể nói đây chính là cơ hội để ngành du lịch của tỉnh ,cũng như huyện Quảng Điền phát triển.để ngành công nghiệp không khói huyện Quảng Điền ngày càng phát triển đúng với tiềm năng, thế mạnh Nhận thấy vai trò to lớn của huyện Quảng Điền nên tôi đã chọn đề tài :”Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch huyện Quảng Điền” với hi vọng sẽ

3. bổ sung được nhiều kiến thức mới và cung cấp được những thông tin bổ ích cho những ai muốn tìm hiểu về lịch sử, văn hóa huyện Quảng Điền, và phát triển du lịch huyện. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Việc tìm hiểu, nghiên cứu về khu di tích lịch sử văn hóa Quảng Điền đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người bởi lẽ nó chứa đựng những giá trị văn hóa, lịch sử khá sâu sắc. Quảng Điền – Thừa Thiên Huế là khu vực có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Chính vì vậy, việc khai thác tốt các tiềm năng để phục vụ cho du lịch là một công việc vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết. Nhiều nhà quản lý, nghiên cứu cũng như các nhà đầu tư đã tìm hiểu về du lịch Quảng Điền ở nhiều khía cạnh khác nhau với mong muốn đưa du lịch Quảng Điền phát triển lên một tầm cao mới. Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu về du lịch huyện Quảng Điền một cách toàn diện, cụ thể nhằm tạo cơ sở cho du lịch Quảng Điền phát triển một cách bền vững. Những gì chúng ta có được mới chỉ là những đề án, những quyết định để phát triển du lịch huyện Quảng Điền trong những trường hợp hoặc thời gian cụ thể mà thôi. Bên cạnh đó cũng có một số tài liệu tìm hiểu về lịch sử, văn hóa, những tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của một khu di tích lịch sử cách mạng mà ngày nay nó thu hút khá đông đảo khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu…xong nó vẫn chưa nêu lên được thực trạng phát triển của du lịch huyện Quảng Điền cũng như định hướng và giải pháp phát triển du lịch trong tương lai. Cũng nhân đây, tôi xin giới thiệu một số tiềm năng du lịch huyện Quảng Điền, bao gồm cả tiềm năng du lịch tự nhiên, tiềm năng du lịch nhân văn. Khái quát về hiện trạng phát triển du lịch huyện Quảng Điền, những điều mà huyện Quảng Điền đã làm được cũng như những điều chưa làm được. Trên cơ sở đó tôi đã mạnh dạn đề ra các định hướng và giải pháp cơ bản để phát triển du lịch huyện Quảng Điền. Tôi mong muốn rằng thông qua bài viết:: “

4. Hiện trạng và định hướng phát triển du lịch huyện Quảng Điền” sẽ mang đến một cái nhìn tổng quát cho người đọc về một khu di tích lịch sử cách mạng; đồng thời hy vọng đây sẽ là cơ hội để đưa hình ảnh Quảng Điền đến với mọi người. 3. Mục tiêu 3.1. Mục tiêu chung Nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch của huyện Quảng Điền – Huế . Qua đó đề xuất các giải pháp, định hướng chủ yếu làm căn cứ để thực hiện các chính sách quản lý phát triển du lịch huyện Quảng Điền – Huế, trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Quảng Điền.

Đề Tài Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Ở Thừa Thiên Huế / 2023

g của con người ngày càng được nâng cao. Nhưng cũng vì thế mà con người đang phải đối diện với vấn đề ô nhiễm môi trường, sự nóng lên của trái đất cũng như nhiều thảm họa thiên nhiên khác. Áp lực của công việc và cuộc sống hàng này cũng khiến cho nhiều người cảm thấy mệt mỏi. Chính vì thế họ có xu hướng tìm đến với những điểm du lịch hòa mình với thiên nhiên, thân thiện với môi trường. DLST ngày càng được du khách ưa chuộng. Thừa Thiên Huế đang có rất nhiều thế mạnh về DLST, tương lai hứa hẹn sẽ là một điểm đến lý thú cho du khách trong và ngoài nước. DLST đang nhận được nhiều sự quan tâm của các cấp chính quyền tỉnh với nhiều cơ chế, chính sách phát triển. 2.3.4. Thách thức Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra để lại hậu quả nặng nề, ảnh hưởng rất lớn tới cầu du lịch. Như đã phân tích ở trên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho người dân thắt chặt tiêu dùng, cầu về hàng hóa tiêu dùng thiết yếu không bị ảnh hưởng nhiều. Ngược lại, cầu về các loại hàng hóa cao cấp như du lịch giải trí giảm mạnh. Điều này làm ảnh hưởng mạnh đến cầu du lịch hàng năm. Những người có điều kiện sẽ cắt giảm chi tiêu cho du lịch, chuyển sang những chuyến du lịch rẻ tiền và thời gian ngắn hơn. Những người có thu nhập thấp thì giảm chi tiêu cho du lịch đến mức tối thiểu, xem đó như là một hàng hóa cao cấp trong thời buổi kinh tế khó khăn. Vì thế, du lịch nói chung và DLST ở Thừa Thiên Huế nói riêng sẽ gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn tới. Sự phát triển của nền kinh tế tỉnh ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sống, tài nguyên tự nhiên DLST. Nền kinh tế tỉnh nhà đang trong giai đoạn phát triển mạnh. Nông nghiệp tuy có sự giảm dần về tỉ trọng nhưng ngày càng được CNH – HĐH, ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Công nghiệp ngày càng phát triển mạnh, hàng loạt cụm, khu công nghiệp lớn nhỏ được mở ra và hoạt động hiệu quả. Sự phát triển này cũng gây nên nhiều tác động xấu. Số lượng nhà máy tỉ lệ thuận với lượng bụi khói và rác thải mà nó thải ra môi trường xung quanh. Bầu không khí ngày càng ô nhiễm, vấn đề vệ sinh môi trường trở nên nghiệm trọng. Những điểm DLST ở gần một nhà máy hay khu công nghiệp nào đó cũng chịu tác động nặng nề. Rác thải, bụi khói, nguồn nước ô nhiễm làm mất vẻ mỹ quan cũng như sự hoang sơ của tự nhiên. Đây là một vấn đề nghiêm trọng cần phải có biện pháp giải quyết và khắc phục kịp thời. Sự phát triển mạnh của các điểm du lịch trên cả nước nói chung và khu vực miền Trung nói riêng. Ngành du lịch ở nước ta phát triển mạnh với nhiều điểm du lịch hấp dẫn và nổi tiếng. Có thể kể đến Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hay Hải Phòng, Quảng Ninh… những địa điểm vốn đã rất quen thuộc đối với du khách trong và ngoài nước. Ngay tại khu vực miền Trung cũng có nhiều địa danh du lịch nổi tiếng gắn với nhiều di sản thế giới như Động Phong Nha ở Quảng Bình, Thánh địa Mỹ Sơn và Phố Cổ Hội An ở Quảng Nam… Tất cả đang tạo nên một thách thức lớn đối với DLST nói riêng và du lịch ở Thừa Thiên Huế nói riêng. Thách thức đặt ra là làm sao tạo nên được một thương hiệu DLST Thừa Thiên Huế để ngày càng nhiều du khách biết đến và dừng chân. Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý của tỉnh không thuận lợi trong việc liên kết phát triển du lịch vùng. Thừa Thiên Huế nằm ở vị trí trung độ của cả nước, cách thủ đô Hà Nội 700km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh gần 1000 km về phía Bắc. Đây là hai thành phố lớn, là trung tâm kinh tế – văn hóa của cả nước. Mỗi năm, hai thành phố này thu hút hàng chục triệu vị khách đến làm việc và du lịch. Và khi những vị khách này có nhu cầu muốn mở rộng chuyến du lịch của mình thì những địa điểm mà họ chọn thường là Nha Trang, Vũng Tàu, Đà Lạt… hay Hạ Long, Tam Đảo, Sa Pa… với khoảng cách hợp lý và thuận tiện mà ít lựa chọn, cân nhắc đến Huế. Điều này yêu cầu các cấp chính quyền, cơ quan quản lý du lịch phải có giải pháp liên kết du lịch vùng sao cho thật hiệu quả. Thừa Thiên Huế với điều kiện dân số thấp tạo nên một thị trường khách nhỏ hẹp và cạnh tranh gay gắt. Người dân địa phương cũng là một thị trường khách du lịch tiềm năng. Với lợi thế về khoảng cách, người dân địa phương chiếm một tỉ lệ khá lớn trong doanh thu của các địa điểm du lịch. Theo số liệu thống kê, dân số Thừa Thiên Huế chỉ khoảng 1,5 triệu, thu nhập của người dân còn khá chênh lệch. Vì thế, thị trường khách du lịch địa phương ở Huế khá nhỏ hẹp, phân đoạn thị trường khá nhỏ lẻ và manh mún. Điều này khiến các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh du lịch rơi vào tình thế cạnh tranh khốc liệt trên phân đoạn thị trường này. Đây là một khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp lữ hành nhỏ và vừa ở Thừa Thiên Huế. 2.3.5. Đánh giá chung về điều kiện phát triển DLST ở Thừa Thiên Huế. DLST Thừa Thiên Huế thực sự có tiềm năng và điều kiện phát triển trở thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn và độc đáo, thu hút du khách. Thiên niên kì mới bắt đầu với cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới đã tạo ra rất nhiều thách thức đồng thời cũng mang đến không ít cơ hội cho DLST Thừa Thiên Huế. Biết tận dụng những cơ hội, kết hợp nó với các điểm mạnh để vựot qua thách thức và hạn chế những điểm yếu đang tồn tại, DLST Thừa Thiên Huế sẽ phát triển vượt bậc trong giai đoạn tiếp theo. CHƯƠNG IIIPHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở THỪA THIÊN HUẾ 3.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở THỪA THIÊN HUẾ 3.1.1. Quan điểm phát triển du lịch sinh thái Tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của DLST sao cho DLST trở thành sản phẩm độc đáo, hấp dẫn tương xứng với tiềm năng vốn có của tỉnh trong giai đoạn tới. Môi trường ở đây bao gồm môi trường kinh tế, văn hoá xã hội và cả môi trường sống. Thừa Thiên Huế cần phải tạo ra một môi trường kinh tế phát triển vững mạnh; một nền văn hoá xã hội độc đáo, vừa mang những nét tinh hoa của Việt Nam vừa mang những dấu ấn rất riêng của xứ Huế; và một môi trường sống trong lành, không ô nhiễm để tạo một cảm giác thư thả, thoải mái cho du khách khi đến với DLST ở đây. Gắn phát triển DLST với phát triển bền vững cả ba mặt kinh tế – xã hội – môi trường. Ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường chính là những chất xúc tác cơ bản để DLST phát triển. Bên cạnh đó, phát triển DLST cũng tạo ra những động lực góp phần tạo nên sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà; gìn giữ, bảo tồn những nét đẹp văn hoá của địa phương; đồng thời củng cố, bảo vệ môi trường trước những tác động của cuộc sống hiện đại ngày nay. Gắn phát triển DLST với phát triển bền vững cả ba mặt kinh tế – xã hội – môi trường sẽ là những bước tiến vững chắc cho cả ngành du lịch và cả đời sống của người dân. Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm phát triển DLST có chất lượng cao của các địa phương trong nước và trên thế giới để đa dạng hóa sản phẩm DLST của tỉnh nhà. Hiện nay, DLST ở nhiều địa phương của nước ta phát triển mạnh, ví dụ như: Ninh Bình, Đà Lạt ở Lâm Đồng hay Tam Đảo ở Vĩnh Phúc… DLST cũng là một ngành du lịch đang được quan tâm đầu tư phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Với vị trí là một địa phương đi sau trong lĩnh vực này, Thừa Thiên Huế tiếp thu những kinh nghiệm phát triển DLST của các địa phương đi trước một cách có chọn lọc. Đó là những giải pháp, chính sách có chất lượng cao, đạt hiệu quả ở nhiều địa phương và đặc biệt là cần phải phù hợp với đặc điểm của tài nguyên du lịch cũng như các nguồn lực về kinh tế, xã hội, môi trường mà tỉnh hiện có. Tiếp thu những kinh nghiệm quý báu đó sẽ giúp Thừa Thiên Huế đa dạng sản phẩm DLST của mình, ngày càng thu hút khách du lịch. 3.1.2. Mục tiêu Mục tiêu kinh tế: tối ưu hóa đóng góp của DLST vào ngành du lịch nói riêng và vào thu nhập của tỉnh nói chung, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của DLST. Mục tiêu xã hội: phát triển DLST gắn liền với việc giữ gìn và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên sinh thái của tỉnh, tạo môi trường nhân văn trong sạch đồng thời khai thác tốt các tiềm năng vốn có để phục vụ phát triển DLST. Mục tiêu về bảo vệ môi trường: Giảm thiều những tác động của hoạt động du lịch tới môi trường, giữ gìn sự trong lành, thoáng mát vốn có của Thừa Thiên Huế, đồng thời tạo sự hấp dẫn cho khách du lịch. 3.1.3. Các điểm du lịch sinh thái trọng tâm cần phát triển – Tuyến du lịch Cảnh Dương – Lăng Cô – Vườn Quốc Gia Bạch Mã cho những du khách muốn khám phá hệ sinh thái tại Vườn quốc gia và nghỉ ngơi, tắm biển. – Du lịch tham quan ngắm cảnh và tắm suối nước ngọt ở Suối Voi, Nhị Hồ. – Tham quan, khám phá vẻ đẹp cổ kính, hoang sơ của các khu nhà vườn cổ ở Phú Mộng thuộc ngoại thành Huế hay ở Thuỷ Biều thuộc xã Phú Thượng huyện Phú Vang. – Hệ sinh thái Rú Trá ở Hương Phong, huyện Hương Trà. – Hệ sinh thái nước lợ ở khu đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. – Du lịch nghỉ dưỡng, hoà mình vào thiên nhiên ở khu suối nước nóng Thanh Tân, Phong Mỹ, Phong Điền. – Hệ sinh thái Tràm Chim ở huyện Phong Điền. – Tham quan, ngắm cảnh ở Thác Mơ, Thác Trượt thuộc huyện Nam Đông, kết hợp với tìm hiểu văn hoá của người dân bản địa (du lịch cộng đồng). 3.2. NGUYÊN TẮC VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở THỪA THIÊN HUẾ 3.2.1. Nguyên tắc Sử dụng nguồn lực một cách bền vững, bảo tồn và sử dụng bền vững các tài nguyên thiên nhiên, văn hóa xã hội là yếu tố cần thiết. Với mục tiêu phát triển bền vững cả 3 mặt kinh tế – xã hội và môi trường, phát triển DLST cũng đòi hỏi sử dụng các nguồn lực du lịch một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất, tránh sự lãng phí và tiêu hao quá nhiều nguồn lực. Bất cứ một hoạt động kinh tế nào cũng phải đối mặt với bài toán khan hiếm nguồn lực, sử dụng nguồn lực sao cho tương lai không gặp phải tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên để phát triển. Sử dụng nguồn lực bền vững đồng nghĩa với việc bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên, văn hóa xã hội mà tỉnh hiện đang có. Bởi vì đó là những nguồn lực chính cho phát triển DLST tỉnh nhà. Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải. Một sự tiêu thụ quá mức bao giờ cũng gây ra những tác động quá mức, và đó thường là những tác động xấu, nằm ngoài mong muốn của các nhà kinh doanh dịch vụ du lịch. Ngoài việc làm cho nguồn lực du lịch cạn kiệt thì sự tiêu thụ quá mức còn tạo ra một lượng chất thải lớn, ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên tài nguyên du lịch cũng như cuộc sống của người dân địa phương. Giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải là một trong những nguyên tắc cho phát triển du lịch bền vững. Duy trì tính đa dạng của du lịch sinh thái. DLST hấp dẫn và thu hút khách du lịch nhờ vào sự đa dạng và đặc sắc của đặc điểm tự nhiên, tài nguyên du lịch ở các địa điểm du lịch. Điều đó tạo nên sự đa dạng cho các sản phẩm du lịch sinh thái. Duy trì được sự đa dạng này, DLST của tỉnh Thừa Thiên Huế cũng sẽ duy trì được sự hấp dẫn, lôi cuốn du khách làm nền tảng cho sự phát triển DLST nói riêng và du lịch nói chung cho tỉnh. Hợp nhất du lịch vào quá trình quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Hiện tại, doanh thu du lịch đóng góp một phần khá lớn trong tổng giá trị sản xuất của tỉnh. Đối với Thừa Thiên Huế, du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, trong báo cáo kinh tế xã hội hàng năm, du lịch luôn là một trong những nội dung quan trọng, được đề cập đến rất nhiều trong suốt bản báo cáo. Bên cạnh đó, du lịch còn liên quan đến nhiều vấn đề văn hóa, xã hội của tỉnh. Vì thế, việc hợp nhất du lịch vào quá trình quy hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương là một nguyên tắc cơ bản trong quá trình phát triển du lịch của một tỉnh, nhất là với những tỉnh có tiềm năng du lịch như Thừa Thiên Huế. Hỗ trợ kinh tế địa phương. Du lịch muốn duy trì và hoạt động tốt phải có một nguồn vốn nhất định để các hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành. Bên ngoài nguồn vốn đó, du lịch cũng phải tạo ra một nguồn thu nhất định cho chính bản thân các doanh nghiệp và cả cộng đồng dân cư địa phương. Đó chính là một phần trong mục tiêu về kinh tế của việc phát triển DLST ở Thừa Thiên Huế. Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương. Cộng đồng dân cư địa phương là những người sống và sinh hoạt quanh khu vực có địa điểm DLST. Họ chính là người dân bản địa, và hơn ai hết, họ hiểu rất rõ về đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên tại chính quê hương họ. Có được sự tham gia của cộng đồng địa phương, DLST sẽ khai thác hết những tiềm năng của mình đồng thời có thể phát huy những điểm mạnh vốn có, hạn chế các điểm yếu, sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực DLST. Lấy ý kiến của quần chúng và các đối tượng liên quan. Lập kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng dân cư là một trong những nguyên tắc trong đổi mới kế hoạch hóa ở nước ta hiện nay. Nguyên tắc này không chỉ giới hạn ở đổi mới công tác kế hoạch hóa mà nó còn phù hợp với nhiều hoạt động kinh tế xã hội ở nước ta. Hoạt động du lịch cũng không phải là ngoại lệ. Với mục đích cuối cùng là mang lại lợi ích, thu nhập cho cộng đồng dân cư đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái thì cộng đồng dân cư địa phương chính là một trong những đối tượng chính của du lịch. Vì vậy, ý kiến của các đối tượng chính này là rất quan trọng, nó thể hiện ước mong, khát vọng của người dân trong việc phát triển DLST. Phát triển du lịch thực sự hiệu quả và đạt được mục đích cuối cùng phải dựa trên ý kiến của quần chúng và các đối tượng liên quan khác. Đào tạo nguồn nhân lực một cách hiệu quả. Nguồn nhân lực là một bộ phận quan trọng trong phát triển DLST. Đây chính là nhân tố duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng và phát triển chúng để đưa sản phẩm du lịch đến với du khách. Trình độ của nguồn nhân lực ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm du lịch nên việc đào tạo nguồn nhân lực sao cho thật hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với phát triển du lịch ở bất kỳ một địa phương nào. Tiếp thị, xúc tiến hữu hiệu và có trách nhiệm. Hiện nay, tiếp thị là phương pháp hữu hiệu nhất để đưa sản phẩm du lịch đến với du khách. Bằng nhiều cách khác nhau như quảng cáo, khuyến mãi… tiếp thị rút ngắn mọi khoảng cách, xóa rào cản ngôn ngữ để giới thiệu về sản phẩm của địa phương mình. Tuy nhiên, quảng cáo tiếp thị luôn đòi hỏi sự trung thực và trách nhiệm. Trung thực khi đưa ra những lời giới thiệu đúng, chính xác về về sản phẩm của mình và chịu trách nhiệm hoàn toàn về những gì đã giới thiệu quảng cáo. Tiếp thị không đúng, phóng đại về một sản phẩm sẽ gây ấn tượng không tốt với du khách, từ đó tạo nên một hình ảnh xấu về DLST của tỉnh. Tiếp tục nghiên cứu và giám sát hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh. Hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh thường do nhiều đơn vị kinh doanh tư nhân cũng như Nhà nước nắm giữ. Việc bất đồng về quan điểm, tranh chấp trong quá trình hoạt động là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra. Bởi vậy, các cơ quan chức năng có trách nhiệm thường xuyên giám sát theo dõi hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh bằng một số cơ chế, luật pháp liên quan. Điều này sẽ tránh được các hoạt động tiêu cực trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu phát triển cũng cần được tiếp tục chú trọng. Điều này rất cần thiết cho sự phát triển lâu dài của DLST nói chung cũng như du lịch nói riêng ở Thừa Thiên Huế. 3.2.2. Yêu cầu Phải đảm bảo sự tồn tại của hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao, tức là hoạt động du lịch sinh thái luôn gắn với bảo tồn tự nhiên. Du khách đến với DLST ở Thừa Thiên Huế là để khám phá tự nhiên, tìm hiểu sự đa dạng của các hệ sinh thái nơi đây. Sự tồn tại của các hệ sinh thái này chính là sự tồn tại của DLST. Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại như hiện nay, sự ô nhiễm môi trường, tài nguyên sinh thái cạn kiệt và sự tuyệt chủng của nhiều loại động vật đã và đang lên một hồi chuông cảnh tỉnh đối với các hoạt động của con người. Một hệ sinh thái với nhiều loài động thực vật sinh sống rất cần được bảo vệ. Bất kì một hoạt động nào của con người từ sản xuất cho đến tham quan du lịch đều không được làm tổn hại đến môi trường tự nhiên này. Người hướng dẫn viên ngoài kĩ năng giao tiếp tốt phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa bản địa. Kĩ năng giao tiếp là yêu cầu đầu tiên đối với một hướng dẫn viên du lịch bởi vì họ chính là cầu nối quan trọng nhất giữa du khách với sự hấp dẫn, đặc sắc của các địa điểm du lịch. Tuy nhiên, để hoàn thành tốt nhiệm vụ đó, người hướng dẫn viên cũng cần am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa bản địa. Với sự hiểu biết của mình, họ sẽ hỗ trợ rất nhiều cho du khách trong quá trình tham quan. Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan, khám phá những điều đặc sắc nhất của hệ sinh thái tự nhiên cũng như văn hóa bản địa tại điểm DLST đó. Người điều hành DLST là người phải có năng lực, phẩm chất của một nhà quản lý du lịch. Trước hết, người điều hành phải là người có nguyên tắc. Bất cứ một hoạt động nào cũng được tiến hành dưới một số nguyên tắc nhất định. Người có nguyên tắc sẽ đảm bảo các hoạt động du lịch diễn ra đúng luật, đúng theo những định hướng của các cấp chính quyền đã đề ra. Ngoài ra, người điều hành DLST cần phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương với mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống và nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với khách du lịch. Phát triển sản phẩm DLST phải tuân thủ chặt chẽ theo các quy định về sức chứa. Với bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và văn hoá xã hội, quy định về sức chứa đặt ra một yêu cầu chung cho tất cả các loại du lịch. Đó là lượng khách du lịch tại một thời điểm phải nằm trong một giới hạn nhất định, nếu không những hoạt động của du khách sẽ ảnh hưởng đến sinh thái; làm cho du khách cảm nhận được về điểm du lịch thấp hơn so với kì vọng của họ về điểm du lịch đó; hay xuất hiện những tác động xấu đến đời sống văn hoá, kinh tế và phát sinh những vấn đề xã hội tại nơi đến du lịch. Thừa Thiên Huế cũng không phải là ngoại lệ. Với quan điểm gắn phát triển DLST với phát triển bền vững cả ba mặt kinh tế – xã hội – môi trường, tỉnh cần quản lý chặt chẽ hơn về lượng khách du lịch đến với DLST. Phát triển DLST phải kết hợp với phát triển các loại hình du lịch trên địa bàn tỉnh. Thừa Thiên Huế được biết đến với nhiều loại hình du lịch nổi tiếng. Du lịch lịch sử với hệ thống di tích triều Nguyễn, các bảo tàng lịch sử hay các di tích cách mạng… Du lịch văn hóa với nhã nhạc cung đình Huế, hàng trăm lễ hội truyền thống và nhiều nét văn hóa độc đáo khác. Du lịch tín ngưỡng với hệ thống chùa chiền cổ linh thiêng, nơi lưu trữ những gía trị tinh thần to lớn… DLST cũng là môt trong những điểm nhấn quan trọng cho phát triển du lịch của tỉnh. Điều đó yêu cầu một sự liên kết trong phát triển các loại hình du lịch hiện nay ở Thừa Thiên Huế. Sự liên kết này sẽ giúp các loại hình du lịch thu hút được nhiều khách du lịch hơn, quảng bá nhiều sản phẩm du lịch hơn và mang lại doanh thu lớn hơn. 3.3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở THỪA THIÊN HUẾ 3.3.1. Giải pháp phát triển các điểm DLST 3.3.1.1. Quy hoạch tổng hợp và chi tiết các khu du lịch, điểm DLST cấp Quốc gia và cấp địa phương ở Thừa Thiên Huế để xây dựng sản phẩm DLST mang thương hiệu Thừa Thiên Huế. Vườn Quốc gia Bạch Mã Đây là điểm DLST phát triển nhất, có kết cầu hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật tốt nhất tỉnh. Vì đây là một trong những điểm DLST được phát hiện đầu tiên ở Thừa Thiên Huế, hơn nữa cảnh quan thiên nhiên và hệ sinh thái tại Vườn Quốc gia Bạch Mã thực sự hấp dẫn, lôi cuốn du khách. Ngày càng nhiều các doanh nghiệp tư nhân đầu tư mở dịch vụ lưu trú ở đây, cơ sở vật chất hạ tầng luôn được tỉnh quan tâm và ưu tiên đầu tư. Trong thời gian tới, ban Quản lý Vườn nên tập trung vào nghiên cứu, tìm kiếm các địa điểm du lịch mới, nâng cao tính đa dạng của sản phẩm DLST nơi đây. Đồng thời cần có mổt kế hoạch xúc tiến, một chiến dịch mở rộng thị trường hiệu quả hơn. Hệ thống suối nước ngọt Suối Voi, thác Nhị Hồ. Địa điểm này khá quen thuộc với người dân xứ Huế. Với lực lượng học sinh sinh viên, đây là địa điểm lý tưởng nhất cho các buổi du lịch, dã ngoại trong ngày vì khoảng cách thuận tiện và kinh phí khá hợp lý. Thế nhưng, sau nhiều năm phát triển, Suối Voi, thác Nhị Hồ cũng chỉ dừng lại ở đó. Du khách ngoại tỉnh và quốc tế hầu như không biết đến điểm DLST thú vị này. Để nâng cao vị thế của điểm du lịch này, các cơ quan chức năng cần có một số biện pháp: – Nâng cấp hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng ở khu vực quanh điểm du lịch này. – Đầu tư xây dựng các cơ sở lưu trú đạt chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho du khách đến thăm và nghỉ qua đêm. – Tuyên truyền, quảng bá mạnh mẽ về hình ảnh du lịch của Suối Voi và thác Nhị Hồ. – Mở thêm một số dịch vụ vui chơi giải trí nhằm đa dạng hoá sản phẩm du lịch. Khu nhà vườn cổ ở Phú Mộng, Kim Long và Thuỷ Biều, Phú Vang. Đây là giá trị văn hoá, tồn tại từ lâu đời nên vẻ đẹp mang tính hoang sơ, dân dã nhưng cũng rất tao nhã và thi vị. Để tiếp tục thu hút du khách đến khám phá vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính này, cần: – Bảo tồn, tu dưỡng các khu nhà vườn cổ lâu đời và đang bị xuống cấp. – Kết hợp một số trò chơi dân gian trong các tuyến du lịch đi thăm nhà vườn cổ như: Thả thơ, bài chòi, xăm hường… – Tôn trọng những giá trị nhân văn, cố kính của các khu nhà vườn cổ. Các hệ sinh thái: Hệ sinh thái nước ngọt Rú Trá, hệ sinh thái nước lợ Tam Giang – Cầu Hai, Hệ sinh thái Tràm Chim Các hệ sinh thái này là những “phát hiện mới” đối với DLST ở Thừa Thiên Huế. Hiện tại, hệ sinh thái nước lợ Tam Giang – Cầu Hai đang được tỉnh chú trọng đầu tư phát triển. Đây thực sự là những hệ sinh thái với các đặc điểm tự nhiên độc đáo, hấp dẫn; động thực vật rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, với một số hạn chế nhất định, các địa điểm này vẫn chưa thu hút được khách du lịch, nhất là khách ngoại tỉnh và khách quốc tế. Đề xuất một số biện pháp: – Cải tạo, nâng cấp hệ thống đường bộ, đường thuỷ đến các địa điểm DLST này. – Xây dựng một hệ thống cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống đảm bảo chất lượng để phục vụ cho những vị khách phương xa. – Tích cực quảng cáo, tuyên truyền về hình ảnh của các hệ sinh thái này. – Đầu tư phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch tại đây. Thác Mơ, Thác Trượt. Cũng giống như cụm du lịch Suối Voi, Nhị Hồ, cụm du lịch này đã được phát triển nhưng hiệu quả đầu tư chưa cao, du khách vẫn chưa biết đến địa điểm DLST này ở Thừa Thiên Huế. Ngoài những biện pháp đã được nêu ở trên, điểm du lịch này nên chú trọng việc kết hợp với du lịch cộng đồng. Du lịch cộng đồng là hình thức du lịch tiếp cận, khám phá cuộc sống, văn hoá của các dân tộc ít người ở các huyện miền núi. Hình thức du lịch này hiện đang thu hút được nhiều du khách quốc tế. Liên kết với loại hình du lịch cộng đồng, cụm du lịch Thác Mơ, Thác trượt sẽ có tiềm năng khách du lịch dồi dào. Hệ thống các bãi biển: Lăng Cô, Cảnh Dương, Thuận An… Những bãi biển này khá quen thuộc với người dân Huế. Những địa điểm này là sự lựa chọn của người dân vào các dịp nghỉ hè, nghỉ lễ với thời tiết nóng nực. Biển Lăng Cô được mệnh danh là “Thiên đường xanh” vì có bãi cát dài trắng xoá ôm lấy dòng nước xanh ngắt một màu. Lăng Cô có điểm thuận lợi là nằm ngay trên Quốc lộ 1A, phương tiện giao thông đi lại vô cùng thuận tiện. Biển cũng được đầu tư một hệ thống cơ sở lưu trú, nhà hàng ăn uống đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu của du khách. Mặc dù tiềm năng du lịch khá cao, các bãi biển còn lại vẫn chưa nhận được sự quan tâm đầu tư như vậy. Trong những năm vừa qua, các bãi biển này thực sự không thu hút được khách du lịch. Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần có một số biện pháp thúc đẩy sự phát triển của hệ thống biển ở Thừa Thiên Huế. – Chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật ở những bãi biển chưa được quan tâm đầu tư. – Mở thêm nhiều hình thức vui chơi, giải trí ở trên biển như du thuyền, lướt sóng, khám phá hòn đảo Sơn Chà ở biển Lăng Cô… 3.3.1.2. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về sản phẩm DLST cho các tầng lớp xã hội tại Thừa Thiên Huế Giái pháp thiết yếu nhất và quan trọng nhất là tuyên truyền, giáo dục cho mọi người, đặc biệt chú trọng đến các nhà quản lý các khu Du lịch, điểm du lịch, các hướng dẫn viên, các nhà hoạch định chính sách liên quan đến bảo tồn và phát triển du lịch, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cộng đồng cư dân ở tỉnh và khách du lịch. Đối với từng đối tượng phải vận dụng các hình thức, nội dung khác nhau để tuyên truyền và giáo dục về sản phẩm DLST cho thích hợp. Cần kịp thời, thường xuyên và bằng nhiều hình thức khác nhau để các đối tượng tham gia váo hoạt động DLST ở Thừa Thiên Huế hiểu và nâng cao nhận thức về sản phẩm DLST, các đặc thù của sản phẩm DLST, các yêu cầu của sản phẩm DLST, vai trò và trách nhiệm của mỗi thành phần tham gia vào kinh doanh sản phẩm DLST, lợi ích của DLST cho mỗi thành phần tham gia vào nó. Phương pháp giáo dục, đào tạo nhằm phổ biến kiến thức về tự nhiên, quan hệ trao đổi giữa tự nhiên và con người cho cư dân địa phương tại các điểm DLST của Thừa Thiên Huế bắt đầu từ nhóm nhỏ, thông qua nhóm nhỏ theo cách đơn giản “cầm tay chỉ việc”. Có một thực tế mà chúng ta phải thừa nhận là nhìn chung trình độ học vấn của các cộng đồng dân cư địa phương, nhất là những nơi vùng sâu và xa thường thấp hơn so với mặt bằng chung của xã hội và so với những người dân ở khu vực đô thị. Chính vì vậy, khi xây dựng các chương trình giáo dục nâng cao ý thức cho cộng đồng dân cư địa phương để bảo vệ môi trường, chúng ta phải có những phương pháp để vừa đạt hiệu quả trong công tác giáo dục, đào tạo vừa tiết kiệm chi phí. Một trong những giải pháp đó là phương pháp chọn nhóm nhỏ để giáo dục và đào tạo, từ đó nhân rộng lên mà những giảng viên và đào tạo viên cho các nhóm tiếp theo chính là sản phẩm đào tạo trước đó. Lý thuyết của phương pháp giáo dục, đào tạo này tương tự như cách thức: “Một người đạt trình độ đại học có nhiều kiến thức nhưng chưa chắc giảng dễ hiều hơn so với một người học cấp 2 cho cùng một đối tượng là học viên cấp 1”. Phương pháp này cho thấy, những bước đi đầu tiên trong công tác giáo dục cho cộng đồng dân cư địa phương nên tập trung chủ yếu vào 5% là những người đạt trình độ từ cấp 3 trở lên. Thêm vào đó, các khoá đào tạo, giáo dục phải được tiến hành trước khi cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động DLST. Những kiến thức, kĩ năng được giảng dạy trong các khoá học, đôi khi đơn giản để phù hợp với khả năng tiếp thu, trình độ và yêu cầu đặt ra của hoạt động DLST đối với người dân địa phương. Đó có thể là ngôn ngữ, môi trường, vệ sinh hay các kĩ năng chăm sóc cây cối, vật nuôi và bảo vệ tài nguyên sinh thái. 3.3.2. Nhóm giải pháp về vốn đầu tư Lồng ghép các nguồn lực từ ngân sách nhà nước cũng như ngân sách địa phương để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng các điểm du lịch. Ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương là một trong những nguồn lực tài chính quan trọng đối với phát triển DLST. Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và ổn định đời sống xã hội. Thông qua hoạt động chi ngân sách, Nhà nước sẽ đầu tư vào phát triển kết cấu hạ tầng tại các điểm du lịch sinh thái. Ngân sách địa phương lại là công cụ điều tiết của riêng địa phương đó, thực hiện những chức năng có tính vĩ mô thấp hơn ngân sách nhà nước. Khi kết hợp, lồng ghép hai nguồn lực này với nhau, kết cầu hạ tầng được đầu tư bởi những nguồn lực tự có của địa phương hay nguồn lực trong nước, không phụ thuộc bởi sự đầu tư của nước ngoài. Huy động vốn của các doanh nghiệp tư nhân và của chính người dân cho phát triển DLST Với tính chất nhỏ lẻ của DLST ở Thừa Thiên Huế hiện nay, doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa là đối tượng rất thích hợp trong việc bỏ vốn đầu tư phát triển du lịch. Đây là những nguồn vốn nhỏ và vừa, rủi ro đầu tư thấp, thời gian thu hồi vốn nhanh tạo được cảm giác an toàn, kích thích sự đầu tư của doanh nghiệp. Người dân địa phương là những người đầu tiên trực tiếp hưởng những lợi ích từ phát triển DLST. Hơn ai hết, họ nhận thấy được những kết quả tốt đẹp cả về kinh tế, xã hội và môi trường do sự phát triển của DLST mang lại. Càng đầu tư bao nhiêu, những lợi ích mà người dân nhận được càng tăng. Bởi vậy, các cơ quan chức năng cần có một số biện pháp hỗ trợ những đối tượng này. Cụ thể: – Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp du lịch vay ưu đãi vốn phát triển ngành. – Đưa DLST vào danh mục ngành nghề hưởng ưu đãi tín dụng ngân hang của tỉnh. – Lập quỹ hỗ trợ phát triển DLST của tỉnh. Thực hiện xã hội hoá du lịch Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động du lịch dưới các hình thức khác nhau; thực hiện xã hội hoá đầu tư, bảo vệ, tôn tạo di tích, thắng cảnh, các lễ hội, hoạt động văn hoá dân gian, các làng nghề phục vụ phát triển du lịch. Tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế quản lý đầu tư, tạo môi trường thông thoáng về đầu tư phát triển du lịch, đơn giản hoá các thủ tục hành chính và phát triển các dịch vụ hỗ trợ đầu tư để thu hút các nhà đầu tư. Tạo sự bình đẳng giữa đầu tư trong nước và nước ngoài, giữa tư nhân và nhà nước; mở rộng các hình thức thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước như BOT, BTO, BT… Điều chỉnh hệ thống chính sách về đầu tư. Áp dụng trên điều kiện thực tế của Thừa Thiên Huế các quy định hiện hành của Nhà nước về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư phát triển đối với các dự án đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Đồng thời có chính sách và giải pháp tạo vốn phát triển du lịch, huy động các nguồn vốn để giải quyết các nhu cầu đầu tư, đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch nói chung và DLST nói riêng. Cụ thể: – Vốn từ tích luỹ GDP du lịch, vốn từ vay ngân hang với lãi suất ưu đãi. – Tranh thủ các nguồn vốn từ quỹ tín dụng của Nhà nước trong điều kiện và quy định của các quỹ tín dụng cho phép. – Áp dụng cơ chế đấu giá quỹ đất để tăng nguồn vốn xây dựng hạ tầng cơ sở phục vụ du lịch. – Tận dụng các nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như: ODA, WB, ADB… – Huy động nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI. 3.3.3. Nhóm giải pháp về lao động và đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho đội ngũ lao động hiện tại đang làm việc trong ngành du lịch, phù hợp với tính chất và nội dung công việc của họ. Hiện nay, đội ngũ lao động du lịch toàn tỉnh khá lớn, gần 50.000 người, trong đó lao động DLST chỉ chiếm một phần nhỏ, khoảng gần 4.000 lao động. Tuy nhiên, lực lượng lao động này thực sự vẫn chưa hoạt động hiệu quả do bị hạn chế về một số mặt. Bởi vậy, ngành du lịch của tỉnh cùng với các cấp chính quyền cần có một số biện pháp để nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ lao động này. Cụ thể một số biện pháp như sau: – Xã hội hoá du lịch, nâng cao hiểu biết về du lịch cho cán bộ nhân viên ngành du lịch trực tiếp tiếp xúc với khách góp phần hình thành môi trường du lịch lành mạnh, thuận lợi. – Mở những cuộc thi nghề, trao đổi kinh nghiệm giữa đội ngũ nhân viên du lịch với nhau để cán bộ công nhân viên có cơ hội cọ xát và nâng cao kiến thức chuyên môn của mình. – Thường xuyên mở các lớp đào tạo ngắn hạn, đào tạo lại cho cán bộ, công nhân viên các nhà hàng, khách sạn, hướng dẫn viên du lịch cũng như các cán bộ quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh. – Tạo cơ hội cho cán bộ quản lý, người lao động học tập kinh nghiệm quản lý và kinh doanh du lịch ở một số nước phát triển mạnh về du lịch thông qua quan hệ tại một số nước có trình độ. Tập trung đầu tư đào tạo lực lượng lao động mới, tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao cho tương lai. Lực lượng lao động mới này là một sự hứa hẹn, là sức mạnh tiềm tàng của DLST trong giai đoạn tới. Đó là những học sinh, sinh viên khởi đầu với một kiến thức rất nhỏ hẹp về du lịch, cần phải có những biện pháp, chính sách đào tạo thật phù hợp, trang bị đầy đủ kiến thức và kĩ năng cho nguồn nhân lực tương lai này. Cụ thể: – Mở rộng năng lực các cơ sở đào tạo chuyên nguyện hiện có, phát triển nhiều mô hình đào tạo du lịch đa dạng để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực du lịch của tỉnh. – Khuyến khích các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp nâng cao cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ nhu cầu giảng và dạy học. – Mở nhiều chuyến đi thực tế, đến các địa điểm DLST trên địa bàn tỉnh để học sinh, sinh viên có thêm những kiến thức thực tế hữu ích cho công việc sau này. Một số giải pháp tổng hợp khác Ngoài những giải pháp tập trung vào lực lượng lao động hiện tại và tương lai, tỉnh cần có những giải pháp tổng hợp đối với nguồn nhân lực du lịch: – Xây dựng cơ chế khuyến khích thu hút nhân tài, có chế độ đãi ngộ thoả đáng để thu hút nguồn nhân lực tài năng trong ngành du lịch về với du lịch Thừa Thiên Huế, đặc biệt là đội ngũ quản lý. – Kết hợp với các cơ quan chức năng, các cấo có thẩm quyền của tỉnh trong việc đào tạo và nâng cao chất lượng cán bộ ngành du lịch. – Yêu cầu các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án nước ngoài phải có chương trình chuyển giao công nghệ quản lý, kinh doanh cho các bộ quản lý và người lao động Việt Nam. – Từng bước xây dựng đội ngũ các nhà quản lý, các doanh nghiệp năng động, sang tạo và có đủ năng lực điều hành các hoạt động kinh doanh du lịch hiệu quả. – Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, các vùng lãnh thổ trong hoạt động đào tạo và nâng cao chất lượng cán bộ ngành du lịch. 3.3.4. Nhóm giải pháp về Marketing DLST và xúc tiến hỗn hơp, mở rộng thị trường cho DLST ở Thừa Thiên Huế 3.3.4.1. Tổ chức nghiên cứu chuyên đề về thị trường du lịch sinh thái trong và ngoài nước Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế cần có kế hoạch chương trình nghiên cứu chuyên sâu về thị trường DLST trong và ngoài nước. Dựa trên các nguồn số liệu đã có, sở nên tập trung vào một số thị trường chủ yếu sau đây: Thị trường khách quốc tế: các thị trường khách có nhu cầu lớn bao gồm: – Khu vực châu Á: các nước Thái Lan, Nhật và Trung Quốc. – Khu vực châu Âu: Pháp, Anh, Đức và Hà Lan. – Khu vực châu Mỹ: Mỹ và Canada. Để quá trình nghiên cứu không bị phân tán dàn trải, trong thời gian tới thị trường khách quốc tế nên tập trung vào các thị trường: Thái Lan, Pháp, Đức, Mỹ và đồng bào Việt Kiều. Một trong những phương pháp tốt nhất là mời các đối tác là các nhà kinh doanh lữ hành sinh thái, các tổ chức sinh thái phi chính phủ tới tham quan và thực hiện hoạt động marketing quốc tế tại chỗ. Thị trường khách nội địa: một nguồn khách sinh thái lớn và đầy tiềm năng đó là học sinh, sinh viên cùng các cơ quan hành chính nhà nước. Với lợi thế về khoảng cách, nguồn khách này thường đến với DLST vào các dịp nghỉ lễ nghỉ tết với thời gian không dài, kinh phí phù hợp. Bên cạnh đó, cũng cấn chú ý đền một nhóm khách du lịch là các nhà hoạt động môi trường, các cơ sở nghiên cứu đào tạo về sinh học, địa lý, văn hoá và du lịch. Trên cơ sở đó, triển khai tổ chức các công trình nghiên cứu đặc điểm tiêu dung cụ thể của từng thị trường để nhận biết quy mô, động cơ, kinh nghiệm, yêu cầu về chất lượng và thói quen tiêu dùng của từng đoạn thị trường khách DLST. Việc nghiên cứu này tốt nhất là nên liên kết với trường Cao đẳng Du lịch để mang lại một kết quả phù hợp hơn. Bên cạnh đó, khẩn trương lập một website của riêng DLST Thừa Thiên Huế nhằm quảng cáo sản phẩm đồng thời có những dịch vụ đăng kí tour tuyến trên mạng thông qua website đó. Để có các cơ sở dữ liệu cho việc nghiên cứu thị trường khách DLST ngay từ bây giờ phải hoàn thiện các mẫu biểu ghi chép khách và duy trì sự ghi chép đây đủ, chính xác, thường xuyên và cập nhật và phải coi đây như là một tiêu chuẩn nghiệp vụ của nhân viên, thực thi các công việc đăng kí khách đặc biệt là bộ phận lễ tân các cơ sở lưu trú, các văn phòng du lịch, các trung tâm tiếp đón của Vườn quốc gia, khu bảo tồn và điểm tham quan. Việc nghiên cứu thị trường khách sẽ tạo cơ sở để phát triển DLST ở Thừa Thiên Huế trong thời gian tới. 3.3.4.2. Các kênh phân phối sản phẩm DLST Thừa Thiên Huế Đối với khách du lịch trong nước Sản phẩm du lịch sinh thái Thừa Thiên Huế Khách du lịch sinh thái ở Việt Nam Các tổ chức, hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp Các doanh nghiệp lữ hành 1 2 3 Kênh 1: Các nhà sản xuất sản phẩm DLST ở Thừa Thiên Huế làm marketing trực tiếp đến nơi ở thường xuyên của khách DLST chào bán dịch vụ theo phương thức truyền thống hoặc phương tiện hiện đại, đặc biệt là sử dụng thư điện tử hoặc các website. Kênh 2: Chào bán sản phẩm DLST thông qua các tổ chức hành chính, các đơn vị sự nghiệp và các doanh nghiệp. Tuy nhiên kênh này thích hợp và áp dụng phổ biến hơn với du lịch đại trà. Vì vậy khi chọn loại hình kênh phân phối này phải chọn lọc các tổ chức mà thành viên của tổ chức đó có quan tâm và có mục đích riêng đối với môi trường sinh thái. Kênh 3: Chào bán sản phẩm thông qua các công ty lữ hành trong nước. Tuy nhiên, các công ty lữ hành phải là các công ty lữ hành chuyên kinh doanh về sản phẩm DLST. Thị trường mục tiêu của các công ty này là khách DLST chứ không phải khách du lịch chung chung. Kênh 3 là loại kênh cần khai thác triệt để nhất vì chính các doanh nghiệp lứ hành là người thực hiện chức năng phân phối sản phẩm trong du lịch. Sản phẩm du lịch sinh thái Thừa Thiên Huế Khách du lịch sinh thái ở ngoài Việt Nam Các hãng lữ hành nước ngoài Hãng lữ hành trong nước 1 2 3 Hãng lữ hành nước ngoài Đối với khách du lịch nước ngoài Kênh 1: Các nhà sản xuất DLST làm marketing trực tiếp đến nơi ở thường xuyên của khách DLST chào bán dịch vụ theo phương thức truyền thống hoặc phương thức hiện đại, đặc biệt là sử dụng thư điện tử hoặc các website. Kênh 2: Chào bán sản phẩm DLST trực tiếp với các hãng lữ hành nước ngoài có hoặc chuyên kinh doanh sản phẩm DLST. Kênh 3: Chào bán sản phẩm thông qua các công ty lữ hành Quốc tế trong nước có thị trường mục tiêu là khách DLST để các công ty lữ hành Quốc tế trong nước sử dụng các mối quan hệ đối tác với các hãng lữ hành nước ngoài trong tiêu thụ sản phẩm. Kênh 3 chính là loại kênh có khả năng nhất để tiếp cận, thu hút khách DLST đến với sản phẩm DLST của tỉnh. Vì chsính các doanh nghiệp lữ hành trong nước và nước ngoài cũng tham gia vào việc thiết kế các tour DLST ở Thừa Thiên Huế để bán cho khách. Họ như là người đại diện cho khách tham gia vào việc thiết kế các sản phẩm DLST tại nơi đến du lịch. Trong thời gian tới, DLST Thừa Thiên Huế cần tập trung vào làm một số việc sau: – Xây dựng và sử dụng có hiệu quả website của DLST Thừa Thiên Huế. – Liên hệ với các tổ chức DLST trong và ngoài nước để thuê họ quảng cáo cho sản phẩm DLST của tỉnh. – Mời một số khách DLST đích thực đến Thừa Thiên Huế đi các chuyến du lịch làm quen (FAM trip) và đề nghị sự tư vấn, trợ giúp của họ, thậm chí là đặt hang trong việc xây dựng các sản phẩm DLST ở Thừa Thiên Huế. Đối tượng khách này là các thành viên của tổ chức phi chính phủ có mục đích bảo vệ môi trường, khoa học và đặc biệt mục đích bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hoá bản địa. – Lựa chọn đối tác kinh doanh sản phẩm DLST để tổ chức nhóm công tác do Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch làm chủ dự án bao gồm đại diện lãnh đạo uỷ ban tỉnh, đại diện Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công an, chuyên gia tư vấn DLST, đại diện ban Quản lý, đại diện chính quyền địa phương, đại diện cư dân, đại diện các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ DLST trên toàn tỉnh. Nhóm công tác này với tư cách là khách DLST có mục đích chính là thực hiện dự án để nghiên cứu học tập cách thức kinh doanh sản phẩm DLST của các điểm khu du lịch có điều kiện tương tự ở Thừa Thiên Huế. 3.3.5. Nhóm giải pháp liên kết du lịch vùng 3.3.5.1. Liên kết du lịch với các tỉnh bạn trong khu vực miền Trung Khu vực miền Trung là khu vực có nhiều đặc điểm tự nhiên và khí hậu thích hợp phát triển những khu DLST đa dạng và phong phú. Bởi thế, dọc các tỉnh miền Trung, rất nhiều khu DLST đã và đang được phát hiện, tập trung đầu tư phát triển. Quảng Bình vốn nổi tiếng với Động Phong Nha, nơi đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Hàng năm, địa điểm này đã thu hút hang triệu du khách nội địa và quốc tế đến tham quan. Đây là một nguồn khách tiềm năng cho DLST Thừa Thiên Huế.Tiếp đó, tỉnh Quảng Trị với nhiều bãi biển đẹp và thơ mộng như Cửa Tùng, Cửa Việt thực sự là một điểm dừng chân thú vị với du khách… Xuôi về phía nam, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam và một số tỉnh khách cũng có nhiều địa điểm DLST. Trong đó, nổi bật nhất là Non Nước với núi Ngũ Hành Sơn, một kiệt tác thiên nhiên hùng vĩ. Liên kết du lịch với các tỉnh thành phố này, Thừa Thiên Huế sẽ có cơ hội rất lớn trong việc thu hút khách du lịch. Tỉnh cần đề ra một số chính sách, giải pháp phù hợp. Một số giải pháp đề xuất: – Thương thảo, bàn bạc với các cấp chính quyền hay Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch của các địa phương trên về kế hoạch liên kết du lịch. – Vạch ra các tour, các tuyến du lịch liên tỉnh nối các điểm DLST của các địa phương với nhau. – Xúc tiến, quảng cáo về tour, tuyến du lịch vừa đặt ra. – Đưa ra những chính sách ưu đãi lớn đối với du khách tham gia vào các tour, tuyến du lịch này. – Liên hệ với các hãng vận chuyển nhằm phục vụ một cách tốt nhất cho việc di chuyển địa điểm du lịch cho du khách. 3.3.5.2. Liên kết du lịch với các điểm du lịch lớn, có tiềm năng trên cả nước. Phía Bắc nước ta có một loạt điểm DLST rất nổi tiếng, thu hút rất nhiều khách du lịch. Đó là Sapa ở Lào Cai, Tam Đảo ở Vĩnh Phúc hay cụm DLST ở tỉnh Ninh Bình. Những địa điểm này đang tạo ra một hình ảnh đẹp về DLST ở miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung. Còn ở phía Nam, điểm du lịch nổi bật nhất có lẽ là Đà Lạt với những cảnh quan thiên nhiên vừa thơ mộng vừa hữu tình mà lại mang nét hoang sơ của cao nguyên Lâm Viên. Đây chính là những địa điểm du lịch mà Thừa Thiên Huế nên chú trọng liên kết, mở rộng tuyến du lịch. Tỉnh cần đưa ra một số chính sách, giải pháp thúc đẩy sự liên kết này. Các chính sách giải pháp cũng tương tự như đối với liên kết DLST với các tỉnh miền Trung. Nhưng với khoảng cách xa hơn, Thừa Thiên Huế nên chú trọng vào việc đưa ra những chính sách ưu đãi đối với khách du lịch, và cũng cần tạo ra một sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các công ty vận chuyển để đảm bảo sự di chuyển cho du khách. Bên cạnh, tỉnh nên học tập những kinh nghiệm kinh doanh sản phẩm DLST vốn đang rất thành công ở các địa phương này. 3.3.5.3. Liên kết du lịch với những điểm du lịch của các nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới Đây là một giải pháp mang tầm vĩ mô đối với DLST ở Thừa Thiên Huế. Tỉnh có thể liên kết với các nước trong khu vực Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan… hay với các nước Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật bản… và mở rộng sang phía tây với các nước Nam Á như Ấn Độ… Để liên kết được với các nước này, Thừa Thiên Huế cần tạo ra một hệ thống sản phẩm DLST thật độc đáo, hấp dẫn du khách. Điều này vừa tạo cơ hội cho sự liên kết du lịch, vừa tạo sức mạnh cạnh tranh với các điểm du lịch đó. 3.3.5.4. Kết hợp loại hình DLST với nhiều loại hình du lịch khác để nâng cao tính đa dạng của sản phẩm du lịch Ở Thừa Thiên Huế hiện nay đang tồn tại rất nhiều loại hình du lịch như du lịch văn hoá, du lịch lịch sử, du lịch tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng… và cả DLST. Địa điểm của các loại hình du lịch này có đặc điểm là trải đều trên toàn tỉnh, đan xen với nhau tạo nên một hệ thống các điểm du lịch rất phong phú và đa dạng. Kết hợp các loại hình du lịch này với nhau sẽ mang lại nhiều lợi ích: – Nâng cao tính đa dạng của địa điểm du lịch, giảm thiểu sự nhàm chán của du khách. – Tận dụng được các cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng du lịch, sử dụng các yếu tố này một cách có hiệu quả nhất. Đề xuất một số kết hợp địa điểm DLST với các loại hình khác ở Thừa Thiên Huế: 1. Du lịch nghỉ dưỡng ở suối khoáng nóng Thanh Tân với thác A Đon và hệ sinh thái Tràm Chim ở huyện Phong Điền, phía Bắc thành phố Huế. 2. Du lịch tâm linh ở hệ thống chùa Thiên Mụ, Huyền Không Sơn Thượng với điểm DLST Nhà vườn cổ ở Phú Mộng. Tất cả các điạ điểm này thuộc xã Kim Long, một xã ngoại thành của Thành phố Huế. 3. Du lịch văn hoá lịch sử ở khu di tích triều Nguyễn, lăng tẩm của 13 triều vua với điểm DLST Nhà vườn cổ ở xã Thuỷ Biều, Phú Thượng, Phú Vang, một xã ngoại thành của Thành phố Huế. 4. Du lịch cộng đồng khám phá, tìm hiểu cuộc sống của các dân tộc thiểu số ở huyện miền núi Nam Đông với điểm DLST Thác Mơ, Thác Trượt ở đây. 5. Du lịch tâm linh ở Thiền Viện Trúc Lâm Bạch Mã với tuyến DLST Cảnh Dương – Lăng Cô – Bạch Mã. 3.3.6. Nhóm giải pháp về chính sách và cơ chế quản lý Đây là nhóm giải pháp có tính chất vĩ mô, tác động lên nhiều mặt của việc phát triển DLST ở Thừa Thiên Huế. Nhóm giải pháp về chính sách: – Có một cơ chế ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp, các hộ gia đình kinh doanh sản phẩm DLST. – Hỗ trợ thủ tục hành chính đối với các dự án đầu tư phát triển DLST. Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý: – Phân cấp quản lý, khai thác các điểm DLST, các di tích văn hóa, lịch sử của tỉnh. – Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của các cấp chính quyền. Giải pháp này được hỗ trợ bởi một số biện pháp sau: Mở các lớp học nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công nhân viên ở các cơ quan hành chính để bổ sung, nâng cao trình độ. Tổ chức các cuộc thi, giao lưu trao đổi kinh nghiệm giữa các cán bộ công nhân viên với nhau. Tạo điều kiện có một số cán bộ có đủ năng lực đi du học nâng cao trình độ ở nước ngoài. – Thành lập hiệp hội DLST với chức năng chính là điều phối các hoạt động kinh doanh DLST. 3.4. CÁC KIẾN NGHỊ 3.4.1. Kiến nghị với tổng cục du lịch Thứ nhất, trên cơ sở chiến lược phát triển DLST Việt Nam, đề nghị với Nhà Nước có chính sách ưu tiên loại hình DLST. Vì kinh doanh sản phẩm DLST không chỉ mang tính chất thuần tuý nhằm mục đích lợi nhuận mà kinh doanh sản phẩm DLST là một thành phần trong hệ thống du lịch vừa có tính hướng đích vừa có tính nhất thể cao. DLST đảm bảo sự cân bằng và hướng tới hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả văn hoá xã hội và cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Thứ hai, ban hành các tiêu chuẩn và quy tắc của điểm DLST và khu DLST, sách hướng dẫn DLST, xây dựng nội dung giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho chiến lược phát triển DLST của Quốc gia. Thứ ba, công tác xúc tiến cần tăng cường và tập trung nhiều hơn vào sản phẩm DLST của Việt Nam. 3.4.2. Kiến nghị với Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (thông qua Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch) Thứ nhất, điều chỉnh là quy hoạch du lịch tỉnh đến năm 2015 cho phù hợp Luật Du lịch và quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch của Việt Nam. Thứ hai, cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để thành lập hiệp hội DLST của tỉnh. Thứ ba, tập trung vốn đầu tư vào phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật cho các điểm du lịch. Thứ tư, có chế tài buộc những doanh nghiệp kinh doanh DLST tập trung đầu tư vào dịch vụ bảo hiểm, một yếu tố khá quan trọng trong DLST. Thứ năm, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh du lịch về vốn, quảng bá, xúc tiến du lịch. 3.4.3. Kiến nghị với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm DLST trên địa bàn tỉnh Thứ nhất, lựa chọn các dự án đầu tư tương thích với loại hình DLST. Thứ hai, các nhà kinh doanh sản phẩm DLST nhất thiết phải mang lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồng dân cư, nơi có các giá trị của tài nguyên sinh thái. Thứ ba, đảm bảo chất lượng các dịch vụ, hàng hoá tương xứng với giá cả mà khách phải chi trả, phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh để có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực cho kinh doanh du lịch nói chung và DLST nói riêng. Thứ tư, phải có sự phối kết hợp chặt chẽ trên cơ sở phân chia lợi ích để tạo động lực cho các nhà kinh doanh lữ hành thu hút du khách và tiêu thụ sản phẩm DLST cho tỉnh. Thứ năm, phải có trách nhiệm và nhận thức rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc sử dụng, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhânlực, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực có chất lượng cao cho ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế. 3.4.4. Đối với nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế Thứ nhất, nêu cao truyền thống mến khách của dân tộc, tôn trọng khách, không chèo kéo, nài ép khách, lịch sự văn minh trong giao tiếp phục vụ khách. Thứ hai, gìn giữ và phát triển những nghề truyền thống của mình để khách du lịch được chiêm ngưỡng, học hỏi và mua các sản phẩm do chính cư dân địa phương làm ra. Thứ ba, gìn giữ và phát triển bản sắc văn hoá, phong tục tập quán riêng biệt của dân tộc mình thông qua việc tổ chức các lễ hội, các lễ nghi trong giao tiếp, trong thức ăn, đồ uống, trong trang phục và sinh hoạt thường ngày. Đây ; à các tài sản vô giá mà các thế hệ đi trước để lại, các tài sản này tạo ra điểm nhấn của DLST tỉnh Thừa Thiên Huế để thu hút khách tham quan. Thứ tư, tôn trọng luật pháp và chỉ làm những gì mà pháp luật không cấm, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp ở quê hương mình. KẾT LUẬN Thừa Thiên Huế là một tỉnh có một tiềm năng du lịch rất lớn. Ở đây có thể phát triển rất nhiều loại hình du lịch: du lịch văn hoá, du lịch lịch sử, du lịch tâm linh, du lịch cộng đồng… Các loại hình du lịch này đang rất phát triển, hàng năm thu hút được hàng triệu lượt khách du lịch, mang lại doanh thu lớn góp một phần vào GDP của tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng phát triển các loại hình du lịch trên, Thừa Thiên Huế còn có một tiềm năng rất lớn để phát triển loại hình DLST. Có thể kể đến Vườn Quốc gia Bạch Mã, hệ sinh thái Rú Trá, hệ sinh thái Tràm Chim, hệ sinh thái Tam Giang – Cầu Hai, hàng loạt hồ, thác nước ngọt với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ hay các bãi biển xanh ngắt ngút ngàn… Những tưởng với nguồn tiềm năng lớn như vậy, DLST ở Thừa Thiên Huế đã phát triển mạnh, trở thành một trong những địa điểm thu hút khách DLST của Việt Nam. Thực tế, DLST ở đây mới chỉ bước vào giai đoạn đầu của quá trình phát triển và kết quả thu được trong các năm vừa qua còn kém, hoàn toàn chưa tương xứng với tiềm năng. Đề tài “Giải pháp phát triển DLST ở Thừa Thiên Huế” của em đi sâu vào phân tích thực trạng phát triển DLST của tỉnh, từ đó đưa ra một số giải pháp cho sự phát triển của lĩnh vực này trong tương lai. Hy vọng đề tài này sẽ góp một phần nhỏ vào công cuộc phát triển DLST ở Thừa Thiên Huế. Em xin chân thành cám ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Vận, cô Trần Lan Anh – trưởng phòng kế hoạch tổng hợp, sở Kế hoạch và Đầu tư Thừa Thiên Huế cùng các anh chị chuyên viên ở Sở đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình hoàn thành đề tài này. Với vốn kiến thức có hạn, đây lại là một đề tài khá mới nên nó không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong thầy giáo, cô Lan Anh cùng các anh chị chuyên viên góp ý để em có thể hoàn thiện đề tài này hơn. Em xin chân thành cám ơn.

Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Nhật Bản / 2023

Với mục tiêu hút khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt 40 triệu người năm 2020, 60 triệu người năm 2030; Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt 8.000 tỷ Yên năm 2020, 15.000 tỷ Yên năm 2030; Số đêm khách quốc tế nghỉ ngoài 3 khu đô thị chính đạt 70 triệu đêm/2020 và 130 triệu đêm/2030; Lượng khách du lịch quốc tế quay lại Nhật đạt 24 triệu năm 2020 và 36 triệu năm 2030; Chi tiêu của khách du lịch nội địa cho du lịch đạt 21.000 tỷ Yên năm 2020 và 22.000 tỷ Yên năm 2030, Nhật Bản đã đưa ra Chiến lược phát triển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. TẦM NHÌN 1: Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng.

Mùa hoa anh đào ở Kyodo thu hút rất đông khách du lịch Nhật Bản và quốc tế (Ảnh: asia.nikkei.com)

Cho phép sử dụng những khu di sản công cộng.

+ Người dân sẽ được quyền tiếp cận những khu di sản công, những nơi mang nhiều truyền thống lịch sử.

+ Các khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng khác sẽ được sử dụng tốt hơn cho du lịch nhằm góp phần phát triển cấp vùng.

+ Một hệ thống giúp các công ty du lịch tư nhân dễ dàng sắp xếp các tour du lịch trọn gói sẽ được giới thiệu trên cơ sở thử nghiệm.

+ Những trang web giới thiệu những tour sẽ được cải thiện.

Cho phép sử dụng các cơ sở văn hóa với vai trò như tài nguyên du lịch.

+ Trọng tâm chính sách di sản sẽ được điều chỉnh theo hướng cho phép nhiều hơn việc sử dụng và thể hiện tốt hơn các địa điểm di sản như từ “chỉ tập trung vào công tác bảo tồn” sang khuyến khích khách du lịch tìm hiểu nhiều hơn về điểm di sản.

+ Chương trình Chiến lược thúc đẩy Sử dụng và Đánh giá các Tài sản Văn hoá năm 2020 (tên dự kiến) sẽ được xây dựng. Khoảng 200 trung tâm du lịch, bao gồm các di sản Nhật Bản sẽ được triển khai. Khoảng 1,000 dự án sẽ được thực hiện vào năm 2020, bao gồm việc liên kết các di sản cá nhân và cung cấp thông tin mô tả đa ngôn ngữ cho các tài sản văn hoá.

+ Phạm vi hoạt động của Cơ quan Văn hóa cũng sẽ được mở rộng để đáp ứng nhu cầu chính sách mới của quản trị văn hóa.

Xây dựng thương hiệu công viên quốc gia ở Nhật Bản.

+ Các công viên quốc gia ở Nhật Bản sẽ được cải thiện để trở thành ví dụ toàn cầu.

+ Một phần của Dự án Thưởng thức Công viên Quốc gia 2020 (tên dự kiến) sẽ được xây dựng để phục vụ cho 5 công viên quốc gia.

Những nỗ lực bao gồm:

+ Việc thể hiện những nơi tham quan tự nhiên sẽ được hỗ trợ.

+ Không gian lưu trú gây thiện cảm tại các điểm đến du lịch.

+ Tăng cường cung cấp thông tin ở nước ngoài.

+ Củng cố các chiến lược tiếp thị.

+ Khuyến khích các Cơ quan của tỉnh cải thiện các công viên gần được danh hiệu Công viên quốc gia.

Tăng cường tính hấp dẫn của các khu vực di sản thông qua sự cân bằng cách tiếp cận bảo tồn và thể hiện các tài nguyên danh lam thắng cảnh.

+ Đến năm 2020, “kế hoạch danh lam” cho những điểm du lịch thế mạnh sẽ được xây dựng.

+ Kết hợp mối quan hệ công và tư.

+ Xây dựng hành trình tour thành phố.

+ Hướng dẫn du lịch và dịch vụ Internet sẽ được cải thiện.

+ Xây dựng và phát triển nhà ở nông trại, nhà ở trên núi và những làng đánh cá ban ngày để du khách có thể cảm nhận được thiên nhiên Nhật Bản.

+ Tăng chi tiêu du lịch tại các đường phố mua sắm địa phương và tiêu thụ các sản phẩm thủ công truyển thống.

+ Tạo ra các tuyến du lịch diện rộng đẳng cấp thế giới.

TẦM NHÌN 2: Thúc đẩy đổi mới trong ngành du lịch để tăng sức cạnh tranh quốc tế và phát triển ngành thành một trong những ngành công nghiệp cốt lõi.

Nới lỏng các yêu cầu thị thực là một trong nội dung được đề ra trong Chiến lược

Rà soát các quy định và quy tắc để ngành du lịch đạt hiệu quả cao hơn.

+ Giấy phép hướng dẫn, xây dựng tour, nhà nghỉ, đại lý du lịch sẽ được cải thiện để trở thành một hệ thống chào đón số lượng khách du lịch ngày càng gia tăng đến Nhật Bản cũng như đảm bảo tính an toàn và cạnh tranh quốc tế.

+ Có trách nhiệm với các dịch vụ nhà nghỉ tư nhân đối với khách du lịch nước ngoài. Cải thiện nguồn nhân lực trong ngành quản lý du lịch.

+ Thiết lập chương trình đào tạo cấp quản lý vào năm 2020.

+ Tăng cường phát triển nguồn nhân lực cho các vị trí quan trọng bằng cách cải thiện chương trình của khoa du lịch ở cấp đại học.

+ Phát triển nguồn nhân lực tại các tổ chức giáo dục đại học mới để cung cấp giáo dục nghề nghiệp thực tế.

+ Tăng cường phát triển nguồn nhân lực bằng cách sử dụng các trường dạy nghề địa phương chuyên về du lịch.

+ Loại bỏ nhanh chóng tình trạng thiếu chỗ ở và cung cấp chỗ ở đa dạng hơn.

+ Tạo và phát triển DMO (quản lý điểm đến du lịch/ tổ chức tiếp thị) đẳng cấp thế giới.

+ Xây dựng các quỹ Tái sinh/Phục hồi khu vực Du lịch có khả năng kích hoạt dòng tiền của khu vực tư nhân.

+ Nâng cao tiếp thị du lịch đến Nhật Bản.

+ Hướng ưu tiên đến thị trường châu Âu, Mỹ, Úc.

+ Xây dựng hình ảnh Nhật Bản bằng cách sử dụng các cơ quan truyền thông toàn cầu và thành lập ban cố vấn bao gồm các trí thức Nhật Bản.

+ Sản xuất video trải nghiệm của các du khách đã đến Nhật Bản.

+ Tăng cường tính phổ biến tài sản du lịch Nhật Bản ở nước ngoài.

Chiến lược nới lỏng các yêu cầu thị thực.

+ Nới lỏng các yêu cầu thị thực phù hợp với nỗ lực nâng cao nhận thức về Nhật Bản ở nước ngoài, bao gồm quốc gia cần thị thực nhập cảnh (Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Ấn Độ và Nga).

Tăng cường học bổng đến Nhật Bản. Cải thiện du lịch giáo dục. Tăng cường các chuyến đi du lịch từ những người trẻ. TẨM NHÌN 3: Đảm bảo tất cả du khách tận hưởng trải nghiệm tham quan thoả mãn, thoải mái và không căng thẳng.

Xúc tiến các hoạt động thiết kế toàn diện cho Olympic 2020 và Paralympic

Cổng nhập cảnh sẽ được sử dụng công nghệ tiên tiến nhất.

+ Biocarts được sử dụng để có thông tin nhận dạng cá nhân của du khách nước ngoài khi họ xếp hàng ở khu vực thủ tục ra vào.

+ Giới thiệu cổng tự động cho du khách “đáng tin cậy”.

+ Xúc tiến tích hợp phục hồi thị trấn và du lịch đường phố thông qua hoạt động xây dựng cộng đồng khu vực tư nhân.

+ Hướng tới hiện thực hoá một môi trường không tiền mặt.

+ Cải thiện viễn thông để mọi người có thể di chuyển độc lập.

+ Thúc đẩy phổ biến thông tin đa ngôn ngữ.

+ Cải thiện hệ thống nhận bệnh nhân nước ngoài (bao gồm cả cấp cứu) tại các cơ sở y tế.

+ Cải thiện môi trường an ninh đảm bảo du khách nước ngoài có thể trải nghiệm an ninh công cộng cấp cao.

+ Hoàn thành hành lang phát triển kinh tế khu vực.

+ Tăng cường chức năng của các sân bay địa phương như là cửa ngõ đến thế giới và xúc tiến dịch vụ vận chuyển giá rẻ (LCC).

+ Để biến các vùng biển ở Đông Bắc Á thành thị trường du thuyền nổi tiếng thế giới Nhật Bản cần biến các khu vực vịnh thành điểm đến phổ biến cho cả khách du lịch bình dân lẫn sang trọng và tăng số lượng khách đi tàu lên 5 triệu vào năm 2020.

Đổi mới trong giao thông công cộng.

+ Cho phép đăng ký giữ chỗ cho phương tiện công cộng trên mạng.

+ Giới thiệu hệ thống tìm kiếm lộ trình bao gồm cả hệ thống phương tiện công cộng vào năm 2020.

+ Tăng số lượng trạm.

+ Thành lập văn phòng hành lý cho khách du lịch tại các trung tâm vận tải nội địa vào năm 2020.

+ Để tiếp tục cải thiện ngành du lịch trong nước cần tăng tỷ lệ ngày nghỉ được trả lương hàng năm lên 70% vào năm 2020 và cho phép các kỳ nghỉ so le.

+ Xúc tiến các hoạt động thiết kế toàn diện cho Olympic 2020 và Paralympic.Tầm nhìn Du lịch đã đề xuất 3 tầm nhìn làm trụ cột chính trong chiến lược của Nhật Bản. Tất cả các cấp chính quyền, các bộ, và các khu vực công và công ty sẽ làm việc cùng nhau để Nhật Bản trở thành điểm đến đẳng cấp thế giới.

Nguồn: Bản tin VHTTDL I/2019

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Phát Triển Du Lịch Outbound Đến Nhật Bản / 2023 trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!