Xu Hướng 2/2023 # Đề Xuất Phát Triển Du Lịch Ở Hòn Bà # Top 11 View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đề Xuất Phát Triển Du Lịch Ở Hòn Bà # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Đề Xuất Phát Triển Du Lịch Ở Hòn Bà được cập nhật mới nhất trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hòn Bà có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch. Tuy nhiên, diện tích dành cho du lịch sinh thái nơi đây quá nhỏ hẹp, chưa thu hút được các nhà đầu tư. Vì vậy, UBND tỉnh Khánh Hòa đã đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) cho phép thay đổi diện tích các phân khu chức năng của khu bảo tồn để phát triển du lịch sinh thái.

Đề xuất thay đổi diện tích

Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà nằm trên địa phận 4 địa phương gồm: Cam Lâm, Diên Khánh, Khánh Sơn và Khánh Vĩnh. Khu bảo tồn có tổng diện tích tự nhiên gần 19.300ha rừng đặc dụng, được chia thành 3 phân khu chức năng gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rộng gần 9.520ha; phân khu phục hồi sinh thái hơn 9.550ha và phân khu dịch vụ hành chính rộng khoảng 213ha.

Nhà làm việc của cố bác sĩ Yersin trên đỉnh Hòn Bà.

Trong phân khu dịch vụ hành chính có khoảng 3ha dùng để xây dựng các công trình phục vụ hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí… Tuy nhiên, đây là phần diện tích quá ít để có thể phát triển du lịch sinh thái nên chưa thu hút được các nhà đầu tư. Vì vậy, tại buổi làm việc giữa tỉnh Khánh Hòa với Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường mới đây, ông Nguyễn Khắc Định – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy đã kiến nghị Bộ NN-PTNT cho phép điều chỉnh diện tích các phân khu chức năng của Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà để có đủ quỹ đất xây dựng các công trình phục vụ du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình triển khai các hoạt động du lịch sinh thái phù hợp với quy hoạch ngành du lịch, đảm bảo đúng quy định của pháp luật, không làm tổn hại sinh thái rừng. Cụ thể, UBND tỉnh đề xuất cho phép thay đổi phân khu bảo vệ nghiêm ngặt sẽ là 9.130ha; phân khu phục hồi sinh thái 8.269ha và phân khu dịch vụ hành chính sẽ được nâng lên thành 1.886ha (số tròn).

Theo Bí thư Tỉnh ủy, việc mở rộng phân khu dịch vụ hành chính cũng nhằm thu hút, huy động nguồn lực đầu tư cho công tác bảo vệ, phát triển rừng; tạo nguồn thu ổn định để đầu tư lại cho công tác bảo vệ rừng và chủ trương tự chủ của các ban quản lý rừng theo chỉ đạo của Bộ NN-PTNT tại Chỉ thị 1788 ngày 10-3-2020 về nhiệm vụ, giải pháp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và cho thuê môi trường rừng đặc dụng, phòng hộ.

Định hướng du lịch sinh thái

Đỉnh Hòn Bà nhìn từ trên cao.

Theo Sở NN-PTNT, Nghị định 156 ngày 16-11-2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp đã quy định rõ về quản lý xây dựng công trình phục vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng. Theo đó, các công trình xây dựng phục vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và cảnh quan tự nhiên của khu rừng. Luật cũng cho phép hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh trong phân khu dịch vụ hành chính, nhưng phải bảo đảm các yêu cầu khắt khe như: Không ảnh hưởng đến mục tiêu bảo tồn, không phá vỡ cảnh quan môi trường, không chặt phá rừng, các công trình xây dựng phải dựa vào thiên nhiên, hài hòa với cảnh quan môi trường, chiều cao tối đa của công trình không quá 12m; chỉ được xây dựng các công trình ở những nơi đất trống, trảng cỏ, đất có cây bụi không có khả năng tự phục hồi…

Trước đề xuất của Khánh Hòa về việc thay đổi diện tích các phân khu chức năng của Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đã đồng ý về mặt chủ trương, đồng thời giao các cơ quan chuyên môn của bộ phối hợp với tỉnh tổ chức khảo sát, nghiên cứu, đề xuất hướng điều chỉnh trong thời gian tới.

Hồng Đăng

 

Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà được khám phá và nổi tiếng qua các công trình của bác sĩ Alexandre Yersin. Khu bảo tồn được thành lập năm 2005, với nhiệm vụ bảo vệ một số mẫu điển hình của hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới, nguồn gen động thực vật quý hiếm; phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ và duy trì nguồn nước cho hồ Suối Dầu; góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết khí hậu phục vụ nghiên cứu khoa học về rừng, tạo nên một khu du lịch sinh thái hoàn chỉnh khép kín với du lịch biển TP. Nha Trang.

 

Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Thiết Thực Về Phát Triển Du Lịch Huế

I. Trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế có gần 85% sinh viên qua đào tạo có việc làm

Trường Cao đẳng nghề du lịch Huế và trường Đại học Ubon Rachathani Rajabhat (Thái Lan) vừa ký kết biên bản hợp tác trong lĩnh vực đào tạo. Cầu đường bộ Bạch Hổ bắt qua sông Hương vừa được khánh thành đưa vào sử dụng cuối tháng 8/2012, góp phần giải quyết giao thông và tạo điểm nhấn quan trọng cho cảnh quan đô thị, du lịch Huế. Đặc biệt các ngày mùng 3, 4, 5 Tết công suất phòng bình quân đạt trên 80%, nhiều khách sạn đạt 90 – 95%. Khách nước ngoài tới tham quan Ngọ Môn, Huế.

Sẽ có ít nhất 25 hoạt động văn hóa, du lịch diễn ra ở Thừa Thiên – Huế suốt năm 2010, trong đó, festival Huế sẽ là điểm nhấn để quảng bá vẻ đẹp, nét văn hóa độc đáo của địa phương và thu hút khách tham quan. Vì vậy nhiều du khách trong và ngoài nước khi tới đây đều rất ấn tượng bởi vẻ đẹp của khu nhà vườn cổ kính, đặc trưng của người dân xứ Huế. Còn trong vùng, ông Bảo nói tiếp: “Có nhà đã phải bốn lần nhổ lên cắm xuống”. Trong các di sản văn hóa, tỉnh sẽ nâng cấp, rồi thổi hồn vào các hoạt động chẳng hạn như trung tâm bảo tồn cố đô Huế. Từ kiến thức, kinh nghiệm thực tế, lòng tâm huyết với nghề, những người làm du lịch chuyên nghiệp sẽ giúp cho người dân làng nghề cách thức làm du lịch như: hình thức giao tiếp đón khách; các vấn đề về môi trường tại các điểm đón khách; phương pháp thuyết minh tại điểm du lịch; phương pháp tiếp cận cộng đồng tại các làng nghề; sự hợp tác giữa cộng đồng trong từng làng nghề, cũng như thống nhất một số vấn đề về giá dịch vụ, lộ trình, chọn mô hình phù hợp trong tuyến du lịch làng nghề mà chính họ là những chủ nhân. Bên cạnh đó chúng tôi cũng mở rộng thêm du lịch đầm phá, du lịch cộng đồng, du lịch tâm linh, và du lịch hội nghị.

II. Làm mới du lịch Huế

Hiện ngành du lịch Huế đang có vài trục trặc, nhưng không có gì phải hoắng lên cả (!?). Vì vậy, Quy hoạch tổng thế phát triển du lịch Huế đến năm 2020 hướng đến xây dựng một “khái niệm mới” cho Huế, kết hợp được những giá trị cốt lõi của văn hóa và lịch sử Việt Nam với công nghệ và quy hoạch đô thị tiên tiến nhất; tận dụng được lợi thế nguồn lực của Huế và vị trí ở miền Trung Việt Nam; đồng thời, tạo ra quá trình phát triển cân bằng theo hướng phát triển bền vững văn hóa và du lịch với những mô hình phát triển đặc biệt cho thành phố Huế… Minh Hạnh. Từ nay đến hết ngày 1-4, nhiều chương trình ưu đãi được áp dụng cho du khách như: giảm 20% giá vé tham quan các điểm di tích cho các đoàn khách từ 10 người trở lên, miễn phí thuyết minh đối với đoàn khách từ 20 người trở lên, giảm 50% giá vé biểu diễn nhã nhạc tại nhà hát Duyệt Thị Đường các suất buổi sáng và chiều, giảm 20% giá vé xe điện đưa đón du khách trong trong khu vực Hoàng cung. Nếu muốn ăn vả trộn đúng chất Huế, thì bạn hãy làm một chén mắm ruốc (cách pha như món vả chấm ruốc) để ăn cùng.Sản phẩm du lịch quá đơn điệu, mới dựa chủ yếu vào các yếu tố tự nhiên, khai thác những cái có sẵn, không thể hiện ưu thế trên thị trường. Dũng Bài và ảnh: Quang Nhật.

III. 6 tháng, du lịch Huế tăng trưởng khả quan

Vì thế, ngành du lịch Huế có lẽ cần có giải pháp để nâng cao chất lượng từ dịch vụ lưu trú đến ăn uống. Việc liên kết với Công ty Du lịch Huế sẽ thu hút khách ở vùng miền Trung và giúp công ty nối tour cho tuyến du lịch qua xuyên 3 nước Đông Dương qua các cửa khẩu ở miền Trung. Vì tất cả các nhà vườn đều cửa đóng then cài mà họ không hiểu lý do gì. Dù tiệm cắt tóc này không có dịch vụ xông hơi nhưng vẫn kê trong phiếu tính tiền là: “Xông massa (viết nguyên văn) 100. Vì thế, không khai thác du lịch tâm linh là Huế không biết phát huy thế mạnh của mình. Tôm thì lột vỏ rồi xào xơ với tỏi và hành tím.

Bên cạnh dĩa cơm đầy hương sắc là chén nước mắm đặc trưng của Huế. Chạy thêm chừng 5 cây số nữa để đến với chùa Thiên Mụ – ngôi chùa tọa lạc bên dòng Hương thơ mộng. Có thể thấy tiềm năng du lịch Huế được xếp vào “tốp” của Đông Nam Á chứ không chỉ riêng Việt Nam. Sáng 07/12/2011, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên – Huế đã phối hợp với Trường Cao đẳng Nghề Du lịch Huế tổ chức khai mạc kỳ thi nâng bậc nghề du lịch năm 2011. Sông Hương số 7 đường Hùng Vương chuyên bán tranh thêu lụa, hàng lưu niệm. quyết tâm của lãnh đạo! Người Huế có câu cửa miệng rất hay là “êm rứa”.

Đề Tài Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Trên Hòn Sơn Chà (Thừa Thiên Huế)

Báo cáo môn học QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH Đề tài Quy hoạch phát triển du lịch trên Hòn Sơn Chà (Thừa Thiên Huế) GVHD: Ths. Nguyễn Văn Hoàng Danh sách nhóm và phân công công việc Nội dung MSSV Người phụ trách Ghi chú Khái quát đặc điểm, tài nguyên du lịch và hiện trạng khai thác du lịch của Hòn Chảo 0768028 Hồ Thị Hương Giang Mỗi bạn được phân công tìm tài liệu và soạn powerpoint cho phần mà mình phụ trách Phạm vi, đối tượng và nguyên tắc quy hoạch 0768041 Phạm Hiếu Phương thức quy hoạch (cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật, tổ chức liên kết chương trình du lịch, nguồn nhân lực), đưa ra sơ đồ và thể hiện ý tưởng quy hoạch 0768040 NguyễnMinh Hiếu 0768044 Nguyễn Thị Thanh Hiền 0768051 Nguyễn Vĩnh Hoàng 0768121 Bùi Thị Hà Nguyên 0768138 Nguyễn Thị Minh Phương 0768147 Ngô Văn Quyên 0768150 Nguyễn Xuân Sang Tổng hợp powerpoint – kết luận 0768086 Dương Thị Xuân Liễu ĐẶT VẤN ĐỀ * Du lịch hướng đến thiên nhiên đang ngày càng được ưa chuộng * Tìm đến những điểm đến mới còn hoang sơ trở thành tâm điểm của những nhà làm du lịch * Khu vực Trung trung bộ chưa có nhiều những khu du lịch biển đảo phát triển * Hòn Chảo (hòn Sơn Chà) có nhiều tiềm năng trở thành điểm đến hấp dẫn những bước chân khám phá của du khách Bố cục trình bày 1. Khái quát đặc điểm hòn Sơn Chà (hòn Chảo) * Lịch sử hình thành * Đặc điểm tự nhiên * Đặc điểm kinh tế – xã hội * Tài nguyên du lịch * Hiện trạng khai thác du lịch * Lãnh thổ quy hoạch 2. Định hướng quy hoạch du lịch * Phạm vi và đối tượng khách quy hoạch * Nguyên tắc quy hoạch * Phương thức quy hoạch 3. Kết luận 1. Khái quát đặc điểm của Hòn Sơn Chà (Hòn Chảo) Lịch sử hình thành Hòn Sơn Chà (Hòn Chảo) Có giả thuyết cho rằng đây là một bộ phần của dãy núi Bạch Mã đâm ra sát biển. Do tác động của các hoạt động kiến tạo, nên phần mũi này bị tách rời và “trôi dạt” thành hòn Sơn Chà ngày nay. Cũng chính vì lý do đó mà trên hòn Sơn Chà có nhiều giống, loài động thực vật tương đồng với rừng quốc gia Bạch Mã. Lịch sử tên gọi Nhìn từ đèo Hải Vân, Hòn Sơn Chà nhưmột cái chảo úp khổng lồ Đảo Huyền Trân (thời Trần) Đảo Ngọc (thời Tây Sơn) Cù lao Hàn – Ngự hải đài (thời Nguyễn) Hòn Sơn Chà (thời Pháp thuộc) Hòn Chảo Vịnh Đà Nẵng Vịnh Lăng Cô Hòn Sơn Chà Đặc điểm tự nhiên * Nằm giữa Vịnh Lăng Cô và Vịnh Đà Nẵng * Diện tích: 1,6 km2 (160ha) * Cách bờ 550km * Điểm cao nhất: 235 m * Nằm trong khu bảo tồn biển Hải Vân – hòn Sơn Chà với nhiều loài thực vật và động vật quý hiếm (sơn dương biển, san hô, cá mú, cá phèn, cá bò, ốc cay, cây dung, cây dẻ…). Đặc biệt, rừng trên đảo là rừng nguyên sinh 100%. Đặc điểm kinh tế – xã hội * Về dân cư – xã hội: trên đảo không có dân cư sinh sống * Về an ninh – quốc phòng: có lực lượng hải quân canh gác trên đảo * Về cơ sở hạ tầng: chưa có các công trình về điện – đường – trường trạm có quy mô lớn. * Về quản lý: hòn Sơn Chà nay có tên gọi chính thức là Hòn Chảo, thuộc địa phận huyện Phú Lâm -tỉnh Thừa Thiên Huế Tài nguyên du lịch tự nhiên * Vị trí biệt lập * Vùng biển rộng với nhiều loại san hô quý hiếm, nhiều loại hải sản đặc sản * Rừng nguyên sinh ven biển với các loài động thực vật đa dạng * Địa hình ven biển với núi cao 235m và các bãi đá nhô ra biển với nhiều hình thù thú vị Thích hợp với các hoạt động du lịch mạo hiểm, khám phá thiên nhiên, nghỉ dưỡng,… Tài nguyên du lịch nhân văn * Hiện nay trên đảo còn tương đối hoang sơ * Do không có cư dân sinh sống nên chưa có các công trình kiến trúc dân gian (chùa, miếu,…), cũng không có các làng nghề,… * Ngọn hải đăng dưới sự quản lý của lực lượng hải quân Xây dựng các công trình kiến trúc mới, độc đáo và các điểm du lịch nhân văn cho đảo Hiện trạng khai thác du lịch Chưa có sự đầu tư về cơ sở vật chất – kỹ thuật Chưa có các tour du lịch chính thức được khai thác Cần có một sự quy hoạch đúng đắn và phù hợp để phát triển du lịch biển đảo ở đây 2. ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH DU LỊCH Phạm vi và đối tượng khách Nguyên tắc quy hoạch Phương thức quy hoạch * Cơ sở hạ tầng * Cơ sở vật chất – kỹ thuật * Về tổ chức và liên kết tour * Quy hoạch nguồn nhân lực PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG KHÁCH QUY HOẠCH HÒN CHẢO S = 160 ha PHẠM VI QUY HOẠCH Lãnh thổ quy hoạch * Phần phía Nam của đảo: – Đây là vùng kín gió, tránh gió mùa Đông Bắc và tận dụng các bãi cát tự nhiên – Tạo mối liên hệ giữa hai luồng khách từ Đà Nẵng (qua Vịnh Đà nẵng) và Huế (qua Vịnh Lăng Cô – Khu vực có nhiều rạn san hô và các loài cá, ốc đặc sản (cá mú, cá mó, cá phèn, cá bì, ốc vú nàng, ốc cay,…) Khu vực bảo tồn Khu vực xây dựng Vùng đệm BẢNG QUY HOẠCH CHI TIẾT Trong 70 ha không gian dự án, thì: – Diện tích xây dựng: 30ha, bao gồm +S đường + cây xanh: 9 ha (30%) +S lưu trú: 2 ha (50 bugalow) +Hồ bơi: 0,3 ha +Nhà hàng: 0,5 ha +Bar: 0,04 ha +Lưu niệm, mua sắm: 0,06 ha +Vui chơi: 3 ha +Thể thao: 0,5 ha +Spa: 0,05 ha +Phụ trợ (nhà điều hành, c/t nv, y tế, wc…): 0,6 ha – Khu vực bãi cát không xây dựng: 10 ha ĐỐI TƯỢNG KHÁCH – Thanh niên thích khám phá – Khách đi an dưỡng, nghỉ ngơi NGUYÊN TẮC QUY HOẠCH Tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản trong điều 18 chương 3 – Luật Du lịch Việt Nam /2005 Phù hợp với chiến lược quy hoạch kt-xh Bảo vệ tài nguyên – môi trường (TN-NV) Đảm bảo tính khả thi Phát huy thế mạnh, tạo sản phẩm đặc trưng Đảm bảo công khai Đảm bảo chủ quyền quốc gia, QP-ANTT_XH PHƯƠNG THỨC QUY HOẠCH PHƯƠNG THỨC QUY HOẠCH CSVC – KT CSHT QH NGUỒN NHÂN LỰC TỔ CHỨC LIÊN KẾT TOUR MÔ HÌNH QUY HOẠCH CÂY XANH TỔNG VỐN ĐẦU TƯ 200 TRIỆU USD QUY HOẠCH CƠ SỞ HẠ TẦNG Điện, nước1 Giao thông1 Các trạm1 CƠ SỞ VẬT CHẤT – KỸ THUẬT * Cầu tàu * Quảng trường * Khu phốmua sắm * Khu vui chơi – thể thao * Nhà hàng * Hồ bơi * Bar * Bungalow * Công viên * Bãi tắm * Công trình phụ trợ CẦU TÀU QUẢNG TRƯỜNG KHU PHỐMUA SẮM Khu vui chơi – thể thao Diện tích quy hoạch 3,5ha Trên cạn Khu trò chơi trong nhà Khu trò chơi dân gian Sân khấu biểu diễn Khu trò chơi trẻ em Khu thể thao ngoài trời Trên bãi biển & trên biển Dù bay, tàu chuối,… Lặn ngắm san hô Chèo thuyền kayak Câu cá (đêm, ngày) Khu thể thao trong nhà Khu thả diều HỒ BƠI SPA KHU VỰC BAR NHÀ HÀNG VỊ TRÍ GẦN HỒ BƠI GẦN KHU LƯU TRÚ GẦN KHU THỂ THAO NHÀ HÀNG GẦN HỒ BƠI NHÀ HÀNG GẦN KHU LƯU TRÚ NHÀ HÀNG GẦN KHU THỂ THAO PHẦN LƯU TRÚ * Diện tích : 2 ha * Bao gồm : 30 bungalow C 2 người 20 bungalow G 4 người 30 bungalow F 6 người CƠ SỞ XÂY DỰNG * Tiêu chuẩn giường trong bungalow (2 người/ giường) 19m2 * Tiêu chuẩn không gian mở của bungalow : 60m2 * Khoảng cách giữa 2 bungalow 80m2 BUNGALOW C * Couple Bungalow ( Bungalow C) 2 người * S = 19+60+80 = 159m2 * ∑S = 30 x 159 = 4770m2 BUNGALOW G * Group Bungalow (Bungalow G) 4 người * S = (19+60)x2+80 = 238 m2 * ∑S = 20 x 238 = 4760 m2 BUNGALOW F * Family Bungalow ( Bungalow F) 6 người * S = (19+60)X3+80 = 317 m2 * ∑S = 30×317 = 9510 m2 BUNGALOW C BUNGALOW C BUNGALOW G BUNGALOW G BUNGALOW F BUNGALOW F CÔNG VIÊN CÔNG TRÌNH PHỤ TRỢ Dành cho CNV Xử lý chất thải Hành chính Trạm y tế Phòng TT – Hướng dẫn Vệ sinh công cộng BÃI TẮM QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH Dã ngoại, Teambuilding3 Du lịch thể thao (trekking và lặn biển ) 2 Du lịch nghỉ dưỡng1 TEAM BUILDING TREKKING TOUR CAMPING LIÊN KẾT TOUR Tour “Con đường di sản Miền Trung” 1 Tour nối Đà Nẵng và Huế2 Tour dành cho du khách tàu biển cập vào cảng Tiên Sa và Chân Mây 3 QUY HOẠCH NGUỒN NHÂN LỰC LƯU TRÚ 42 người ( 1 quản lý+1 thư kí) Buồng phòng 22 người Giặt ủi 8 người VSCC+ Làm vườn 10 người BỘ PHẬN ẨM THỰC 122 người ( 1 quản lý) Nhà hàng 1 (1000m2) 24/24 27 người Nhà hàng 2 (2000m2) 6h-22h 47 người Nhà hàng 3 (2000m2) 6h-22h 47 người KHU LIÊN HỢP VUI CHƠI THỂ THAO 145 người trên cạn 90 người (2 ca) trên biển 55 người KHU HÀNH CHÍNH 138 người (1 quản lý + 1 thư kí) Bảo vệ 24/24 60 người Nhân viên vệ sinh 40 người (2 ca) Y tế 24/24 6 người Hành chính 30 người (2 ca) CÁC DỊCH VỤ KHÁC 76 người (1 quản lý) hồ bơi 15 người (3 ca) karaoke 30 người (2 ca) spa 30 người (3 ca) 3. KẾT LUẬN TIỀM NĂNG SẴN CÓ QUY HOẠCH KHOA HỌC HÒN NGỌC SƠN CHÀ Xin cảm ơn sự quan tâm lắng nghe của thầy và các bạn! Chúc thầy và các bạn tuần mới vui vẻ!

Đề Tài Du Lịch Tam Đảo Và Vấn Đề Phát Triển Bền Vững

thực tế của các nước công nghiệp phát triển cho thấy, những thiệt hại về kinh tế do sự ô nhiễm môi trường tự nhiên đem lại và chi phí để khắc phục lớn hơn nhiều so với chi phí chủ động ngăn chặn ngay từ đầu sự ô nhiễm. Đồng thời, việc ngăn chặn sự ô nhiễm dễ dàng hơn việc thủ tiêu những hậu quả của nó. Do đó, đầu tư bảo về môi trường trong mọi trường hợp đều mang lại lợi ích kinh tế to lớn, đồng thời lại cải thiện và bảo toàn được chất lượng môi trường sống. Chủ động bảo vệ môi trường vừa đạt được mục tiêu kinh tế, vừa đạt được mục tiêu sinh thái. Một trong những biện pháp quan trọng nhất để kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu sinh thái là thực hiện tối ưu hoá tiêu dung. Trong sản xuất, con người chưa coi nguồn tài nguyên tự nhiên là vốn sản xuất vì vậy cần phải có chi phí lớn hơn để có được tài nguyên tự nhiên và tính chi phí này vào giá thành sản phẩm. Nền sản xuất xã hội chưa quan tâm đúng mức đến hiệu quả của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, từ khâu khai thác chế biến đến các chất thải. Cụ thể, phần lớn các quá trình sản xuất chưa đáp ứng được những yêu cầu sinh thái đã thải quá nhiều chất độc ra ngoài môi trường. Việc xây dựng các trang thiết bị làm sạch môi trường sinh thái cần phải có vốn đủ lớn, giá trị của trang thiết bị thường chiếm từ 20 – 40% giá trị của vốn cơ bản của xí nghiệp. Song con người vẫn phải làm vì dù sao cũng ít hơn rất nhiều so với các chi phí để khắc phục hậu quả. d. Hướng mọi hoạt động của con người vào mục đích phát triển bền vững. II. Tiềm năng du lịch Tam Đảo. 2.1. Giới thiệu chung về Tam Đảo. 2.1.1. Vườn Quốc gia Tam Đảo. Tam Đảo được đánh giá là huyện có thế mạnh phát triển kinh tế du lịch, mảnh đất giàu tiềm năng này có Vườn Quốc gia Tam Đảo nơi bảo tồn thiên nhiên với thảm thực vật phong phú, lưu giữ hàng ngàn loài cây, động vật quý hiếm, có khu nghỉ mát Tam Đảo mỗi năm thu hút hàng ngàn lượt khách trong và ngoài nước tới tham quan nghỉ dưỡng. Khu di tích danh thắng Tây Thiên thờ Quốc mẫu Năng Thị Tiêu đã đi vào lịch sử dân tộc, Thiền Viện Trúc Lâm cái nôi của Phật giáo. Tam Đảo còn cả một quần thể di tích kiến trúc phức hợp có giá trị lịch sử và tín ngưỡng. Cùng với khu nghỉ mát Tam Đảo và khu di tích danh thắng Tây Thiên, hồ Làng Hà, Hồ Xạ Hương, sân Gold… tạo nên một quần thể du lịch hấp dẫn đầy tiềm năng, hàng năm đã tạo sự hấp dẫn du khách đến với vùng đất này. Việc thành lập huyện miền núi Tam Đảo nằm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, nhằm khai thác tiềm năng du lịch ở khu vực phía Bắc, với mục tiêu xây dựng Tam Đảo thành một huyện du lịch, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu của tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ 2005 – 2010 là: ” Tập trung mọi nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tê, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng lấy kinh tế du lịch làm mũi nhọn, làm động lực thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác. Nhanh chóng khắc phục tình trạng kinh tế thuần nông, tạo tiền đề cho phát triển bền vững. Phấn đấu đến năm 2010 Tam Đảo cơ bản trở thành huyện du lịch, đến năm 2020 trở thành huyện du lịch trọng điểm, tạo động lực phát triển kinh tế của tỉnh và khu vực…”. Như vậy có thể thấy được rằng lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc đã chọn du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn để xây dựng và phát triển Tam Đảo và tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 06 – 03- 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 136/TTg về việc phê duyệt ” Dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Tam Đảo”. Ngày 15 – 05- 1996 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp &PTNT đã có quyết định số 601 NN- TCCB/QĐ về việc thành lập VQG Tam Đảo trực thuộc Bộ Nông nghiệp &PTNT.Hiện nay VQG Tam Đảo có diện tích 34.995 ha , nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo và trên địa bàn của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Vườn hiện có 26.163 ha rừng – chủ yếu là rừng tự nhiên mưa ẩm thường xanh, độ che phủ chiếm trên 70 % tổng diện tích toàn Vườn. Thú rừng có chừng 45 loài, trong đó có rất nhiều loài quý hiếm như hổ, báo, gấu, sóc bay, chồn mực … Về chim, có tới 120 loài, hầu hết là các chim ăn sâu bọ. Nhiều loài chim cảnh màu sắc rực rỡ như vàng anh, sơn tiêu trắng, sơn tiêu đỏ hoặc có giọng hót rất hay như hoạ mi, khướu bách thanh. Các giống chim quý này làm tăng thêm vẻ đẹp tự nhiên của núi rừng Tam Đảo. Rừng tự nhiên ở đây bao gồm hai kiểu chính là rừng thường xanh đất thấp và rừng thường xanh núi thấp. Rừng thường xanh đất thấp phân bố ở độ cao từ 700 đến 800 m. Tính đa dạng các loài cây gỗ ở kiểu rừng này rất cao với rất nhiều đại diện của các họ Đậu Fabaceae, Dầu Dipterocarpaceae, Xoan Meliaceae, Trám Burseraceae, Sim Myrtaceae và Xoài Anacardiaceae. Đây là kiểu rừng đang bị xuống cấp mạnh. Rừng thường xanh núi thấp phân bố ở độ cao trên 800 m. Trong kiểu rừng này hầu như không còn thấy xuất hiện một đại diện nào của họ Dầu Dipterocarpaceae, các loài ưu thế thuộc vào các họ Dẻ Fagaceae, Long não Lauraceae, Mộc lan Magnoliaceae, Cau dừa Aceraceae, Chè Theaceae, Sau sau Hamamelidaceae, Sến Sapotaceae và Đỗ quyên Ericaceae. Trong kiểu rừng này cũng có đại diện của nhiều loài hạt trần như Kim giao Decussocarpus fleuryi, Dẻ tùng sọc trắng hẹp Amentotaxus argotaenia, Thông nàng Podocarpus imbricatus và Pơ-mu Fokienia hodginsii. Ngoài hai kiểu rừng chính kể trên, Vườn Quốc gia Tam Đảo còn có 669 ha rừng lùn ưu thế bởi các loài thuộc họ Đỗ quyên Ericaceae và Chè Theaceae Hiện nay trong rừng vẫn còn có rất nhiều loài thú và hệ thực vật quý hiếm, rừng là môi trường để các loài thú này cư trú, tránh cho các loài này khỏi bị tuyệt chủng. Vì vậy ta có thể thấy được gia trị quan trọng của vườn quốc gia Tam Đảo đối với hệ động thực vật nơi đây. Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm trong vùng phân thuỷ của hai con sông chính: ở phía đông bắc của khối núi là lưu vực sông Công, trong khi phía tây nam của khối núi nằm trong đường phân thủy của sông Đáy. Hầu hết các sông suối bên trong Vườn quốc gia đều dốc và chảy xiết. Ta có thể thấy được với địa hình như vậy thì vườn quốc gia Tam Đảo vừa có vai trò cản lũ vào mùa mưa, vừa có vai trò giữ nước cho cả vùng. Nếu vườn quốc gia Tam Đảo bị tàn phá thì nguy cơ lũ quét xảy ra ở vùng này là rất lớn, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống, cả về kinh tế và điều kiện sinh hoạt của người dân nơi đây. 2.1.2 Tam Đảo 1 Vị trí: Khu du lịch Tam Đảo thuộc thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, cách Hà Nội 86 km.Đặc điểm: Khí hậu ở đây rất độc đáo, bốn mùa trong ngày; khung cảnh thơ mộng, hùng vĩ. Mùa du lịch đẹp nhất trong năm ở Tam Đảo là vào mùa hè. Thiên nhiên đã ban tặng cho Tam Ðảo một khung cảnh tuyệt vời: vừa thơ mộng, vừa hùng vĩ, sự huyền ảo của mây gió, sương khói vờn trên đỉnh núi rồi sà xuống những thảm cỏ, những mái ngói đỏ trên sườn núi. Tam Ðảo là một dãy núi dài khoảng 80km theo hướng tây bắc – đông nam, rộng từ 10 – 15km, là khu nghỉ mát ở núi lý tưởng của miền Bắc. Tam Đảo có diện tích 253ha nằm trên độ cao 900m so với mặt biển. Từ thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc sau 1 giờ xe chạy là lên tới Tam Ðảo. Thêm 20km đường dốc, lượn qua các sườn núi thông mọc thẳng tắp nhìn lên cao vút, mờ mờ ẩn hiện Tam Ðảo trong sương. Núi Tam Đảo có 3 đỉnh nổi lên như 3 hòn đảo: đỉnh giữa có tên Bàn Thạch cao 1.388m; bên trái là đỉnh Thiên Nhị (chợ trời) cao 1.375m, trên có tháp truyền hình cao 93m, bên phải là đỉnh Phù Nghĩa cao 1.400m. Thị trấn Tam Ðảo rộng hơn 300ha, nằm gọn trong một thung lũng nhỏ của dãy Tam Ðảo, đồng thời cũng là một trong những vườn quốc gia lớn nhất miền Bắc. Khí hậu ở đây rất độc đáo, bốn mùa trong một ngày. Buổi sáng se se gió xuân, buổi trưa nóng ấm mùa hạ, buổi chiều lãng đãng heo may mùa thu, buổi tối lạnh giá của đông. Với khí hậu đặc biệt như vậy, Tam Đảo rất có sức lôi cuốn du khách đến thăm quan và nghỉ dưỡng. Ðầu thế kỷ 20, người Pháp đã phát hiện ra Tam Ðảo, xây dựng ở nơi đây thành khu nghỉ mát với 200 biệt thự, khách sạn, nhà hàng, sân chơi thể thao, bể bơi, sàn nhảy. Ðường đi lên núi Tam Đảo tuy hơi vất vả nhưng rất đẹp. Hai bên đường hoa phong lan, hoa cúc quì và các loài hoa dại nở đầy lối đi, toả hương thơm rất lạ, màu sắc rực rỡ… cộng thêm không biết bao nhiêu là bướm đủ loại rập rờn trên hoa lá. Cảnh đẹp thiên nhiên như vậy khó có thể bỏ qua khi đến với Tam Đảo. Du khách cũng có thể trải tầm nhìn ra xa để thấy được sự hung vĩ của núi rừng, nhắm mắt để cảm nhận những cơn gió mát lành lùa vào mái tóc, cảm nhận được cảm giác thực sự hoà mình vào thiên nhiên, mọi mệt mỏi ưu tư sẽ biến mất. Từ trung tâm thị trấn, rẽ bên phải theo một con đường mòn, hút xuống thung lũng sâu, thác Bạc giấu mình trong núi, đổ xuống những dòng nước trắng bạc và chiếu sắc cầu vồng. Một dòng suối nhỏ từ trên cao 30m ào ào tuôn nước, tiếng suối, tiếng rừng, tiếng lá dội vào vách đá tạo ra những bản nhạc của núi rừng nơi đây. Bản nhạc của tự nhiên đưa con người vào thế giới bình an thư thái, quên đi mọi buồn phiên của cuộc sống. Nếu thích mạo hiểm, hãy đi xa chút nữa tới đỉnh Rùng Rình, ở đây cây cối, núi non đẹp, có nhiều cây to mấy người ôm phủ đầy hoa phong lan, tiếng chim hót ríu rít và có rất nhiều loài bướm lạ. Xa hơn nữa là Tam Ðảo 2, nơi mà vào thời Pháp cũng là điểm du lịch nghỉ mát lý tưởng, nhưng nay bị bỏ hoang mang vẻ đẹp hoang dã, cô liêu. 2.1.3. Dự án Tam Đảo 2. Theo ông Nguyễn Ngọc Tung, phó giám đốc Sở Xây Dựng Vĩnh Phúc cho biết, cái tên Tam Đảo 2 không có tên trong bản đồ hành chính và bản đồ nhưng lại có từ rất lâu. Có lẽ do người Pháp trước đây xây dựng Tam Đảo 1 với mục đích nhà nghỉ cho người Pháp với quy mô nhỏ, không có công trình vui chơi giải trí, sau đó, người Pháp thấy có thể phát triển thành nơi nghỉ dưỡng cao cấp hơn nên tìm khu mới là Tam Đảo 2. UBND tỉnh Vĩnh Phúc dự kiến sẽ sử dụng gần 200ha đất tại vùng lõi VQG Tam Đảo để xây dựng Khu du du lịch sinh thái (thực chất đây là một khu nghỉ cao cấp có khu villa, sân gold, sòng bạc…). Vĩnh Phúc dự kiến thực hiện xây dựng Tam Đảo 2 vì ba lý do: Xuất phát từ ý tưởng người Pháp đã làm, có cơ sở hạ tầng đường sá, có lợi thế về độ cao, khí hậu, mặt bằng, phong cảnh phục vụ cho phát triển du lịch; tiếp đó, Vĩnh Phúc nằm trong chiến lược phát triển du lịch cả nước trong đó có Tam Đảo. Lý do cuối cùng được nêu ra là, trong Quy hoạch phát triển du lịch cũng như Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội và phát triển đô thị của Vĩnh Phúc từ 2010-2020 và trong Nghị quyết của tỉnh cũng nêu vấn đề phát triển du lịch thành kinh tế mũi nhọn và tập trung nghiên cứu khai thác Tam Đảo, dãy Tam Đảo có thể phát triển du lịch sinh thái, trong đó có Tam Đảo 1 và Tam Đảo 2. Trước ý tưởng đó, Công ty Belt Collin Hawaii Ltd và Công ty Vietnam Patrers LLC (Hoa Kỳ) đã đưa ra 3 phương án xây dựng Tam Đảo 2. Cụ thể, phương án 1 tập trung phát triển phần lớn cho khu vực lòng chảo hoặc thung lũng ở phía trên các khu đất. Phương án này duy trì vùng đất ướt và vùng đệm như là công viên thiên nhiên và trở thành không gian mở đặc thù của vùng. Ở đây sẽ có một trung tâm môi trường gồm các hạng mục trong nhà và ngoài trời. Đây không phải là vườn thú, bể cá hay vườn thực vật mà gồm tất cả các công trình này gộp lại thành một khu nhà tập hợp 3 vùng sinh thái của miền Bắc Việt Nam (vùng rừng nhiều mưa Tam Đảo, vùng đất nông nghiệp miền trung du và đồng bằng sông Hồng). Tại đây cũng sẽ xây khu nhà nghỉ cao cấp, Trung tâm Hội nghị và sòng bạc (nếu được cho phép) công trình gồm 200-400 phòng sẽ được bố trí tuỳ thuộc phương thức khai thác khách sạn, chiều cao và hình khối nhà, chỗ đỗ xe và các công trình phụ trợ. Đồng thời, xây dựng một sân golf 9 lỗ và các khu giải trí: công viên thiên nhiên, chuồng ngựa, thuỷ cung, thuỷ viên, vườn thú, vườn ươm và vườn ươm thực vật… Phương án 2 và phương án 3 hầu như giữ nguyên các hạng mục, chỉ thay đổi vị trí của khu nghỉ cao cấp, các khu giải trí, sòng bạc chính (nếu được cho phép). III. Phân tích đánh giá thực trạng phát triển du lịch Tam Đảo 3.1. Hiệu quả kinh tế. Tam Đảo được thiên nhiên ban tặng nhiều ưu đãi: có khí hậu ôn hòa, cảnh quan môi trường tuyệt đẹp, núi non hùng vĩ. Từ lâu Tam Đảo đã là điểm du lịch lý tường, hấp dẫn nhiều du khách. Biết khai thác những thế mạnh, tiềm năng sẵn có, người dân ở đây đã và đang tập trung phát triển kinh tế du lịch, dịch vụ. Để nền kinh tế của thị trấn phát triển theo đúng hướng và có trọng tâm, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân huyện Tam Đảo đã có nghị quyết chuyên đề hàng năm xác định rõ lấy thương mại – du lịch làm mũi nhọn, tăng cường xây dựng khu nghỉ mát Tam Đảo. Trên thực tế Tam Đảo vẫn là một huyện nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc, nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, tiềm năng du lịch của huyện rất lớn nhưng việc đầu tư còn thấp, khai thác chưa có hiệu quả, chất lượng các hoạt động du lịch, dịch vụ còn thấp và manh mún; cơ sở hạ tầng kỹ thuật thấp kém và còn nhiều bất cập, tỷ lệ lao động không có việc làm còn cao, mặt bằng dân trí, chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp … những điều đó đã gây khó khăn cho phát triển du lịch ở Tam Đảo. Để khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh du lịch của Tam Đảo, góp phần phát triển ngành du lịch Vĩnh Phúc trong những năm tới, Đảng bộ huyện Tam Đảo xác định mục tiêu là tập trung mọi nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế theo hướng lấy kinh tế du lịch, dịch vụ làm mũi nhọn, làm động lực phát triển các ngành kinh tế khác. Nhanh chóng khắc phục tình trạng kinh tế thuần nông, tạo tiền đề cho phát triển bền vững. Phấn đấu đến năm 2010, Tam Đảo trở thành huyện du lịch trọng điểm, tạo động lực phát triển kinh tế của tỉnh và khu vực … Đây là quan điểm và cách nhìn nhận đúng đắn mà Đảng bộ huyện Tam Đảo đã xác định. Tam Đảo là một vùng nằm trong thung lũng của dãy núi Tam Đảo, đường xá đi lại không mấy thuận lợi để có thể phát triển công nghiệp. Tam Đảo là một trong số những điểm du lịch được nhà nước chú trọng đầu tư để nâng cấp trở thành khu du lịch trọng điểm của nước ta. Đó là những thuận lợi vô cùng to lớn cho sự phát triển của du lịch Tam Đảo nói riêng và cho kinh tế huyện Tam Đảo nói chung. Khu du lịch Tam Đảo đã được thực dân Pháp xây dựng từ rất lâu rồi, tuy nhiên, huyện Tam Đảo mới được thành lập năm 2003. Trong những năm qua, nhất là sau gần 3 năm thành lập, trong điều kiện còn ngổn ngang bề bộn của một huyện mới thành lập, nhưng Đảng bộ và nhân dân huyện Tam Đảo đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn và đã đạt được một số kết quả bước đầu khả quan, như: đã làm tốt công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, triển khai các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, thu hút được nhiều nhà đầu tư vào khu du lịch Tam Đảo, Tây Thiên… tạo điều kiện cho kinh tế của huyện có tốc độ tăng trưởng cao, giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ, du lịch ở Tam Đảo đã có những bước chuyển tích cực, từ 32,39 tỷ đồng (năm 2000) lên 83,076 tỷ đồng (năm 2005),tốc độ tăng trưởng đạt 22,95%/năm; tăng 15,13% so với năm 2004. Đây là những kết quả bước đầu quan trọng tạo động lực cho du lịch huyện Tam Đảo phát triển. Chủ trương của huyện đến năm 2015, Tam Đảo sẽ trở thành huyện du lịch và đến năm 2020 trở thành huyện du lịch trọng điểm. Dự kiến đến năm 2010 huyện sẽ đầu tư khoảng 2.000 tỷ đồng cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, du lịch dịch vụ, thương mại và phát triển văn hoá – xã hội… đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó là tập trung khôi phục và phát triển mạnh các làng nghề truyền thống, tạo ra các sản phẩm phục vụ du lịch, dịch vụ, đầu tư quy hoạch lại các khu du lịch, như: Tây Thiên, khu du lịch Tam Đảo 1, Tam Đảo 2, khu du lịch thác Thậm Thình, nâng cấp các trụ sở xã, mở mới và nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn, điện, nước sạch, điểm bưu điện văn hoá xã, kênh mương. Nguồn vốn sẽ được huy động từ ngân sách, huy động các tổ chức cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ và huy động nguồn vốn nhàn rỗi của nhân dân. Để thu hút các nhà đầu tư, huyện Tam Đảo sẽ thực hiện một số chính sách như đổi đất lấy cơ sở hạ tầng, ưu tiên mặt bằng và các dịch vụ, tạo hành lang pháp lý thông thoáng về chính sách thuế, nguồn nhân lực, đáp ứng tốt các dịch vụ về tài chính, tín dụng thu hút các nguồn lực. Chủ trương trên đặt ra cho ngành du lịch Tam Đảo phải không ngừng tăng giá trị sản xuất và chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế (đến năm 2010 đạt 46%), tạo thêm nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, tăng thu ngân sách để có điều kiện giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo. Để du lịch phát triển nhanh, đúng định hướng trong những năm tới, Đảng bộ, chính quyền huyện Tam Đảo tập trung vào các giải pháp chính như sau: + Gắn công tác quy hoạch phát triển du lịch với quy hoạch chung của tỉnh với các tỉnh phía bắc và cả nước. Đồng thời phải đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. + Trong đầu tư khai thác và phát triển du lịch cần phải được xã hội hóa các nguồn lực Nhà nước, các thành phần kinh tế, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, các hình thức liên doanh, liên kết … nhằm sử dụng, khai thác có hiệu quả quỹ đất dành cho du lịch. Xây dựng có chế khuyến khích đầu tư vào du lịch, dịch vụ, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật như hệ thống nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí,… + Mở rộng khai thác triệt để các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh, tín ngưỡng, du lịch mạo hiểm, du lịch thể thao,… + Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ như: chất lượng phục vụ của các nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí. Chú trọng bảo vệ, tôn tạo các di tích, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Hình thành các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du khách. Đào tạo từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phục vụ phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. + Đẩy mạnh việc xúc tiến đầu tư quảng bá về tiềm năng du lịch và hình ảnh Tam Đảo trên các phương tiện thông tin đại chúng, các tài liệu tuyên truyền, các ngày lễ hội văn hóa. Coi trọng hình thức liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để mở các tua du lịch trong nước và quốc tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập quốc tế. + Tăng cường quản lý Nhà nước về hoạt động du lịch – dịch vụ – thương mại để ngành du lịch Tam Đảo hoạt động có hiệu quả và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế và thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo các ngành khác phát triển theo như ngành: giao thong vận tải, ngành bưu chính, ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…. Khí hậu Tam Đảo rất thích hợp để trồng một loại rau đã trở thành đặc sản ở đây, đó là cây su su. Khi du khách đến đây không thể không thưởng thức món su su luộc hoặc xào. Cây su su được trông quanh năm và rất thích hợp với khí hậu lạnh ở Tam Đảo nên ngọn rau và quả su su Tam Đảo khi chế biến đều xanh và giòn hơn nơi khác.Từ năm 2000 trở lại đây khi ngành du lịch Tam Đảo phát triển mạnh thì su su được trồng làm một loại rau đặc sản làm nên thương hiệu riêng cho rau su su Tam Đảo. Từ năm 2000 đến nay, các hộ nông dân ở thôn 2, thị trấn Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc phát triển trồng su su thành một loại rau thương phẩm. Năm 2006 bà con nông dân phố núi bán được 850 tấn ngọn su su và trên 50 tấn quả, doanh thu trên 7 tỉ đồng. Từ trồng cây su su, 220 hộ dân phố núi không có hộ nào thuộc diện đói nghèo, mức thu nhập bình quân của 745 nhân khẩu nơi đây đạt 1.050.000 đồng/người/tháng. Giá hiện tại 8.000 đồng/kg ngọn su su và 3.000 đồng/kg quả, riêng ngọn su su cho thu nhập thường xuyên tục do đặc tính chồi mầm liên tục sau khi hái. Hơn nữa, nghề trồng rau su su còn tạo ra công ăn việc làm cho người lao động với mức lương 800.000đồng/tháng. Từ năm 2004, Chi cục Bảo vệ thực vật Vĩnh Phúc đã cử cán bộ lên núi hướng dẫn bà con trồng su su theo qui trình làm rau sạch và toàn bộ các hộ gia đình đều cử người theo học các lớp tập huấn. UBND thị trấn Tam Đảo đã phối hợp với Chi cục Bảo vệ thực vật Vĩnh Phúc làm hồ sơ đề nghị Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu “su su an toàn Tam Đảo”. Từng gia đình trồng su su ở Tam Đảo được cấp mã số, mã vạch riêng. Khi cây su su của Tam Đảo có thương hiệu, sản lượng ngọn và quả su su liên tục tăng do cung không đủ cầu. Su su không chỉ đáp ứng nhu cầu tại nơi cho khách du lịch mà còn cung cấp cho các siêu thị lớn ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Trung bình mỗi ngày, nông dân phố núi cung cấp cho hai thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng khoảng 5 tấn ngọn và quả su su. Với việc khách du lịch đến Tam Đảo và thưởng thức món su su góp phần nâng cao hình ảnh và thương hiệu của cây su su Tam Đảo. Ngoài việc mua về làm quà, mọi người còn có thể kể cho nhau nghe về đặc sản của khu du lịch nổi tiêng Tam Đảo. Đây là việc làm tốt nhất cho việc quảng bá thương hiệu su su Tam Đảo với chi phí thấp và đạt hiệu quả cao. Hiện nay du lịch homestay đang là loại hình du lịch thu hút được rất nhiều người. Homestay là hình thức khách du lịch ở tại nhà dân, tham gia vào các công việc thường ngày của dân bản xứ, trải nghiệm các giá trị văn hoá, tinh thần và hoà nhập vào với cuộc sống của người dân. Người dân có thể bán cho khách du lịch các dịch vụ như: nơi cư trú, những bữa ăn với những món ăn bản địa, cho thuê xe đạp, xe máy,….Tam Đảo có đầy đủ các điều kiện để phát triển loại hình du lịch homstay. Đến với Tam Đảo du khách có thể cảm nhận được cuộc sống thanh bình nơi đây và được thưởng thức rất nhiều đặc sản nổi tiếng của Tam Đảo: su su, rượu chit, thịt tái bò kiến đốt…Ở Tam Đảo có người dân tộc Sán Dìu sinh sống. Họ có rất nhiều nét văn hoá đặc sắc như hát Soọng cô – đây là một loại tình ca rất phổ biến. Ngoài ra còn có các loại hình nghệ thuật khác như: hát sướng ca, hát ru, hát kể chuyện thơ, hát tự sự, tự tình…. Điều quan trọng hơn cả là homestay sẽ mang lại thu nhập cho chính người dân bản địa, nâng cao đời sống của người dân. Trên thực tế, Tam Đảo vẫn còn nhiều hộ khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo đói vẫn còn cao…Huyện đã xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm ( 2006 – 2010), nâng cao thu nhập cho người dân, dự kiến đến năm 2010 thu nhập trung bình của người dân đạt trên 5 triệu đồng/người/năm. 3.2. Hiệu quả văn hoá – xã hội. Huyện Tam Đảo hiện có 14.399 hộ, với 67.235 khẩu, trong đó trên 40% dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Dao, Cao Lan và Sán Dìu. Cùng với sự phát triển của kinh tế, đời sống của người dân cũng từng bước được nâng cao bên cạnh sự phát triển của cơ sở hạ tầng. Các xã và nhiều thôn bản đã xây được nhà văn hoá. Các công trình giao thong, xây dựng trụ sở làm việc, sân golf được củng cố và xây mới, phong trào xây nhà đại đoàn kết đạt kết quả cao. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân nhất là nhân dân các dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện. Chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, ban đầu cho nhân dân, thực hiện chính sách dân số – kế hoạch hoá gia đình và các chính sách xã hội khác đạt hiệu quả cao. Tam Đảo vẫn còn nhiều hộ nghèo, huyện đã xây dựng kế hoạch đến năm 2010 giảm tỷ lệ hộ đói nghèo xuống dưới 10% Một trong các thước đo quan trọng của đời sống con người đó là giáo dục. Một nền giáo dục tốt, đồng bộ, tỷ lệ người mù chữ ít… mới phản ánh được mức sống của người dân. Có thể nói, ngoài những khó khăn chung về kinh tế xã hội của huyện, giáo dục Tam Đảo phải đối mặt với hàng loạt khó khăn có tính đặc thù. Từ điểm xuất phát thấp, các điều kiện cho giáo dục phát triển còn khó khăn nhất là về chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất. Đội ngũ giáo viên, quản lý vừa thiếu, vừa yếu, việc bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên chưa hợp lý. Số các trường Tiểu học, THCS hiện nay chưa có hoặc có rất ít học sinh giỏi cấp tỉnh trong những năm trước đó. Việc thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục và các vấn đề khác mới dừng lại ở bước khởi đầu. Từ thực tế trên đặt ra câu hỏi: làm gì, làm thế nào để đưa giáo dục Tam Đảo bật lên hội nhập được cùng với sự phát triển giáo dục Vĩnh Phúc. Điều đó là một thách thức, là sức ép, là sự trăn trở rất lớn đối với toàn ngành nhưng Đảng bộ huyện Tam Đảo đã nỗ lực hết mình vì sự nghiệp giáo dục. Hiện nay, toàn huyện có 33 trường, 685 lớp với 16.688 học sinh từ Mầm non đến THCS. Tính bình quân cứ 100 người dân thì có 11 người học tiểu học, 9,6 người học THCS. Đã hoàn thành phổ cập THCS trên địa bàn toàn huyện. Huy động hầu hết số trẻ em trong độ tuổi vào lớp đầu cấp đạt 99%; số cháu trong độ tuổi ra nhà trẻ đạt 33,7% tăng 0,8%, Mẫu giáo đạt 75%, tăng 4,9%. Tỷ lệ học sinh bỏ học giảm 0,5%. Chất lượng giáo dục toàn diện có chuyển biến tốt. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm từ 28,7% xuống còn 18%. Bình quân có 97% học sinh được xếp loại hạnh kiểm tốt khá. Xếp loại văn hoá khá giỏi: Tiểu học đạt 44,6% tăng 5,7%, THCS đạt 35,2% tăng 5,4%. Tỷ lệ lên lớp thẳng đạt trên 98,9%. Đã có 100% học sinh THCS được học ngoại ngữ và 6% học sinh THCS được học tin học. Có thể thấy được là giáo dục ở Tam Đảo đã từng bước theo kịp với sự phát triển chung của tỉnh Vĩnh Phúc và cả nước. Nhìn vào số liệu ở trên có thể thấy một điều đáng mừng là học sinh ở đây đã được học ngoại ngữ và vi tí

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Xuất Phát Triển Du Lịch Ở Hòn Bà trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!