Xu Hướng 12/2022 # Di Chỉ Óc Eo – Tỉnh An Giang / 2023 # Top 12 View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Di Chỉ Óc Eo – Tỉnh An Giang / 2023 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Di Chỉ Óc Eo – Tỉnh An Giang / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Di chỉ Óc Eo là một địa danh nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ nói chung và tỉnh An Giang nói riêng. Được nhiều trong và ngoài nước biết đến bởi nó là một khu di tích cổ xưa, rộng lớn. Khoảng 2 nghìn năm trước, nơi đây từng là kinh đô của vương quốc Phù Nam, một kinh đô hùng mạnh ở Đông Nam Á.

Di chỉ Óc Eo là một địa danh nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ nói chung và tỉnh An Giang nói riêng. Được nhiều trong và ngoài nước biết đến bởi nó là một khu di tích cổ xưa, rộng lớn. Khoảng 2 nghìn năm trước, nơi đây từng là kinh đô của vương quốc Phù Nam, một kinh đô hùng mạnh ở Đông Nam Á.

Khu di chỉ Óc Eo thuộc vùng núi Sập – Ba Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Thành cổ Óc Eo là một thương cảng thời trung cổ bị chìm dưới đất, được phát hiện khi nhân dân đào kênh xáng Ba Thê, và sau đó đã được khai quật, bảo vệ và nghiên cứu. Óc Eo đã từng được nối bằng một kênh đào dài 90km về phía Bắc. Gắn liền với dấu tích cổ xưa của vương quốc Phù Nam.

Hiện nay, khu di chỉ Óc Eo được nhiều nhà sưu tầm, các nhà khảo cổ học quan tâm tìm đến để tìm hiểu về những giá trị lịch sử còn lưu giữ lại ở đây. Ngoài khu vực được xem là Di Chỉ Óc Eo có diện tích 4.500ha, còn có một vài vùng ở miền Tây Nam Bộ như: Đồng Tháp Mười, Châu Đốc, Kiên Giang… mà cho đến nay vẫn còn nhiều điều bí ẩn đối với các nhà nghiên cứu, khảo cổ học.

Di chỉ Óc Eo ở An Giang không chỉ là nơi đến để du lịch, tham quan bình thường mà nó còn là nơi để con em người dân Việt Nam ta phần nào được ngắm nhìn và tìm hiểu về những sự kiện lịch sử đã qua còn được lưu truyền cho tới ngày nay.

Khu di chỉ Óc Eo ẩn chứa một nền văn hóa Óc Eo đặc sắc cùng bao điều bí ẩn vẫn còn là thử thách với bao nhà nghiên cứu khảo cổ đang dày công tìm hiểu. Nền văn hóa này là những điểm sáng quan trọng vền nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam, có mối liên hệ nhất định với lịch sử phát triển của vùng Đông Nam Á xưa kia.

Nơi đây sẽ còn được tìm tòi và nghiên cứu để phát hiện ra nhiều bí ẩn mới của nền văn hóa Óc Eo cổ đại. Hãy đến đây tham quan để phần nào hiểu thêm về các giá trị lịch sử của dân tộc ta.

Cùng Khám Phá Địa Điểm Di Chỉ Óc Eo Tại An Giang / 2023

Tên gọi Óc Eo

Óc Eo là tên gọi do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret đề nghị đặt cho một địa điểm thuộc huyện Thoại Sơn, nằm ở phía nam tỉnh An Giang thuộc đồng bằng sông Cửu Long.

Tên gọi Óc Eo ban đầu dùng để chỉ cấu trúc hình chữ nhật trong khu vực, nhưng sau đó Malleret dùng để chỉ toàn bộ khu vực. Theo L.Malleret, nền văn hóa Óc Eo có phạm vi phân bố chủ yếu ở vùng trũng miền Tây sông Hậu gồm điạ bàn các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bạc Liêu… và một phần đất Đông Nam Campuchia.

Khu di chỉ Óc Eo này là một khu di tích cổ rộng lớn, gắn liền với vết tích của vương quốc Phù Nam, một quốc gia hùng mạnh ở vùng Đông Nam Á cách nay khoảng hai nghìn năm. Vì thế, khu di chỉ này không những đón tiếp du khách đến tham quan mà còn đón nhận nhiều nhà sưu tầm, khảo cổ đến đây tìm hiểu, nghiên cứu.

Đây còn là minh chứng cho một thời kỳ phát triển rực rỡ của vùng đất An Giang ngày xưa nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Nơi đây là địa điểm nên đến nếu bạn là người có hứng thú với khảo cổ, yêu thích tìm hiểu lịch sử và nghe những câu chuyện về một nền văn minh phồn thịnh xa xưa. Trên thực tế, nơi đây thu hút khá nhiều khách đến tăm quan tìm hiểu vì đây không chỉ là di tích của vùng mà còn của cả Việt Nam nói chung.

Óc Eo là một di tích rất lớn, một trung tâm văn hóa cổ của đồng bằng sông Cửu Long, một hình mẫu của sự kết hợp những yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong sự phát triển; một vốn quý và điểm chốt quan trọng trong việc nghiên cứu những vấn đề lịch sử văn hóa của đất nước và khu vực Đông Nam Á. Do đó, cần phải bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Óc Eo – một di sản văn hóa – lịch sử quan trọng của Việt Nam nói riêng và của Đông Nam Á nói chung.

Eo Gió Khởi Hành Hàng Ngày Dù Chỉ 1 Khách / 2023

4.9

/

5

(

1331

bình chọn

)

Kỳ Co – Eo Gió là điểm du lịch nổi tiếng tại Quy Nhơn trong những năm gần đây. Theo xu thế phát triển đó, Quy Nhơn Tourist đã tổ chức các tour ghép khách lẻ hàng ngày từ Quy Nhơn đi Kỳ Co – Eo Gió. Vì thế khi đến Quy Nhơn hãy tham gia ngay cùng chúng tôi hành trình tour ghép Kỳ Co Eo Gió – Dù bạn đi bao nhiêu người hay dù chỉ 1 người – Chúng tôi vẫn sẽ khởi hành.

Xuất phát: Quy Nhơn

Thời gian: Đi về trong ngày

Khởi hành: Theo yêu cầu

Phương tiện: Xe Ô tô, Cano

07h30: Xe và HDV Quy Nhơn Tourist đón Quý khách tại Quy Nhơn (Quý khách ở đâu Quy Nhơn Tourist sẽ đón ở đó – trong TP Quy Nhơn) khởi hành đi Nhơn Lý.

Vượt Cầu Thị Nại – cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam với chiều dài gần 2,5km. Tại đây Quý Khách có thể dừng chân, ngắm những tia nắng vàng rắc trên Đầm Thị Nại, và nghe kể về những trận thủy chiến bi tráng giữa Champa và Đại Việt, giữa Tây Sơn và nhà Nguyễn (Nguyễn Ánh) suốt hơn 5 thế kỷ.

08h30: Quý khách lên Cano qua Bãi tắm Kỳ Co – Một bãi tắm còn hoang sơ, trong sạch. Tại đây, quý khách có thể tận mắt chứng kiến một cảnh đẹp thiên nhiên tuyệt đẹp, làm say đắm biết bao lòng người. Với màu nước trong xanh, bãi cát trắng dài và mịn, những cơn sóng biển êm ái chính là điểm đến lý tưởng thu hút nhiều du khách trong thời gian gần đây.

Ngoài tắm biển và đùa vui, quý khách còn có những trò chơi mạo hiểm khi leo lên ghềnh đá và nhảy xuống biển, một cảm giác thật sảng khoái và thú vị. (Tham khảo Bảng giá các dịch vụ trò chơi tại Bãi Kỳ Co Quy Nhơn )

Check in Cầu Tình Yêu (Cầu Yến) và Hồ suối Kỳ Co miễn phí

Sau đó, Cano và HDV sẽ đưa Quý khách đến Bãi San Hô (Bãi Dứa) lặn ngắm những rặng san hô tự nhiên và hàng trăm loài cá đầy màu sắc tung tăng bơi lội.

Ngoài lặn ngắm San hô, Quý khách còn được tham gia các trò chơi trên biển vô cùng đặc sắc chỉ có ở Quy Nhơn Tourist.

Phao bay: Phao được kéo bởi cano cao tốc, vận tốc tối đa 80km/giờ. Nhưng vẫn đảm bảo sự an toàn cho du khách và mang lại sự trải nghiệm vô cùng thú vị. (Chi phí tự túc)

Phao nhún: Quý khách thỏa thích sáng tạo những động tác bậc nhảy cũng như được lênh đênh trên biển để lặn ngắm san hô với sự đa năng của phao nhún.(Chi phí tự túc)

Phao Thiên Nga: Phao thiên nga to, Quý khách có thể ngồi lên nhúng hoặc chụp hình rất đẹp.(Miễn phí)

11h50: Quý khách dùng bữa trưa với các món hải sản tươi sống do người dân làng chài vừa mới đánh bắt được để chế biến cho quý khách thưởng thức.

Menu hải sản bao gồm:

Soup rong biển tôm thịt

Gỏi ốc trộn rau câu chân vịt / Ốc hấp

Mực tươi hấp gừng

Hàu nướng mỡ hành

Tôm sú hấp lá dứa

Cháo Hải sản

Cơm chiên cá mặn / muối ớt

Salad rong nho đặc sản

Cá biển hấp cuốn bánh tráng + mắm nêm / Cá Gáy Nhơn Lý nấu mẵn + bắp chuối + bún tươi

Tráng miệng: Trái cây, trà đá, khăn lạnh

(Có thể thay đổi thực đơn tùy theo tình hình thời tiết và yêu cầu của Quý khách)

Sau bữa trưa, quý khách nghỉ ngơi thư giản tại nhà hàng cho thoải mái.

15h00: Quý khách tiếp tục viếng Tịnh xá Ngọc Hòa – Chiêm ngưỡng pho tượng Phật đôi Quan thế Âm cao nhất Việt Nam 30m.

15h45: Tham quan: Eo Gió – một ghềnh đá quanh năm lộng gió. Đứng trên Eo Gió, phóng tầm mắt ra xa, quý khách chiêm ngưỡng bao quát cả vùng biển bao la rộng lớn, đắm say lòng người. Eo gió – Nơi ngắm Hoàng hôn đẹp nhất Việt Nam

16h30: Đưa Quý khách đến Đồi Cát Phương Mai check in và chụp ảnh. (Có thể đi TRƯỢT CÁT nếu Quý khách yêu cầu)

Trở về lại Quy Nhơn. Kết thúc chuyến thăm quan tại Bình Định. Chào tạm biệt & hẹn gặp lại!

CHƯƠNG TRÌNH THÊM LỰA CHỌN CHO QUÝ KHÁCH

Khu Dã ngoại Trung Lương (Tặng check – in tượng phật ngồi cao nhất Đông Nam Á Linh Phong Tự):

Thêm 70.000 VND/người

FLC Safari (Công viên hoang dã FLC):

Thêm 90.000 VND/người

Tháp Đôi Quy Nhơn:

Thêm 25.000 VND/người

GIÁ TOUR GHÉP KÍCH CẦU:

695.000 VND/người lớn

Quý khách đi riêng theo Đoàn vui lòng liên hệ để có giá tốt nhất

Hotline: 0979 53 59 59

BAO GỒM:

Xe ô tô đời mới theo lịch trình

Cano siêu tốc phục vụ theo chương trình – cano chống chìm chống lật

Bữa trưa Hải sản

Vé vào Bãi Kỳ Co

Lều nghỉ ngơi tại Kỳ Co

Vé Cầu Tình yêu, Cầu Yến

Ghế nghỉ mát trên bãi biển

Dịch vụ tắm tráng nước ngọt

Dụng cụ lặn ngắm san hô: Áo phao, Kính lặn

Vé tham quan các điểm trong chương trình

Phí du lịch an ninh biển đảo

Hướng dẫn viên nhiệt tình, có kinh nghiệm biển đảo Quy Nhơn.

Bảo hiểm du lịch (mức đền bù tối đa 20.000.000 đồng/người/vụ)

Nước suối + Khăn lạnh trên xe 2 chai/người/ngày

KHÔNG BAO GỒM:

Chi phí cá nhân, phí trò chơi cá nhân và tham quan ngoài chương trình.

Ăn, Uống không có trong chương trình.

Hóa đơn VAT

QUÀ TẶNG:

Mũ du lịch vành to chỉ có tại Quy Nhơn Tourist (Mũ vải hoặc Mũ Vành Lá theo yêu cầu)

Quà tặng hoạt náo trên xe

CHÍNH SÁCHTRẺ EM:

Trẻ em dưới 5 tuổi – miễn phí (2 người lớn chỉ được miễn phí 1 trẻ em dưới 5 tuổi, trẻ thứ 2 tính 50%)

Trẻ em từ 5 – 9 tuổi, tính 50% chi phí người lớn

Trẻ từ 10 tuổi trở lên tính bằng chi phí người lớn

Trẻ cao từ 1m4 trở lên tính như người lớn để đảm bảo lượng ăn, vé tham quan

GHI CHÚ:

Khi du lịch biển, đảo, leo núi …xin quý khách mang theo đồ dùng gọn gàng dễ di chuyển trên thuyền như quần soọc, các dụng cụ cá nhân như kem chống nắng, đồ bơi, dép có thể xuống nước, kính mát, …

Cung cấp danh sách đoàn gồm đầy đủ các chi tiết về: Họ tên, giới tính, năm sinh, số điện thoại liên lạc…, để chuẩn bị hồ sơ đoàn tham quan.

Hãy Gọi Ngay 0979 53 59 59 (Hotline) để được Tư Vấn Trực Tiếp và nhận được NHIỀU CHƯƠNG TRÌNH ƯU ĐÃI chỉ có ở Quy Nhơn Tourist.

Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang / 2023

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ- DU LỊCH

TRÀ XUÂN MAI

TÌM HIỂU DU LỊCH TỈNH AN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH

Cần Thơ, tháng 5/2010

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ- DU LỊCH

TRÀ XUÂN MAI MSSV: 6062719

TÌM HIỂU DU LỊCH AN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH

GV hướng dẫn: Th.s Trần Thị Phụng Hà

Lời cảm ơn Phần 1: MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………….1 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài …………………………………………1 3. Đối tượng nghiên cứu ………………………………………………….1 4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….2 4.1.Phương pháp thưc tế………………………………………………….2 4.2.Thu thập, xử lí thông tin, phân tích và tổng hợp tài liệu……………..2 4.3.Phương pháp bản đồ………………………………………………….2 5. Quan điểm nghiên cứu………………………………………………….2 5.1.Quan điểm tổng hợp lãnh thổ…………………………………………..2 5.2.Quan điểm lịch sử………………………………………………… …..2 5.3.Quan điểm viễn cảnh……………………………………………………3 Phần 2: NỘI DUNG………………………………………………………………..4 Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG…………………………………………………….4 1.1.Khái niêm du lịch và tài nguyên du lịch……………………………………….4 1.1.1.Khái niệm du lịch……………………………………………………..4 1.1.2.Khái niêm tài nguyên du lịch…………………………………………5 1.2.Vai trò, ý nghĩa của du lịch và tài nguyên du lịch……………………………..5 1.2.1.Vai trò, ý nghĩa của du lịch……………………………………………5 1.2.2.Vai trò, ý nghĩa của tài nguyên du lịch……………………………….7 1.3.Đặc điểm và phân loại tài nguyên du lịch………………………………………7 1.3.1.Đặc điểm………………………………………………………………7 1.3.2.Phân loại…………………………………………………………… ..8 a. Tài nguyên du lịch tự nhiên………………………………….8 b. Tài nguyên du lịch nhân văn………………………………..11 Chương 2: TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH AN GIANG………………………15 2.1.Khái quát về tỉnh An Giang…………………………………………………..15 2.1.1.Lịch sử hình thành vùng đất An Giang………………………………15 2.1.2.Vị trí địa lí……………………………………………………………15 2.1.3.Đặc điểm tự nhiên……………………………………………………16 a. Địa hình……………………………………………………16 b. Khí hậu……………………………………………………16 c. Sông, hồ, kênh, rạch………………………………………16 2.1.4.Đặc điểm kinh tế- xã hội……………………………………………17 a. Phân chia đơn vị hành chính………………………………17

b. Dân cư và sự phân bố dân cư……………………………..18 c. Kinh tế- du lịch……………………………………………18 2.2.Tài nguyên du lịch của tỉnh An Giang………………………………………..21 2.2.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên…………………………………………21 a. Địa hình……………………………………………………21 b. Khí hậu……………………………………………………21 c. Sinh vật……………………………………………………22 d. Nước………………………………………………………23 2.2.2.Tài nguyên du lịch nhân văn…………………………………………24 a. Di tích lịch sử- văn hóa- khảo cổ học……………………..24 b. Các lễ hội………………………………………………….24 c. Làng nghề thủ công truyền thống…………………………28 d. Các đối tượng gắn với dân tộc học………………………..29 e. Các đối tượng văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức khác………………………………………………….32 2.3.Một số điểm du lịch tiêu biểu của tỉnh An Giang………………… ……….. 32 2.3.1.Các điểm du lịch tự nhiên……………………………………………32 a. Búng Bình Thiên- Đệ nhất hồ trời…………………………32 b. Thế giới nước Trà Sư……………………………………..33 c. Thất sơn hùng vỹ- trữ tình…………………………………34 2.3.2.Các điểm du lịch nhân văn…………………………………………..35 a. Đồi Tức Dụp………………………………………………35 b. Cụm di tích núi Sam………………………………………37 c. Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng…………………..39 d. Thánh đường Hồi giáo Mubarak………………………….39 e. Chùa Xà Tón( Xayvon)…… …………………………….40 @Đánh giá chung về tài nguyên du lịch tỉnh An Giang……………………….41 Chương 3: HIỆN TRẠNGVÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG 3.1.Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục du lịch…………………………43 3.1.1.Cơ sở hạ tầng………………………………………………………..43 a. Giao thông…………………………………………………43 b. Vận tải…………………………………………………….44 c. Thông tin liên lạc…………………………………………44 3.1.2.Cơ sở vât chất kỹ thuật………………………………………………45

a. Cơ sở lưu trú………………………………………………………45 b. Mạng lưới thương mại mua sắm hang lưu niệm…………………..45 c. Cơ sở y tế………………………………………………………….45 d. Cơ sở ăn uống……………………………………………………..45 e. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch…………………………………..45 3.2.Hiện trạng hoạt động du lịch và định hướng phát triển du lịch An Giang……46 3.2.1.Tình hình khách du lịch tỉnh An Giang……………………………..46 3.2.2.Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động du lịch tỉnh An Giang……..47 a. Thuận lợi……………………………………………………………47 b. Khó khăn……………………………………………………………48 3.2.3.Định hướng phát triển du lịch An Giang……………………………49 Phần 3: KẾT LUẬN…………………………………………………………… 51 1. Kết quả đạt được…………………………………………………………..51 2. Ý kiến đề xuất………………………………………………………… …51

LỜI CÁM ƠN Trong suốt bốn năm rèn luyện và học tập trên giảng đường đại học, với sự dìu dắt và truyền thụ kiến thức của thầy cô, tôi đã có được những hành trang bổ ích để bước vào đời. Có thể nói, luận văn tốt nghiệp là công trình nghiên cứu có giá trị đầu tiên đối với mỗi sinh viên. Với công trình này, chúng tôi có dịp vận dụng những kiến thức đã được trang bị và trau dồi suốt bốn năm qua. Trải qua thời gian nỗ lực tìm tòi nghiên cứu, đề tài ” TÌM HIỂU DU LỊCH AN GIANG” đã hoàn thành. Trang viết đầu tiên này tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến cô Trần Thị Phụng Hà- Cán bộ hướng dẫn chính cho bài luận văn này, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài. Đạt được kết quả này còn nhờ sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, đơn vị khác. Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô Bộ môn Lịch sửĐịa lí- Du lịch, Sở Văn hóa- Thể thao- Du lịch An Giang, Cục Thống kê An Giang cùng các bạn lớp Cử nhân du lịch khóa 32. Chúc sức khỏe và thành đạt đến quý thầy cô, các cơ quan và tất cả các bạn! Vì thời gian và kiến thức bản thân có hạn nên chắc chắn đề tài này sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để luận văn tốt nghiệp này hoàn chỉnh hơn.

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Quê hương tôi có cánh đồng xanh biếc Có cánh cò và có cả dòng sông Những người dân bàn chân đất ra đồng Tờ mờ sáng họ đi trong sương lạnh Mặt trời mọc là bức tranh ngoạn cảnh Đẹp tuyệt vời như họa sĩ vẻ ra Thương biết mấy những con người quê nội Đất An Giang tôi yêu mến muôn đời! (Sáng tác) Là một người con của mảnh đất An Giang, tôi tự hào bởi quê hương trù phú, nơi được đặc ân ưu đãi của thiên nhiên. Hệ thống sông Tiền và sông Hậu tạo cho An Giang một mùa nước nổi rất riêng biệt. An Giang còn sở hữu nhiều nét văn hóa phong phú đa dạng, nhiều di tích lịch sử đặc sắc, lâu đời gắn với thiên nhiên sông núi hữu tình, hùng vĩ. An Giang còn được mệnh danh là vùng “địa linh” với nhiều tín ngưỡng văn hóa đặc thù của các dân tộc. Giàu đẹp là thế, nhiều tiềm năng là thế. Nhưng hiện nay du lịch An Giang vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Vậy phải làm thế nào để đưa du lịch An Giang trở thành thế mạnh của tỉnh? Đây không chỉ là vấn đề bức xúc của riêng bản thân tôi mà còn là của các ngành, các cấp lãnh đạo trong hoạt động du lịch của tỉnh. Là sinh viên năm cuối chuyên ngành hướng dẫn viên, tôi hy vọng qua đề tài “TÌM HIỂU TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH AN GIANG” sẽ đưa hình ảnh du lịch tỉnh nhà giao lưu, hội nhập với các tỉnh bạn để du lịch An Giang có thể phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có, từng bước tạo thương hiệu cho mình và góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch Việt Nam. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: Tìm hiểu tài nguyên du lịch tỉnh An Giang nhằm mục đích tìm hiểu những tìêm năng của một số tài nguyên có tác động đến hoạt động du lịch của một địa phương nói riêng và của tỉnh An Giang nói chung. Qua đó có những đánh giá về những tiềm năng du lịch của tỉnh và vạch ra phương hướng phát triển nhằm thúc đẩy ngành du lịch An Giang phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn trong tương lai. Song song đó, đề tài cũng giúp tôi củng cố lại những kiến thức đã học, bổ sung thêm những kiến thức mới nhằm nâng cao sự hiểu biết để phục vụ cho nghề nghiệp sau này.

cứu phải tìm ra điểm độc đáo của lãnh thổ du lịch, sự hấp dẫn, nét riêng biệt của vùng, của điểm du lịch vùng này với điểm du lịch vùng khác. 5.2. Quan điểm lịch sử: Tất cả các sự vật hiện tượng đều có quá trình xuất hiện và phát triển, vì thế khi nghiên cứu tài nguyên du lịch người nghiên cứu cần phải tìm hiểu nguồn gốc lịch sử dẫn đến sự hình thành tài nguyên du lịch để thấy được những bước khác nhau của nó trong những hoàn cảnh địa lí khác nhau, trong những khoảng thời gian khác nhau. Khi nghiên cứu chúng ta cần đặt theo một cấu trúc logic để lí giải nguyên nhân hình thành và phát triển. Quan điểm này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn động về sự vật, nghĩa là chúng ta phải luôn đặt chúng trong quá trình vận động và từ đó có thể thấy được những bước phát triển trong tương lai. 5.3. Quan điểm viễn cảnh: Quan điểm này giúp người nghiên cứu định hướng được, dự đoán được những bước phát triển kế tiếp của các loại tài nguyên du lịch trong tương lai khi nhìn nhận đầy đủ bản chất cũng như quy luật vận động và phát triển của các loại tài nguyên du lịch ở quá khứ và hiện tại. Trong nghiên cứu du lịch thì quan điểm này kế thừa quan điểm lịch sử, nghĩa là khi áp dụng quan điểm viễn cảnh, người nghiên cứu phải căn cứ vào xu hướng vận động của các sự vật hiện tượng để lập dự báo, căn cứ có khoa học trong tương lai. Quan điểm này đảm bảo tính sáng tạo, tính tích cực của ngành Địa Lý và Du Lịch, đảm bảo tính kế thừa và phát triển trong tương lai.

trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức-văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về kinh tế, tự nhiên, văn hóa”. Nhìn chung, du lịch có thể được định nghĩa như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. (Điều 10Pháp lệnh du lịch Việt Nam- 1999). Thông qua một số định nghĩa trên, có thể nói rằng du lịch là một dạng hoạt động đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa- xã hội. 1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lich hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình và được phân loại thành nhiều tài nguyên gắn liền với các nhân tố con người và xã hội. Khái niệm tài ngyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999) định nghĩa như sau: “Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch”. Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế cho thấy, tài nguyên du lich càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. 1.2. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA DU LỊCH VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH 1.2.1. Vai trò, ý nghĩa của du lịch: Du lịch có những chức năng nhất định. Có thể xếp các chức năng ấy thành bốn nhóm: xã hội, kinh tế, sinh thái và chính trị. Thông qua những chức năng này có thể thấy được vai trò rất lớn của du lịch và hoạt động du lịch. a. Chức năng xã hội: Thể hiện ở vai trò của du lịch trong việc giữ gìn, hồi phục sức khỏe và tăng cường sức sống cho nhân dân. Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người.

1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hóa của vùng du lịch. Quy mô hoạt động du lịch của một vùng, một quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tài nguyên du lịch quyết định tính mùa vụ, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch. Sự hấp dẫn của vùng du lịch phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch. Số lượng tài nguyên du lịch vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia. Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài nguyên du lịch, các loại có chất lương cao có sức hấp dẫn du khách lớn và mức độ kết hợp các loại tài nguyên phong phú thì sức thu hút khách du lịch càng mạnh. 1.3. ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH 1.3.1. Đặc điểm: Để khai thác và sử dụng tốt nhất các tài nguyên du lịch, trước hết cần tìm hiểu và nghiên cứu các đặc điểm nguồn tài nguyên này. Tài nguyên du lịch có những đặc điểm chính sau: Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch. Thời gian khai thác xác định tính mùa của du lịch, nhịp điệu của dòng khách. Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó. Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên. Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các quy định về sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ chung. Muốn đánh giá tài nguyên du lịch cần phải tổng hợp nhiều tri thức của các lĩnh vực khoa học: sinh lý học, tâm lý học, địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế, lịch sử văn hóa và nghệ thuật, kiến trúc và đô thị, kế hoạch hóa lãnh thổ và kế hoạch du lịch. Khía cạnh lãnh thổ của các đánh giá tài nguyên du lich là nhiệm vụ của địa lý du lịch. 1.3.2. Phân loại tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch có thể chia làm hai nhóm như sau:

 Tài nguyên du lịch tự nhiên  Tài nguyên du lịch nhân văn a. Tài nguyên du lịch tự nhiên: Là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta và tác động đến người quan sát qua hình dạng bên ngoài của bản thân nó. Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên cũng như lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội và chúng được khai thác đồng thời với các tài nguyên du lịch nhân văn. Các yếu tố tự nhiên được khai thác để phục vụ cho hoạt động du lịch đó là: địa hình, khí hậu, nước, sinh vật.  Địa hình: Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách. Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được phân biệt bởi độ chênh cao của địa hình. – Địa hình đồng bằng với độ cao tương đối dưới 10 mét, địa hình này tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình, ít gây cảm hứng cho khách tham quan du lịch. Song, đồng bằng là nơi thuận lợi cho hoạt động kinh tế, là nơi quần cư đông đúc, tạo ra đặc điểm văn hóa của các dân tộc, các hoạt động gắn liền với cuộc sống của người dân. Địa hình đông bằng có ảnh hưởng gián tiếp đến du lịch. – Địa hình vùng đồi với độ cao từ 10 đến 100 mét thường tạo ra một không gian thoáng đãng bao la… tác động mạnh đến tâm lý của khách ưa thích dã ngoại, rất thích hợp với loại hình cắm trại, tham quan…. – Địa hình vùng núi với độ cao trên 100 mét thường có nhiều ưu thế đối với hoạt động du lịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện vẻ đẹp hùng vỹ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành. Ở miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch, đó là các sông, suối, hang động, thác nước, rừng cây với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú. Miền núi còn là nơi cư trú của các dân tộc ít người với đời sống và nền văn hóa đa dạng, đặc sắc. Ở miền núi với sự kết hợp của địa hình, khí hậu, nước, tài nguyên sinh vật và bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc ít người đã tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch khác nhau và có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách. Ngoài các dạng địa hình trên, địa hình karst và địa hình ven bờ cũng có ý nghĩa rất lớn cho tổ chức du lịch.

– Địa hình karst là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong các đá dễ hòa tan (đá vôi, dolomite, đá phấn, thạch cao, muối mỏ…) ở Việt Nam chủ yếu là đá vôi. Hang động karst là một kiểu karst được quan tâm đối với du lịch vì cảnh quan thiên nhiên của các hang động karst rất thu hút khách du lịch. Nhiều hang động có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo do tạo hóa sinh ra. Nhiều hang động chứa những di tích khảo cổ, di tích lịch sử văn hóa. Không ít hang động đã được con người xây dựng thêm các công trình kiến trúc như chùa chiền để thờ tự, tạo nên một thế giới tâm linh đầy bí ẩn…. Như vậy, có thể nói hang động karst là một loại tài nguyên du lịch- một loại hàng hóa đặc biệt có thể sinh lợi cao. Hiện nay ở nước ta đã có nhiều hang động được khai thác để phục vụ du lịch như: Phong Nha, Tam Cốc- Bích Động, Hương Tích, Thiên Cung…. Ngoài hang động karst, còn có kiểu địa hình karst ngập nước tiêu biểu là vịnh Hạ Long- một di sản thiên nhiên thế giới; kiểu địa hình karst đồng bằng tiêu biểu là ở vùng Ninh Bình được mệnh danh là “vịnh Hạ Long cạn” cũng rất có giá trị về du lịch. – Địa hình ven bờ cũng có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch. Nước ta có đường bờ biển dài 3.260 km với nhiều bãi tắm vẫn còn ở dạng sơ khai, chưa bị ô nhiễm, độ dốc trung bình từ 10 đến 30 và một hệ thống đảo ven bờ, trong đó một số đảo có giá trị về du lịch. Từ Móng Cái đến Hà Tiên với rất nhiều bãi tắm đẹp như: Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Lăng Cô, Đại Lãnh, Nha Trang, Vũng Tàu…. Đây là tiềm năng lớn để tạo nên các khu du lịch biển có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực.  Khí hậu: Khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du lịch. Trong các chỉ tiêu về khí hậu, đáng lưu ý nhất là nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như gió, áp suất khí quyển, ánh sáng mặt trời, các hiện tượng thời tiết đặc biệt. Bảng 1.1: Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người

Hạng

Ý nghĩa

Thích nghi Khá thích nghi Nóng

Rất nóng Không thích nghi

( Nguồn: Địa lý du lịch- Nguyễn Minh Tuệ) Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ du lịch. Nhìn chung, những nơi có khí hậu ôn hòa thường được du khách ưa thích. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho hoạt động du lịch. Mỗi loai hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Chẳng hạn du khách đi nghỉ biển mùa hè thường chọn những dịp ít mưa, nắng nhiều nhưng không gắt, nước mát, gió vừa phải. Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng rất rõ rệt đến tính mùa vụ trong du lịch. Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu. Sự phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng. Mùa du lịch cả năm thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh ở suối khoáng, du lịch trên núi (cả mùa đông và mùa hè). Mùa đông là mùa du lịch trên núi, du lịch thể thao mùa đông. Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì nó có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, các loại hình du lịch trên núi và khu vực đồng bằng, đồi, khả năng du lịch ngoài trời rất phong phú và đa dạng.  Nguồn nước: Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng. nó bao gồm nước đại dương, biển, song, hồ, suối phun, thác nước…. Tài nguyên nước mặt không chỉ có tác dụng hồi phục trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều dến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ. Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch, tuy nhiên cần phải nói đến tài nguyên nước khoáng. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị an dưỡng và chữa bệnh. Những nước có nhiều tài nguyên nước khoáng là: Liên Bang Nga, Bungari, Italia… cũng là những nước phát triển loại hình du lịch chữa bệnh. Ở Việt Nam, theo các nhà địa chất thủy văn có trên 400 điểm nước khoáng có giá trị du lịch như: Vĩnh Hảo, Kim Bôi, Quang Hanh, Hội Vân…  Sinh vật: Con người cũng như mọi sinh vật đều được phát sinh và phát triển trong môi trường tự nhiên- nguyên thủy-một môi trường hàn toàn trong lành và ổn định. Con người đã thích nghi với môi trường đó. Giờ đây, sống trong một xã hội phát

triển có những điều kiện thuận lợi do con nguười tạo ra, nhưng đồng thời môi trường lại bị ô nhiễm, biến đổi bất lợi cho cuộc sống của con người, vì vậy con người muốn trở về với thiên nhiên. Như vây có thể nói, cảnh quan thiên nhiên có một vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe con người và là nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái. Động vật là một trong những nhân tố góp phần thu hút khách du lịch. Nhiều loài động vật có thể là đối tượng cho săn bắn du lịch, những động vật quý hiếm là đối tượng để nghiên cứu, có những loài có thể khai thác làm đặc sản phục vụ nhu cầu du lịch. Nước ta đã thành lập được 105 khu bảo vệ tự nhiên, bao gồm 27 vườn quốc gia, 44 khu bảo tồn tự nhiên và 34 khu rừng văn hóa lịch sử, môi trường với tổng diện tích khoảng 2.092 hecta (thống kê năm 2003). b. Tài nguyên du lịch nhân văn: Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra. Theo quan điểm chung được chấp nhận hiện nay, toàn bộ những sản phẩm có giá trị vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra được xem là những sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên không phải sản phẩm văn hóa nào cũng được xem là tài nguyên du lịch nhân văn, chỉ những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phục vụ du lịch mới được xem là tài nguyên du lịch nhân văn. Hay nói cách khác, những tài nguyên du lịch nhân văn chính là những giá trị văn hóa tiêu biểu cho mỗi dân tộc. Thông qua những hoạt động du lịch dựa trên việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểu những đặc trưng cơ bản về văn hóa của dân tộc, địa phương nơi mình đến. Là những sản phẩm văn hóa nên nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên cũng rất đa dạng và phong phú. Chúng có thể được phân thành các dạng chính như sau:  Các di tích lịch sử- văn hóa: Di tích lịch sử-văn hóa là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, cụ thể, xác thực nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, những trí tuệ, những tài năng, giá trị văn hóa nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích lịch sử- văn hóa có giá trị rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dan tộc, mỗi đất nước. Như vậy, di tích lịch sử- văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng những giá trị lịch sử điển hình do tập thể hoặc cá

nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại. Theo những thang bậc giá trị khác nhau, những di tích lịch sử- văn hóa được phân thành những dạng khác nhau: các di tích có giá trị đặc biệt được xem là các di sản thế giới, các di tích cấp quốc gia và địa phương. Các di sản văn hóa thế giới: là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hóa của một dân tộc, nó có giá trị rất lớn đối với nhân loại. Nó là nguồn tài nguyên vô giá có sức thu hút du khách rất cao, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài. Ví dụ như: phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, cố đô Huế…. Các di tích lịch sử- văn hóa danh thắng cấp quốc gia và địa phương: mỗi di tích có nội dung, giá trị văn hóa, lượng thông tin riêng biệt khác nhau. Có thể chia ra thành: – Di tích văn hóa khảo cổ – Di tích lịch sử – Di tích văn hóa nghệ thuật – Các danh lam thắng cảnh Để đánh giá đúng ý nghĩa của các di tích lịch sử văn hóa phục vụ cho mục đích du lịch, cần chú ý số lượng và chất lượng của di tích. Tài nguyên này có thể tận dụng để phát triển nhiều loại hình du lịch cũng như kết hợp các loại tài nguyên du lịch khác tạo ra sức hấp dẫn to lớn đối với du khách.  Lễ hội: Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt của tập thể nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc đó còn là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được. Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới, huyền diệu giúp cho người tham dự có điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của nguồn khởi điểm mọi sinh vật sinh sống. Lễ hội dân tộc trở thành dịp cho con người hành hương về với cội nguồn. Trong kho báu các di sản quá khứ để lại cho hôm nay, các lễ hội dân tộc có lẽ là những thứ quý báu nhất. Và vì thế lễ hội dân tộc lành mạnh không bị mất đi mà ngày càng được nhân rộng, phát triển cả về hình thức lẫn nội dung. Nội dung lễ hội bao gồm hai phần: Phần lễ: đó là những nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu cho ngày hội theo không gian và thời gian. Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng lỗi lạc có ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội. Phần nghi lễ nhằm bày tỏ lòng tôn

kính đối với các bậc thánh hiền và thần linh cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc. Nó tạo thành nên móng vững chắc, tạo một yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội. Phần hội: là phần tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn…. Mặc dù cũng hàm chứa những yếu tố văn hóa truyền thống, nhưng phạm vi nội dung của nó không khuôn cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những yếu tố văn hóa mới. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy nếu nơi nào bảo tồn và phát triển được những nét văn hóa truyền thống trong phần hội với những trò chơi mang tính dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị hơn, có sức hấp dẫn hơn. Thông thường phần hội gắn với tình yêu, giao duyên nam nữ. Cũng có những lễ hội mà ở đó phần lễ và phần hội hòa quyện với nhau, trong đó trọng tâm là phần hội nhưng bản thân phần hội đã mang trong nó ý nghĩa tâm linh của phần lễ. Như vậy, lễ hội là tài nguyên du lịch quan trọng góp phần làm tăng hấp dẫn du khách trong hoạt động du lịch. Ở nước ta có rất nhiều lễ hội của nhiều dân tộc thu hút đông đảo khách du lịch như: lễ hội chùa Hương, lễ hội vía Bà Chúa Xứ An Giang, lễ Cholchnamthmay của người Khơ me…  Nghề và các làng nghề thủ công truyền thống: Đây cũng là tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng. Thông thường nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo tinh xảo của nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người. Đây cũng chính là đặc tính riêng của nền văn hóa và cũng chính là sức hấp dẫn của các nghề và làng nghề thủ công truyền thống.  Các đối tượng gắn với dân tộc học: Các đối tượng gắn với dân tộc học bao gồm các điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng, địa bàn cư trú nhất định, kinh nghiệm sản xuất…. Các đối tượng gắn với dân tộc học có ý nghĩa du lịch là các tập tục về cư trú, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, các trang phục dân tộc…. Những điều đó đã tạo nên nét văn hóa độc đáo thu hút du khách.  Các đối tượng văn hóa thể thao và các hoạt động nhận thức khác: Những đối tượng văn hóa như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các trung tâm thư viện lớn, các nhà bảo tàng,… đều có sức thu hút khách du lịch

Cập nhật thông tin chi tiết về Di Chỉ Óc Eo – Tỉnh An Giang / 2023 trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!