Xu Hướng 2/2024 # Du Lịch Lạng Sơn – Tiềm Năng, Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Du Lịch Lạng Sơn – Tiềm Năng, Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới có diện tích tự nhiên 8.305 km2, có 11 đơn vị hành chính gồm 01 thành phố và 10 huyện, có 253 km đường biên tiếp giáp với Quảng Tây – Trung Quốc, có 02 cửa khẩu quốc tế: cửa khẩu Hữu Nghị về đường bộ, cửa khẩu Đồng Đăng về đường sắt 02 cửa khẩu quốc gia Chi Ma, Bình Nghi và các cặp chợ biên giới. Với hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường sắt và đường bộ nối Lạng Sơn với các tỉnh trong nước và ngoài nước: các tuyến đường giao thông quan trọng như quốc lộ 1A nối liền Lạng Sơn – Hà Nội, quốc lộ 1B Lạng Sơn – Thái Nguyên, quốc lộ 4A Lạng Sơn – Cao Bằng, quốc lộ 4B Lạng Sơn – Quảng Ninh, quốc lộ 31 Lạng Sơn – Bắc Giang, quốc lộ 279 Lạng Sơn – Bắc Kạn và tuyến đường sắt liên vận Quốc tế Việt – Trung, Lạng Sơn nằm trong tâm điểm hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh (Việt Nam) là của ngõ lớn và thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế – xã hội giữa Việt Nam với Trung Quốc. Về mặt tự nhiên Lạng Sơn đ­­ược thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh, hang động kỳ thú và nhiều di tích lịch sử văn hoá, trong đó có những di tích danh thắng đã đi vào thi ca và lòng người như: Động Tam Thanh, Nhị Thanh, Nàng Tô Thị, núi Mẫu Sơn. Bên cạnh đó trong quá trình dựng nước và giữ nước của cha, ông Lạng Sơn cũng có nhiều di tích lịch sử, di tích cách mạng như: Ải Chi Lăng, Thành Nhà Mạc… Ngoài ra đây còn là một vùng quê xinh đẹp, với non nước xanh biếc của dòng sông Kỳ Cùng thơ mộng. Dân số tỉnh hơn 75 vạn người, gồm 7 dân tộc, trong đó dân tộc Nùng chiếm 43%, dân tộc Tày 36%, dân tộc kinh 16%, còn lại là các dân tộc Dao, Hoa, Mông, Sán Chay cùng chung sống, với những phong tục, tập quán, lễ hội, những làn điệu dân ca, hát then, hát sli, hát lượn… làm say đắm lòng người, những phiên chợ vùng cao, những sắc màu trang phục truyền thống, những áng ca dao, ẩm thực mang đậm bản sắc dân tộc…

Chùa và động Tam Thanh một trong những thắng nổi tiếng của Xứ Lạng

Theo thống kê trên địa bàn 11 huyện thành phố có gần 600 di tích, thuộc 04 loại hình chính (đó là: Loại hình di tích khảo cổ học tiền sơ sử; loại hình di tích danh lam thắng cảnh, loại hình di tích văn hóa – nghệ thuật tôn giáo tín ngưỡng, loại hình di tích lịch sử cách mạng); trong số này đã có 23 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia, 88 điểm khu được xếp hạng cấp tỉnh và hàng trăm các điểm di tích khác đang được tiếp tục nghiên cứu bảo tồn. Hiện nay, song song với hệ thống di tích, danh lam thắng cảnh tỉnh Lạng Sơn có khoảng hơn 340 lễ hội lớn nhỏ khác nhau cùng những làn điệu dân ca, dân vũ, trò vui đặc sắc diễn ra trong các lễ hội, ngày vui như: hát then đàn tính; hát SLi, hát Cò Lẩu (dân tộc Nùng); hát Lượn, hát Quan Làng (dân tộc Tày); hát Xắng Cọ( dân tộc Sán Chỉ); múa sư tử, múa võ dân tộc, trò sĩ – nông – công – thương trong lễ hội Lồng Tồng, thi nấu món ăn dân tộc; nghề nhuộm chàm, thêu, dệt thổ cẩm… và nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác. Cùng với những ưu thế về vị trí địa lý, tự nhiên, giao thông thuận lợi thì hệ thống di sản văn hóa đóng vai trò rất lớn trong việc bảo tồn, giáo dục truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng cho nhân dân ta, đồng thời là nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn đầy tiềm năng, đã và đang góp phần quan trọng vào việc khai thác, phát triển ngành du lịch nói riêng, kinh tế xã hội nói chung của tỉnh trong giai đoạn hiện nay.

Lễ hội đền Kỳ Cùng một trong những lễ hội lớn của Lạng Sơn thu hút nhiều du khách 

Xác định rõ việc phát triển du lịch bền vững cần nhiều yếu tố, trong đó có việc quảng bá các sản phẩm du lịch đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nằm trong khuôn khổ các hoạt động quảng bá du lịch, ngoài việc tuyên truyền quảng bá, giới thiệu trên các phương tiên truyền thông đại chúng, hằng năm, tỉnh Lạng Sơn tổ chức các chương trình du lịch như: Chương trình Lễ Hội Xuân (tổ chức đầu năm sau dịp tết Nguyên Đán), Liên hoan du lịch Mẫu Sơn (tổ chức đầu mùa hè) thu hút hàng ngàn du khách đến tham gia tạo một dấu ấn quan trọng trong lòng du khách như một điểm hẹn hàng năm của du khách.

Cơ sở vật chất, kỹ thuật du lịch cũng có sự phát triển đáng kể, năm 2010 có 118 cơ sở với 1.681 buồng, tính đến tháng 6 năm 2013 là 159 cơ sở với 2.149 buồng. Các cơ sở lưu trú ở Lạng Sơn nhìn chung có quy mô nhỏ và vừa, tập trung chủ yếu ở thành phố Lạng Sơn. Hiện có 39 cơ sở được xếp hạng từ 1 đến 4 sao; công suất sử dụng buồng đạt 40 đến 50%. Các khu vui chơi, giải trí, dịch vụ nhìn chung còn hạn chế, thiếu các loại hình dịch vụ cao cấp. Mặt tích cực là hệ thống cơ sở lưu trú du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống được các chú trọng đầu tư mới và thường xuyên cải tạo nâng cấp, bổ sung trang thiết bị, nâng cao chất lượng dịch vụ. Các cơ sở kinh doanh lưu trú du lich thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về kinh doanh lưu trú du lịch như: thủ tục xếp hạng, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiều hình thức, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động, nâng cao chất lượng phục vụ đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, điển hình như: Khách sạn Mường Thanh, Khách sạn Nam Kinh, Nhà hàng Newcentury, Nhà hàng Thiên Trường.

Khách sạn Mường Thanh đạt tiêu chuẩn 4 sao

phục vụ nhu cầu đa dạng của khách du lịch trong và ngoài nước

Nhìn chung những năm gần đây trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế trong nước và thế giới (nhiều doanh nghiệp của tỉnh lâm vào tình trạng khó khăn và ngừng hoạt động). Tuy nhiên ngành du lịch vẫn được đánh giá là ngành vẫn duy trì và có sự phát triển. Theo đó, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch của tỉnh đã cố gắng khắc phục khó khăn, năng động sáng tạo, mở rộng thị trường, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, chú trọng đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ lao động và tích cực xây dựng sản phẩm, quảng bá xúc tiến góp phần thúc đẩy du lịch của tỉnh phát triển. Các sản phẩm du lịch vẫn thu hút khách du lịch như Du lịch tâm linh, du lịch mua sắm. Nhìn chung, trong những năm vừa qua các doanh nghiệp du lịch kinh doanh trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ hoạt động có hiệu quả và đã đem lại nguồn thu nhập và việc làm ổn định cho người lao động trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Cụ thể: năm 2001 tổng lượng khách đạt: 210.000 lượt khách, doanh thu du lịch 92 tỷ. Năm 2010 tổng lượng khách đạt: 1.929.000 lượt khách, doanh thu du lịch 736 tỷ đồng, Tổng lượng khách du lịch trong 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt: 1.290.100 lượt, tăng 1,3 % so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó: Khách quốc tế đạt 171.900 lượt; Khách trong nước đạt 1.118.200 lượt; Doanh thu xã hội ước đạt 457,2 tỷ đồng. Riêng Khu du lịch Mẫu Sơn tổng lượt khách đến khu du lịch Mẫu Sơn 6 tháng đầu năm 2013 (tính đến 31/5/2013): là 32.500 lượt khách, khách nước ngoài: 750 lượt, tăng 16.2% lượt so với cùng kỳ năm 2012. Một loại hình du lịch mới được đưa vào sử dụng là du lịch cộng đồng (xã Quỳnh Sơn, huyện Bắc Sơn) cũng thu hút nhiều khách du lịch đến nghiên cứu, tham quan và tìm hiểu.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được cũng như nhiều tỉnh, thành khác, Lạng Sơn không tránh khỏi những khó khăn nhất định trong phát triển du lịch như sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, chất lượng dịch vụ phục vụ du lịch thấp ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chậm được đầu tư nâng cấp. Tuyên truyền quảng bá du lịch chưa sâu rộng, hoạt động liên kết phát triển du lịch giữa tỉnh và các địa phương khác còn mang tính hình thức. So với sự phát triển của ngành du lịch hiện nay thì chất lượng lao động chưa được cải thiện nhiều, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghiệp vụ còn cao, trình độ sơ cấp chiếm số lượng lớn, khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ còn yếu.

Từ thực tế những kết quả đạt được và nhìn nhận những khó khăn tồn tại ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn xác định định hướng phát triển du lịch trong thời gian tới như sau:

Phát triển du lịch Lạng Sơn tương xứng với tiềm năng thế mạnh trên địa bàn để nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển du lịch phải tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành kinh tế, văn hóa – xã hội; phải gắn với việc giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; kết hợp giữa việc bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hướng tới phát triển bền vững để Lạng Sơn trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của vùng Đông Bắc. Trong đó, nguồn lực phát triển ngành du lịch Lạng Sơn được tỉnh chỉ đạo theo hướng huy động mọi nguồn vốn đầu tư; tiếp tục vận dụng sự quan tâm của Chính phủ và các bộ, ngành chức năng để đẩy mạnh phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông đến các điểm du lịch; tập trung đầu tư các khu du lịch trọng điểm; về phía tỉnh, tăng cường chỉ đạo việc rà soát, điều chỉnh, lập các quy hoạch chi tiết, các dự án đầu tư, quản lý tốt các hoạt động du lịch…

Về thu hút khách du lịch, phấn đấu năm 2024 đón 2 triệu 710 nghìn lượt khách, trong đó có 830 nghìn lượt khách lưu trú (80 nghìn lượt khách quốc tế và 750 nghìn lượt khách nội địa); năm 2024 đón 3 triệu 725 nghìn lượt khách, trong đó có 1 triệu 325 nghìn lượt khách lưu trú (125 nghìn lượt khách quốc tế và 1 triệu 200 nghìn lượt khách nội địa); năm 2030 đón 6 triệu 265 nghìn lượt khách, trong đó có 2 triệu 685 nghìn lượt khách lưu trú (235 nghìn lượt khách quốc tế và  2 triệu 450 nghìn lượt khách nội địa). Ngày lưu trú trung bình đạt từ 1,2 đến 2 ngày đối với khách du lịch quốc tế; 1,8 – 2,5 đối với khách du lịch nội địa. Từ đó nâng cao nguồn thu từ du lịch.

Về hợp tác phát triển: Chú trọng phát huy những kết quả đạt được từ sự hợp tác với các tỉnh bạn, với Quảng Tây Trung Quốc. Đặc biệt là tiếp tục liên kết và hợp tác với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 6 tỉnh Việt Bắc và các tỉnh, thành phố lân cận như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Ninh… để cùng thúc đẩy tạo cơ hội mới cho du lịch phát triển hiệu quả và bền vững hơn. Với việc tập trung đầu tư khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh du lịch của tỉnh, ngành du lịch Lạng Sơn mong muốn mở rộng quan hệ hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh bạn; thu hút nguồn vốn dồi dào từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước để biến những tiềm năng thành hiện thực, tin tưởng rằng sẽ tạo được sự bứt phá đi lên trong những năm tới.

Đẩy mạnh phát triển các tour tuyến du lịch: Tiếp tục phát huy những tour du lịch truyền thống, nội tỉnh và liên tỉnh, trong đó đặc biệt là chú trọng phát huy thế mạnh về loại hình du lịch như: du lịch mua sắm tại các khu cửa khẩu và trung tâm thành phố Lạng Sơn; du lịch cửa khẩu biên giới và đi vào nội địa Trung Quốc; du lịch tâm linh, du lịch hang động, du lịch nghỉ dưỡng sinh thái… Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh liên kết khảo sát và xây dựng các tour, tuyến du lịch mới trong đó tập trung những tour tuyến nhằm khai thác nguồn khách đầy tiềm năng từ các tỉnh, thành phố lớn của đất nước như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh khu vực phía Bắc, đặc biệt là thị trường khách Trung Quốc. Đẩy mạnh phát triển các điểm du lịch mang ý nghĩa quốc gia như: động Nhất, Nhị, Tam Thanh, Chợ Kỳ Lừa, núi Phai Vệ, Thành cổ Lạng Sơn, chợ Đông Kinh, núi Mẫu Sơn…

Tiếp tục nâng cao chất lượng các dịch vụ phục vụ du lịch: Phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở dịch vụ: hệ thống nhà hàng, khách sạn, các khu hội chợ hội nghị, hội thảo, các công trình vui chơi giải trí, đầu tư xây dựng mới, nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; tăng cường đầu tư, xây dựng các khu, tuyến, điểm du lịch; nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở lưu trú đảm bảo đến năm 2024 có khoảng 3.430 buồng khách sạn, trong đó có khoảng 600 buồng đủ tiêu chuẩn xếp hạng sao; năm 2024 khoảng 5.700, trong đó 1.200 buồng đủ tiêu chuẩn xếp hạng sao ; năm 2030 khoảng 7.300 buồng, với 2.000 buồng đủ tiêu chuẩn xếp hạng sao.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm giới thiệu về tiềm năng, các điểm đến của Lạng Sơn với du khách, các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nghiên cứu, đề xuất xây dựng các cơ chế chính sách như: ưu đãi khuyến khích đầu tư phát triển du lịch, các thủ tục quản lý xuất nhập cảnh và các thủ tục hành chính khác nhằm tạo thuận lợi nhất cho du khách và nhà đầu tư đến với Lạng Sơn. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực như: đào tạo trình độ Đại học và tăng cường khả năng nghiên cứu về du lịch; đào tạo trình độ trung học và học nghề về du lịch; tăng cường năng lực cho cán bộ quản lý du lịch ở các cấp.

Với những định hướng phát triển cơ bản nêu trên, cùng với sự nỗ lực các cấp các ngành, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ngành chức năng, đặc biệt là bằng năng động sáng tạo của các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng xã hội trên địa bàn tỉnh, tin tưởng rằng du lịch Lạng Sơn sẽ có bước phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn tiếp theo, phấn đấu là một trong những trung tâm phát triển du lịch vùng trung du miền núi phía Bắc.

Trung tâm Xúc tiến Du lịch

Du Lịch Lạng Sơn: Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển

Nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Tổ quốc, Lạng Sơn là nơi có khá nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên; có đường biên giới giáp với Quảng Tây – Trung Quốc, có 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và các cặp chợ biên giới;

Lạng Sơn còn có các quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 và tuyến đường sắt liên vận quốc tế chạy qua; có nhiều thắng cảnh và di tích văn hoá, di tích lịch sử, như động Nhị Thanh, chùa Tam Thanh, núi Tô Thị, Chùa Tiên, khu du lịch nghỉ mát Mẫu Sơn, hệ thống các hang động ở Hữu Lũng, Chi Lăng, Bình Gia và Bắc Sơn,…

Lạng Sơn là nơi có nhiều dân tộc cùng chung sống, là sự hoà nhập của cộng đồng, những tập quán sinh hoạt, những phong tục hội hè, những phiên chợ vùng cao, những ngày hội Lồng thồng, những sắc màu trang phục truyền thống, những áng ca dao, cũng như những làn điệu dân ca, hát then, hát sli, hát lượn …. đều say đắm lòng người. Ngoài ra quê hương Xứ Lạng còn có những nét văn hoá ẩm thực đặc sắc mang đậm những phong vị riêng như: phở chua, vịt quay, khau nhục, xá xíu, thịt lạp, xôi ngũ sắc, bánh cuốn, bánh phồng, măng ớt, khẩu Shi … Cùng với các món ăn đó, các loại hoa quả tại vùng quê Xứ Lạng cũng đa dạng phong phú như: mơ, lê Tràng Định, mận Bình Gia, quýt Bắc Sơn, hồng không hạt Bảo Lâm, na Chi Lăng, đào Mẫu Sơn… Sự phong phú, đa dạng và độc đáo của các sản phẩm ẩm thực của Lạng Sơn sẽ là ấn tượng sâu sắc đối với du khách sau mỗi lần đến thăm, tìm hiểu và thưởng thức.

Vị trí của Lạng Sơn trở nên quan trọng cho ngành du lịch của tỉnh nhà và cho ngành du lịch cả nước. Đặc biệt từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối chính sách đổi mới và hội nhập, các hệ thống trung tâm thương mại, các khu kinh tế cửa khẩu và chợ biên giới tại Lạng Sơn được xây dựng và nâng cấp, cùng với các thủ tục hành chính được cải cách thuận tiện…. Nên việc giao lưu buôn bán và tham quan du lịch ngày càng diễn ra sôi động, từng bước đưa Lạng Sơn trở thành một trong những trung tâm giao lưu buôn bán, tham quan quan du lịch với các loại hình như: du lịch mua sắm, du lịch tâm linh, du lịch tham quan nghỉ dưỡng, du lịch biên giới và sang nước bạn Trung Quốc.

Trên cơ sở các văn bản của Chính phủ về phát triển du lịch, đặc biệt là Chương trình hành động quốc gia về du lịch và sự quan tâm giúp đỡ của Tổng cục Du lịch, ngành du lịch của tỉnh đã tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề về phát triển du lịch Lạng Sơn các giai đoạn 2000 – 2005 và 2006 – 2010; tham mưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch của tỉnh và ban hành Chương trình hành động phát triển du lịch các giai đoạn 2000 – 2005; 2006 – 2010; đề xuất xây dựng các quy định ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh, trong đó có lĩnh vực du lịch. Do đó những năm qua tốc độ tăng trưởng ngành du lịch dịch vụ bình quân đạt 13,2 %, chiếm 38,8 % trong cơ cấu GDP của tỉnh.

Công tác quản lý nhà nước về du lịch được ổn định và kiện toàn đáp ứng yêu cầu công việc; phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh như: Công an, Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh giải quyết kịp thời thuận lợi các thủ tục xuất nhập cảnh cho khách du lịch.

Công tác xúc tiến du lịch ngày càng được quan tâm. Những năm qua ngành luôn tích cực tham gia các hoạt động xúc tiến du lịch như: hội chợ, hội thảo, tọa đàm và các hoạt động xúc tiến khác nhằm quảng bá cho khách du lịch, nhà đầu tư về tiềm năng du lịch Lạng Sơn.

Xác định du lịch biên giới là một thế mạnh của du lịch Lạng Sơn, do đó cơ quan quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh đã thường xuyên trao đổi để hợp tác với Cục Du lịch Quảng Tây – Trung Quốc ký các biên bản thỏa thuận, bản ghi nhớ giữa hai bên để tạo điều kiện thuận cho các doanh nghiệp lữ hành của hai bên hợp tác trao đổi khách với nhau, phối hợp về xúc tiến quảng bá để khai thác nguồn khách mở rộng thị trường, mặt khác trao đổi và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cũng như phối hợp giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.

Về quy hoạch và các dự án đầu tư: Hiện nay Lạng Sơn đang triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh giai đoạn 2010 – 2024 và tầm nhìn đến năm 2030; Lập Dự án điều chỉnh Quy hoạch khu du lịch Mẫu Sơn theo hướng mở rộng quy mô lớn hơn; Một số quy hoạch chi tiết và dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư các khu, điểm du lịch khác trên địa bàn đã phê duyệt, được triển khai, quản lý và thực hiện theo các quy định hiện hành.

Về hoạt động du lịch dịch vụ: Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch được các doanh nghiệp đầu tư mới và thường xuyên cải tạo nâng cấp, bổ sung trang thiết bị với số vốn hàng trăm tỷ đồng. Nâng số cơ sở lưu trú đến thời điểm hiện nay lên hàng trăm cơ sở, với hơn 3000 giường. Hoạt động kinh doanh lữ hành có sự chuyển biến tích cực, các đơn vị đã chủ động khai thác nguồn khách và thị trường du lịch, nhất là thị trường Trung Quốc, với nhiều loại hình du lịch, nhiều tour, tuyến khác nhau như: du lịch lễ hội, du lịch sinh thái, du lịch gắn với khảo sát thị trường tạo cơ hội kinh doanh, hội thảo khoa học, mua sắm ….

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, thì du lịch Lạng Sơn cũng còn nhiều khó khăn bất cập, đặc biệt là tiềm năng và thế mạnh về du lịch chưa được khai thác tương xứng. Vì vậy trên cơ sở các chủ trương, định hướng của tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn xác định một số nhiệm vụ trọng tâm về phát triển du lịch trong thời gian tới như sau:

Về quy hoạch và xây dựng các dự án phát triển du lịch: Sớm hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Lạng Sơn đến năm 2024 và tầm nhìn đến năm 2030. Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch, các khu, điểm du lịch như: Phát triển Khu du lịch Mẫu Sơn theo hướng mở rộng với nhiều nội dung phong phú và riêng biệt hướng tới thành khu lịch quốc gia; Đẩy mạnh tiến độ thực hiện các dự án tại các khu du lịch Nhị Tam Thanh, thành Nhà Mạc, khu du lịch sinh thái Hồ Nà Tâm, các điểm vui chơi giải trí trên địa bàn thành phố và các cửa khẩu; Triển khai thực hiện các đề án về quy hoạch tổng thể, quy hoạch các khu, các điểm du lịch và các ngành nghề truyền thống của tỉnh. Đầu tư các khu, điểm du lịch gắn kết, đan xen để phát triển một số loại hình du lịch là thế mạnh của tỉnh như: du lịch tâm linh; du lịch sinh thái, hang động; du lịch mua sắm; du lịch cửa khẩu và tham quan các danh lam thắng cảnh.

Đặc biệt là cùng với các trung tâm thương mại tại khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh đã được đầu tư và trở thành điểm du lịch mua săm hấp dẫn, Lạng Sơn còn nằm trong quy hoạch phát triển tuyến hành lang kinh tế: Nam Ninh – (Trung Quốc) – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng (Việt Nam), mặt khác Chính Phủ đã phê duyệt Đề án xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn và ban hành Quy chế hoạt động. Với các chính sách đầu tư mở rộng, cơ chế quản lý năng động sẽ mở ra cho du lịch Lạng Sơn thời cơ, vận hội mới để phát triển.

Nghiên cứu quy hoạch tôn tạo các di tích, danh thắng, khôi phục những nét văn hóa đặc sắc như: hát then, sli, lượn, các món ăn ẩm thực truyền thống có chất lượng và mang đậm tính riêng của vùng đất Xứ Lạng để phục vụ khách du lịch.

Đẩy mạnh phát triển các tour tuyến du lịch: Tiếp tục phát huy những tour du lịch truyền thống, trong đó đặc biệt là chú trọng phát huy thế mạnh về loại hình du lịch như: du lịch mua sắm tại các khu cửa khẩu và trung tâm thành phố Lạng Sơn; du lịch cửa khẩu biên giới và đi vào nội địa Trung Quốc; du lịch tâm linh, du lịch hang động và cảnh quan môi trường sinh thái. Tạo điều kiện cho các danh nghiệp trong và ngoài tỉnh liên kết khảo sát và xây dựng các tour, tuyến du lịch mới với các hình thức và phương tiện cả về đường bộ, đường sắt và đường hàng không; trong đó tập trung những tour tuyến nhằm khai thác nguồn khách đầy tiềm năng từ các tỉnh, thành phố lớn của đất nước như thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành lân cận. Bên cạnh đó, tiếp tục nâng cao chất lượng các dịch vụ và đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm giới thiệu về tiềm năng, các điểm đến của Lạng Sơn với du khách, các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nghiên cứu, đề xuất xây dựng các cơ chế chính sách như: ưu đãi khuyến khích đầu tư phát triển du lịch, các thủ tục quản lý xuất nhập cảnh và các thủ tục hành chính khác nhằm tạo thuận lợi nhất cho du khách và nhà đầu tư đến với Lạng Sơn. Chú trọng công tác đào tạo đội ngũ CBCNV làm du lịch bằng nhiều hình thức. Về hợp tác phát triển: Chú trọng phát huy những kết quả đạt được từ sự hợp tác với các tỉnh bạn, với Quảng Tây Trung Quốc. Đặc biệt là tiếp tục liên kết và hợp tác với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các, tỉnh thành phố lân cận như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng để cùng thúc đẩy tạo cơ hội mới cho du lịch phát triển hiệu quả và bền vững hơn.

Với những nhiệm vụ cơ bản nêu trên, cùng với sự nỗ lực các cấp các ngành, đặc biệt là bằng năng động sáng tạo của các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng xã hội trên địa bàn tỉnh, tin tưởng rằng du lịch Lạng Sơn sẽ có bước phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong tương lai.

Thực Trạng Và Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Bình Định

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠNKHOA ĐỊA LÍ – ĐỊA CHÍNH

Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh BìnhĐịnh

GVHD: LÊ THỊ LÀNHNHÓM: 5

CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀIMỞ ĐẦU

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:

CHƯƠNG 2:

CHƯƠNG 3:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC

TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU

TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN

PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH

LỊCH TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỨU

BÌNH ĐỊNH

KẾT LUẬN

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Du lịch – ngành kinh tế được ví như là ” Công nghiệp không khói” đã trở thành hoạt động kinh tế sôi độnghàng đầu trên thế giới

Bình Định là một tỉnh ven biển thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, với diện tích 6050,6 km

2

là một trong

các cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và vùng Nam Lào.

Có vị trí địa lí, địa hình tương đối phức tạp nhưng lại có nhiều cảnh quan đẹp như: Ghềnh Ráng – Tiên Sa,Hầm Hô, đầm Thị Nại, Cù Lao Xanh, suối khoáng nóng Hội Vân,…cùng với một bề dày lịch sử.

Với 231 di tích trong đó có 33 di tích lịch sử-văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia, 50 di tích lịch sử-văn hóađược xếp hạng cấp tỉnh tạo ra nhiều sản phẩm du lịch thu hút nhiều du khách: tháp Chăm, Bảo tàng QuangTrung, võ cổ truyền, ẩm thực…

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Bình Định cũng được mệnh danh là “Đất võ trời văn” nơi sản sinh ra nhiều nhà văn hóa, nhà anh hùnghào kiệt. Chình những yếu tố này giúp cho tỉnh Bình Định có tiềm năng về du lịch vô cùng quý giá

Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển của ngành du lịch tỉnh Bình Định còn đơn điệu, nghèo nàn chưatương xứng với tiềm năng , chưa mang tính đặc trưng của địa phương làm hài lòng và thõa mãn nhu cầutìm hiểu của khách du lịch.

Do đó, việc thực hiện đề tài ” Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định” có ý nghĩa líluận và thực tiễn cao.

2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Bình Định nói chung. Từ đó, đề xuất một số giảipháp nhằm phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài phải:

Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của ngành du lịch nói chung.

Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định.

Đánh giá tình hình phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định.

Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định.

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1. Đối tượng nghiên cứuTìm năng phát triển du lịch.4.2. Phạm vi nghiên cứu

Nội dung: Các tài nguyên du lịch, điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội phục vụ cho pháttriển du lịch

Thời gian: 24/11-16/12/2024

Không gian: tỉnh Bình Định

5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Quan điểm nghiên cứu:

Quan điểm lãnh thổ

Quan điểm hệ thống, tổng hợp

Quan điểm thực tiễn

Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thu thập và xử lí số liệu

Phương pháp bản đồ

Phương pháp khảo sát thực địa

6.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Cơ sở lí luận và thực tiễnvề vấn đề nghiên cứu.

Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

Giải pháp phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định.

7. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

7.1. KQ1: Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn

Cơ sở lí luận:

Khái niệm du lịch

Tiềm năng du lịch

Tài nguyên du lịch

Điểm du lịch

Tuyến du lịch

7.1. KẾT QUẢ THỨ NHẤT

7.1. KQ1: Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn

Các khái niệm về du lịch.

Tiềm năng du lịch là tổng hợp tất cả các điều kiện bên trong và bên ngoài có giá trị khai thác, sử dụng vàphát triển. Tiềm năng du lịch là một trong những điều kiện trực tiếp để phát triển du lịch. Tiềm năng dulịch bao hàm: vị trí địa lý, tài nguyên du lịch, con người, thị trường, các điều kiện về kinh tế – xã hội…

Sự đa dạng của nguồn tài nguyên thiên nhiên về tự nhiên lẫn nhân văn:

*

+Về tự nhiên: bãi biển, hang động, đảo, nước khoáng, cảnh quan…

*

+Về nhân văn: di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, làng nghề thủ công truyền thống, lễ hội…

7.1. KẾT QUẢ THỨ NHẤT

7.1. KQ1: Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn

Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch

*

Điều kiện để công nhân là điểm du lịch :Theo điều 24, mục 1, chương 4 Luật Du lịch Việt Nam(2005)

Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắnvới các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không.

Điều kiện để công nhân là tuyến du lịch :Theo điều 25, mục 1, chương 4 Luật Du lịch Việt Nam(2005)

7.2. KQ2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình ĐịnhTiềm năng:+ Vị trí địa lí+ Điều kiện tự nhiên+ Tài nguyên du lịch tự nhiên+ Tài nguyên du lịch nhân văn+ Điều kiện kinh tế-xã hội: dân cư, cơ sở vật chất, hạ tầng..

7.2. KẾT QUẢ THỨ HAI

7.2. KQ2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định1. Doanh thu từ du lịch trong những năm quaTổng doanh thu du lịch Bình Định giai đoạn 2001-2010

Năm

Tổng doanh thu (tỷ đồng)

Tăng so vói năm trước (%)

2001

50.096

10

2002

54.487

9

2003

60.281

11

2004

75.000

24

2005

90.000

20

2006

110.000

22

2007

142.800

30

2008

190.000

33

2009

214.538

13

2010

275.985

29

Tăng TB

20.87Nguồn: Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định

7.2. KQ2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình ĐịnhCơ cấu GDP theo ngành tỉnh Bình Định giai đoạn 2001-2010Đơn vị tính : tỷ đồng2001

GDP

2009

Tỉ lệ (%)

GDP

2010

Tỉ lệ (%)

GDP

Tỉ lệ (%)

Tốc độ tăngtrưởng

Ngành kinh tế(%)

1.Nông -Lâm-Ngư

1805,6

46,61

3038,8

35,78

3273,2

34,96

6,83

2.CN-XD

776,9

20,05

2357,3

27,75

2681

28,63

14,75

3.Dịch vụ

1291,4

33,34

3098

36,47

3408,55

36,41

11,39

Du lịch

60,1

1,55

199,1

2,34

213,4

2,28

15,12

Tổng cộng

3873,9

100

8494,1

100

9362,7

100

10,3

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Định; Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnhBình Định

7.2. KQ2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định2.Quy mô khách du lịchTổng lượng khách du lịch đến Bình Định giai đoạn 20012010Năm

Tổng lượng kháchSố lượng

Khách quốc tếTăng so với năm

Số lượng

trước(%)

Khách nội địaTăng so với năm

Số lượng

trước(%)

Tăng so với nămtrước(%)

2001

146.396

12

20.036

14

126.060

11

2002

162.579

11,05

23.412

15,12

139.167

10,39

2003

183.340

12,77

18.174

-22,37

165.166

18,68

2004

275.000

49,99

25.000

37,55

250.000

51,36

2005

380.000

38,18

28.373

13,49

351.627

40,65

2006

450.000

18,42

35.000

23,35

415.000

18,02

2007

560.000

24,44

42.000

20

518.000

24,81

2008

712.800

27,28

57.018

35,75

655.782

26,59

2009

835.000

17,14

64.000

12,24

771.000

17,56

2010

1.040.000

24,55

76.800

20

963.200

24,92

Nguồn: Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnhBình Định

7.2. KQ2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Định3.Quy mô cơ sở lưu trúTình hình lưu trú của khách du lịch tại Bình Định giai đoạn 20052010(Đơn vị: Lượtkhách)

2005

Chỉ tiêu

2006

2007

2008

2009

2010

Tổng số khách

380.000

450.000

560.700

712.800

835.000

1.040.000

Ngày lưu trú TB KQT

1,59

1,70

1,81

1,80

1,83

1,95

Ngày lưu trú TB KNĐ

1,70

1,74

1,83

1,84

1,82

2,3

Bình quân chung

1,69

1,73

1,82

1,83

1.82

2,2

Nguồn: Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch tỉnhBình Định

7.3. KQ3: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

Cần quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết phát triển du lịc h:

*

Quy hoạch là một trong những nội dung quan trọng để phát triển du lịch, có những giải pháp quản lí và pháttriển du lịch.

*

Bên cạnh đó cần quy hoạch chuyên ngành khác như các làng nghề truyền thống, hệ thống siêu thị, điểm muasắm, nhà hang.. làm phong phú các loại hình dịch vụ du lịch.

7.3. KẾT QUẢ THỨ BA

7.3. KQ3: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

Về mũi nhọn đầu tư phát triển hạ tầng:

Tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và các phương tiện giao thông vận chuyển du lịch.

Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng cho du lịch biển

Đầu tư chỉnh trang đô thị, tôn tạo cảnh quan Tp Quy Nhơn

Nâng cấp và xây dựng mới cơ sở vật chất kĩ thuật, dịch vụ phục vụ du lịch tại một số di tích và danhthắng.

Xây dựng một số khu vui chơi, giải trí tổng hợp với nhiều loại hình kết hợp

Thu hút đầu tư, xây mới hệ thống cơ sở lưu trú, hình thành tổ hợp khách sạn kết hợp và trung tâmthương mại, kết hợp nghỉ dưỡng và hội nghị hội thảo mang tầm quốc gia, quốc tế.

7.3. KẾT QUẢ THỨ BA

7.3. KQ3: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

Về giải pháp phát triển du lịch bền vững:

Huy động các nguồn lực trong nước lẫn ngoài nước trong việc khai thác và phát triển du lịch

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch

Nâng cao nhận thức và giáo dục cộng đồng về vị trí và vai trò của du lịch

Đẩy mạnh quảng bá, phát triển thương hiệu du lịch

Tập trung phát triển các ngành dịch vụ và công nghiệp phụ trợ cho du lịch

Sớm thiết lập hệ thống văn phòng đại diện du lịch Bình Định

8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

30

7.3. KQ3: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

Về trọng tâm phát triển du lịch:

Tiến hành quy hoạch về không gian các tuyến, các khu, cụm, điểm du lịch

Chú trọng đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng của Tỉnh

Chính sách khuyến kích đầu tư để thu hút các công ty du lịch lớn của quốc gia và quốctế

8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

8.1. Những mặt đạt được

Hệ thống hóa được các cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đếm ngành du lịch

Lợi thế các đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội ở địa phương ảnh hưởng tới sựphát triển du lịch

Nắm được tình hình phát triển du lịch tỉnh Bình Định trong những năm qua

Đề xuất một số giải pháp nhằm khôi phát triển tiềm năng du lịch tỉnh Bình Định

8.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

8.2. Những mặt chưa đạt được

Nguồn tài liệu thu thập còn thiếu, đặc biệt là nguồn số liệu thống kê, nên chưa phảnánh rõ tình hình phát triển du lịch tỉnh Bình Định.

Chưa khảo sát thực tế các địa điểm du lịch, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịchđể thấy rõ lợi thế và khó khăn

8. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Thực Trạng Và Tiềm Năng Phát Triển Của Du Lịch Mice Tại Việt Nam

Trong những năm gần đây du lịch MICE tại Việt Nam đang có những bước phát triển mạnh mẽ. Vì sao vậy ? Bởi thế mạnh là một đất nước có nền chính trị ổn định, an toàn về nhiều mặt lại thân thiện cùng nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Cùng Viet Vision Teambuilding tìm hiểu về thực trạng và tiềm năng phát triển của du lịch MICE trên thị trường hiện nay.

Xu Hướng Du Lịch MICE Tại Việt Nam

Khi các doanh nghiệp đang “ngập đầu” trong việc kinh doanh, khi những biểu hiện tiêu cực của việc căng thẳng kéo dài đã xuất hiện thì khi đó du lịch MICE là con đường duy nhất, hoàn hảo nhất để cải thiện và giải quyết được cả hai vấn đề này.

Hoạt động tập thể này mang lại niềm vui hứng khởi mới cho nhân viên, là sự khích lệ, kết nối tinh thần nhân viên và củng cố sức mạnh tập thể. Chẳng có loại thuốc Tây thuốc Nam nào mà chưa khỏi được bệnh văn phòng, chỉ có du lịch Mice mới có thể “xốc” lại tinh thần cho bạn mà thôi.

Du Lịch MICE Tại Việt Nam Trên Du Thuyền

Hình thức Du lịch MICE tại Việt Nam lại được yêu thích nhất chính là du lịch nước ngoài bằng du thuyền 5 sao.

Có thể nhắc đến tour du thuyền Disney/ Princess/ Caribean/ Carnival Cruise đi các nước Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Campuchia, Myanmar,…

Hơn 10 năm kinh nghiệm tổ chức thành công nhiều sự kiện thuộc nhiều nhóm ngành khác nhau: truyền thông, giải trí, ngoại giao với lượng khách lên tới con số 500 người, những con thuyền được chúng tôi chọn lựa như Paradise Peak, Paradise Luxury, Paradise Elegance Hạ Long cung cấp cơ sở vật chất và dịch vụ cao cấp trên cả tuyệt vời.

Thực Trạng Du Lịch MICE Tại Việt Nam

Địa điểm thông thường được lựa chọn cho tổ chức du lịch Mice là các đô thị nghỉ dưỡng lớn có hệ thống khách sạn và cơ sở lưu trú tối tân, sang trọng và đạt chuẩn về nhiều hạng mục.

Bên cạnh đó, các trung tâm mua sắm, hệ thống siêu thị, dịch vụ Spa, resort cao cấp nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của du khách. Ví dụ: Mũi Né – thiên đường Resort chuẩn 4 – 5 sao.

Hệ thống giao thông là yếu tố quan trọng quyết định sự lựa chọn của khách MICE như có sân bay quốc tế, đường quốc lộ, cầu cảng, các giải pháp ngăn chặn ách tắc giao thông…

Nguồn Nhân Lực

Tất nhiên nếu bạn lựa chọn những khách sạn 5 sao uy tín thì chắc chắn bạn không cần phải lo lắng bất kể một vấn đề gì về phòng họp, sự kiện, ánh sáng, âm thanh,…

Trên thị trường du lịch MICE, bạn có thể tìm và chọn cho mình đơn vị tổ chức sự kiện uy tín tại Việt Nam để giao trách nhiệm thổi hồn vào thông điệp cho sự kiện của bạn. Từ khâu đăng ký, tư vấn, lên ý tưởng, chuẩn bị tài liệu, kịch bản, ẩm thực,… đều được trau chuốt từng ly từng tý nhằm mang đến những trải nghiệm khó quên nhất.

Nằm ở trung tâm của khối kinh tế ASEAN, là đầu mối giao thông quan trọng từ Thaias Bình Dương – Ấn Độ Dương, giữa Châu Úc – Đại Tây Dương nên Việt Nam thường được các đoàn MICE quốc tế lựa chọn là nơi tổ chức hội nghị – hội thảo, hay các sự kiện chính trị, văn hóa thể thao như Hoa Hậu Hoàn Vũ, cuộc thi pháo hoa quốc tế tại Đà Nẵng, hội nghị APEC, chạy đua Marathon quốc tế tại Phan Thiết,…

Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch MICE Tại Việt Nam Mỗi Điểm Đến – Một Thế Mạnh

Tắm bùn khoáng Tháp Bà – Nha Trang

Bà Nà Hills – đường lên tiên cảnh

Thiên đường Resort đẳng cấp quốc tế – Mũi Né (Phan Thiết)

Không gian kiến trúc Pháp – Đà Lạt

Cơ sở hạ tầng du lịch MICE dành cho những vị khách khó tính nhất tại Đà Nẵng

Dịch vụ hội nghị du thuyền, trò chơi mạo hiểm, du lịch khám phá – Vũng Tàu, Hạ Long

Chương Trình Hấp Dẫn Mới Lạ Cho Khách MICE

Bạn đã bao giờ nghĩ đến hội họp mà lại kết hợp teambuilding chưa. Tổng hợp những trò chơi teambuilding trong nhà sẽ khiến cho những buổi học chuyên môn trở nên dễ chịu và cải thiện khả năng tiếp thu hơn.

Các hoạt động giải trí, nghỉ dưỡng trải nghiệm đầy ấn tượng kết hợp du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng,…

Lợi thế và xu hướng của du lịch MICE tại Việt Nam đang mang lại những ưu điểm tích cực hơn hẳn so với du lịch truyền thống thông thường cho công ty, cho doanh nghiệp. Có thể nói rằng loại hình này khá quen thuộc chỉ là khái niệm MICE tương đối lạ, nhưng để cảm nhận được sự sáng tạo tuyệt đối thì hãy liên hệ với Viet Vision Teambuilding để được tư vấn, hỗ trợ để cho ra đời những chương trình du lịch Mice tuyệt vời.

Du Lịch Bắc Giang, Tiềm Năng, Định Hướng Và Phát Triển

Tham gia Hội thảo có sự góp mặt của các cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh như: Tổng cục Du lịch; Báo Du lịch; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Công Thương; Sở VHTTDL Quảng Ninh; Lạng Sơn; Thái Nguyên; Nhóm nghiên cứu Đề tài xây dựng phát triển sản phẩm du lịch Bắc Giang do TS. Phạm Trương Hoàng là chủ nhiệm…Hội thảo gồm có 29 bài tham luận với nội dung phong phú đa dạng đưa ra những ý kiến đóng góp rất tích cực để du lịch Bắc Giang ngày càng phát triển. Đặc biệt là qua 3 bài tham luận của nhóm nghiên cứu đã đưa ra được những phương pháp khoa học nhằm đánh giá tiềm năng của du lịch Bắc Giang từ đó nghiên cứu xây dựng phát triển sản phẩm du lịch tập trung vào 2 loại hình du lịch đặc trưng của tỉnh, đó là du lịch sinh thái và du lịch văn hóa…Hơn nữa qua phần tham luận Định vị Du lịch Bắc Giang trong các sản phẩm du lịch miền Bắc Việt Nam nhóm nghiên cứu đề tài cũng đã phân tích rất cụ thể những mặt mạnh, yếu của sản phẩm du lịch Bắc Giang, so sánh với các tỉnh miền Bắc để đưa ra những giải pháp thu hút khách du lịch đến với các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.

Nhìn chung Hội thảo được các đại biểu đánh giá cao, các bài tham luận đều có nội dung, chất lượng tốt. Hội thảo Du lịch Bắc Giang – Tiềm năng và định hướng phát triển có thể coi là bước tạo đà trong chặng đường xây dựng phát triển du lịch Bắc Giang,trước mắt là hướng tới năm 2014, Bắc Giang có đủ những điều kiện để đăng cai năm du lịch quốc gia. Đồng thời Hội thảo là một hoạt động thiết thực để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII, Nhiệm kỳ 2010-2024.

Nguyễn Văn Dương Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang

Du Lịch Tâm Linh Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển

Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã và đang trở thành xu hướng ngày càng phổ biến. Tham luận này đề cập đến tình hình và định hướng phát triển du lịch tâm linh đóng góp vào quá trình tăng trưởng bền vững cho du lịch Việt Nam.

Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất. Tuy nhiên, xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch.

Địa điểm du lịch tâm linh tại Đà Nẵng. Ảnh: vntrip

Với cách hiểu như vậy, có thể nhận diện những dòng người đi du lịch đến các điểm tâm linh gắn với không gian văn hóa, cảnh quan các khu, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của mình, trong đó nhu cầu tâm linh được xem là cốt yếu. Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường hội tụ về các điểm du lịch tâm linh như: đền, chùa, đình, đài, lăng tẩm, tòa thánh, khu thờ tự, tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng gắn với phong cảnh đặc sắc gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương. Ở đó du khách tiến hành các hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội… Thông qua đó, hoạt động du lịch mang lại những cảm nhận, giá trị trải nghiệm và giải thoát trong tâm hồn của con người, cân bằng và củng cố đức tin, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh, các hoạt động kinh doanh, tổ chức dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh trên các tuyến hành trình và tại các khu, điểm du lịch được thực hiện, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân địa phương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

Đặc điểm và xu hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

a) Đặc điểm

Sự đặc thù khác biệt của du lịch tâm linh ở Việt Nam so với các nơi khác trên thế giới có thể nhận thấy đó là:

– Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin và ở Việt Nam, trong đó Phật giáo có số lượng lớn nhất (chiếm tới 90%) cùng tồn tại với các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Cao đài, Hòa Hảo… Triết lý phương đông, đức tin, giáo pháp, những giá trị vật thể và phi vật thể gắn với những thiết chế, công trình tôn giáo ở Việt Nam là những ngôi chùa, tòa thánh và những công trình văn hóa tôn giáo gắn với các di tích là đối tượng mục tiêu hướng tới của du lịch tâm linh.

– Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờ cúng, tri ân những vị anh hùng dân tộc, những vị tiền bối có công với nước, dân tộc (Thành Hoàng) trở thành du lịch về cội nguồn dân tộc với đạo lý uống nước nhớ nguồn. Mới đây, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện nhân loại.

– Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân báo hiếu đối với bậc sinh thành.

– Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, đặc trưng và tiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó là

– Ngoài ra du lịch tâm linh ở Việt Nam còn có những hoạt động gắn với yếu tố linh thiêng và những điều huyền bí.

Yên Tử, cội nguồn của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ảnh: Pháp luật plus

b) Xu hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

Việt Nam có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch tâm linh thể hiện ở bề dày văn hóa gắn với truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng. Sự đa dạng và phong phú của các thắng tích tôn giáo và với số lượng lớn các tín ngưỡng, lễ hội dân gian được tổ chức quanh năm trên phạm vi cả nước. Nhu cầu du lịch tâm linh của người Việt Nam đang trở thành động lực thúc đẩy du lịch tâm linh phát triển. Ngày nay du lịch tâm linh ở Việt Nam đang trở thành xu hướng phổ biến:

– Số lượng khách du lịch tâm linh ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách du lịch, đặc biệt là khách nội địa. Số khách du lịch đến các điểm tâm linh tăng cho thấy du lịch tâm linh ngày càng giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội.

– Nhu cầu và du lịch tâm linh ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ hoạt động gắn với tôn giáo mà ngày càng mở rộng tới các hoạt động, sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc và những yếu tố linh thiêng khác. Hoạt động du lịch tâm linh ngày càng chủ động, có chiều sâu và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đại bộ phận nhân dân.

– Hoạt động kinh doanh, đầu tư vào du lịch linh ngày càng đẩy mạnh thể hiện ở quy mô, tính chất hoạt động của các khu, điểm du lịch tâm linh. Ra đời và phát triển ngày càng nhiều các điểm du lịch tâm linh ở hầu hết các địa phương, vùng, miền trên phạm vi cả nước, tiêu biểu như: Đền Hùng (Phú Thọ); Yên Tử (Quảng Ninh); Chùa Hương (Hà Nội); Phát Diệm (Ninh Bình); Núi Bà Đen, Thánh thất Cao Đài (Tây Ninh); Chùa Bái Đính (Ninh Bình); Đại Nam Văn Hiến (Bình Dương); Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang); Công Sơn-Kiếp Bạc (Hải Dương); Tây Thiên (Vĩnh Phúc); Đền Trần-Phủ Dầy (Nam Định)…

– Du lịch tâm linh ngày càng được xã hội tiếp cận và nhìn nhận tích cực cả về khía cạnh kinh tế và xã hội. Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đối với phát triển du lịch tâm linh và coi đó là một trong những giải pháp đáp ứng đời sống tinh thần cho nhân dân đồng thời với việc bảo tồn, tôn vinh những giá trị truyền thống, suy tôn những giá trị nhân văn cao cả.

Tình hình phát triển và kết quả đóng góp của du lịch tâm linh vào tăng trưởng du lịch Việt Nam

Trong giai đoạn vừa qua, Du lịch Việt Nam chứng kiến giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ với tỷ lệ ấn tượng trên 12% mỗi năm (ngoại trừ suy giảm do dịch SARS 2003 và suy thoái kinh tế thế giới 2009). Năm 2012, với 6,8 triệu lượt khách quốc tế, 32,5 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt 160.000 tỷ đồng. 10 tháng đầu năm 2013 số khách quốc tế đạt 6,12 triệu lượt, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2012. Với tốc độ đó, ước tính 2013 Việt Nam sẽ đạt mốc 7,4 triệu lượt khách quốc tế và 35 triệu lượt khách nội địa, tổng thu sẽ đạt 195.000 tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD). Như vậy, chỉ sau 4 năm phục hồi suy thoái, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gấp 2 lần; tổng thu du lịch tăng trên 2,2 lần. Với những chỉ tiêu tổng thể đó thì mục tiêu Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2024 đã về đích trước 2 năm. Đạt được kết quả tăng trưởng đó có sự đóng góp tích cực của du lịch tâm linh với những kết quả đáng ghi nhận.

a) Số lượng, cơ cấu khách du lịch tâm linh

Ở Việt Nam, khách du lịch tâm linh chiếm một tỷ trọng khá lớn. Thông thường khách đi du lịch hầu như kết hợp với mục đích tâm linh hoặc mục đích tâm linh được lồng ghép trong nhiều chuyến đi. Vì vậy, khó có thể phân biệt rõ số khách với mục đích du lịch tâm linh thuần túy (ngoại trừ số tăng ni, phật tử, tín đồ, khách hành hương).

Trong số 32,5 triệu khách du lịch nội địa năm 2012 chỉ tính riêng số khách đến các điểm tâm linh (chùa, đền, phủ, tòa thánh) có khoảng 13,5 triệu lượt, tương đương 41,5%. Một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu năm 2012 đón một lượng khách lớn như Miếu Bà Chúa Xứ An Giang (3,6 triệu lượt khách), Chùa Hương (1,5 triệu lượt); Chùa Bái Đính (2,1 triệu lượt), Yên Tử (2,3 triệu lượt), khu du lịch Núi Bà Đen (2,2 triệu lượt); Cô Sơn Kiếp Bạc (1,2 triệu). Đối với khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích tâm linh không nhiều, trong số 6,8 triệu lượt khách đến Việt Nam năm 2012 ước tính có khoảng 12% khách du lịch có đến các điểm du lịch tâm linh.

Du khách đến với du lịch tâm linh ngày càng tăng. Ảnh: chúng tôi

b) Những hoạt động du lịch tâm linh chủ yếu

– Hành hương đến những điểm tâm linh: những ngôi chùa (cả nước có trên cả nước có 465 ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa quốc gia), tòa thánh, đền, đài, lăng, tẩm, phủ, khu tưởng niệm; tiến hành các hoạt động thờ cúng: thờ cúng thành hoàng, thờ mẫu, thờ cúng tổ nghề, thờ tam phủ, tứ phủ, thờ tứ pháp, thờ bốn vị tứ bất tử, thờ danh nhân, anh hùng dân tộc, thờ táo quân, thổ địa… Các hoạt động chiêm bái, cầu nguyện, tụng kinh, thiền, yoga, pháp đàm; thiền trà; tham vấn; pháp thoại; thiền ca; thiền buông thư,…

– Tham quan, vãn cảnh, thưởng ngoạn không gian cảnh quan và không gian kiến trúc, điêu khắc gắn với điểm tâm linh; tìm hiểu văn hóa gắn với lịch sử tôn giáo và lối sống bản địa, những giá trị di sản văn hóa gắn với điểm tâm linh

– Tham gia lễ hội tín ngưỡng, dân gian: Quốc giỗ, lễ hội Đến Hùng, Lễ Vu Lan, lễ hội Thánh Gióng (Hà Nội), lễ hội vía Bà Tây Ninh, lễ hội Tế Cá Ông (Bình Thuận), lễ hội vía Bà núi Sam (Châu Đốc) v.v.

c) Dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh

Dịch vụ lữ hành phục vụ các chương trình du lịch với mục đích tâm linh kết hợp các mục đích khác; dịch vụ lưu trú, ăn uống, mua sắm lưu niệm; phục vụ cúng tế, chiêm bái, thiền, yoga; dịch vụ vận chuyển bằng xe điện, cáp treo, lái đò, thuyền; dịch vụ thuyết minh; dịch vụ chụp ảnh; thưởng thức nghệ thuật dân gian, văn nghệ truyền thống, âm nhạc, múa, trò chơi dân gian…

d) Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch tâm linh

Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch ngắn, có thể chỉ vài giờ trong ngày, nhưng cũng có thể kéo dài nhiều ngày. Thông thường khách du lịch tâm linh đi trong ngày và ít nghỉ lại qua đêm. Thời gian lưu trú lâu dài nhất là 1.8 ngày như ở Măng Đen gắn với các mục đích khác như nghỉ dưỡng, sinh thái. Thời gian đi du lịch tâm linh thường tập trung vào dịp cuối năm và đầu năm âm lịch và các thời điểm lễ hội dân gian năm.

e) Chi tiêu của khách du lịch tâm linh

Chi tiêu của phần lớn khách du lịch tại các điểm tâm linh thường là thấp, chủ yếu chi cho các hoạt động phục vụ tế lễ, cầu nguyện, chiêm bái… mà ít phát sinh chi phí. Một số điểm tâm linh thu phí tham quan, còn lại hầu hết các điểm tâm linh gắn với tín ngưỡng không thu phí nhưng đều có các hòm công đức để khách tự nguyện đóng góp. Số tiền đóng góp tự nguyện đó khá lớn và là nguồn thu chính cho việc trùng tu, quản lý vận hành các điểm du lịch tâm linh. Các chi tiêu cơ bản cho các hoạt động di chuyển (cáp treo, thuyền, đò, xe điện…) chiếm một tỷ trọng đáng kể. Chi cho ăn uống và giải khát, chi cho lưu trú qua đêm, lưu niệm, sản vật địa phương… chiếm một tỷ trọng đáng kể nhưng không lớn do khách hầu hết viếng thăm trong thời gian ngắn, ít nghỉ lại qua đêm. Theo báo cáo của các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, doanh thu từ các địa điểm du lịch tâm linh còn rất khiêm tốn. Tuy nhiên, hiệu ứng lan tỏa của chi tiêu tại điểm du lịch tâm linh đến cộng đồng dân cư là rất lớn, có tác động rõ rệt thông qua tạo việc làm, bán hàng lưu niệm, sản vật địa phương.

f) Du lịch tâm linh đóng góp tích cực vào phát triển bền vững

– Người dân địa phương được chủ động tham gia vào các hoạt động phục vụ khách tại các điểm du lịch tâm linh: chèo đò, xích lô, bán hàng lưu niệm, hướng dẫn, tiêu thụ sản vật địa phương, phục vụ ăn uống (Ví dụ ở Tràng An: 1 vụ đò bằng 3 vụ lúa). Du lịch tâm linh tạo việc làm và thu nhập trực tiếp cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ nông nghiệp sang kết hợp dịch vụ.

Theo lời kể của người dân chèo đò, trước đây, hơn 10 năm khu vực Bái Đính là một vùng đất chưa được du khách biết đến, đường đi vào rất khó khăn, người dân sống lam lũ, một mùa cấy lúa nước, thu nhập bấp bênh, không có việc làm. Nhưng từ khi dự án xây dựng chùa Bái Đính, bộ mặt ở đây đã đổi thay cuộc sống của người dân đã có sự dịch chuyển từ thuần nông sang làm dịch vụ; nay một vụ đò bằng 3 vụ lúa; hàng chục ngàn người đã có việc làm, thu nhập 4-6 triệu đồng/tháng, an ninh trật tự được đảm bảo. Có thể nói, cuộc sống của người dân ở đây đã thực sự đổi thay nhờ du lịch tâm linh đến Bái Đính-Tràng An.

– Với triết lý đạo Phật cũng như các tôn giáo khác là sống tốt đời đẹp đạo, du lịch tâm linh chủ động và tích cực trong việc bảo vệ môi trường và đóng góp thích đáng vào phát triển bền vững. Ở Việt Nam hầu hết các điểm du lịch tâm linh là những nơi có phong cảnh đẹp, hệ sinh thái độc đáo luôn được giữ gìn bảo vệ môi trường tốt bằng các hành vi có ý thức của con người. Ngoại trừ những nơi do thương mại hóa quá mức không kiểm soát nổi dẫn tới quá tải.

– Du lịch tâm linh mang lại những giá trị trải nghiệm thanh tao cho du khách, nhận thức và tận hưởng những giá trị về tinh thần giúp cho con người đạt tới sự cân bằng, cực lạc trong tâm hồn như theo triết lý từ-bi-hỷ-xả của đạo Phật… Những giá trị ấy có được nhờ du lịch tâm linh và đóng góp quan trọng vào sự an lạc, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống cho dân sinh.

– Du lịch tâm linh đạt tới sự phát triển cân bằng về các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và đóng góp tích cực vào phát triển bền vững.

Định hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

Định hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam

a) Về quan điểm phát triển

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước thể hiện trong quan điểm Chiến lược phát triển du lịch theo chiều sâu, có chất lượng, hiệu quả, bền vững, có thương hiệu và sức cạnh tranh, phát triển du lịch tâm linh dựa trên các quan điểm chủ đạo sau:

– Thứ nhất, Du lịch tâm linh phải được tập trung đầu tư phát triển theo quy hoạch bài bản trên cơ sở khai thác những giá trị nổi trội về cảnh quan thiên nhiên và văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam.

– Thứ hai, Phát triển du lịch tâm linh trở thành động lực thu hút khách du lịch, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ du lịch khác, tạo sự đa dạng và hấp dẫn cho du lịch Việt Nam và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững; phát triển du lich tâm linh trở thành giải pháp hữu hiệu để phát triển bền vững thông qua tạo việc làm, thu nhập cho cư dân địa phương, tăng cường hiểu biết giao lưu văn hóa, tìm hiểu thế giới và tạo động lực bảo tồn giá trị truyền thống, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc.

– Thứ ba, Phát triển du lịch tâm linh trở thành mục tiêu phát triển đời sống tinh thần cho nhân dân hướng tới những giá trị chân-thiện-mỹ và nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy tiến bộ xã hội; du lịch tâm linh phải phát triển theo hướng chăm lo nuôi dưỡng tinh thần tiến bộ, làm cho tư tưởng, tinh thần trong sáng đồng thời đấu tranh, bài trừ những hủ tục, dị đoan làm sai lệch tư tưởng và u muội tinh thần.

Toàn cảnh một khu du lịch tâm linh tại Côn Đảo. Ảnh: vntrip

b) Định hướng những giải pháp trọng tâm

Với quan điểm phát triển du lịch tâm linh nêu trên, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành Du lịch cần hướng tới, đó là:

– Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về du lịch tâm linh, đảm bảo thực hiện đúng các quan điểm phát triển du lịch tâm linh mang lại những giá trị tinh thần tiến bộ cho xã hội, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội bền vững; Thực hiện chương trình nâng cao nhận thức về du lịch tâm linh cho các đối tượng từ cấp hoạch định chính sách cho tới phổ biến kiến thức, kinh nghiệm cho dân cư trong việc phát triển du lịch cộng đồng gắn với điểm du lịch tâm linh; tạo điều kiện và định hướng hoạt động cho các chức sắc tôn giáo, các tín đồ, tăng ni, phật tử trong việc tổ chức hoạt động du lịch tại các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

– Tập trung nguồn lực, tạo cơ chế huy động nguồn lực đầu tư vào các khu, điểm du lịch tâm linh dựa trên quy hoạch các khu, điểm du lịch tâm linh. Đầu tư cho bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tâm linh, đặc biệt về tín ngưỡng, tôn giáo và những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với điểm tâm linh trở thành yếu tố hấp dẫn đặc sắc Việt Nam để thu hút khách du lịch; đầu tư vào hạ tầng tiếp cận điểm du lịch linh và hệ thống cơ sở dịch vụ đảm bảo chất lượng, tiện nghi, hài hòa với không gian và tính chất khu, điểm du lịch tâm linh.

– Tổ chức cung cấp dịch vụ tại điểm du lịch tâm linh và tăng cường quản lý điểm đến du lịch tâm linh

– Tăng cường nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá du lịch tâm linh trong mối liên kết phát triển các loại hình du lịch khác đi liền với quản lý điểm đến trở thành thương hiệu du lịch nổi bật như Yên Tử, Hương tích, Bái Đính…

– Thực hiện chương trình liên kết phát triển du lịch tâm linh giữa các điểm du lịch tâm linh trong nước: Yên Tử-Côn Sơn Kiếp Bạc-Hương tích-Đền Trần Phủ Dầy-Tam Chúc Ba Sao… và ngoài nước với: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Myanma, Nepal, Bhutan, Trung đông… trong khuôn khổ hợp tác du lịch song phương và đa phương.

– Phát huy vai trò của cộng đồng dân cư, mang lại sự hưởng lợi tối đa cho cộng đồng dân cư tại điểm du lịch tâm linh.

Kết luận

Du lịch tâm linh đang trở thành xu hướng phổ biến, gắn kết các nền văn hóa trong thế giới tinh thần. Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển du lịch tâm linh bởi nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với nhu cầu hướng tới những giá trị tinh thần cao cả, đức tin, tín ngưỡng và tôn giáo.

Những giá trị văn hóa tâm linh trên khắp mọi miền đất nước có sức hấp dẫn du lịch mạnh mẽ. Thời gian qua, số lượng lớn khách du lịch tới điểm tâm linh hàng năm và xu hướng ngày càng đông đảo du khách có nhu cầu du lịch tâm linh; hoạt động du lịch tâm linh ở Việt Nam không chỉ gắn với tôn giáo mà biết kết hợp phát huy triết học phương đông, đạo lý uống nước nhớ nguồn, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, anh hùng dân tộc, các vị tiền bối có công với nước.

Du lịch tâm linh đã trở thành nhu cầu không thể thiếu, ngày càng sôi động, mang lại hiệu quả thiết thực cho kinh tế địa phương, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân và đóng góp tích cực vào phát triển bền vững.

Đảng và Nhà nước không ngừng quan tâm chăm lo tới đời sống tinh thần cho nhân dân thông qua các chính sách tạo điều kiện cho du lịch tâm linh phát triển theo đúng hướng mang lại những giá trị tinh thần thiết thực, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội và phát triển kinh tế du lịch nói riêng. Trong thời gian tới, theo quan điểm chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2030, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh phù hợp với xu hướng chung và vì sự phát triển bền vững.

Cập nhật thông tin chi tiết về Du Lịch Lạng Sơn – Tiềm Năng, Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!