Xu Hướng 2/2023 # Giới Thiệu Về Tỉnh Hòa Bình # Top 10 View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giới Thiệu Về Tỉnh Hòa Bình # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Giới Thiệu Về Tỉnh Hòa Bình được cập nhật mới nhất trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hòa Bình là tỉnh miền núi tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, có diện tích tự nhiên khoảng 4.600km²; đơn vị hành chính bao gồm 10 huyện và 1 thành phố; 210 xã, phường, thị trấn. Dân số trên 80 vạn người, với 6 dân tộc chính (Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, H’Mông) trong đó dân tộc Mường chiếm đa số với trên 63%. 

1. Vị trí địa lý:

Hòa Bình nằm ở vị trí cửa ngõ vùng Tây Bắc Việt Nam, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 76 km theo hướng quốc lộ 6, là khu vực đối trọng phía Tây của Thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ; phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Thanh Hóa, phía Đông Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh Bình.

Tỉnh có mạng lưới giao thông đường bộ và đường thủy tương đối phát triển, trong đó có các tuyến đường quốc gia quan trọng đi qua như: đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 6, Quốc lộ 12B, trong tương lai là đường cao tốc Hòa Bình đi Hòa Lạc (Hà Nội) … Mạng lưới giao thông phân bố khá đều khắp, kết nối Hòa Bình với các tỉnh trong khu vực và các địa phương trong tỉnh khá thuận lợi. Vị trí địa lý của tỉnh là một điều kiện thuận lợi cho Hòa Bình mở rộng hợp tác, phát triển kinh tế.

Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Hoà Bình là đồi, núi dốc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chia thành hai vùng rõ rệt: phía Tây Bắc (vùng cao) và phía Đông Nam (vùng thấp).

2. Khí hậu:

Hoà Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia thành hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23 °C. Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 – 29 °C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5-16,5°C, độ ẩm trung bình: 60%, lượng mưa trung bình: 1.800mm.

3. Tài nguyên đất

Hòa Bình có diện tích đất tự nhiên 4.600km². Đất đai Hòa Bình có độ màu mỡ cao thích hợp với nhiều loại cây trồng. Với hàng trăm ngàn ha đất gồm các lô đất liền khoảnh có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau nhất là trồng rừng, trồng cây công nghiệp để phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm sản và phát triển công nghiệp. Phần đất trống, đồi núi trọc khó phát triển nông nghiệp và trồng rừng thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng các khu công nghiệp.

4. Tài nguyên nước

Tỉnh Hòa Bình có mạng lưới sông, suối phân bổ khắp trên tất cả các huyện, thành phố. Nguồn cung cấp nước lớn nhất của Hòa Bình là sông Đà với tổng chiều dài 151 km. Hồ Hòa Bình với diện tích mặt nước khoảng 8.000 ha, dung tích 9,5 tỷ m3 ngoài nhiệm vụ cung cấp nước Nhà máy thủy điện Hòa Bình, còn có nhiệm vụ chính là điều tiết và cung cấp nước cho vùng Đồng bằng sông Hồng. Hiện nay, sông Đà là nguồn nước quan trọng đáp ứng nhu cầu nước sạch cho Thủ đô Hà Nội.

Ngoài ra, Hòa Bình còn có hai con sông lớn nữa là Sông Bôi và Sông Bưởi cùng với khoảng 1.800 ha ao hồ, đầm nằm rải rác trên địa bàn tỉnh. Đây cũng là nơi trữ nước, điều tiết nước và nuôi trồng thủy sản tốt.

5. Tài nguyên rừng

Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hoà Bình là 251.315 ha, chiếm 54,7% diện tích tự nhiên; trong đó đất rừng tự nhiên 151.949 ha, đất rừng trồng 98.250 ha. Rừng Hòa Bình có nhiều loại dược liệu quý: xạ đen, giảo cổ lam, củ bình vôi … dùng làm thuốc chữa bệnh; các loại cây: tre, bương, luồng … trữ lượng lớn phục vụ ngành chế biến bột giấy, ván sàn, ván ép.

Trên địa bàn tỉnh còn có các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia: Khu Bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò, Khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (chung với Thanh Hóa), Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, Khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn, Vườn Quốc gia Cúc Phương (chung với Ninh Bình và Thanh Hóa), Vườn Quốc gia Ba Vì (chung với Hà Nội và Khu bảo tồn đất ngập nước lòng hồ Hòa Bình. Đây là các khu vực có đa dạng sinh học cao, có giá trị cho nghiên cứu và phát triển du lịch.

6. Tài nguyên khoáng sản

Hòa Bình có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng phục vụ tốt cho phát triển các ngành công nghiệp nguyên liệu, nhiên liệu, xây dựng, như than đá, đá vôi, đá granit, amiăng, cát, đất sét …

Đặc biệt, còn có nhiều điểm nước khoáng, nước nóng với hàm lượng khoáng cao, trữ lượng lớn, phục vụ các lĩnh vực du lịch, chữa bệnh, giải khát, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

7. Tài nguyên du lịch

Tỉnh Hòa Bình có tài nguyên du lịch tự nhiên rất phong phú, đa dạng, bao gồm các sông, hồ, suối nước khoáng, các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia … trong đó đáng chú ý nhất phải kể đến Hồ Hòa Bình có diện tích khoảng 8.000 ha, với dung tích nước lớn và hơn 40 đảo nổi trong hồ, đây là nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản, du lịch tham quan, du lịch sinh thái. Bên cạnh đó khu du lịch Suối khoáng Kim Bôi cũng có sức hút rất lớn với du khách gần xa, thuận lợi cho phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, chữa bệnh.

Khu du lịch Serena Resort  Kim Bôi

Hòa Bình còn được biết đến là cái nôi của nền “Văn hóa Hòa Bình” nổi tiếng thế giới với hệ thống di chỉ khảo cổ dày đặc; hệ thống lễ hội dân gian, phong tục tập quán độc đáo, đặc sắc. Chính nét đa dạng văn hóa đã tạo nên sức hấp dẫn lớn cho phát triển du lịch nhân văn của tỉnh Hòa Bình.

Hiện toàn tỉnh có 185 điểm di tích được đưa vào hồ sơ nghiên cứu, quản lý, 21 di tích cấp tỉnh và 37 di tích được Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch xếp hạng. Một số điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Hòa Bình bao gồm: Lòng hồ Sông Đà (TPHB), núi Đầu Rồng (Cao Phong), Động Tiên (Lạc Thủy), Suối khoáng (Kim Bôi), Bản Lác, Bản H’mông (Mai Châu), Bản Mường Giang Mỗ (Bình Thanh – Cao Phong), Bảo tàng Không gian Văn hóa Mường (TP. Hòa Bình) …

8. Chính sách thu hút đầu tư

Trong những năm gần đây, tỉnh Hòa Bình đã có nhiều chính sách thông thoáng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư đến đầu tư và sản xuất kinh doanh hiệu quả tại tỉnh, cụ thể: miễn tiền thuê đất 11- 15 năm; miễn, giảm từ 10% đến 50% thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dự án thuộc các lĩnh vực, địa bàn trọng điểm; miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị; đơn giản hóa các thủ tục hành chính …

Thời gian tới tỉnh sẽ đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động đối ngoại nhằm củng cố, phát triển các mối quan hệ truyền thống tốt đẹp, và không ngừng mở rộng, hợp tác thêm nhiều đối tác và lĩnh vực mới với mong muốn thu hút đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh./.

Lê Chi – CTV

Giới Thiệu Về Cộng Hòa Maldives

Maldives nằm ở phía nam quần đảo Lakshadweep thuộc Ấn Độ, và cách khoảng 700 kilômét (435 mi) phía tây nam Sri Lanka. Hai mươi sáu đảo san hô của Maldives bao vòng quanh một lãnh thổ gồm 1.192 đảo nhỏ, khoảng hai trăm đảo trong số này có các cộng đồng địa phương sinh sống.

Thay vào đóc, các văn bản tiếng Phạn cổ có đề cập tới “Trăm nghìn hòn đảo” (Lakshadweep); một cái tên chung có thể không chỉ bao gồm Maldives, mà cả Laccadives và nhóm đảo Chagos. Một số lữ khách người Ả Rập thời Trung Cổ như Ibn Batuta đã gọi các đảo là “Mahal Dibiyat” từ từ Mahal (“cung điện”) trong tiếng Ả Rập”. Đây là cái tên hiện được viết trong cuộn giấy biểu tượng quốc gia của Maldive.

Các công dân là tín đồ Phật giáo, có thể từ thời Ashoka, ở thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên. Đạo Hồi được đưa vào năm 1153. Maldives sau đó rơi vào vùng ảnh hưởng của người Bồ Đào Nha (1558) và các đế chế trên biển của Hà Lan (1654). Và vào năm 1887 nó trở thành một vùng bảo hộ của Anh.

Năm 1965, Maldives giành được độc lập từ Anh Quốc (ban đầu với cái tên “Quần đảo Maldive”), và vào năm 1968 chính thể Vương quốc Sultan được thay thế bằng một nền Cộng hòa. Tuy nhiên, trong ba mươi tám năm, Maldives chỉ có hai Tổng thống, dù những giới hạn chính trị đã được nới lỏng một chút gần đây.

Maldives là quốc gia nhỏ nhất Châu Á về dân số. Đây cũng là quốc gia Hồi giáo đa số nhỏ nhất thế giới.

Phật giáo đã xuất hiện tại Maldives từ thời kỳ mở mang lãnh thổ của Hoàng đế Ashoka và trở thành tôn giáo chủ chốt của người dân Maldives cho tới tận thế kỷ thứ 12 sau Công Nguyên.

Phương Tây quan tâm tới những tàn tích khảo cổ của những nền văn hóa thời kỳ sớm tại Maldives bắt đầu từ H.C.P. Bell, một vị uỷ viên hội đồng Anh thuộc Ceylon Civil Service. Bell bị đắm tàu dạt vào quần đảo năm 1879, và đã quay trở lại đây tìm hiểu các di tích Phật giáo cổ. Ông đã nghiên cứu những ụ đất cổ, được gọi là havitta hay ustubu (những tên này xuất phát từ từ chaitiya hay tháp) (Bản mẫu:Lang-dv) trong tiếng Maldives, có mặt trên nhiều hòn đảo.

Dù Bell quả quyết rằng người Maldives cổ theo Phật giáo Tiểu thừa, nhiều tàn tích khảo cổ học Phật giáo địa phương hiện còn ở Bảo tàng Malé thực tế lại là hình tượng Đại thừa và Vajrayana.

Theo truyền thuyết trong Văn học dân gian Maldives, một hoàng tử tên là Koimala từ Ấn Độ hay Sri Lanka đã tới Maldives từ miền Bắc (Ihavandhu) và trở thành vị vua đầu tiên từ House of Theemuge. Trước đó Maldives đã có dân cư sinh sống là những người có nguồn gốc Dravidian từ các bờ biển gần đó, như nhóm người hiện được gọi là Giravaaru họ cho rằng có tổ tiên là những người Tamil cổ.

Các vị vua Maldives thời trước đã truyền bá Phật giáo và những văn bản cùng những thành tựu nghệ thuật đầu tiên của Maldives đã là những công trình kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc phát triển cao từ thời kỳ đó. Việc cải sang Đạo Hồi đã được đề cập tới trong những chỉ dụ cổ được viết trên những tấm đĩa đồng từ cuối thế kỷ 12 sau Công Nguyên. Cũng có một huyền thoại nổi tiếng trên hòn đảo về một vị thánh ngoại lai (Ba Tư hay Marốc theo từng phiên bản khác nhau) người đã chinh phục một con quỷ tên là Rannamaari.

Qua nhiều thế kỷ, hòn đảo này đã được nhiều người đặt chân tới và sự phát triển của nó đã bị ảnh hưởng từ các thuỷ thủ và các nhà buôn từ các nước thuộc vùng Biển Ả Rập và Vịnh Bengal. Cho tới những thời gian gần đây, những tên cướp biển Mappila từ Bờ biển Malabar – bang Kerala hiện nay ở Ấn Độ – đã luôn cướp phá quần đảo.

Dù được cai trị như một vương quốc Hồi giáo độc lập từ năm 1153 tới năm 1968, Maldives đã là vùng bảo hộ của Anh từ năm 1887 cho tới ngày 25 tháng 7 năm 1965. Năm 1953, đã có một nỗ lực sớm chết yểu nhằm thành lập một nền cộng hòa, nhưng cuối cùng chính thể vương quốc được tái lập. Năm 1959, để phản đối chủ nghĩa tập trung trung ương của Nasir, người dân trên ba hòn đảo xa nhất phía nam đã nổi lên chống chính phủ.

Họ đã thành lập nước Cộng hòa Suvadive Thống nhất và bầu Abdullah Afeef lên làm tổng thống, lựa chọn Hithadhoo là thủ đô của nhà nước cộng hòa.

Sau khi giành được độc lập từ Anh năm 1965, chính thể vương quốc tiếp tục hoạt động trong ba năm tiếp theo dưới sự cai trị của Vua Muhammad Fareed. Ngày 11 tháng 11 năm 1968, vương triều bị xoá bỏ và thay thế bằng chính thể cộng hòa, dù đây là sự thay đổi địa phương không dẫn tới những thay đổi lớn khác trong các cơ cấu chính phủ.

Tên chính thức của đất nước được đổi từ Quần đảo Maldive thành Maldives theo hướng cải cách. Du lịch bắt đầu phát triển trên quần đảo này trong khoảng năm năm sau đó, từ đầu thập niên 1970.

Tháng 11 năm 1988, một nhóm người Maldives do Mr. Lutfee lãnh đạo đã sử dụng một nhóm người Tamil vụ lợi từ Sri Lanka tiến hành một cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Gayyoom. Sau khi chính phủ Maldives lên tiếng yêu cầu được giúp đỡ, quân đội Ấn Độ đã can thiệp chống lại những kẻ hám lợi này nhằm tái lập quyền lực cho Gayyoom.

Trong đêm ngày 3 tháng 11 năm 1988, Không quân Ấn Độ đã đưa một tiểu đoàn lính dù trực tiếp từ Agra vượt khoảng cách hơn 2.000 kilômét (1.240 dặm) tới Maldives. Lính dù Ấn Độ đổ bộ xuống Hulule và chiếm sân bay cũng như tái lậ quyền lực chính phủ tại Malé trong vòng vài giờ. Chiến dịch ngắn, không đổ máu này được gọi là Chiến dịch Cactus, cũng có sự tham gia của Hải quân Ấn Độ.

Ngày 26 tháng 12 năm 2004, Maldives đã bị tàn phá bởi một trận sóng thần sau trận Động đất Ấn Độ Dương năm 2004. Chỉ chín hòn đảo thoát khỏi cơn sóng thần này[cần dẫn nguồn], trong khi năm mươi bảy hòn đảo phải chịu những thiệt hại nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng, mười bốn hòn đảo phải sơ tán hoàn toàn, và sáu hòn đảo thiệt hại một phần mười nhân mạng.

Hai mươi mốt hòn đảo du lịch khác bị buộc phải đóng cửa vì những thiệt hại vật chất. Tổng thiệt hại ước tính hơn 400 triệu dollar hay khoảng 62% GDP. Tổng cộng 108 người, gồm cả sáu người ngoại quốc, được thông báo đã thiệt mạng trong cơn sóng thần. Hiệu ứng phá hoại của những cơn sóng với những hòn đảo thấp bởi người dân ở đây không có những khu đất cao để có thể lên lánh nạn trước những cơn sóng dữ. Những con sóng cao nhất lên tới 14 feet.

Phân chia hành chính

Maldives có hai mươi sáu đảo san hô tự nhiên, được chia thành hai mươi mốt khu vực hành chính (hai mươi đảo san hô hành chính và thành phố Malé).

Ngoài một cái tên, mỗi khu vực hành chính được xác định bởi những con chữ mã của Maldives, như “Haa Alif” cho Thiladhunmati Uthuruburi (Thiladhunmathi Bắc); và bằng một chữ mã Latinh.

Chữ đầu tiên tương ứng với tên địa lý của Maldives cho đảo san hô. Chữ thứ hai là một mã thích hợp. Nó được sử dụng nhằm làm cho việc liên lạc viễn thông giữa các đảo san hô và cơ quan hành chính trung ương dễ dàng hơn.

Bởi có một số đảo ở những đảo san hô có tên giống nhau, vì mục đích hành chính mã này sẽ được nhắc tới ở phía trước tên đảo, ví dụ: Baa Funadhoo, Kaafu Funadhoo, Gaafu-Alifu Funadhoo. Bởi đa số đảo san hô đều có cái tên địa lý rất dài, nó cũng được dùng bất cứ khi nào người ta muốn có một cái tên ngắn hơn, ví dụ trong những cái tên website của đảo san hô.

Việc đặt tên mã khiến những người nước ngoài gặp nhiều khó khăn, bởi họ không hiểu mục đích sử dụng của những cái tên đó và đã quên mất tên thực bằng tiếng Maldives trong những cuốn sách du lịch.

Người Maldives có thể sử dụng tên chữ mã trong giao tiếp hàng ngày, nhưng trong các văn bản địa lý, lịch sử hay văn hóa quan trọng, cái tên thực luôn được nhắc tới đầu tiên. Chữ tên mã tiếng Latinh thông thường được dùng trên những bảng tên tàu. Chữ đại diện cho đảo san hô và tên cho hòn đảo.

Mỗi đảo san hô nằm dưới quyền quản lý của một Chúa đảo (Atholhu Veriyaa) do Tổng thống chỉ định. Bộ Quản lý Đảo san hô và các Văn phòng Miền bắc và Miền nam, Các Văn phòng Đảo san hô và Các Văn phòng Đảo chịu trách nhiệm trước Tổng thống về việc Quản lý Các Đảo San hô. Lãnh đạo hành chính của mỗi đảo là Đảo trưởng (Katheeb), do Tổng thống chỉ định. Đảo trưởng thuộc quyền quản lý của Chúa đảo.

Ngôn ngữ chính thức và phổ thông là Dhivehi, một ngôn ngữ Indo-European có một số điểm tương đồng với Elu, ngôn ngữ Sinhalese cổ. Ký tự viết hiện nay được gọi là Thaana và được viết từ phải sang trái. Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong thương mại và dần trở thành một ngôn ngữ trung gian trong giảng dạy tại các trường học của chính phủ.

Nguôn ngữ có nguồn gốc Indo-Iranian Sanskritic, cho thấy một ảnh hưởng muộn từ phía bắc tiểu lục địa. Theo các truyền thuyết, triều đại vua cai trị vùng đất này trong quá khứ có nguồn gốc tại đó.

Trong một thời gian dài của giai đoạn lịch sử Maldives, Phật giáo được xem là quốc giáo. Đến thế kỷ 12 các thương nhân Hồi giáo đã mang đến nước này Hồi giáo Sunni. Maldives cải sang đạo Hồi giữa thế kỷ 12. Hiện nay Hồi giáo Sunni là tôn giáo chính thức của toàn dân, việc tuân thủ nó là điều bắt buộc với công dân.

https://www.dulichcongvu.com/du-lich-cong-hoa-maldives-c57.html

Giới Thiệu Tổng Quan Về Khánh Hòa

Khánh Hòa Là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, du lịch của tỉnh Khánh Hòa. Nơi đây còn được biết đến như một thành phố của lễ hội. Nơi đây có khí hậu ôn hòa, giao thông thuận lợi cả về đường thủy, đường bộ, đường hàng không và đường sắt. Nha Trang với điều kiện thiên nhiên ưu đãi cả về vị trí, cảnh quan thiên nhiên, khí hậu, cùng với nền tảng về lịch sử và nhân văn tạo dựng nên một Nha Trang có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch đa dạng

Diện tích: 5.217,7 km² Dân số: 1.135 nghìn người (năm 2006) Tỉnh lỵ: Thành phố Nha Trang Các huyện, thị: -Thị xã: Cam Ranh – Huyện:Vạn Ninh, Ninh Hoà, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Trường Sa, Cam Lâm. Dân tộc: Việt (Kinh), Ra Glai, Hoa, Cơ Ho…

Điều kiện tự nhiên Khánh Hòa là một tỉnh ven biển Nam Trung bộ, có quần đảo Trường Sa nằm ở điểm cực đông Việt Nam, nơi nhận được ánh nắng ban mai sớm nhất nước, phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía tây giáp tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng, phía nam giáp tỉnh Ninh Thuận. Địa hình Khánh Hoà thấp dần từ tây sang đông với những dạng núi, đồi, đồng bằng, ven biển và hải đảo. Hai sông lớn nhất chảy qua tỉnh là sông Cái (đổ ra biển tại Nha Trang) và sông Dinh. Trong đó huyện đảo Trường Sa quy tụ trên 100 đảo. Khí hậu vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất khí hậu đại dương nên tương đối ôn hoà. Nhiệt độ trung bình năm 26,5ºC.

Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch Nha Trang là một thành phố biển nằm trên đường quốc lộ số 1A. Bờ biển Khánh Hòa dài 200km, với trên 200 đảo lớn nhỏ, bãi cát trắng và nước biển trong xanh đã thu hút hàng ngàn khách du lịch trong và ngoài nước. Bãi biển này nắng quanh năm và bầu trời luôn trong xanh, mầu xanh Ðịa Trung Hải. Ðại Lãnh – Văn Phong – Nha Trang là một bờ biển dài với nhiều bãi biển đẹp kéo dài từ Ðại Lãnh qua Nha Trang, Ninh Trữ tới Cà Ná (Ninh Thuận). Những bãi biển này chắc chắn sẽ tạo ra những ấn tượng sâu sắc cho khách du lịch. Sản xuất nông-công nghiệp phát triển tương đối toàn diện, phong trào nuôi tôm phát triển mạnh cùng với đánh bắt cá xa bờ. Khánh Hòa có nhiều tài nguyên, trong đó nổi tiếng là lâm sản (gỗ, kỳ nam, trầm hương), hải sản (cá, tôm…) và đặc biệt là yến sào. Khánh Hòa có 5 suối nước nóng có tác dụng chữa bệnh và khai thác nước uống.

Nha Trang cách Phan Rang 105km, cách Buôn Ma Thuột 190km, cách Đà Lạt 215km, cách Qui Nhơn 238km, cách thành phố Hồ Chí Minh 445km và Hà Nội 1.450km. Khánh Hòa có nhiều cảng biển trong đó cảng Cam Ranh thuộc vào loại cảng biển tốt nhất thế giới, có sân bay Nha Trang, sân bay Cam Ranh tiện lợi cho du khách đến Khánh Hòa. Nằm trên trục giao thông quan trọng quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt nối Khánh Hòa với các tỉnh miền Nam và miền Bắc; quốc lộ 26 nối Khánh Hòa với Đắk Lắk và các tỉnh Tây Nguyên.

* Khí hậu Nha Trang

Điểm tham quan

Di tích lịch sử, văn hoá * Đình Phú Cang * Đền thờ Trần Quý Cáp * Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa * Bia Võ Cạnh * Chùa Long Sơn * Di tích Am Chúa * Khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin * Lăng Bà Vú * Mũi Đôi – Hòn Đầu * Thành cổ Diên Khánh * Tháp Bà Pô Nagar * Văn miếu Diên Khánh * Viện Hải Dương Học

Thắng cảnh * Bán đảo Đầm Môn * Bãi biển Đại Lãnh * Bãi biển Xuân Ðừng * Bãi Trũ * Hòn Ông * Hòn Bà * Hòn Tằm * Khu bảo tồn biển Hòn Mun * Khu du lịch Con Sẻ Tre * Khu du lịch Dốc Lết * Khu du lịch Hòn Chồng * Khu du lịch Hòn Ngọc Việt * Khu du lịch Hồ cá Trí Nguyên * Khu du lịch sinh thái Đầm Nha Phu * Khu du lịch sinh thái Suối Hoa Lan * Mũi Đôi – Hòn Đầu * Suối Tiên * Thác Yang Bay * Trung tâm Du lịch Suối khoáng nóng Tháp Bà Nha Trang * Vịnh Cam Ranh * Vịnh Vân Phong

Du lịch văn hoá * Đàn đá Khánh Sơn * Làng cổ Phú Vinh * Lễ hội Nghinh Cá ông * Lễ hội Tháp Bà – Pô Nagar

* Khu du lịch Hòn Ngọc Việt * Khu du lịch sinh thái Ba Hồ * Khu du lịch sinh thái Suối Hoa Lan Du lịch sinh thái

Giới Thiệu Chung Về Quảng Bình

Trước đây, Khi nhắc đến Quảng Bình thì Phong Nha Kẻ Bàng có lẽ là nơi được nhắc đến đầu tiên.

Quảng Bình có hệ thống hang động kỳ vĩ và vô cùng hoành tráng thuộc khu vực vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Du lịch Quảng Bình khám phá hang động đang được rất nhiều du khách trong và ngoài nước hướng đến. Có nhiều cái tên đã trở thành quen thuộc với du khách trong và ngoài nước. Như : Động Thiên Đường , Động Phong Nha , Hang Tối , Hang Én…Và đặc biệt tour du lịch Quảng Bình mang đẳng cấp quốc tế “Chinh phục Sơn Đoòng” trở thành đặc sản du lịch những năm gần đây. Quảng Bình được xếp là điểm du lịch hấp dẫn đứng đầu châu Á và thứ 8 trên 52 của thế giới. Càng nổi bật hơn nữa khi Sơn Đoòng được lên chương trình Chào buổi sáng Nước Mỹ của hãng ABC. Và vừa qua việc được chọn quay nhiều cảnh trong phim Kong-skull island đã khiến Quảng Bình trở thành cơn sốt du lịch thực sự.

Tỉnh Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ, Việt Nam, với diện tích tự nhiên 8.000 km 2, dân số năm 2016 có 877.702 người. Đa số là người kinh và hai nhóm dân tộc ít người là Chứt và Bru-Vân kiều.

Vị trí địa lý, địa hình Quảng Bình

Là một tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Điểm cựa bắc 18 005′ 12″ vĩ độ Bắc. Điểm cực nam 16 0 55′ 02″ vĩ độ Bắc. Phiá Bắc giáp với tình Hà Tĩnh và phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị. Quảng Bình là điểm hẹp nhất trên bản đồ Việt Nam. Thành phố trung tâm là thành phố Đồng Hới, Cách Hà Nội 500km về phía Bắc, và cách tp Hồ Chí Minh 1.220km về phía Nam theo quốc lộ 1A.

Với bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông và có chung biên giới với Lào 201,87 km ở phía Tây, có cảng Hòn La, cảng Hàng không Đồng Hới, Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 12 và tỉnh lộ 20, 16 chạy từ Đông sang Tây qua cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu phụ khác nối liền với Nước CHDCND Lào.

Địa hình :Quảng Bình có địa hình hẹp và dốc từ Tây sang Đông. Với hơn 85% diện tích là đất đồi núi. Diện tích Quảng Bình được chia thành các vùng sinh thái. Vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng cát ven biển.

Sông ngòi :Toàn tỉnh Quảng Bình có 5 con sông lớn là sông Nhật Lệ, Sông Gianh, sông Roòn, Sông Dinh, sông Lý Hòa. Các con sông này do nhiều sông nhỏ hợp thành và đều đổ ra biển Đông.

Khí hậu : đặc trưng của Quảng Bình là nhiệt đới gió mùa chịu tác động mạnh của khí hậu phía Bắc. Với điều kiện thời tiết vô cùng khắc nghiệt, nắng nóng và mưa nhiều. Mùa mừa chịu ảnh hưởng của không khí lạnh phía Bắc kết hợp với gió làm cho mùa này không khí lạnh và rét. Mùa khô với nhiệt độ cao kết hợp gió Lào khô rát, có những ngày lên đến 41, 42 độC.

Tài Nguyên thiên nhiên đất và rừng

Tài nguyên Biển Quảng Bình :

Quảng Bình là tỉnh có bờ biển dài, và nhiều thắng cảnh đẹp. Bờ biển dài 116,04km với 5 cửa sông. Cùng với các các biển như cảng Hòn la, cảng Gianh, cảng Nhật Lệ giao thương tấp nập.

Biển Quảng Bình có nhiều bãi tắm đẹp, thu hút đông đảo du khách đến nghỉ dưỡng vào các dịp hè về. Nhiều bãi tắm nổi tiếng như biển Nhật Lệ, bảo Ninh, Đá Nhảy, Quang Phú… Đặc biệt nguồn thủy hải sản Quảng Bình vô cùng phong phú, và được đánh giá là ngon nhất trên cả nước. Nổi tiếng nhất đó là mực, ghẹ Quảng Bình, vừa dày vừa ngọt đậm đà.

Ngoài một ngư trường rộng lớn với trữ lượng 10 vạn tấn, thì diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản cũng khá lớn. Thuận lợi cho việc khai thác xuất khẩu thủy hải sản.

Tiềm năng phát triển du lịch Quảng Bình :

Quảng Bình giống như một bức tranh hoành tráng, có rừng, có biển với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp. Như đèo Ngang, đèo Lý Hoà, cửa biển Nhật Lệ, phá Hạc Hải, Cổng Trời… Và đặc biệt là Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới. Với nhiều địa điểm vui chơi khám phá nổi tiếng trên thế giới. Thu hút đông dảo du khách trong và ngoài nước đến đây mỗi năm.

Trong đó phải nói đến Hang Sơn Đoòng – hang động lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện tại. Cùng hơn 300 hang động lớn nhỏ hình thành từ hàng trăm triệu năm trước. Nhiều địa điểm tại Phong Nha Kẻ Bàng đã và đang làm cho Quảng Bình phát triển mạnh về du lịch.

Đến du lịch Quảng Bình tham quan khám phá hang động, tắm biển, nghỉ dưỡng, thưởng thức hải sản tươi ngon. Cùng đắm chìm trong các món ăn đậm chất địa phương sẽ làm nức lòng mọi du khách.

Hãy đến với Quảng Bình và tự mình cảm nhận những điều thú vị mới mẻ nhất dành cho bạn.

Phong Nha Tourist hân hạnh được đón tiếp mọi du khách.

Công ty TNHH dịch vụ lữ hành Phong Nha Tourist

104 Nguyễn Văn Cừ, Đồng Hới, Quảng Bình

Email: phongnhatourist.qb@gmail.com / lienhe@phongnhatourist.com

Cập nhật thông tin chi tiết về Giới Thiệu Về Tỉnh Hòa Bình trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!