Xu Hướng 2/2024 # Luận Văn Phát Triển Chuỗi Giá Trị Du Lịch Tỉnh Ninh Bình # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Luận Văn Phát Triển Chuỗi Giá Trị Du Lịch Tỉnh Ninh Bình được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ninh Bình là vùng đất có nhiều di tích lịch sử, là “địa linh” độc đáo. Toàn tỉnh có 975 di tích, trong đó có 80 di tích đã được xếp hạng quốc gia. Là nơi có nhiều lễ hội truyền thống mang đậm đà bản sắc văn hoá làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Với những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng và những tiềm năng được thiên nhiên ban tặng, Ninh Bình đang khẳng định là điểm đến hấp dẫn, an toàn, thân thiện, mời gọi du khách muôn phương. Trong thời gian qua du lịch Ninh Bình đã đạt được những thành tựu nhất định. Du lịch Ninh Bình đang đứng trước những cơ hội và thách thức, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhận thức được sự phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua chưa thực sự tương ứng với tiềm năng, nên tác giả mạnh dạn nghiên cứu thực trạng du lịch Ninh Bình trong giai đoạn 2012 – 2014 để đề ra phương hướng phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình. Chuỗi giá trị là một mô hình hết sức cần thiết trong bối cảnh kinh tế thị tới. Trong lĩnh vực Du lịch thì chuỗi giá trị sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và tạo tiền đề phát triển ngành du lịch. Để du lịch Ninh Bình thực sự phát triển thì còn nhiều việc phải làm và một trong những việc đó là thực hiện phát triển mô hình chuỗi giá trị vào việc phát triển du lịch.

Đông Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 3 Khu du lịch sinh thái tâm linh, văn hoá, khu bảo tồn thiên nhiên 100 triệu USD Khu du lịch sinh thái hồ Yên Quang 4 Khu du lịch cao cấp nhằm phục vụ khách du lịch Quốc tế và trong nước 100 triệu USD Phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Ninh Bình) Bên cạnh đó, Trung tâm Xúc tiến du lịch đã liên kết các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh cùng chung tay góp sức với Nhà nước làm tốt công tác quảng bá du lịch. Kết quả, nhiều doanh nghiệp đã nhiệt tình cùng đóng góp kinh phí để mở rộng thuê thêm dung lượng sử dụng trên trang website, đóng góp kinh phí in ấn thêm nhiều ấn phẩm du lịch, sự cộng tác của các đơn vị, doanh nghiệp làm du lịch trong việc tiếp đón các đoàn làm phim tuyên truyền, quảng bá về du lịch. Đặc biệt, các doanh nghiệp làm du lịch trên địa bàn tỉnh luôn nhiệt tình phối hợp cùng trung tâm tham gia tuyên truyền, quảng bá tại các hội chợ du lịch tại các địa phương trên toàn quốc. 2.3. Tổ chức vận hành thị trường 2.3.1. Phương thức giao dịch Mọi giao dịch giữa các tác nhân trong chuỗi diễn ra dưới hình thức: các Thang Long University Libraty 80 công ty cung cấp dịch vụ: vận chuyển, khách sạn, nhà hàng,.. sẽ báo giá bằng miệng hoặc từ các hợp đồng hợp tác dịch vụ du lịch. Các công ty sẽ căn cứ vào những thông tin đó sẽ gửi bảng hợp đồng kinh tế để đặt dịch vụ theo giá được cung cấp. 2.3.2. Phương thức thanh toán Phương thức thanh toán của các tác nhân như: vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, công ty du lịch sẽ theo quy định từng doanh nghiệp. Thông thường, khi đặt dịch vụ phải thanh toán trước 50% giá trị của dịch vụ sau khi dịch vụ được xác nhận và trước ngày thụ hưởng dịch vụ phải thanh toán số tiền còn lại của dịch vụ đã đặt. Việc thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. 2.3.3. Kết quả hoạt động kinh doanh Năm 2014, hoạt động du lịch đóng góp từ 5,5 – 6% GDP cả nước, tác giả cũng so sánh cơ cấu tổng thu ngân sách từ hoạt động du lịch của Ninh Bình, Quảng Bình và Quảng Ninh kết quả như sau: Bảng 2.15: Cơ cấu doanh thu từ hoạt động du lịch với GDP của Quảng Ninh, Quảng Bình và Ninh Bình năm 2014 Tỉnh GDP (tỉ đồng) Doanh thu từ du lịch Doanh thu (tỉ đồng) So với GDP (%) Ninh Bình 34,577 943 2.72% Quảng Ninh 91,260 4,510 4.94% Quảng Bình 21,544 1,300 6.03% (Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội UBND tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, Quảng Bình) Như vậy có thể thấy mặc dù tỉnh Ninh Bình đã xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước (có nêu quy hoạch tổng thể Ninh Bình đến 2010, định hướng năm 2024 và quy hoạch tổng thể Ninh Bình đến 2024, định hướng 2030). Tuy nhiên, doanh thu từ du lịch năm 2014 chỉ chiếm 81 2,72% GDP của tỉnh điều này cho thấy doanh thu từ du lịch còn kém xa so với mặt bằng chung khi mà doanh thu trung bình ngành du lịch đóng góp khoảng 5,5% – 6% vào GDP cả nước. Bảng 2.16: Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2012 đến 2014 TT Chỉ tiêu 2012 2013 2013/2012 2014 2014/2013 I Tổng cộng (lượt khách) 3,750,000 4,398,767 117% 4,301,569 98% – Nội địa (lượt khách) 3,074,430 3,877,219 126% 3,799,160 98% – Quốc tế (lượt khách) 675,570 521,548 77% 502,409 96% II Doanh thu (Tr.đồng) 780,000 897,446 115% 942,779 105% III Nộp ngân sách (Tr.đồng) 78,000 89,745 115% 94,278 105% (Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình) Căn cứ bảng trên chúng ta thấy tổng lượt khách du lịch đến Ninh Bình năm 2013 là 4,398,767 lượt khách (tăng 17% so với 2012). Tuy nhiên, du lịch Ninh Bình không giữ được đà tăng trưởng ngày khi lượt khách du lịch đến Ninh Bình năm 2014 là 4,301,569 lượt khách (bằng 98% so với năm 2013). Mặc dù vậy, doanh thu từ hoạt động du lịch vẫn tăng qua các năm điều đó chứng tỏ chất lượng dịch vụ du lịch Ninh Bình ngày càng được cải thiện. Chi tiêu bình quân khách du lịch cho một ngày là một trong những chỉ tiêu chất lượng, phản ánh mức độ thu nhập và khả năng chi tiêu của khách du lịch. Để phát huy được hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch nhiều quốc gia đã chú trọng về chỉ tiêu này. Họ không chỉ khai thác về tăng số lượng khách mà còn tập trung vào các thị trường mà chi tiêu bình quân của một ngày khách du lịch có ở mức cao. Tổng số tiền chi tiêu bình quân một lượt khách quốc tế đến Ninh Bình năm 2012 là 74USD/ngày/khách, năm 2013 là 77.4USD/ngày/khách (tăng 0.5% so với năm 2012), năm 2014 là 82.2USD/ngày/khách (tăng 0.6% so với năm 2013). Tuy nhiên, chi tiêu bình quân này cũng chỉ bằng 97,3% bình quân của ngành du lịch cả ngước (năm 2014). Số tiền khách dành nhiều nhất là ăn Thang Long University Libraty 82 uống sau đó là mua hàng hóa và đi lại. Chi tiêu bình quân 1 ngày của khách trong nước năm 2014 cũng chỉ đạt 488.600 đồng/ngày, bằng 69,4% so với bình quân chung. Bảng 2.17: Chi tiêu bình quân 1 ngày khách quốc tế ở Ninh Bình Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Chi (USD) 2013/2012 Chi (USD) 2014/2013 Thuê phòng 12.7 10.2 80% 13.8 135% Ăn uống 18.2 22.3 123% 22.6 101% Đi lại 14.5 15.9 110% 16.7 105% Thăm quan 5.9 7.6 129% 8 105% Mua hàng hóa 12.9 14.1 109% 12.7 90% Vui chơi giải trí 2 2 100% 2 100% Y tế 0.6 0.5 83% 0.4 80% Chi khác 7.2 4.8 67% 6 125% Tổng cộng 74 77.4 105% 82.2 106% (Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình) 2.4. Những kết quả và hạn chế của hoạt động du lịch tỉnh Ninh Bình 2.4.1. Kết quả 2.4.1.1. Du lịch là ngành kinh tế rất triển vọng Mặc dù Ninh Bình chưa đạt được kỳ vọng chiếm 5% GDP của tỉnh (theo như quy hoạch) tuy nhiên tỉnh vẫn xác định du lịch là ngành kinh tế rất triển vọng không chỉ thể hiện ở trong các nghị quyết. Kết quả thực tế cho thấy từ năm 2012 đến 2014 doanh thu từ du lịch chiếm khoảng 3% GDP của tỉnh do vậy doanh thu từ hoạt động du lịch cũng có những đóng góp đáng kể đến nền kinh tế Ninh Bình. 2.4.1.2. Du lịch góp phần nâng cao đời sống tinh thần và ổn định xã hội Không thể phủ nhận du lịch đang góp phần giải quyết 15,5 nghìn việc làm 83 cho người lao động (tính đến 31/12/2014). Điều này đã góp phần rõ rệt trong việc cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Hàng năm, toàn tỉnh luôn duy trì được 74 lễ hội lớn nhỏ qua đó góp phần tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân về văn hóa Ninh Bình bình nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung. 2.4.1.3. Du lịch đã gắn với việc bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, môi trường Trong thời gian qua các khu di tích lịch sử đã được đầu tư cho việc khôi phục, tôn tạo, bảo tồn những giá trị văn hóa lịch sử. Các cấp chính quyền đã thường xuyên cập nhật những quy định về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp chấp hành đúng những quy định bảo vệ môi trường trong kinh doanh, sử dụng tiết kiệm điện, nước, hạn chế bao bì, chất thải thải ra môi trường. Đặc biệt, các dự án đầu tư phát triển du lịch đều phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ du lịch có trình độ hiểu biết về môi trường, về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế-xã hội, về Luật Bảo vệ Môi trường cũng như các chính sách, quy định của Nhà nước trong bảo vệ môi trường. Phát triển du lịch hợp lý, vừa tạo công ăn việc làm cho người dân tại các điểm du lịch, đồng thời khuyến khích họ bảo vệ, giữ gìn, cải tạo môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp. 2.4.1.4. Du lịch góp phần nâng cao hình ảnh con người Ninh Bình Kể từ năm 2014 trở lại đây, các cấp chính quyền xây dựng khối dân vận khối dân vận và Ban quản lý khu du lịch, ký kết chương trình phối hợp công tác vận động quần chúng thực hiện nếp sống văn minh du lịch. Qua đó xóa bỏ tình trạng chèo kéo, ăn xin, tình hình anh ninh trật tự được cải thiện rõ nét góp phần giới thiệu quảng bá hình ảnh đất nước con người Ninh Bình. 2.4.1.5. Nguyên nhân của những thành công Tính đa dạng về tài nguyên du lịch: Ninh Bình có tiềm năng du lịch đa Thang Long University Libraty 84 dạng và phong phú (các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, nguồn khoáng nước nóng Sản phẩm DL không trùng lặp với sản phẩm DL nhiều địa phương khác trong khu vực, đặc biệt là những địa phương phụ cận như Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa. Điều này tạo cho du lịch Ninh Bình có được sức hấp dẫn DL riêng, khi mà tình trạng “trùng lặp” về sản phẩm DL đang là yếu tố cản trở sự phát triển DL đang phổ biến. Hạ tầng DL phát triển: Ninh Bình là một địa phương nằm trên trục giao thông Bắc Nam được Chính Phủ quan tâm đầu tư nâng cấp nên hạ tầng DL nói riêng của Ninh Bình đã có những bước phát triển vượt bậc. Tam Cốc-Bích Động là một trong 20 khu DL chuyên đề của QG đã được sự quan tâm rất lớn của Chính Phủ hỗ trợ đầu tư phát triển CSHT DL, vì vậy hệ thống hạ tầng giao thông DL của Ninh Bình khá đồng bộ và phát triển, từ quốc lộ 1A du khách có thể tiếp cận dễ dàng tới các khu DL như cố đô Hoa Lư, Tràng An, Tam Cốc – Bích Động, Cúc Phương, Vân Long, Tam Điệp. Hình ảnh về du lịch Ninh Bình được nhiều người biết đến: với nhiều địa danh nổi tiếng như: thắng cảnh Tam Cốc – Bích Động, quần thể di tích cố đô Hoa Lư, Cúc Phương vườn Quốc gia đầu tiên ở Việt Nam với hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới với điển hình còn được bảo tồn khá nguyên vẹn, hình ảnh khu bảo tồn đất ngập nước với cảnh quan đặc sắc như “Hạ Long trên cạn”… Ninh Bình cách Thủ đô Hà Nội khoảng 90km, thời gian đi bằng đường bộ từ Hà Nội đến Ninh Bình chỉ mất trên 1giờ, do vậy có thể khẳng định đây chính là cũng là mạnh của du lịch Ninh Bình. 2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân Bên cạnh những “điểm mạnh”, du lịch Ninh Bình cũng có những “điểm yếu” cần phải được xác định nhằm có được những giải pháp và chiến lược 85 chế trong phát triển du lịch Ninh Bình thời gian qua có thể thấy những “điểm yếu” chủ yếu của du lịch Ninh Bình bao gồm: Thứ nhất: hạn chế về đội ngũ lao động (quản lý, tác nghiệp). Trong một thời gian, du lịch Ninh Bình tương đối phát triển và cộng vào đó là sự “bung ra” của hệ thống một số nhà khách đã “hình thành” một đội ngũ lao động tham gia hoạt động du lịch mang tính tự phát với năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động du lịch. Điều này thể hiện rất rõ ở chất lượng dịch vụ trong nhiều cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu điểm tham quan du lịch của Ninh Bình, thậm chí ở những điểm du lịch nổi tiếng như Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, v.v. Mặc dù cũng nhận thức được “điểm yếu” này, tuy nhiên thời gian qua hoạt động quản lý, hướng dẫn các doanh nghiệp và tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ lao động chưa được đẩy mạnh ngang tầm với yêu cầu phát triển. Thứ hai: hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc biệt hệ thống khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên, các dịch vụ về ngân hàng, vui chơi giải trí. Hiện nay du lịch Ninh Bình đang phải đối mặt với một thực tế là do thực hiện quy hoạch và đặc biệt là quản lý quy hoạch du lịch, còn nhiều bất cập nên Ninh Bình hiện đang gặp khó khăn về mặt bằng trong xây dựng phát triển hệ thống các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nói chung, hệ thống các khu du lịch, khách sạn tiêu chuẩn 3 sao trở lên nói riêng và các khu vui chơi giải trí tầm cỡ. Tình trạng này càng trở nên khó khăn đối với khu vực nội đô thị xã và tại một số trọng điểm du lịch như Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Vân Long. Đây không chỉ đơn thuần là một “điểm yếu” mà còn là thách thức đối với du lịch Ninh Bình trong quá trình phát triển tới đây với vai trò là một Thang Long University Libraty 86 “trung tâm bổ trợ” quan trọng của trung tâm du lịch du lịch Hà Nội và phụ cận. Thứ ba: hạn chế về sản phẩm du lịch; có sự chồng chéo về sản phẩm giữa khu, điểm du lịch và có sự hạn chế trong hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch so với yêu cầu phát triển. Hoạt động trong cơ chế thị trường, việc xây dựng các sản phẩm du lịch, đặc biệt là các sản phẩm du lịch đặc thù và hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch đến các thị trường du lịch trọng điểm là một trong những yếu tố rất quan trọng quyết định sự thành công của kinh doanh du lịch. Mặc dù đã ý thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, việc đầu tư cho xây dựng phát triển các sản phẩm du lịch, nhất là các sản phẩm du lịch đặc thù và hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch còn nhiều bất cập. Việc đầu tư để xây dựng một số sản phẩm đặc trưng của du lịch Ninh Bình được xác định trong các quy hoạch tổng thể như du lịch làng quê, du lịch sinh thái với việc khai thác các giá trị của hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới ở Cúc Phương, hệ sinh thái đất ngập nước Vân Long với việc quan sát Voọc quần đùi trắng; du lịch làng nghề, tham quan nhà thờ đá Phát Diệm ở Kim Sơn, du lịch mạo hiểm tại Cúc Phương, v.v. vẫn chưa có được sự quan tâm thỏa đáng. Hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch của Ninh Bình cho đến nay vẫn chưa có được một chiến lược cụ thể vì vậy các hoạt động trong thời gian qua chỉ mang tính “tình thế” và dựa vào nguồn ngân sách vốn rất hạn hẹp của địa phương cũng như từ sự hỗ trợ của Chương trình Hành động Quốc gia về Du lịch. Thứ tư: ảnh hưởng của tính mùa vụ trong hoạt động du lịch. Trong những năm trở lại đây phần lớn du khách nội địa đến chùa Bái Đính theo phong tục tập quán tín ngưỡng người Việt mà chủ yếu du khách tăng dần vào tháng 2, cao điểm tháng 3 và giảm dần vào tháng 4. Vì vậy tính mùa vụ trong 87 du lịch văn hóa tâm linh là rất rõ nét. Ngoài ra, Ninh Bình còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của đặc điểm khí hậu á nhiệt đới ở khu vực phía Bắc bên cạnh những ảnh hưởng khác mang tính xã hội như “mùa” lễ hội; “mùa” nghỉ hè của học sinh, sinh viên; “mùa” du lịch của khách du lịch quốc tế, đặc biệt từ các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương. Thứ năm: tính liên kết của Ninh Bình với các địa phương phụ cận, đặc biệt với Hà Nội trong hoạt động du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Ngoài ra chưa chú trọng xây dựng và hình thành được mô hình chuỗi giá trị du lịch. Với vai trò là một trọng điểm quan trọng trong trung tâm du lịch của vùng du lịch Hà Nội và phụ cận, việc liên kết giữa du lịch Ninh Bình với du lịch các địa phương trong vùng, đặc biệt với du lịch Hà Nội là rất quan trọng. Sự liên kết này không chỉ góp phần thúc đẩy du lịch Ninh Bình phát triển mà còn có ý nghĩa đối với hoạt động du lịch các địa phương trong vùng, làm tăng sức hấp dẫn và tính cạnh tranh của các sản phẩm du lịch mang tính vùng. Tuy nhiên thời gian qua, du lịch Ninh Bình chưa chủ động tạo ra sự liên kết này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế các dòng khách đến Ninh Bình, đặc biệt từ Hà Nội cũng như các tours du lịch trong không gian du lịch Hà Nội và phụ cận chưa được hình thành một cách rõ nét; chưa tạo được hình ảnh du lịch chung của vùng, trong đó Ninh Bình là một điểm đến quan trọng. Thứ sáu: hạn chế trong quản lý, thực hiện quy hoạch du lịch. Ninh Bình được xem là một trong những địa phương đi đầu trong cả nước về công tác quy hoạch phát triển du lịch. Ngay từ năm 1995, Ninh Bình đã thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình thời kỳ 1996 – 2010. Bên cạnh đó, Ninh Bình cũng đã tham gia thực hiện quy hoạch phát triển du lịch trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận thời kỳ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2024. Thang Long University Libraty 88 Tuy nhiên, việc quản lý thực hiện các quy hoạch phát triển du lịch còn có nhiều bất cập, chưa được như mong muốn. “Điểm yếu” này của du lịch Ninh Bình thể hiện ở việc “bê tông hóa” nhiều hạng mục công trình của khu du lịch quốc gia Tam Cốc-Bích Động – một trọng điểm du lịch của Ninh Bình với thế mạnh về du lịch sinh thái, nơi cảnh quan và môi trường được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu. Nhiều du khách, đặc biệt là khách du lịch quốc tế, rất thất vọng với “cách” đầu tư xây dựng những hạng mục thiếu sự hài hoà với cảnh quan thiên nhiên ở khu du lịch này. Tình trạng hạn chế trong thực hiện quy hoạch còn thể hiện trong việc hình thành một cách thiếu cân nhắc về vị trí, về quy mô và công năng sử dụng của hệ thống cơ sở lưu trú trong không gian khu du lịch Vân Long, một khu du lịch sinh thái được đánh giá là có triển vọng nhất không chỉ đối với du lịch Ninh Bình mà còn đối với trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận cũng như du lịch Bắc Bộ. Du lịch Ninh Bình phát triển trong thế cạnh tranh rất lớn, trước hết là với Hà Nội và một số địa phương như Hà Tây, Vĩnh Phúc, trong điều kiện du lịch Ninh Bình còn phát triển ở mức thấp: Song hành với những thuận lợi và cơ hội khi Ninh Bình nằm trong trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận là những thách thức rất lớn khi sự phát triển của du lịch Ninh Bình phải đối mặt với sự cạnh tranh của du lịch Hà Nội và một số địa phương có tiềm năng khác trong vùng như Hà Tây, Vĩnh Phúc. Sự cạnh tranh này là tất yếu đối với mọi hoạt động phát triển trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên thách thức này đối với du lịch Ninh Bình càng trở nên to lớn khi hình ảnh du lịch Ninh Bình còn mờ nhạt, sản phẩm du lịch của Ninh Bình nhìn chung còn đơn điệu, phát triển ở mức thấp và chưa phát huy được hết những tiềm năng đặc thù của địa phương. Tác động của hoạt động phát triển đô thị và công nghiệp: Một trong những định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của 89 Ninh Bình là phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng với trọng tâm là sản xuất xi măng và vật liệu đá xây dựng trên cơ sở khai thác tiềm năng tài nguyên to lớn về đá vôi. Bên cạnh đó, hệ thống đô thị của Ninh Bình cũng sẽ được đầu tư mở rộng, đặc biệt là việc phát triển thành phố Ninh Bình lên đô thị loại 1, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương tương xứng với vị trí của Ninh Bình trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội chung của vùng Bắc Bộ. Để có thể hạn chế được tác động của thách thức này, cần thiết phải có sự điều chỉnh phương án quy hoạch tổng thể, đặc biệt là về tổ chức các không gian kinh tế chức năng, phù hợp trên cơ sở những phân tích khoa học khách quan nhằm hạn chế những tác động đến môi trường du lịch của Ninh Bình. Sự xuống cấp của tài nguyên, môi trường du lịch mà trong đó tình trạng “chồng chéo” trong quản lý là một bất cập lớn. Đây là thách thức không chỉ của Ninh Bình mà còn là thách thức chung của du lịch Việt Nam. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy ở nhiều điểm tài nguyên du lịch có giá trị của Ninh Bình với sự xuống cấp của nhiều điểm di tích lịch sử văn hoá, suy giảm đa dạng sinh học ở các khu tự nhiên do hoạt động khai thác không được quản lý, cảnh quan bị xâm hại do khai thác đáCó nhiều nguyên nhân của tình trạng này, tuy nhiên một trong những nguyên nhân cơ bản chính là tình trạng “chồng chéo” trong quản lý tài nguyên. Du lịch Ninh Bình phát triển trong bối cảnh chịu sức ép về trách nhiệm bảo tồn các giá trị văn hoá và tự nhiên: Cúc Phương – được công nhận là vườn quốc gia đầu tiên ở Việt Nam; Vân Long được công nhận là khu bảo tồn đất ngập nước lục địa đầu tiên ở khu vực phía Bắc với việc bảo tồn loài Voọc quần đùi trắng còn tồn tại duy nhất trên thế giới; Hoa Lư, Tràng An với các di tích lịch sử văn hoá đặc biệt có giá trị cấp quốc gia và tầm thế giới. Với sự công nhận đó, nhiều địa danh ở Ninh Bình đã và đang là điểm đến du lịch nổi Thang Long University Libraty 90 tiếng không chỉ của Ninh Bình mà còn của du lịch Việt Nam và khu vực thu hút ngày càng đông khách du lịch. Kết quả của sự gia tăng lượng khách đến những địa điểm này sẽ là sức ép đến cảnh quan, môi trường, đến sự tồn tại của các công trình di tích, trong khi sự phát triển các hoạt động kinh tế – xã hội, trong đó có hoạt động du lịch, ở địa điểm này sẽ phải tuân thủ những quy định bảo vệ có tính pháp lý theo tinh thần các Luật hiện hành của Việt Nam cũng như của quốc tế mà Việt Nam đã cam kết. Đây chính là một thách thức không nhỏ của du lịch Ninh Bình trước mâu thuẫn giữa cơ hội và mong muốn tăng lượng khách với nhiệm vụ bảo tồn các giá trị văn hoá, tự nhiên cho phát triển bền vững. Nhận thức của xã hội về du lịch còn bất cập: Mặc dù thời gian qua đã có những thay đổi về nhận thức đối với tầm quan trọng của hoạt động phát triển du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, tuy nhiên thực tế cho thấy nhận thức này của xã hội, đặc biệt của các nhà quản lý, còn có những bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của du lịch Ninh Bình tương xứng với vị trí, vai trò. Điều này thể hiện rõ trong sự phát triển công nghiệp với việc khai thác đá làm ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường; trong những chính sách chưa thoả đáng đối với hoạt động đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch, và đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt vai trò quản lý nhà nước về du lịch của Sở Du lịch Ninh Bình cũng chưa tương xứng với yêu cầu phát triển. 91 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 Có thể nói, trên phạm vi cả nước, ít có địa phương nào có được những lợi thế về du lịch như Ninh Bình. Rất nhiều những giá trị đặc biệt đang hiện hữu tại Ninh Bình và nó trở thành những điểm nhấn của du lịch Ninh Bình, tạo nên một Ninh Bình non nước hữu tình. Đối với du lịch, tỉnh Ninh Bình là tỉnh phát triển muộn hơn so với các tỉnh, thành phố trong cả nước bởi vốn là tỉnh thuần nông. Tuy nhiên, Ninh Bình cùng với Hà Nội và Quảng Ninh được xác định là các trung tâm du lịch cấp quốc gia ở vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc. Điều này cho thấy Chính phủ đặc biệt quan tâm đến việc phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình. Cùng với sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể trong tỉnh khá nhanh, tạo nên các chuyển biến, giúp xây dựng và phát triển “ngành công nghiệp không khói”. Năm 2014, ngành du lịch Ninh Bình đón hơn 4,6 triệu lượt du khách. Điều này không chỉ có ý nghĩa do du lịch mà còn có ý nghĩa cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội. Những cố gắng đó thật đáng ghi nhận cho một tỉnh mới phát triển du lịch như Ninh Bình. Tuy đạt được những thành công trên, thực tế cho thấy việc phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Cụ thể, theo chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2024, năm 2024 tỉnh cần đạt được 4,7 triệu lượt khách (thực tế đạt 4,6 triệu lượt khách), doanh thu từ hoạt động du lịch so với GDP còn chưa bằng bình quân chung của ngành. Đặt ra rất nhiều thách thức cho tỉnh Ninh Bình đặc biệt là việc thu hút khách du lịch đến tỉnh nhà. Một trong những vấn đề cấp bách có thể giải quyết ngay ở thời điểm này đó là định hướng phát triển chuỗi giá trị du lịch trên cơ sở tận dụng thế mạnh sẵn có của mỗi tổ chức qua đó sẽ tạo sức mạnh trong liên minh. Từ đó mới tăng sức cạnh tranh cả về giá cả cũng như chất lượng ,nâng cao sự hài lòng ở khách du lịch. Thang Long University Libraty 92 Như đã đề cập ở Chương 1, thực tế cho thấy việc định hướng phát triển chuỗi giá trị du lịch là một tất yếu trong quá trình hội nhập. Ngay trong khu vực các nước như Thái Lan, Singapore đã rất thành công trong việc phát triển chuỗi giá trị du lịch tạo nên sức hút rất lớn với du khách trên toàn thế giới. Việt Nam nói chung, tỉnh Ninh Bình nói riêng cũng không nằm trong xu hướng tất yếu đó. 93 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH NINH BÌNH 3.1. Định hướng và mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình 3.1.1. Định hướng quốc gia về phát triển ngành du lịch của tỉnh Ninh Bình Ngày 30/12/2011, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết định số 2473/QĐ-TT phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2030″. Chiến lược đề ra với những nội dung chủ yếu quan điểm, mục tiêu, giải pháp và chương trình hành động cụ thể. Theo đó, quan điểm của ngành là phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo hướng chuyên nghiệp, có trọng tâm; phát triển song song du lịch nội địa và du lịch quốc tế, gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, tập chung huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho sự phát triển du lịch. Mục tiêu tổng quát của ngành du lịch là đến năm 2024, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển. Theo quy hoạch đó, đối với Ninh Bình được coi là một trong những địa bàn trọng điểm có hướng khai thác sản phẩm đặc trưng là: Du lịch văn hóa gắn với văn minh lúa nước sông Hồng; Du lịch lễ hội, tâm linh; Du lịch cuối tuần, vui chơi giải trí cao cấp. Thang Long University Libraty 94 3.1.2. Định hướng phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình 3.1.2.1. Quan điểm phát triển Căn cứ quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2010, định hướng đến năm 2024 như sau: a. Phát triển du lịch Ninh Bình trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, từng bước trở thành một trong những trung tâm lớn về du lịch của cả nước; có cơ sở hạ tầng phát triển, với nhiều loại hình du lịch và các sản phẩm du lịch hấp dẫn, độc đáo thu hút ngày càng đông khách du lịch đến thăm quan và nghỉ lại dài ngày ở Ninh Bình; b. Đảm bảo tốc độ tăng trưởng du lịch nhanh, bền vững và hiệu quả, gắn với việc bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho nhân dân; 3.1.2.2. Mục tiêu cụ thể a. Về khách du lịch: Năm 2024 đạt 3 triệu lượt khách du lịch. Trong đó, khách du lịch quốc tế 1,3 triệu lượt, khách nội địa 1,7 triệu lượt khách. b. Về thu nhập từ du lịch: Năm 2024 đạt 1.518 tỉ đồng (138 triệu USD). Trong đó, từ khách du lịch quốc tế 70 triệu USD, từ khách nội địa 68 triệu USD; c. Về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Năm 2024 có 3.700 phòng lưu trú. Trong đó số phòng đủ tiêu chuẩn đón khách du lịch quốc tế (từ 3÷5 sao) 800 phòng; Đầu tư hoàn thiện một số khu vui chơi giải trí trong tỉnh. d. Về giải quyết lao động và việc làm Năm 2024 giải quyết việc làm cho 5,900 lao động trực tiếp và 11,800 lao động gián tiếp làm việc trong ngành du lịch. 95 3.1.2.3. Các định hướng phát triển chủ yếu a) Về thị trường khách du lịch. – Khai thác mạnh thị trường khách du lịch nội địa, trong đó chú trọng thị trường các đô thị lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) và các tỉnh lân cận; – Mở rộng thị trường khách du lịch quốc tế, trong đó tập trung vào các thị trường truyền thống và thị trường có khả năng chi trả cao như: Tây Âu, Đông Bắc Á – Thái Bình Dương, Bắc Mỹ và ASEAN. b) Về phát triển các sản phẩm du lịch: Phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch với các loại hình: thăm quan danh thắng và các di tích lịch sử, văn hoá, tâm linh; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao, mạo hiểm; vui chơi giải trí, hội thảo, hội nghị, mua sắm, nghỉ cuối tuầnphù hợp với từng khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh. c) Tổ chức không gian phát triển du lịch: – Quy hoạch thành 7 khu du lịch chính, gồm: + Khu Tam Cốc – Bích Động – Sinh thái Tràng An – Cố đô Hoa Lư; + Khu trung tâm thành phố Ninh Bình; + Khu Vườn quốc gia Cúc Phương – Kỳ Phú – Hồ Đồng Chương; + Khu du lịch suối nước nóng Kênh Gà – động Vân Trình – Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long – Chùa Địch Lộng – động Hoa Lư; + Khu thị xã Tam Điệp – Phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn; + Khu hồ Yên Thắng – Yên Đồng – Động Mã Tiên; + Khu Nhà thờ đá Phát Diệm và vùng biển Kim Sơn. – 9 tuyến du lịch nội tỉnh, gồm: + chúng tôi Bình – Tràng An – Cố đô Hoa Lư – Chùa Bái Đính (2 ngày); Thang Long University Libraty 96 + Thành phố Ninh Bình – Cố đô Hoa Lư – Chùa Bái Đính (trong ngày); + chúng tôi Bình – Tam Cốc – Bích Động – Linh Cốc (trong ngày); + Thành phố Ninh Bình – Địch Lộng – Vân Long – Động Hoa Lư – Kênh Gà (3 ngày); + Thành phố Ninh Bình – Cúc Phương – Kỳ Phú – hồ Đồng Chương – căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu – thị xã Tam Điệp (3 ngày); + Tham Cốc – Bích động – Nhà thờ đá Phát Diệm – vùng biển Kim Sơn – các Làng nghệ (03 ngày); + Núi chùa Non Nước – Núi chùa Bái Đính – Kênh Gà – Vân Trình (đường thuỷ 02 ngày); + Thành phố Ninh Bình – thị xã Tam Điệp – Phòng tuyến Tam Điệp Điện Sơn (trong ngày); + Thành phố Ninh Bình – hồ Yên Thắng – hồ Yên Đồng – Động Mã Tiên (02 ngày). – 10 tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế, gồm: + Ninh Bình – Hà Nội (nối tour du lịch 1000 năm Hoa Lư – Thăng Long – Hà Nội); + Ninh Bình – Hải Phòng – Quảng Ninh – Trung Quốc (tuyến đường QL 10); + Ninh Bình – Hà Nội – Lạng Sơn – Trung Quốc; + Ninh Bình – Lào Cai – Sa Pa – Trung Quốc; + Ninh Bình – Điện Biên – Trung Quốc; + Ninh Bình – Nam Định – Thái Bình – Hải Phòng – Quảng Ninh; + Ninh Bình Tuyên Quang – Hà Giang; + Ninh Bình – Hà Tây – Hoà Bình 97 + Ninh Bình – Thanh Hoá – Nghệ An; + Ninh Bình – Quảng Bình – Huế– Đà Nẵng. d) Về đầu tư phát triển du lịch: Thực hiện phân kỳ đầu tư, tập trung đầu tư dứt điểm các hạng mục công trình chính, công trình dở dang và đầu tư mới tại một số khu, điểm du lịch trọng điểm. Phấn đấu đến năm 2024 cơ bản hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng tại một số khu, điểm du lịch trọng điểm và có các cơ sở kinh doanh dịch vụ chất lượng cao, đáp ứng cơ bản nhu cầu khách tham quan. f) Về chất lượng nguồn nhân lực: Đến năm 2024, mục tiêu của tỉnh sẽ đào tạo từ 8.000 – 15.400 lao động trực tiếp và 20.000 lao động gián tiếp hoạt động dịch vụ, du lịch. Ninh Bình đẩy mạnh liên kết phát triển du lịch khu vực đồng bằng sông Hồng, với điểm nhấn là việc đăng cai tổ chức Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững, dự kiến sẽ tổ chức vào tháng 9/2013, tổ chức lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội Thánh Quý Minh Đại Vương (lễ hội đền Trần)… và phối hợp tham gia nhiều hoạt động khác của Năm Du lịch quốc gia 2014. 3.2. Giải pháp phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình 3.2.1. Tăng cường liên kết và phát triển mô hình chuỗi giá trị du lịch Trong thực tế ngành du lịch bao gồm 4 nhóm đối tác chính: các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp, các bên thụ hưởng lợi ích ở các điểm du lịch và khách du lịch. Hiệu quả tổng thể của ngành phụ thuộc vào cách thức phối hợp của các nhóm đối tác này để đạt được mục tiêu và yêu cầu cụ thể của từng nhóm. Trong mọi trường hợp cần có sự nỗ lực liên kết, phối hợp giữa các nhóm đối tác để đạt được hiệu quả cao. Du lịch Việt Nam cần đưa cách tiếp Thang Long University Libraty 98 cận mới về chuỗi giá trị du lịch trở thành hành động cụ thể thông qua sự tăng cường hợp tác giữa Chính phủ và các doanh nghiệp, hỗ trợ lập kế hoạch và ngành. Quyền lợi của người dân tại điểm du lịch cần được quan tâm chú ý và cam kết trong các chính sách phát triển bền vững. Du lịch vẫn được đánh giá là một ngành dịch vụ lớn nhất thế giới chiếm 40% thương mại dịch vụ toàn cầu và sử dụng 1/10 lao động trên toàn thế giới, đặc biệt là tạo việc làm cho vùng sâu, vùng xa và nông thôn. “Du lịch là chìa khóa mang lại thịnh vượng cho cả nước giàu và nước nghèo.” Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường và du lịch có trách nhiệm, du lịch bền vững vẫn sẽ là mục tiêu phát triển của tất cả nước trên thế giới. Ứng phó với biến đổi khí hậu, sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng cũng như những dị thường về thời tiết là sự quan tâm hàng đầu trong phát triển du lịch. Cạnh tranh trong du lịch chủ yếu sẽ dựa trên tính độc đáo và sáng tạo của sản phẩm, dịch vụ, giá trị độc đáo của bản sắc văn hóa và chất lượng môi trường. Việc liên kết phát triển du lịch giữa Ninh Bình và các địa phương sẽ giúp các bên cùng phát huy lợi thế của mình để phát triển du lịch. Các địa phương có thể sử dụng tài nguyên du lịch của nhau để cùng xây dựng sản phẩm du lịch và xúc tiến du lịch. Sự liên kết giữa các tuyến, điểm du lịch sẽ tạo sự đồng bộ trong việc thu hút khách, đồng thời tạo nên những sản phẩm du lịch hấp dẫn. Để làm được điều này, Ninh Bình đang tăng cường sự liên kết phát triển du lịch giữa các địa phương, vùng miền trong cả nước. Theo đó, tăng cường hoạt động xã hội hoá, đổi mới nội dung hình thức, chất lượng công tác quảng bá, xúc tiến du lịch. Trên cơ sở phối hợp với các cơ quan chức năng Trung ương, các doanh nghiệp du lịch v.v. để xây dựng các chương trình quảng bá, xúc tiến phù hợp. Hàng năm, có kế hoạch mời các cơ quan truyền thông, hãng lữ hành lớn đến khảo sát, đánh giá và tuyên truyền về các sản 99 phẩm du lịch Ninh Bình; tổ chức các hoạt động liên kết và tập trung quảng bá tại các trung tâm phân phối khách lớn của Việt Nam như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Ninh Bình cần đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác về phát triển du lịch với các tỉnh nằm trong khu vực Đồng bằng sông Hồng, như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình và Vĩnh Phúc. Theo lãnh đạo Tổng cục Du lịch, đây chính là cơ hội để du lịch Đồng bằng sông Hồng quảng bá hình ảnh, kết nối các tuyến du lịch liên tỉnh, liên vùng. Đồng thời, cũng là dịp để các địa phương tiến hành khảo sát, đánh giá lại toàn bộ tài nguyên du lịch sẵn có, từ đó lựa chọn phần hấp dẫn nhất, độc đáo nhất để quy hoạch thành điểm đến khoa học, bền vững trong mối quan hệ phát triển du lịch chung với vùng Đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là trung tâm du lịch Hà Nội. Việc phối hợp tổ chức các hoạt động du lịch trong Năm du lịch quốc gia 2013 có ý nghĩa quan trọng, thể hiện tính liên kết vùng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội giữa các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Hồng. Bên cạnh việc phát triển liên kết vùng, phát triển mạnh các thị trường khách nội địa, Ninh Bình tăng cường đẩy mạnh sự liên kết phát triển du lịch với các nước trong khu vực, trên thế giới như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… Đặc biệt, coi trọng các liên kết vùng trong phát triển du lịch bao gồm liên kết để hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông; liên kết trong đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp phục vụ du lịch (nhất là các ngoại ngữ Anh, Nga, Nhật) và tăng cường quảng bá rộng rãi các sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng đến du khách trong và ngoài nước. Mở rộng liên kết với các đối tác nước ngoài, tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp tổ chức các hoạt động phát triển thị trường. Trong bối cảnh phát triển du lịch hiện nay, cùng với việc liên kết giữa các vùng, các địa phương trong và ngoài nước, xu thế liên kết đa phương, song phương giữa các doanh nghiệp tham gia hoạt động du lịch là hết sức quan trọng. Sự kết nối giữa các doanh nghiệp thể hiện trên nhiều lĩnh vực, Thang Long University Libraty 100 nhiều góc độ: liên kết giữa các doanh nghiệp lữ hành và kinh doanh cơ sở lưu trú, nhà hàng, cơ sở mua sắm, vui chơi giải trí; liên kết trong xây dựng điểm đến, xây dựng sản phẩm và quảng bá xúc tiến. Các doanh nghiệp du lịch cần đa dạng hoá sản phẩm du lịch và kết nối các tour, tuyến, khu du lịch; tập trung mạnh của khu vực; xây dựng các sản phẩm cũng như các dịch vụ du lịch phù hợp để kết nối với các nguồn khách v.v.. Sự gắn bó chặt chẽ của các doanh nghiệp trong quá trình liên kết sẽ làm tăng thêm sức hấp dẫn và giá trị của thương hiệu, sản phẩm, hiệu quả kinh doanh. Các mối liên kết này sẽ là nhân tố đảm bảo hình thành nên yếu tố chất lượng cao, đảm bảo sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch. Thực tế cho thấy, việc tăng cường sự liên kết phát triển du lịch Ninh Bình với các vùng miền, địa phương trong và ngoài nước là hướng đi cần thiết hiện nay của Ninh Bình nói riêng và Việt Nam nói chung. Việc liên kết phát triển du lịch, ngoài đem lại lợi ích phát triển du lịch cho mỗi địa phương, tư, thu hút khách du lịch đến mỗi địa phương. Đây là yếu tố quan trọng để phát triển du lịch trong cơ chế thị trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch. 3.2.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch Trước tiên, Ninh Bình cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn nhân lực tham gia hoạt động du lịch từ đó có nghiên cứu đánh giá dự báo nguồn nhân lực trong 5 năm tiếp theo. Tiếp đó xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực cho phù hợp với đặc thù tỉnh nhà. Trong quá trình xây dựng chương trình cần đặc biệt chú ý đến việc đào tạo lại lực lao động hiện có. Nguồn kinh phí trong đào tạo nên huy động từ nguồn xã hội hóa. Song song với đó, thực trạng cho thấy nguồn nhân lực chưa qua đào tạo 101 đang chiếm 26% lực lượng lao động tham gia hoạt động du lịch, lực lượng này hầu hết là dân bản địa đang hoạt động tự phát. Do đó, trong năm 2024 cần nghiên cứu xây dựng các chương trình đào tạo, tập huấn thực sự phù hợp và thiết thực sát sườn với người dân bản địa. Thời gian đào tạo, tập huấn nên vào 3 tháng rảnh rỗi trong năm (tháng 3, tháng 6, tháng 9). 3.2.3. Tăng cường quảng bá, marketing về du lịch Ninh Bình Thương hiệu: Cần xây dựng giá trị thương hiệu rất riêng, được áp dụng nhất quán trong toàn bộ công tác tuyền thông do Sở văn hóa, thể thao và du lịch thực hiện, được thiết kế chuyên nghiệp bởi một đơn vị thiết kế đồ họa. Hướng dẫn này không chỉ đề cập đến hình thức của các ấn phẩm mà còn quảng bá các thông điệp quan trọng và các hình ảnh nhận dạng du lịch Ninh Bình. Thư viện ảnh kỹ thuật số: Cần phải có một thư viện ảnh kỹ thuật số có chất lượng cao để truyền tải các giá trị thương hiệu. Thư viện này sẽ được thiết lập trực tuyến trên website thương hiệu du lịch Việt Nam trong tương lai và miễn phí cho người sử dụng. Tối thiểu cần phải có 1000 ảnh có chất lượng cao, miễn phí bản quyền, với chuyên đề xoay quanh sản phẩm và thông điệp chính về các sản phẩm dịch vụ của du lịch Ninh Bình. Thư viện ảnh truyền tải các giá trị thương hiệu: Cần phải có một thư viện ảnh kỹ thuật số có chất lượng cao để truyền tải các giá trị thương hiệu. Thư viện này sẽ được thiết lập trực tuyến trên website thương hiệu du lịch Việt Nam trong tương lại và miễn phí cho người sử dụng. Tối thiểu cần phải có 1000 ảnh có chất lượng cao, miễn phí bản quyền, với chuyên đề xoay quanh sản phẩm và thông điệp chính trong marketing. Chiến lược marketing điện tử: Thực hiện phát triển chiến lược marketing điện tử như thư điện tử mạng xã hội, mạng viễn thông. Chiến lược Thang Long University Libraty 102 này sẽ xem xét cơ sở dữ liệu hiện có của Ninh Bình để phục vụ cho mục đích marketing, các kênh marketing điện tử tại Việt Nam và các thị trường mục tiêu theo chiến lược marketing. Năng lực công nghệ thông tin của Sở văn hóa, thể thao và du lịch Ninh Bình cũng sẽ được xác minh lại và để xuất nhu cầu đào tạo. Các công cụ marketing chính – website thương hiệu: Cần có sự tham gia của các chuyên gia thiết kế trang web tốt nhất hiện có tại Việt Nam trong việc xây dựng một website tiếp thị điểm đến tin cậy và có thương hiệu. Website này phải thân thiện với người sử dụng, được thiết kế chuyên nghiệp, đa ngôn ngữ và được cập nhật liên tục để cạnh tranh với các cổng thông tin điện tử du lịch tốt nhất trên thế giới. Trên website cần có các video được thực hiện bằng những tổ chức chuyên nghiệp để quảng bá bao gồm các vấn đề: sự đa dạng văn hóa và các di sản văn hóa của Việt Nam; trải nghiệm du lịch sinh thái, Bên cạnh đó, khách du lịch có thể đặt tour (hoặc các dịch vụ du lịch) trực tiếp trên website với sự bảo trợ của Sở văn hóa, thể thao và du lịch Ninh Bình. Các chiến dịch marketing có định hướng: Các chiến dịch marketing có định hướng rõ rệt, có quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp du lịch, nhằm mang lại thông tin bổ ích từ các cơ quan chuyên nghiệp, và từ đó sẽ triển khai nghiên cứu thị trường hiện tại. Các thị trường trọng tâm được xác định sẽ dựa trên sự thành công về mặt kinh tế tại điểm đến của thị trường khách quốc tế, mức độ kết nối và phân tích thị trường. 3.3. Một số kiến nghị với các cơ quan nhà nước 3.3.1. Đối với Chính phủ Điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi hệ thống pháp luật, văn bản pháp quy, theo định hướng phát triển du lịch theo hướng tạo thuận lợi cho du khách như bỏ thị thực cho một số thị trường chiến lược, chủ trương lựa chọn Ninh 103 Bình như một điểm hẹn văn hóa tâm linh để thực hiện các hoạt động tôn giáo như Đại lễ Phật Đản, cầu siêu cho các nạn nhân bị tai nạn xem máy, 3.3.2. Đối với Bộ văn hóa thể thao và du lịch. Phát triển du lịch theo hướng bền vững cần có sự tham gia của tất cả hoạch, Để thực hiện được yêu cầu này, một số đề xuất cụ thể sau có thể được xem xét: Hình thành tổ chức tư vấn du lịch ở cấp quốc gia để hỗ trợ ngành du lịch xây dựng, triển khai các chính sách cũng như công tác quản lý phát triển ngành. Hình thành hệ thống tổ chức quản lý điểm đến liên vùng nhằm cụ thể hóa chủ trương tăng cường liên kết, phối hợp trong công tác phát triển sản phẩm du lịch và triển khai các chiến dịch xúc tiến quảng bá du lịch cho một vùng địa lý. Củng cố hoạt động của hiệp hội du lịch và tổ chức nghề nghiệp khác có cao trong kinh doanh, đồng thời đưa cách tiếp cận du lịch có trách nhiệm vào các hoạt động kinh doanh chung. Tổng cục Du lịch cần tích cực thực hiện vai trò là đầu mối phối hợp các nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp và toàn diện. đến phát triển du lịch, ví dụ: tổ chức các diễn đàn, hội thảo, các cuộc tọa đàm 3.3.3. Đối với UBND tỉnh Ninh Bình Cho đến nay Ninh Bình vẫn chưa khai thác hết các tiềm năng và thế Thang Long University Libraty 104 mạnh về tài nguyên du lịch của mình. Sản phẩm du lịch còn thiếu sự đa dạng, bị trùng lặp và chất lượng còn hạn chế. Sản phẩm du lịch cạnh tranh hơn cần được xây dựng dựa trên lợi thế so sánh của các vùng và các nguyên tắc về phát triển du lịch có trách nhiệm. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm du lịch, có thể xem xét đến các đề xuất sau: – Các địa phương cần phối hợp, hợp tác với nhau để lựa chọn phát triển các loại hình du lịch thể hiện đầy đủ nhất giá trị của các nguồn tài nguyên du lịch trong vùng. – Nhấn mạnh sự khác biệt về chất lượng cảu môi trường tự nhiên, nét đặc sắc về văn hóa, lịch sử hình thành nên sản phẩm du lịch Việt Nam, đặc biệt chú trọng tới du lịch nghỉ dưỡng biết, du lịch tìm hiểu văn hóa, lịch sử. – Ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường khách du lịch có khả năng thanh toán cao. – Gấp rút xây dựng và triển khai một chiến lược phát triển thị trường du lịch một cách tổng thể, hướng tới các mục tiêu dài hạn, đi kèm với một chương trình xúc tiến, quảng bá du lịch ấn tượng, hiệu quả. – Nhà nước cần ban hành và giám sát thực hiện các quy định về bảo vệ người tiêu dùng khách du lịch, bảo vệ môi trường du lịch, các tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ du lịch, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. – Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực du lịch trên cả cấp độ quản lý và lao động nghề trong phạm vi cả nước. 105 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 Với tiềm năng và nhiều lợi thế để xây dựng và phát triển ngành du lịch Ninh Bình thành một thành phố du lịch trọng điểm của khu vực phía Bắc. Tuy nhiên với những gì đang và đã diễn ra đối với ngành du lịch Ninh Bình thì vẫn là một thách thức không hề nhỏ. Để tận dụng được cơ hội và các điểm mạnh của mình, ngoài những vấn đề đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như dịch vụ du lịch. Để nâng cao hiệu quả khai thác tiềm năng du lịch thì ngành du lịch Ninh Bình cần có phương án cụ thể xây dựng mô hình chuỗi giá trị du lịch. Có như vậy du lịch Ninh Bình mới thực sự phát triển. Khả năng cạnh tranh cao và thu hút nhiều du khách, mang lại lợi ích kinh tế, xã hội đóng góp lớn hơn nữa vào nền kinh tế của tỉnh. Để đạt mục tiêu trên, bên cạnh việc phát huy nội lực, Ninh Bình sẽ tranh thủ thời cơ hội nhập quốc tế, tăng cường liên kết, hợp tác với các tỉnh thành, đặc biệt với các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong công tác phát triển du lịch, qua đó tạo sự liên kết, bổ sung cho nhau, tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, chất lượng cao, hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế. Ngành du lịch phải có những giải pháp kịp thời như: Phát triển sản phẩm du lịch, đầu tư hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch đi đôi với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; phát triển thị trường xúc tiến quảng bá thương hiệu, gắn liền với đầu tư và chính sách phát triển đồng thời tích cực triển khai thực hiện hợp tác, liên kết về du lịch, hoàn thiện thể chế, cơ Thang Long University Libraty 106 KẾT LUẬN Ninh Bình là vùng đất có nhiều di tích lịch sử, là “địa linh” độc đáo. Toàn tỉnh có 975 di tích, trong đó có 80 di tích đã được xếp hạng quốc gia. Là nơi có nhiều lễ hội truyền thống mang đậm đà bản sắc văn hoá làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Với những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng và những tiềm năng được thiên nhiên ban tặng, Ninh Bình đang khẳng định là điểm đến hấp dẫn, an toàn, thân thiện, mời gọi du khách muôn phương. Trong thời gian qua du lịch Ninh Bình đã đạt được những thành tựu nhất định. Du lịch Ninh Bình đang đứng trước những cơ hội và thách thức, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhận thức được sự phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua chưa thực sự tương ứng với tiềm năng, nên tác giả mạnh dạn nghiên cứu thực trạng du lịch Ninh Bình trong giai đoạn 2012 – 2014 để đề ra phương hướng phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình. Chuỗi giá trị là một mô hình hết sức cần thiết trong bối cảnh kinh tế thị tới. Trong lĩnh vực Du lịch thì chuỗi giá trị sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và tạo tiền đề phát triển ngành du lịch. Để du lịch Ninh Bình thực sự phát triển thì còn nhiều việc phải làm và một trong những việc đó là thực hiện phát triển mô hình chuỗi giá trị vào việc phát triển du lịch. Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ thì khả năng bao quát toàn diện khiếm khuyết. Hi vọng rằng Luận văn này sẽ có đóng góp nhất định vào việc phát triển du lịch tại Ninh Bình. Tác giả rất mong nhận được những góp ý quý báu của các thầy, cô 107 giáo, các nhà khoa học và những người quan tâm đến đề tài này. Hi vọng rằng tác giả sẽ tiếp tục nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện có hiệu quả để có cơ hội tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này./. Thang Long University Libraty 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1) Ngọc Bảo (2006), “ Khu Tam Cốc- Bích Động: Thành công nhờ mô hình mới”, Tạp chí du lịch Việt Nam 2) Ban nghiên cứu hành động chính sách (2007), Sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị hiệu quả hơn cho người nghèo, Trung tâm thông tin ADB, Hà Nội 3) Cục thống kê Ninh Bình (2013), Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2014. 4) Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit (2007), Value Links Mannual 5) Nguyễn Văn Đính – Trần Thị Minh Hòa (2008), Giáo trình Kinh tế du lịch, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 6) Trịnh Quang Hào (2008), Nghiên cứu quy định tạm thời quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, Đề tài khoa học, Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch Ninh Bình 7) Nguyễn Thị Nguyên Hồng (2004), Giải pháp cơ bản khai thác tiềm năng du lịch của Thủ đô và phụ cận nhằm phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2010, Luận án tiến sỹ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 8) Kaplinsky R. và Morris M. (2001), Value Chain 9) Trần Thị Thúy Lan, Nguyễn Đình Quang (2006), Giáo trình Tổng quan về du lịch, Nxb. Hà Nội 10) Rober thanguar (1993), Kinh tế du lịch, Nxb. Thế giới, Hà Nội. 11) Sở Du lịch Ninh Bình (2006), “Báo cáo tóm tắt dự án bổ sung quy hoạch khu du lịch Tam Cốc- Bích Động đến năm 2010 và định hướng đến năm 2024. 12) Tỉnh ủy Ninh Bình (2009), Nghị quyết của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh 109 về phát triển du lịch đến năm 2024, định hướng đến năm 2030. 13) Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình (2005), Kế hoạch thực hiện nghị quyết số 15- NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2024, định hướng đến năm 2030. 14) Phạm Thị Hoàn Nguyên (2011), Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ đại dương tại Tỉnh Khánh Hòa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Nha Trang) 15) Lê Thị Vân (2006), Giáo trình văn hóa Du lịch,Nxb.Hà Nội 16) Website của du lịch Ninh Bình (www.ninhbinhtourism) – CPCC,1999. Báo cáo Cúc Phương: Bản tin dự án bảo tồn Cúc Phương, tập 2,(5). 17) Website của du lịch Việt Nam (www.dulichvietnam.com.vn). 18) Trang web: www. Thang Long University Libraty

Các file đính kèm theo tài liệu này:

94_4349_4227.pdf

Luận Văn Đề Tài Đánh Giá Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Tỉnh Ninh Bình

Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế – xã hội phổ biến không chỉ ở các nƣớc phát triển mà ở cả các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam. Việc đầu tiên khi tập trung phát triển du lịch là phải nhận diện tiềm năng du lịch. Du lịch là ngành có định hƣớng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả của hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. Do vậy việc tìm hiểu đánh giá tài nguyên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển du lịch. Ninh Bình là một tỉnh cực nam của đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí địa lý và hệ thống đƣờng sắt, đƣờng bộ, đƣờng thủy rất thuận tiện cho giao lƣu phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội. Đặc biệt Ninh Bình nằm ở vùng cửa ngõ miền Bắc Việt Nam cách thủ đô Hà Nội 93km là một trong những trung tâm du lịch lớn nhất cả nƣớc. Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của nƣớc Việt thế kỉ X mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc 3 triều đại Đinh, Lê, Lý với những dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống – dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô ở Hà Nội. Với lịch sử hàng ngàn năm dựng nƣớc đã tạo nên Ninh Bình thành một vùng đất thiêng, nơi phát tích của nhiều danh nhân, anh hùng dân tộc nhƣ: anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh, Trƣơng Hán Siêu Đây cũng là miền đất cội nguồn, là kho tàng của văn hóa dân gian đặc sắc của miền đồng bằng Bắc Bộ, với những làn điệu hát chèo, hát chầu văn cùng với những di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng nhƣ: Cố đô Hoa Lƣ, chùa Bái Đính, nhà thờ đá Phát Diệm. Với nguồn tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn đặc sắc đó đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch tỉnh thành một ngành kinh tế quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Phát Triển Chuỗi Giá Trị Du Lịch Nông Nghiệp Tại Tỉnh Kiên Giang Trong Bối Cảnh Mới

KIÊN GIANG: Triển vọng nghề nuôi cá lồng bè trên biển ở xã đảo Thổ Châu (TP.Phú Quốc)

 * 

Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang tổ chức Hội nghị trực tuyến kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành 6 tháng đầu năm 2024

 * 

Nghề nuôi cá lồng bè ở xã đảo Hòn Nghệ, Sơn Hải bị ảnh hưởng và gặp nhiều khó khăn vì dịch bệnh Covid-19

 * 

Nông dân Kiên Lương chủ động bảo vệ tốt lúa Hè Thu trong điều kiện nhiều mưa bão

 * 

Thăm và tặng quà chốt kiểm dịch phòng, chống Covid-19

 * 

HIỆU QUẢ TỪ NGUỒN VỐN VAY QUỸ HỖ TRỢ NÔNG DÂN

 * 

Kiên Lương, Đẩy mạnh phát triển tiềm năng du lịch

 * 

HỘI NÔNG DÂN TỈNH: BÀN GIAO NHÀ “ MÁI ẤM NÔNG DÂN”

 * 

20 TẤN KHOAI LANG ĐÃ ĐƯỢC GIẢI CỨU

 * 

Luận Văn: Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Tỉnh Kon Tum, Hay

Published on

Download luận văn tóm tắt ngành quản lí kinh tế với đề tài: Phát triển du lịch cộng đồng huyện KonPlông, tỉnh Kon Tum, cho các bạn làm luận văn tham khảo

1. N ĐẠI HỌC ĐÀNẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LÊ THÀNH DIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG HUYỆN KONPLÔNG, TỈNH KON TUM Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế Mã số: 60.34.04.10 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ Đà Nẵng – Năm 2024

2. Công trình được hoàn thành tại TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐOÀN GIA DŨNG Phản biện 1: GS. TS. Trương Bá Thanh Phản biện 2: PGS. TS. Phan Văn Hòa Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản lý kinh tế họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 8 tháng 9 năm 2024. Có thể tìm hiểu luận văn tại: – Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng – Thư viện Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng.

3. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, ngành du lịch của huyện KonPlông đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế – xã hội, và đang khẳng định vị trí vai trò của mình vào thu nhập GDP của huyện. Bên cạnh đó, hiện nay du lịch là loại hình dịch vụ, ngành công nghiệp không khói, đang được địa phương quan tâm, đầu tư xây dựng và phát triển nhiều loại hình du lịch, việc lựa chọn phương hướng phát triển du lịch phù hợp với tiềm năng về tài nguyên du lịch phong phú, tạo ra các sản phẩm du lịch có khả năng cạnh tranh để có thể thu hút khách du lịch là hết sức cần thiết và cấp bách. Trong đó, loại hình du lịch cộng đồng – một loại hình du lịch hấp dẫn du khách, thị trường du lịch mới lạ, những sản phẩm văn hoá, du lịch còn nguyên sơ, đó là một thế mạnh của ngành du lịch Kon Tum nói chung và du lịch KonPlông nói riêng có khả năng tạo ra loại hình du lịch cộng đồng thu hút khách du lịch trong nước và nước ngoài. Du lịch cộng đồng được du khách nước ngoài rất quan tâm vì họ thích đi du lịch tới những bản, làng xa xôi, nơi có đồng bào các dân tộc sinh sống, cảnh quan ở đây còn hoang sơ, những phong tục tập quán, văn hóa truyền thống, các làng nghề thủ công của đồng bào còn được lưu truyền, chưa mai một trong cuộc sống hiện đại. KonPlông là một huyện phía Đông của tỉnh Kon Tum, với khu du lịch sinh thái Măng Đen được ví như “Đà Lạt thứ 2 của Việt Nam”, nơi đây có nhiều hồ như: hồ Toong Đăm, toong zơri, Toong pô…, nhiều thác như thác Pa Sĩ, ĐăkKe, thác Lôba. Khí hậu mát mẻ quanh năm, có nhiệt độ bình quân 21-24o C. Huyện KonPlông cũng là khu vực có tiềm năng đặc sắc về mặt thiên nhiên và văn hoá, những bản làng mang đậm nét hoang sơ… Bên cạnh, việc đầu tư phát triển khu du

4. 2 lịch sinh thái Măng Đen trở thành khu du lịch sinh thái Quốc gia, thì việc phát triển du lịch cộng động là rất cần thiết góp phần đa dạng các sản phẩm du lịch và tạo động lực phát triển nền kinh tế – xã hội của huyện. Mặc khác, du lịch cộng đồng hiện nay đang là xu thế phát triển của ngành du lịch trên thế giới. Do vậy, việc nghiên cứu một cách khoa học và có hệ thống để đánh giá tiềm năng du lịch cộng đồng và tìm ra những giải pháp phát triển du lịch cộng đồng huyện KonPlông nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch huyện, đồng thời góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế – xã hội của huyện là yêu cầu và nhiệm vụ cấp thiết. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Phát triển du lịch cộng đồng huyện KonPlông, tỉnh Kon Tum” để nghiên cứu là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở lý luận chung về du lịch, du lịch cộng đồng, Đề tài nghiên cứu các hoạt động phát triển du lịch tại huyện KonPlông, trên thực tế đó sẽ đề ra các giải pháp phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn huyện, nhằm nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương, góp phần phát triển du lịch bền vững. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện những mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho đề tài bao gồm: – Xác lập cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng ở khu vực nghiên cứu. – Nghiên cứu tổng quan các đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội. Nghiên cứu các điều kiện, thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại khu vực nghiên cứu. Đánh giá hoạt động phát triển du lịch cộng đồng theo các nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng.

5. 3 – Đề xuất giải pháp phát triển du lịch cộng đồng. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu: Các tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng tại huyện KonPlông. – Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Toàn bộ các hoạt động về du lịch và các điều kiện, tiềm năng phát triển loại hình du lịch cộng đồng trên địa bàn huyện KonPlông. + Về thời gian: Đánh giá thực trạng phát triển ngành du lịch KonPlông trong thời gian qua, trong đó có sử dụng tình hình và số liệu của giai đoạn trước để phân tích, so sánh. Đánh giá những tiềm năng và định hướng phát triển du lịch cộng đồng huyện KonPlông giai đoạn 2024 – 2024, tầm nhìn 2025. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn huyện. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như sau: – Phương pháp nghiên cứu dựa trên việc sưu tầm và nghiên cứu tài liệu – Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, tài liệu – Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế; – Phương pháp điều tra xã hội học; – Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia – Phương pháp thống kê, so sánh, tính toán kinh tế 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài – Hệ thống một số lý luận cơ bản về mối quan hệ của cộng đồng trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng. – Đánh giá thực trạng phát triển du lịch huyện KonPlông, định hướng và xây dựng phát triển du lịch cộng đồng. Phân tích các điều kiện cần thiết và tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng tại huyện

6. 4 KonPlông. Trên cơ sở đó, quảng bá, kêu gọi đầu tư quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng gắn với du lịch sinh thái Măng Đen và các loại hình du lịch khác, từ đó đề ra các giải pháp phát triển du lịch cộng động huyện KonPlông trong thời gian đến. 6. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch cộng đồng Chƣơng 2: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng huyện KonPlông, tỉnh Kon Tum Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển du lịch cộng đồng huyện KonPlông, tỉnh Kon Tum 7. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.1.1. Khái niệm về du lịch cộng đồng Qua nghiên cứu các khái niệm, có thể hiểu: “Du lịch cộng đồng là hoạt động du lịch bền vững dựa vào cộng đồng địa phương mang lại cho du khách những trải nghiệm về văn hóa của cộng đồng, cộng đồng sẽ trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch như khai thác, quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên và cộng đồng phải được hưởng lợi từ hoạt động du lịch để từ đó giảm tỉ lệ nghèo đói, cải thiện thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống”. 1.1.2. Nội dung, đặc điểm của du lịch cộng đồng a. Nội dung của du lịch cộng đồng – Đảm bảo sự bền vững về văn hóa và thiên nhiên.

7. 5 – Có sự sở hữu cộng đồng. – Tạo thu nhập cho cộng đồng. – Nâng cao nhận thức cho cộng đồng. – Tăng cường quyền lực cho cộng đồng. – Tăng cường sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ và cơ quan quản lý nhà nước. b. Đặc điểm của du lịch cộng đồng – Hoạt động du lịch có sự tham gia tích cực của người dân địa phương từ các khâu quản lý, làm việc, ra quyết định và bảo vệ. – Hoạt động du lịch phải thu hút cộng đồng địa phương và đem lại lợi ích cho họ, tạo cơ hội việc làm và cải thiện điều kiện sống của họ. – Du lịch gắn liền với phát triển bền vững, các loại hình du lịch sinh thái, du lịch khám phá văn hóa của cộng đồng địa phương, du lịch mạo hiểm, du lịch thểthao… 1.1.3. Mục tiêu và nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng a. Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng – Góp phần bảo vệ tài nguyên (tự nhiên và nhân văn) và môi trường. – Đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu du lịch và những lợi ích kinh tế khác cho cộng đồng địa phương. – Khuyến khích và hỗ trợ sự tham gia của cộng đồng. – Mang đến cho du khách một sản phẩm du lịch có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội. b. Nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng – Có sự đồng thuận của cộng đồng địa phương và các bên tham gia. – Có sự đa dạng về vai trò tham gia của cộng đồng.

8. 6 – Tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng – Phù hợp với khả năng của cộng đồng. – Chia sẻ lợi ích từ du lịch cộng đồng. – Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa hướng tới sự phát triển bền vững. 1.1.4. Điều kiện hình thành và phát triển du lịch cộng đồng a. Tài nguyên du lịch b. Cộng đồng dân cư c. Khả năng tiếp cận điểm đến du lịch cộng đồng Cũng như việc phát triển các loại hình du lịch khác, hoạt động phát triển du lịch cộng đồng không thể thực hiện nếu không có hạ tầng tiếp cận điểm đến. Đây là đặc điểm rất đặc trưng của du lịch khi sản phẩm du lịch được xây dựng và tiêu thụ tại chỗ. Điều này khác với hoạt động sản xuất kinh doanh khác khi sản phẩm thương mại có thể được sản xuất ở một nơi rồi vận chuyển đến thị trường tiêu thụ ở nơi khác. d. Khả năng cung ứng các dịch vụ du lịch Các yếu tố về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật (cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí…) là những yếu tố quan trọng đối với phát triển du lịch. e. Khách du lịch f. Chính sách phát triển du lịch g. Công tác xúc tiến, quảng bá 1.1.5. Ý nghĩa phát triển du lịch cộng đồng – Đối với công tác bảo tồn: du lịch cộng đồng phát triển sẽ gia tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương đặc biệt là ở vùng nông thôn nơi tỷ lệ đói nghèo còn cao. – Đối với cộng đồng: Du lịch phát triển góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng, làm thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ lao

9. 7 động từ đó hạn chế tình trạng di cư của cộng đồng từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị, góp phần ổn định xã hội. Phát triển du lịch giúp cộng đồng địa phương được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng xã hội. Đây cũng sẽ là yếu tố tích cực để đảm bảo sự công bằng trong phát triển du lịch, một trong những nội dung quan trọng của phát triển du lịch bền vững. Mang lại lợi ích cho các thành viên cộng đồng tham gia trực tiếp cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch, đồng thời các thành viên khác cũng được hưởng lợi từ sự đóng góp của du lịch. Tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu văn hóa và giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới. – Đối với du lịch: phát triển du lịch cộng đồng có ý nghĩa tạo ra sự đa dạng sản phẩm dịch vụ du lịch của các địa phương, các quốc gia. Góp phần thu hút khách du lịch. Góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên du lịch nói riêng. 1.1.6. Một số hình thức tham gia phổ biến của cộng đồng trong du lịch – Cho khách thuê trọ và ở chung trong nhà người dân. Tham gia các hoạt động như: hướng dẫn một số phương thức làm đồng, leo núi,… – Xây dựng các nhà nghỉ bình dân dưới sự điều hành chung của cộng đồng hoặc có đóng góp cho cộng đồng. – Người dân làm việc trong ngành du lịch như: hướng dẫn viên, lễ tân, nấu ăn phục vụ khách du lịch… – Sản xuất và bán hàng lưu niệm để bán trực tiếp cho khách du lịch. – Sản xuất và cung ứng một số sản phẩm như rau quả, thực phẩm cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch. –

10. 8 1.2. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.2.1. Du lịch cộng đồng tại làng Yubeng, Vân Nam, Trung Quốc 1.2.2. Du lịch cộng đồng tại Bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình, Việt Nam KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG HUYỆN KONPLONG, TỈNH KON TUM 2.1. KHÁI QUÁT HUYỆN KONPLÔNG 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên a. Vị trí địa lý b. Đặc điểm địa hình c. Đặc điểm khí hậu, thủy văn 2.1.2. Đặc điểm kinh tế – xã hội a. Dân cư và lao động b. Hạ tầng kỹ thuật 2.2. CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG HUYỆN KONPLÔNG, TỈNH KON TUM 2.2.1. Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch của huyện KonPlông tương đối phong phú, đa dạng cả về tự nhiên lẫn nhân văn. Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 298/QĐ-TTg, ngày 05/02/2013 về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen và Quy hoạch chung đô thị Kon Plông, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đến năm 2030. Theo Quy hoạch, nơi đây vừa là vùng bảo tồn sinh thái, rừng quốc gia,

11. 9 vừa là vùng du lịch nằm trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2030. Đây cũng là vùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ phát triển sinh thái và là vùng trọng điểm phát triển kinh tế phía Đông của tỉnh Kon Tum đây là lợi thế quan trọng, tạo tiền đề phát triển du lịch trong đó có du lịch cộng đồng, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành du lịch huyện KonPlông trong thời gian tới. 2.2.2. Cộng đồng dân cƣ Thái độ ứng xử của cộng đồng: Thái độ ứng xử là một trong những yếu tố quan trọng cho phát triển du lịch. Sự thân thiện của cộng đồng địa phương sẽ thu hút khách đến KonPlông, ngược lại sẽ hạn chế lượng khách đến tham quan. Bảng 2.3. Đánh giá của khách du lịch về thái độ của CĐĐP ở huyện KonPlông Thái độ của CĐĐP Khách nội địa Khách quốc tế Số ngƣời % Số ngƣời % Rất thân thiện 20 40 35 50 Thân thiện 10 20 20 28,6 Bình thường 18 36 12 17,1 Không thân thiện 2 4 3 4,3 Tổng 50 100 70 100 (Nguồn: Điều tra khách du lịch tại huyện KonPlông tháng 4/2024) Khả năng tham gia của cộng đồng Kết quả điều tra ở huyện KonPlông cho thấy, trong các hoạt động phục vụ du lịch mà người dân địa phương có thể tham gia thì nhiều nhất là vận chuyển chở khách tham quan chiếm 94%, chăn nuôi và trồng cây ăn quả (84%), cung cấp dịch vụ homestay (76%). Những hoạt động mà người dân muốn tham gia cũng chính là những hoạt động người dân có thể làm tốt. Vận chuyển chở khách tham quan có thể nói là hoạt động chính mà người dân ở đây có thể

12. 10 tham gia, nhiều tuyến du lịch trong huyện cần di chuyển bằng xe máy, nên yêu cầu một lượng nhất định người tham gia vận chuyển chở khách tham quan. 2.2.3. Khả năng tiếp cận điểm đến Giao thông từ các nơi đến huyện KonPlông tương đối thuận lợi. Đường du lịch từ QL 24 vào thác Pa Sỷ đã hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng; đầu tư, tôn tạo và phát triển làng văn hóa du lịch Kon Tu Rằng đã hoàn thành. Đang tích cực huy động các nguồn vốn, kêu gọi thu hút đầu tư vào công trình vào các khu, điểm du lịch, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trung tâm thương mại, hệ thống điện phục vụ du lịch; dự án thủy điện Thượng Kon Tum, dự án thủy điện Đăk Đrinh. Đầu tư các công trình phúc lợi xã hội gắn với phát triển du lịch như Đài tưởng niệm di tích lịch sử chiến thắng Măng Đen, Nghĩa trang liệt sỹ tại khu vực trung tâm huyện. 2.2.4. Khả năng cung ứng các dịch vụ du lịch a. Cơ sở hạ tầng Đến năm 2024, toàn huyện có 91,66% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia. Hệ thống cấp nước sạch: Nhìn chung cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Nước sinh hoạt đảm bảo vệ sinh an toàn, được xử lý trước khi đưa vào sử dụng. Y tế: Tình hình y tế ở huyện nhìn chung tương đối tốt và có xu hướng phát triển đảm bảo phục vụ tốt cho người dân địa phương cũng như khách du lịch. b. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch – Cơ sở lưu trú du dịch: Tính đến cuối năm 2024 các cơ sở lưu trú phục vụ du lịch đã hình thành và đảm bảo đáp ứng nhu cầu du khách đến KonPlông.

13. 11 – Cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí: Các khu vui chơi giải trí và tham quan trên địa bàn khu du lịch Măng Đen đã nhiều điểm đưa vào sử dụng: Thác Pasỉ, thác và hồ ĐăkKe, vườn thú bản địa, vườn hoa thanh niên, KonBRing… Các dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ bổ sung trong khu du lịch còn khá đơn điệu, chưa phát triển chủ yếu là các dịch vụ cà phê, karaoke… Sự gia tăng nhanh về số lượng, chất lượng và quy mô các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống đã đáp ứng được nhu cầu ăn uống, thưởng thức ẩm thực, đặc sản địa phương nổi tiếng mang hương vị đặc sản của núi rừng KonPlông. 2.2.5. Chính sách phát triển du lịch Các cơ chế, chính sách pháp luật về phát triển du lịch luôn được quan tâm đổi mới hoàn thiện để tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý, phát triển du lịch, xúc tiến đầu tư và quảng bá hình ảnh du lịch Kon Tum nói chung cũng như du lịch KonPlông nói riêng. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về “phát triển du lịch trong tình hình mới” và “phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”. Ngày 27/7/2011, Ban thường vụ Tỉnh ủy Kon Tum đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về xây dựng phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và các sản phẩm chủ lực; UBND tỉnh ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND, ngày 10/4/2013 về phê duyệt phát triển văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Kon Tum đến năm 2024, định hướng đến năm 2025 đã nêu rõ nhiệm vụ, công việc cụ thể hàng năm của các cơ quan đơn vị trong tỉnh từ việc xây dựng các quy hoạch du lịch đến đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và sản phẩm du lịch, từ việc tăng cường quản lý nhà nước về du lịch đến phát triển thị trường, đẩy mạnh quảng bá và xúc tiến du lịch, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch.

14. 12 2.2.6. Công tác xúc tiến, quảng bá Trong những năm qua các cơ quan ban ngành, các cấp ở địa phương đã tiến hành nhiều hoạt động xúc tiến, quảng bá KDL sinh thái Măng Đen đến du khách trong và ngoài nước. Các hình thức quảng bá du lịch chính là tham dự các hội nghị, hội thảo về xúc tiến đầu tư và du lịch tại các địa phương trong cả nước, quảng bá qua các ấn phẩm, tờ rơi, đĩa VCD; mời các hãng lữ hành ở các địa phương lớn đến KonPlông khảo sát xây dựng các chương trình du lịch … Trong đó Internet là hình thức mang lại hiệu quả tốt hơn. 2.3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN KONPLÔNG 2.3.1. Các tuyến, điểm du lịch chính Theo quy hoạch đã được phê duyệt, trên địa bàn huyện KonPlông có 4 tuyến du lịch chính là: – Tuyến du lịch KonPlông – Đăk Tăng – Măng Bút (theo TL676 và TL680B) – Tuyến du lịch KonPlông – Đăk Ring – Đăk Nên (theo TL676) – Tuyến du lịch KonPlông – Ngọc Tem (theo đường Đông Trường Sơn) – Tuyến du lịch KonPlông – Hiếu – Pờ Ê (theo tuyến quốc lộ 24). Như vậy, quy hoạch chi tiết khu du lịch sinh thái KonPlông đã định hướng các tuyến điểm du lịch tương đối rõ ràng nhưng trên thực tế các tuyến du lịch chưa được khai thác hiệu quả, thậm chí các điểm du lịch trong các tuyến cũng chưa được liên kết chặt chẽ với nhau, hạ tầng du lịch tại Kon Plông chỉ phát triển tại khu vực trung tâm thuộc vùng du lịch sinh thái Măng Đen. Ngoài ra, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng của một số điểm trong các tuyến du lịch còn nhiều hạn chế, sơ sài chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách.

16. 14 dạng, có nhiều điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển du lịch cộng đồng. Các chủ trương của Đảng, Nhà nước, của cơ quan chính quyền địa phương phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là một trong những mục tiêu hàng đầu. Khi phỏng vấn trực tiếp giám đốc các doanh nghiệp tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn địa phương, tất cả các doanh nghiệp đều nhất trí với chủ trương phát triển du lịch bền vững tại KDL sinh thái Măng Đen. Như vậy, có thể thấy nguyên tắc này tại KonPlông đã thực hiện tương đối tốt. Trong thời gian tới, cần phát huy để đảm bảo tốt hơn nữa. 2.4.2. Đa dạng về vai trò tham gia của cộng đồng Vai trò của cộng đồng địa phương trong hoạt động du lịch ở đây chưa thực sự đa dạng. Người dân ở đây mới chỉ tham gia vào thực hiện một số hoạt động du lịch, việc tổ chức và giám sát hoạt động du lịch hầu như người dân chưa được tham gia. Để thực hiện nguyên tắc này cần đa dạng vai trò của cộng đồng địa phương bằng cách tạo điều kiện cho người dân tham gia vào việc lên kế hoạch, triển khai và kiểm soát các hoạt động du lịch tại cộng đồng. Có thể thành lập Ban quản lý du lịch cộng đồng mà cộng đồng địa phương là một thành viên để tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động du lịch, đa dạng vai trò tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch để đảm bảo nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng. 2.4.3. Tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng Các sở, ban, ngành địa phương thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, nâng cao nhận thức về du lịch cho cộng đồng địa phương. Riêng năm 2024, đã có 2 lớp tập huấn nâng cao nhận thức về du lịch cho 140 người dân tại huyện tham gia. Vì thế ý thức tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng địa phương đã được coi trọng. Nhờ cung cấp cho du khách các hoạt động trải nghiệm về làm nghề nông, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ người dân địa phương

17. 15 cũng đã thấy được rằng các giá trị văn hóa của cộng đồng được lưu giữ và tôn trọng. Đây là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch cộng đồng. 2.4.4. Khả năng của cộng đồng Theo nguyên tắc này cộng đồng cần có khả năng nhận thức về vai trò, vị trí của mình trong việc sử dụng tài nguyên, nhận thức được tiềm năng to lớn của du lịch cho sự phát triển của cộng đồng cũng như biết được các bất lợi từ hoạt động du lịch và khách du lịch đối với tài nguyên cộng đồng. 2.4.5. Chia sẻ lợi ích từ du lịch cộng đồng Theo nguyên tắc này, cộng đồng địa phương phải được hưởng lợi như các thành phần khác khi tham gia hoạt động kinh doanh các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch. Lợi ích kinh tế sẽ được phân chia công bằng cho tất cả các thành viên tham gia và một phần tái đầu tư cho cộng đồng về cơ sở hạ tầng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục. 2.4.6. Quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng với việc bảo vệ tài nguyên du lịch Việc thực hiện nguyên tắc này ở địa phương còn chưa hiệu quả, hầu hết việc quản lý và bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa là do các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương đảm nhận. Việc giao quyền sở hữu cho cộng đồng địa phương là chưa có. Thời gian tới cần xây dựng và đưa mô hình quản lý du lịch cộng đồng vào hoạt động để xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng với việc bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn tại địa phương. 2.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỘNG ĐỒNG HUYỆN KONPLÔNG 2.5.1. Điểm mạnh Huyện KonPlông có vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ phía đông bắc của tỉnh Kon Tum, nằm trên trục hành lang kinh tế đồng tây qua cửa

19. 17 phương nhưng người dân nơi đây còn chưa nhận được nhiều lợi ích từ phát triển du lịch. Nhận thức về du lịch cộng đồng còn chưa đầy đủ, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển du lịch nên vẫn còn tình trạng chưa gắn bó, bảo vệ tài nguyên du lịch tại địa phương. Hoạt động hỗ trợ bảo tồn đã được quan tâm nhưng mới chỉ ở phía ngành Nông nghiệp thực hiện, phía ngành du lịch mới chỉ dừng ở việc tuyên truyền cho khách du lịch và cộng đồng địa phương mà chưa có đóng góp lớn từ lợi nhuận cho hoạt động bảo tồn. Công tác xúc tiến, quảng bá đã được quan tâm thực hiện nhưng chưa đạt hiệu quả cao. 2.5.3. Cơ hội Huyện KonPlông với những tiềm năng về đa dạng sinh học, tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc với vị trí địa lý, giao thông thuận lợi từ các tỉnh thành trong khu vực và cả nước, nguồn lao động dồi dào… hoàn toàn có thể là điểm du lịch cộng đồng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Huyện KonPlông với đặc điểm khí hậu, điều kiện tự nhiên, thiên nhiên ban tặng kết hợp với sự tăng trưởng mạnh của dòng khách quốc tế vào Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch KonPlông phát triển. Ngoài ra du lịch, dịch vụ du lịch được định hướng là ngành kinh tế mũi nhọn cho phát triển kinh tế của huyện; trong thời gian qua kết cấu hạ tầng trong đó có hạ tầng du lịch được quan tâm đầu tư phát triển; và đang kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước rất quan tâm đến khu du lịch sinh thái Măng đen. Bên cạnh đó, huyện không ngừng ban hành một số cơ chế, chính sách thông thoáng ưu đãi trong công tác đầu tư tạo môi trường thuận lợi, hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài khu vực.

20. 18 Xu thế phát triển, liên kết vùng để phát huy thế mạnh từng địa phương với các trung tâm du lịch khác rất quan tâm đầu tư; nhất là thành phố Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Năng và Bình Định. 2.5.4. Thách thức Do có nhiều điểm du lịch trong và ngoài nước thành công với loại hình du lịch cộng đồng và tạo được dấu ấn riêng biệt, độc dáo nên du lịch cộng đồng ở KonPlông sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức trong việc tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, khác lạ để thu hút sự quan tâm chú ý của du khách. Du lịch cộng đồng đã phát triển nhưng chưa có một mô hình cụ thể để quản lý hoạt động du lịch. Hoạt động du lịch phát triển đã có những tác động tích cực đến tình hình phát triển kinh tế-xã hội, đời sống của nhân dân như tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, đóng góp vào ngân sách nhà nước, góp phần bảo tồn và gìn giữ các giá trị văn hóa, giá trị đa dạng sinh học khu bảo tồn. Diện tích rừng nguyên sinh đang bị khai thác. Đây là nguy cơ ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học và động vật bị hủy diệt, trong đó có nhiều loài thú quý hiếm; Môi trường sinh thái bị giảm sút mạnh, gây ra tình trạng lũ lụt, hạn hán, lũ quét, sạt lở và thay đổi khí hậu tại huyện KonPlông. Việc tổ chức quản lý du lịch còn bị buông lỏng, việc quản lý chủ yếu do xã thực hiện. Tình hình đó không phù hợp với phát triển du lịch, không thuận lợi cho công tác bảo tồn và khai thác cảnh quan để làm du lịch, cũng như không thực hiện được sự chia sẻ lợi ích từ bảo tồn và du lịch trong huyện. Phát triển du lịch không đồng đều giữa các xã trong huyện cũng là một thách thức không nhỏ cho các nhà quản lý trong vấn đề tạo công ăn việc làm và đảm bảo sự hưởng lợi từ hoạt

21. 19 động du lịch giữa các địa phương. Tình hình ô nhiễm do rác thải của khách du lịch cũng là vấn đề cần được giải quyết. KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 CHƢƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG HUYỆN KONPLÔNG 3.1. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 3.1.1. Giải pháp về quản lý a. Tổ chức mô hình quản lý Hình 3.1. Mô hình Ban quản lý DLCĐ ở xã Đăk Long b. Xây dựng các mô hình điểm du lịch cộng đồng Ngoài các mô hình trên còn kết hợp các hoạt động tham quan tại các điểm du lịch về sinh thái tự nhiên, di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội và tâm linh. Các mô hình đề xuất sẽ giúp đa đạng hóa các hình thức tham gia của cộng đồng vào du lịch và cung cấp thực phẩm cho du khách. 3.1.2. Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật Hoạt động du lịch luôn gắn liền với hệ thống kết cấu hạ tầng, Nhóm đón tiếp và hướng dẫn khách Nhóm ẩm thực Nhóm sản xuất hàng thủ công và đặc sản Nhóm các hộ phục vụ homestay và cho thuê xe đạp/xe trâu/xe bò Ban quản lý du lịch cộng đồng

24. 22 ngoài nước để mở rộng hoạt động du lịch; Liên kết hợp tác giữa cộng đồng địa phương với các doanh nghiệp du lịch trong tỉnh và ngoài tỉnh. Liên kết, hợp tác giữa chính quyền địa phương với các cơ quan quản lý về du lịch. Nghiên cứu, xây dựng các chính sách tạo môi trường pháp lý, thu hút, ưu đãi đầu tư vào hoạt động du lịch. Thực hiện chương trình liên kết phát triển du lịch khu vực miền Trung – Tây Nguyên, liên kết với các địa phương để hình thành những tuor du lịch. Xây dựng và thực hiện chương trình liên kết với các hãng du lịch lữ hành quốc tế, từng bước hình thành các tour du lịch quốc tế Thái Lan – Lào – Campuchia theo đường bộ qua cửa khẩu Bờ Y (Kon Tum) đến Đà Lạt. 3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 3.2.1. Đối với cơ quan trung ƣơng 3.2.2. Đối với chính quyền và cơ quan quản lý địa phƣơng 3.2.3. Đối với cộng đồng dân cƣ tham gia hoạt động du lịch 3.2.4. Đối với khách du lịch 3.2.5. Đối với các đơn vị khai thác và kinh doanh du lịch KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 KẾT LUẬN 1. Du lịch cộng đồng là hoạt động du lịch trong đó cộng đồng địa phương tham gia một cách chủ động, tích cực từ khâu tổ chức, quản lý, giám sát và phần lớn lợi ích thuộc về cộng đồng… Tuy nhiên, để du lịch cộng đồng có thể hình thành và phát triển, cần đảm bảo một số điều kiện như: thái độ, khả năng ứng xử của cộng đồng phải thân thiện, dễ gần; vị trí, khả năng tiếp cận điểm đến thuận lợi; khả năng cung ứng các dịch vụ đồng bộ và đặc biệt phải có tài nguyên du lịch phong phú đa dạng, hấp dẫn.

25. 23 2. Để có cơ sở xác lập các giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại KonPlông, luận văn đã tiến hành phân tích các điều kiện phát triển du lịch cộng đồng như: điều kiện về tài nguyên du lịch; yếu tố cộng đồng dân cư (thái độ, khả năng của cộng đồng); khả năng tiếp cận; khả năng cung ứng các dịch vụ du lịch; chính sách phát triển du lịch; công tác xúc tiến, quảng bá. KonPlông là một huyện hội tụ đầy đủ các yếu tố, điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch cộng đồng. Bên cạnh khu du lịch sinh thái Măng Đen được ví ”Đạt lạt thứ hai của Việt Nam”, các loại hình du lịch nghĩ dưỡng, du lịch khám phá, nghiên cứu…thì việc phát triển du lịch cộng đồng tạo điều kiện cho du khách có nhiều cơ hội tham quan du lịch, khám phá phong cảnh, những văn hóa, phong tục tập quán của con người ở vùng đất này, đồng thời cũng tạo nên sự đa dạng về sản phẩm du lịch góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện… Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch cộng đồng tại KonPlông. Khả năng tiếp cận KonPlông tương đối thuận lợi, các tuyến đường kết nối dễ dàng tới các khu, điểm du lịch khác trong và ngoài tỉnh, khách quốc tế đến KonPlông ngày càng có xu hướng tăng và muốn trải nghiệm cuộc sống của người dân nơi đây và sử dụng các dịch vụ do cộng đồng cung cấp. Mặt khác, người dân địa phương có thái độ thân thiện, dễ gần với khách du lịch. Đây là lợi thế để phát triển du lịch cộng đồng. Khả năng cung ứng các dịch vụ du lịch của KonPlông như ăn, nghỉ, vui chơi giải trí… tuy chưa đầy đủ, đồng bộ nhưng phần nào đã đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Tuy nhiên, điều kiện này KonPlông cần tiếp tục cần cải thiện trong thời gian tới để nâng cao khả năng cung ứng các dịch vụ cho du khách. 3. Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch tại KonPlông cho thấy du lịch cộng đồng đang hình thành và thu hút lượng khách du lịch tương

Luận Văn Đề Tài Tìm Hiểu Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Huyện Tiên Yên Tỉnh Quảng Ninh

Hiện nay, trên thế giới du lịch đang phát triển mạnh để trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng. Theo tổ chức du lịch thế giới, du lịch đang là ngành kinh tế mũi nhọn, năng động nhất trên thế giới, đem lại nguồn lợi đáng kể và đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới những năm qua. Ở Việt Nam, nhà nước ta đã xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao. Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của các tầng lớp nhân dân, của khách du lịch trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, du lịch càng góp phần thúc đẩy giao lưu, phát triển văn hoá giữa các vùng, miền trong cả nước và quốc tế. Quảng Ninh là một tỉnh địa đầu của tổ quốc, là một trung tâm, một trọng điểm, một tỉnh trong vùng tam giác kinh tế phía Bắc. Không chỉ có những lợi thế để phát triển một nền kinh tế mạnh mẽ, Quảng Ninh còn có tiềm năng để phát triển du lịch. Với vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới, với nhiều bãi biển đẹp như Trà Cổ, Cô Tô,bãi Dài (huyện Vân Đồn)… với chùa thiêng Yên Tử, đền Cửa Ông, di tích lịch sử Bạch Đằng, chùa Long Tiên, đình Quan Lạn, đình Trà Cổ… đã thực sự trở thành điểm đến có sức hút đặc biệt đối với du khách. Là một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ninh, Tiên Yên cũng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đánh giá đúng thực trạng nguồn tài nguyên du lịch huyện và thông qua đó đưa ra những ý kiến, những đề xuất, những kiến nghị và các giải pháp để có thể đưa Tiên Yên trở thành một khu du lịch gắn với Quảng Ninh, để hoạt động du lịch ở Quảng Ninh ngày càng mở rộng và phát triển. Trước thực tế nói trên và với mong muốn Tiên Yên thực sự trở thành một điểm đến du lịch, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh” cho khoá luận.

Luận Văn: Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Tỉnh Tiền Giang, Hot, 9Đ

, DOWNLOAD ZALO 0932091562

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành địa lí học với đề tài: Tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang, cho các bạn làm luận văn tham khảo

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Hoàng Mẫn TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Hoàng Mẫn TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG Chuyên ngành: Địa lý học (Trừ Địa lý tự nhiên) Mã số: 60 31 95 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRỊNH DUY OÁNH Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

5. 1.3.2.2. Đặc điểm……………………………………………………………………………………15 1.3.2.3. Phân loại …………………………………………………………………………………..15 1.3.3. Tài nguyên du lịch nhân văn………………………………………………………………22 1.3.3.1. Khái niệm ………………………………………………………………………………….22 1.3.3.2. Đặc điểm……………………………………………………………………………………23 1.3.3.3. Phân loại …………………………………………………………………………………..24 1.3.4. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ……………………………………………..28 1.3.4.1. Cơ sở hạ tầng …………………………………………………………………………….28 1.3.4.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật………………………………………………………………..29 1.3.5. Các nhân tố kinh tế – xã hội và chính trị………………………………………………31 1.3.5.1. Dân cư và lao động …………………………………………………………………….31 1.3.5.2. Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế……………..32 1.3.5.3. Cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế……..33 1.3.5.4. Đô thị hóa………………………………………………………………………………….33 1.3.5.5. Điều kiện sống……………………………………………………………………………33 1.3.5.6. Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch ……………………………………………………………34 1.3.5.7. Đường lối, chính sách …………………………………………………………………35 1.3.5.8. Thời gian rỗi………………………………………………………………………………36 1.3.5.9. Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội…………………………………36 Chương 2. TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH……………..1 TỈNH TIỀN GIANG …………………………………………………………………………………..38 2.1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TIỀN GIANG…………………………………………………….38 2.2. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG …………………….39 2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên……………………………………………………………….39 2.2.1.1. Vị trí địa lý…………………………………………………………………………………39 2.2.1.2. Địa hình……………………………………………………………………………………40 2.2.1.3. Khí hậu …………………………………………………………………………………….41 2.2.1.4. Tài nguyên nước…………………………………………………………………………44 2.2.1.5. Sinh vật……………………………………………………………………………………..47

6. 2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn……………………………………………………………..51 2.2.2.1. Các di tích lịch sử – văn hóa…………………………………………………………51 2.2.2.2. Lễ hội………………………………………………………………………………………..58 2.2.2.3. Các làng nghề thủ công truyền thống ……………………………………………59 2.2.2.4. Địa danh du lịch…………………………………………………………………………60 2.2.2.5. Ẩm thực……………………………………………………………………………………..62 2.3. THỰC TRẠNG DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG…………………………………..64 2.3.1. Khách du lịch…………………………………………………………………………………..64 2.3.2. Doanh thu từ du lịch ………………………………………………………………………..69 2.3.3. Cơ sở hạ tầng vật chất – kỹ thuật……………………………………………………….73 2.3.4. Vốn du lịch……………………………………………………………………………………..75 2.3.5. Các tuyến, điểm du lịch …………………………………………………………………….77 2.3.6. Hoạt động lưu trú……………………………………………………………………………..81 2.3.7. Nguồn nhân lực………………………………………………………………………………..84 2.3.8. Các dịch vụ bổ trợ…………………………………………………………………………….86 2.3.9. Các yếu tố khác………………………………………………………………………………..87 Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2024……………………………………………….38 3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch Tiền Giang đến năm 2024………………88 3.1.1. Quan điểm phát triển du lịch …………………………………………………………….88 3.1.2. Mục tiêu phát triển du lịch Tiền Giang đến năm 2024…………………………..88 3.1.2.1. Mục tiêu tổng thể………………………………………………………………………..88 3.1.2.2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2024 ……………………………………………………..89 3.2. Định hướng phát triển du lịch …………………………………………………………………95 3.2.1. Định hướng chung du lịch của Việt Nam…………………………………………….95 3.2.2. Định hướng du lịch của đồng bằng sông Cửu Long………………………………98 3.2.2.1. Thị trường du lịch……………………………………………………………………….98 3.2.2.2. Sản phẩm du lịch………………………………………………………………………..98 3.2.2.3. Tổ chức không gian du lịch vùng ………………………………………………….98

7. 3.2.2.4. Các tuyến du lịch vùng………………………………………………………………..99 3.2.2.5. Định hướng đầu tư:…………………………………………………………………….99 3.2.3. Định hướng du lịch của tỉnh Tiền Giang……………………………………………100 3.2.3.1. Định hướng phát triển du lịch theo ngành……………………………………100 3.2.3.2. Định hướng phát triển du lịch theo lãnh thổ…………………………………101 3.3. Các giải pháp đề xuất chủ yếu để thực hiện chiến lược phát triển du lịch Tiền Giang đến năm 2024 …………………………………………………………………………………..102 3.3.1. Giải pháp về vốn…………………………………………………………………………….102 3.3.1.1. Từ nguồn ngân sách tỉnh……………………………………………………………102 3.3.1.2. Thu hút đầu tư ………………………………………………………………………….102 3.3.2. Giải pháp liên doanh, liên kết các công ty du lịch………………………………103 3.3.3. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực và kiện toàn bộ máy tổ chức……………104 3.3.3.1. Đào tạo nguồn nhân lực…………………………………………………………….104 3.3.3.2. Kiện toàn bộ máy tổ chức…………………………………………………………..105 3.3.4. Giải pháp phát triển du lịch bền vững…………………………………………….106 3.3.4.1. Nhóm giải pháp về kinh tế………………………………………………………….106 3.3.4.2. Nhóm giải pháp về môi trường……………………………………………………107 3.3.4.3. Nhóm giải pháp về xã hội…………………………………………………………..110 3.3.5. Các giải pháp quảng bá – tiếp thị, thu hút khách du lịch quốc tế……….111 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………113 TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………………115 PHỤ LỤC…………………………………………………………………………………………………….1

8. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT UNWTO : Đại hội đồng Tổ chức du lịch thế giới TP : Thành phố UBND : Ủy ban nhân dân GDP : Tổng sản phẩm quốc nội BO : Hợp đồng xây dựng – kinh doanh BOT : Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao ICOR : Tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm

9. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Nhiệt độ, số giờ nắng, độ ẩm trung bình các tháng trong năm ………….43 Bảng 2.2. Lượng mưa trung bình quân các tháng trong năm (Đơn vị: mm) ………44 Bảng 2.3. Số khách do các cơ sở lưu trú phục vụ ở Tiền Giang,………………………65 Bảng 2.4. Số khách do các cở sở lữ hành phục vụ du lịch ở Tiền Giang, ………….66 Bảng 2.5. Doanh thu của các cơ sở lưu trú ở Tiền Giang theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế, giai đoạn 2000 – 2010………………………………70 Bảng 2.6. Doanh thu của các cơ sở lữ hành ở Tiền Giang theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế, giai đoạn 2000 – 2010………………………………71 Bảng 2.7. Doanh thu của các hộ cá thể kinh doanh du lịch (nhà trọ, quán ăn uống), các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ du lịch theo giá hiện hành ở Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 …………………………………….71 Bảng 2.8. Mức chi tiêu trong ngày của khách du lịch qua các năm ………………….72 Bảng 2.9. Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có phục vụ du lịch ở Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 ……………………………………………………………………….73 Bảng 2.10. Kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản phục vụ du lịch Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 ……………………………………………………………………….76 Bảng 2.11. Khách du lịch đến các khu, điểm du lịch Tiền Giang qua các năm ……80 Bảng 2.12. Số cơ sở lưu trú ở Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 …………………….81 Bảng 2.13. Số phòng nghỉ và số giường phục vụ cho du lịch ở Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010. ………………………………………………………………………81 Bảng 2.14. Thời gian khách lưu trú đi du lịch ở Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 ………………………………………………………………………………………….82 Bảng 2.15. Tỷ lệ sử dụng phòng nghỉ của khách của các cơ sở lữ hành,…………….83 Bảng 2.16. Hiện trạng nguồn nhân lực phục vụ du lịch ở Tiền Giang qua các năm …………………………………………………………………………………………..84 Bảng 2.17. Kinh phí và số lượng lao động đào tạo phục vụ du lịch Tiền Giang, giai đoạn 2000 – 2010 …………………………………………………………………85 Bảng 3.1. Dự kiến tăng trưởng GDP ngành du lịch thời kỳ 2024 – 2024 (Theo giá so sánh 1994)………………………………………………………………………..89 Bảng 3.2. Dự kiến tăng trưởng GDP du lịch thời kỳ 2024-2024 ( Theo giá hiện hành) ………………………………………………………………………………….90 Bảng 3.3. Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư du lịch thời kỳ 2011-2024……………………93 Bảng 3.4. Chỉ tiêu về doanh thu du lịch, giai đoạn 2013 – 2024………………………94

10. DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1. Thể hiện khách du lịch trong nước và quốc tế đến Tiền Giang……..64 Biểu đồ 2.2. Thể hiện doanh thu du lịch theo giá hiện hành ở Tiền Giang, giai đoạn 2005 – 2010……………………………………………………………..69 Biểu đồ 3.1. Dự kiến tăng trưởng khách du lịch – Phương án I, giai đoạn 2024 – 2024 …………………………………………………………………………..91 Biểu đồ 3.2. Dự kiến tăng trưởng khách du lịch – Phương án II, giai đoạn 2024 – 2024 …………………………………………………………………………..92

11. DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh Tiền Giang Hình 2. Bản đồ du lịch tỉnh Tiền Giang

12. MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến quy hoạch và định hướng phát triển ngành du lịch. Bởi lẽ, đây được coi là ngành có sự đóng góp rất lớn đến sự phát triển chung của nền kinh tế. Những năm gần đây, ngành du lịch được chú trọng phát triển rộng khắp trên thế giới. Du lịch đã đem lại nhiều công ăn việc làm cho nhiều người dân cũng như đem lại thu nhập khá cao. Ngày nay, do đời sống được cải thiện, do nhu cầu thay đổi môi trường sống, muốn hướng đến nơi ở mới, nhìn thiên nhiên, cảnh vật, món ăn mới. Đồng thời thích khám phá, nghiên cứu, học tập, nghỉ dưỡng của một số bộ phận dân cư. Từ đó, đã tác động trực tiếp, kích thích ngành du lịch phát triển nhanh chóng. Ở Việt Nam, với thời hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác , giao lưu với bạn bè khắp nơi trên thế giới. Việt Nam muốn quảng bá hình ảnh nước nhà đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, giàu lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình, hợp tác hữu nghị thì hoạt động du lịch là ngành đi tiên phong trong công tác đối ngoại. Mặt khác, đây cũng được coi là ngành góp phần phát triển kinh tế – xã hội của nước nhà rất lớn. Từ đó, thực hiện tốt xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trước tình hình phát triển du lịch mạnh mẽ của đất nước, ngành du lịch tỉnh Tiền Giang đang từng bước khai thác tiềm năng, xây dựng các sản phẩm du lịch có chất lượng với những lợi thế của mình. Phát triển du lịch cũng là đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước. Trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh đến năm 2024, thì du lịch được coi là ngành trọng tâm phát triển của tỉnh. Tuy nhiên, hiện nay các loại tiềm năng du lịch Tiền Giang chưa khai thác hết chủ yếu là còn ở dạng tiềm năng. Cho nên việc xác định lợi thế tiềm năng để hướng đến các loại hình, sản phẩm, xây dựng các tuyến điểm du lịch là rất quan trọng. Nhằm hướng đến chiến lược phát triển du lịch lâu dài, vấn đề đánh giá thực trạng phát triển du lịch của tỉnh là rất cần thiết. Dựa vào tiềm năng, thực trạng hiện có thì mới hướng tới một định hướng phát triển lâu dài và bền vững. Chính vì các lý do đó mà

13. tôi chọn đề tài ” Tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang” làm đề tài luận văn tốt nghiệp. 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau: – Tổng quan về một số cơ sở lý luận và thực tiễn du lịch trên thế giới và Việt Nam, vận dụng vào thực tế phát triển du lịch ở tỉnh Tiền Giang. – Phân tích tiềm năng, thực trạng, định hướng phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang đến năm 2024. – Trên cơ sở lý luận về phát triển du lịch, các định hướng cũng như giải pháp phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, của khu vực để định hướng cho phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nhiệm vụ quan trọng của đề tài là phải xác định đúng các mục tiêu định hướng phát triển du lịch của tỉnh Tiền Giang. Đồng thời cần phân tích, đánh giá các tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch. Nắm bắt các chiến lược, định hướng phát triển du lịch của Việt Nam, của vùng đồng bằng sông Cửu Long, các giải pháp thực hiện cho phát triển du lịch. Qua đó, thực hiện các trọng tâm mà đề tài đề cập đến trong một thời gian nhất định. 4. Phạm vi, giới hạn của đề tài 4.1 Phạm vi Đề tài được thực hiện trong phạm vi phát triển du lịch của tỉnh Tiền Giang. Phân tích, đánh giá không gian ở mức độ tổ chức lãnh thổ du lịch trong phạm vi một tỉnh. 4.2. Giới hạn Đề tài được giới hạn ở mức độ phân tích, đánh tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch ở tỉnh Tiền Giang đến năm 2024, ngoài các nội dung khác không đề cập đến. Trong quá trình thực hiện đề tài có sử dụng các nội dung khác để làm rõ nội dung trọng tâm nghiên cứu.

14. 5. Lịch sử nghiên cứu đề tài 5.1. Thế giới Các nhà Địa lý học bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực du lịch từ những năm 30 (Mc Murray 1930, Jones 1935, Selke 1936) và đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai. Nhiều nhà khoa học người Mỹ, Anh, Canađa đã nghiên cứu về du lịch ở góc độ Địa lý như: Gilbert (1949), Wolfe (1951), Coppock (1977). Đã có nhiều công trình nghiên cứu cũng như các hội thảo, hội nghị về việc nghiên cứu du lịch như các nghiên cứu nổi bật: nghiên cứu về sức chứa và ổn định của các địa điểm du lịch (Kadaxkia, 1972; Sepfer, 1973), nghiên cứu về vùng thích hợp cho mục đích nghĩ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô trước đây do các nhà du lịch cảnh quan Đại học tổng hợp Maxcơva (E.B.Xmirnova, V.B.Nhefedova) hay công trình khai thác lãnh thổ du lịch của I.I.Pirojnic (Belorutxia), Jean Piere (France) về phân tích các điểm du lịch và vùng du lịch. Theo dự báo mới nhất trong báo cáo “Du lịch hướng tới 2030” công bố tại kỳ họp thứ 19 của Đại hội đồng Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) diễn ra từ 08- 14/10/2011 tại Hàn Quốc, lượng khách du lịch quốc tế sẽ tiếp tục tăng lên một cách vững chắc trong hai thập kỷ tới và đạt con số 1,8 tỷ vào năm 2030. “Trong 20 năm tới, du lịch sẽ tiếp tục phát triển với xu hướng vừa phải, có trách nhiệm và toàn diện”, Tổng thư ký UNWTO, Taleb Rifai đã phát biểu, “Sự tăng trưởng này tạo ra những cơ hội to lớn, du lịch có thể đóng vai trò dẫn đầu, dẫn dắt kinh tế tăng trưởng, tiến bộ xã hội và môi trường bền vững” 5.2. Việt Nam Du lịch bắt đầu được nghiên cứu và được nhà nước chủ trương phát triển từ những thập niên 90. Các công trình được coi là điểm khởi đầu cho ngành du lịch nước nhà như dự án VIE/89/003 về kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam do tổ chức Du lịch thế giới (OMT) thực hiện, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995 – 2000 do Viện nghiên cứu phát triển du lịch tiến hành (1994). Gần đây Chính phủ phê duyệt ” Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2030″ (2011). Đề án phát triển du lịch Đồng bằng sông

15. Cửu Long do Tổng cục du lịch thực hiện (2010) và các quyển sách đã được biên soạn: Tổ chức lãnh thổ du lịch, Cơ sở địa lý du lịch, Địa lý du lịch, Tổng quan du lịch, Quy hoạch du lịch, Tuyến điểm du lịch, Tài nguyên du lịch,…Trên phạm vi cả nước nhiều công trình nghiên cứu khoa học như: luận văn, luận án, các tạp chí khoa học đã thực hiện rất nhiều bài về du lịch Việt Nam cũng như các địa phương. Ở Tiền Giang, du lịch được chú trọng phát triển. Cụ thể là “Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang đến năm 2024”. Du lịch cũng là ngành được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt “quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Tiền Giang đến năm 2024”. Có nhiều đề tài nghiên cứu về du lịch của các sinh viên và học viên cao học ở các trường đại học như: Đại học Cần Thơ, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh,…Các đề tài này nghiên cứu ở các góc độ tiềm năng hay thực trạng những năm trước đó. Mặt khác, một số đề tài đánh giá du lịch ở góc độ kinh tế nhiều hơn không quan tâm nhiều đến định hướng và đưa ra các giải pháp khai thác ở từng thời gian nhất định để phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. 6. Quan điểm 6.1. Quan điểm hệ thống Hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều phan hệ khác nhau về bản chất nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Quan điểm hệ thống giúp chúng ta nắm bắt và điều khiển được hoạt động của mỗi phân hệ nói riêng và toàn bộ hệ thống du lịch nói chung. Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống phức tạp gồm nhiều thành phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính chất hỗ hợp, có đầy đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế – xã hội và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản. Vì vậy, quan điểm hệ thống luôn được quán triệt trong nghiên cứu luận văn. Du lịch tỉnh Tiền Giang là một bộ phận hợp thành trong hệ thống lãnh thổ du lịch Việt Nam và đồng thời cũng chính là một hệ thống lãnh thổ gồm nhiều thành phần tự nhiên và kinh tế – xã hội cần được phân tích, đánh giá trong quá trình nghiên cứu một cách cụ thể.

16. 6.2. Quan điểm lãnh thổ Khi nghiên cứu địa lý không thể tách rời các đối tượng hợp thành bộ phận lãnh thổ cụ thể đặc trưng cho vùng, miền. Lãnh thổ du lịch tổ chức như một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và trên cơ sở các nguồn tài nguyên, các dịch vụ cho du lịch. Quan điểm này được vận dụng vào luận văn thông qua việc phân tích các tiềm năng và tác động nhiều mặt đối với lãnh thổ du lịch Tiền Giang. Kết hợp có quy luật trên cơ sở phân tích, tổng hợp các thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch, phát hiện và xác định những đặc thù của chúng. 6.3. Quan điểm lịch sử – viễn cảnh Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động, biến đổi và phát triển. Nghiên cứu quá khứ để có cơ sở cho việc đánh giá đúng hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển tạo tiền đề cho việc dự báo tương lai, dự báo xu hướng phát triển tiếp theo. Qua đó, mà đưa ra các định hướng, mục tiêu, giải pháp phát triển du lịch theo đúng với tiềm năng hiện có và khai thác tốt trong du lịch. Quan điểm này được vận dụng trong qua trình phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình hình thành, phát triển hệ thống du lịch, các phân hệ cũng như xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ. Cần xem xét thực trạng phát triển du lịch, các nguồn lực phát triển du lịch để thấy được những quy luật phát triển trong quá khứ và hiện tại, đồng thời dự báo được các định hướng, mục tiêu, chiến lược phát triển du lịch trong tương lai. 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1. Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập tài liệu Đây là phương pháp truyền thống và đặc thù của việc nghiên cứu địa lý. Phương pháp này được xem là rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học nhằm tích lũy kho tài liệu từ thực tế về phát triển du lịch. Trong quá trình viết đề tài, phương pháp này luôn được chú trọng hàng đầu để thực hiện các bước tiến hành để làm thỏa mãn giữa lý luận và thực tiễn. Trong nghiên cứu du lịch, các thông tin thu thập được qua điều tra thực tế giúp các nhà nghiên cứu tổng hợp được nhiều ý kiến và quan điểm của các khách du lịch, các nhà quản lý du lịch một cách khách quan. Đây cũng

19. Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH 1.1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH 1.1.1. Khái niệm về du lịch Thuật ngữ du lịch ngày nay được sử dụng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của thuật ngữ này. Theo một số học giả, du lịch bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “Tonos” nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này latinh hóa thành “Turnur” và sau đó thành “Tour” (tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “Touriste” là người đi dạo chơi. Theo Robert Langquar (năm 1980), từ “Tourism” (du lịch) lần đầu tiêu xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Một số học giả khác lại cho rằng du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hi Lạp mà từ tiếng Pháp “le tour”, có nghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm vi toàn thế giới…Như vậy, nhìn chung chưa có sự thống nhất về nguồn gốc thuật ngữ du lịch, song điều cơ bản của thuật ngữ này đều bắt nguồn từ gốc là cuộc hành trình đi một vòng, tự một nơi này đến một nơi khác và có quay trở lại. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được giải nghĩa theo âm Hán – Việt: du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là sự từng trải. Cũng tương tự như vậy, có nhiều quan niệm không giống nhau về khái niệm du lịch. Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Khái niệm này tương đối đơn giản và coi giải trí là động cơ chính của hoạt động du lịch. Năm 1930, Glusman người Thụy Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”. Hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lý thuyết về cung – cầu du lịch, đưa ra ý nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và các

22. 1.2. VAI TRÒ CỦA DU LỊCH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI 1.2.1. Đối với kinh tế Con người là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội. Hoạt động sản xuất là cơ sở tồn tại của xã hội. Việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực và được tổ chức hợp lý sẽ đem lại những tốt đẹp. Một mặt, nó góp phần vào việc hồi phục sức khỏe cũng như khả năng lao động và mặt khác đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ. Thông qua hoạt động nghỉ ngơi, du lịch, tỉ lệ ốm đau trong khi làm việc giảm đi, tỉ lệ tử vong ở độ tuổi lao động hạ thấp và rút ngắn thời gian chữa bệnh, giảm số lần khám bệnh tại các bệnh viện. Ở các nước kinh tế phát triển, nguồn lao động gia tăng rất chậm. Vì thế, sức khỏe và khả năng lao động trở thành nhân tố quan trọng để đẩy mạnh sản xuất xã hội và nâng cao hiệu quả của nó. Ngoài ra, vai trò kinh tế của du lịch còn thể hiện ở chỗ du lịch – ngành “công nghiệp không khói”, ảnh hưởng đến tình hình và cơ cấu của nhiều ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, ngoại thương) và là cơ sở quan trọng cho nền kinh tế phát triển. Việc phát triển du lịch kích thích sự phát triển kinh tế, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều quốc gia. 1.2.2. Đối với xã hội Du lịch có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, hồi phục sức khỏe cho nhân dân. Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người. Các công trình nghiên cứu về sinh học khẳng định rằng, nhờ chế độ nghỉ ngơi tích cực, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm giảm 30%, bệnh tiêu hóa giảm 20% (Crirosep, Dorin, 1981). Khi mọi người có điều kiện tiếp xúc với nhau, gần gũi nhau hơn, những đức tính tốt của con người được thể hiện rõ nét. Du lịch là điều kiện để con người xích lại gần nhau, thông qua du lịch mọi người hiểu nhau hơn, tăng thêm tính đoàn kết cộng đồng. Điều này dễ nhận thấy ở lứa tuổi thanh niên, ở những cơ quan có chế độ làm việc ít tập trung hay làm việc căng thẳng theo dây chuyền.

23. Du lịch góp phần quan trọng trong việc giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao long yêu nước, yêu thiên nhiên. Sự phát triển du lịch tác động nhiều đến các mặt văn hóa, xã hội của nơi đến. Ngược lại, du khách cũng bị ảnh hưởng nhất định bởi sự tương phản, khác biệt về văn hóa, đời sống của các nước, các vùng họ đến thăm. Họ có cơ hội để tìm hiểu và học hỏi lối sống và phong tục tập quán của dân tộc khác. Một trong những đặc điểm của du lịch là khuyến khích khôi phục những nét văn hóa bị mai một, phục hưng và duy trì các loại hình nghệ thuật cổ truyền như âm nhạc truyền thống, các điệu múa nghi lễ,…; làm sống lại các phong tục, tập quán đẹp, bảo tồn các công trình văn hóa và tạo ra thị trường mới cho các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc với các thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc, từ đó tăng thêm long yêu nước tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất tốt đẹp như long yêu lao động, tình yêu quê hương đất nước,…Điều đó quyết định sự phát triển về nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội. Du lịch được xem như nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc. Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau hơn. 1.2.3. Đối với môi trường, sinh thái Du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ và khôi phục môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người. Việc tắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận trực tiếp sự hùng vĩ, trong lành và nên thơ của các cảnh quan có ý nghĩa quan trọng đối với du khách. Nó tạo cho họ có điều kiện hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của tự nhiên đối với đời sống con người, là bằng chứng thực tiễn phong phú góp phần tích cực vào việc giáo dục môi trường. Mặt khác, việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch. Đến lượt mình, quá trình này kích thích sự tìm kiếm các hình thức bảo

24. vệ tự nhiên và đảm bảo điều kiện sử dụng chúng một cách hợp lý. Nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch của đông đảo quần chúng đòi hỏi phải hình thành các kiểu cảnh quan được bảo vệ giống như các công viên quốc gia. Từ đó hang loạt công viên thiên nhiên quốc gia (vườn quốc gia) đã được thành lập vừa để bảo vệ cảnh quan thiên nhiên có giá trị, vừa tổ chức các hoạt động giải trí du lịch. Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ. Một mặt, xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động xâm hại của các dòng khách du lịch cũng như việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch. Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối quan hệ qua lại với nhau. 1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.3.1. Khái niệm về tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là một dạng trong toàn bộ tài nguyên được con người sử dụng. Đã có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về tài nguyên du lịch. Theo Huttch và cộng sự (2002): “Tài nguyên du lịch là các thành phần và thể cảnh quan tự nhiên và nhân sinh có thể dùng để tạo ra sản phẩm du lịch, thỏa mãn như cầu về chữa bệnh, thể thao, nghỉ ngơi hay tham quan, du lịch”. Nguyễn Minh Tuệ và nnk cũng cho rằng: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cúng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí lực của con người, khả năng và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”. Theo các nhà khoa học du lịch Trung Quốc định nghĩa là: “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên du lịch”. Theo khoản 4 (Điều 4, chương 1) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, du lịch lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có

26. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), quy định tại chương II, điều 13: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” 1.3.2.2. Đặc điểm – Nếu được quy hoạch, bảo vệ, khai thác hợp lý theo hướng bền vững thì phần lớn các loại tài nguyên du lịch tự nhiên được xếp vào loại tài nguyên vô tận, tài nguyên có khả năng tái tạo hoặc có quá trình suy thoái chậm. Ví dụ: tài nguyên nước theo quy luật tuần hoàn nếu rừng được bảo vệ và khai thác hợp lý, tài nguyên nước không bị ô nhiễm bởi các chất thải từ đời sống, sản xuất, tài nguyên nước được xếp vào tài nguyên vô tận. – Hầu hết việc khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện thời tiết, việc tổ chức các tour leo núi, tham quan các vùng núi hay đi nghỉ biển, tham quan sông nước phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết. Đặc biệt không thể tổ chức các tour du lịch sông nước vào mùa lũ, không thể tắm biển vào mùa rét. Vào mùa khô trữ lượng nước của các thác nước, hồ nước, hệ thống sông cạn nước nên khó khăn cho việc hoạt động du lịch thể thao nước và tham quan sông nước. – Một số điểm phong cảnh và du lịch dựa vào tài nguyên tự nhiên thường nằm xa các khu dân cư. Đặc điểm này một mặt gây tốn kém, khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động du lịch, mặt khác nó lại là nhân tố góp phần làm cho tài nguyên du lịch tự nhiên hấp dẫn, được bảo tồn tốt hơn do ít chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi các hoạt động kinh tế – xã hội. Ví dụ như một số vườn Quốc gia Ba Bể, Tam Đảo, Hoàng Liên Sơn, Pù Mát, Vụ Quang, Phong Nha – Kẻ Bàng, Bạch Mã,…Các thác nước như: Thác Bạc (Tam Đảo), Thác Bảo Giốc (Cao bằng), thác Ponggua Premn (Đà Lạt),… 1.3.2.3. Phân loại * Địa hình:

28. chính: nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra, một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lý hóa, vi sinh của không khí, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt,…cũng thường xuyên tác động đến sức khỏe con người. Nhìn chung, những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa thích. Nhiều cuộc thăm dò cho thấy khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá ẩm, hoặc quá nóng, quá khô. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho sự phát triển của du lịch. Về sự phù hợp của khí hậu đối với sức khỏe của con người, từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Viện sĩ Hàn lâm Khoa học Liên Xô E.E. Phêđôrôv (1921) đã đề xuất phương pháp khí hậu tổng hợp để phân tích các thành phần khí hậu. Cơ sở của phương pháp này là thống kê những kiểu thời tiết hằng ngày tại một điểm nào đó. Các kiểu thời tiết này đã được xác định bằng sự cảm nhận trực tiếp từ giác quan con người nên rất phù hợp với yêu cầu phân tích – đánh giá phục vụ mục đích du lịch. Điều kiện thời tiết cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến đi hoặc hoạt động du lịch. Du khách thường mong muốn những ngày nắng đẹp để đi lại, tham quan, mua sắm, quay phim, chụp ảnh kỷ niệm,…Ở mức độ nhất định, cần phải lưu ý tới những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch du lịch, ví dụ như những tai biến của thên nhiên (bão, gió mùa, gió bụi, lũ lụt, cát bay,…). Tính mùa của du lịch chịu tác động chủ yếu của các nhân tố khí hậu. Tác động của khí hậu đối với sức khỏe con người và việc triển khai các hoạt động du lịch diễn ra theo chiều hướng và mức độ khác nhau ở những thời điểm khác nhau trong năm gây nên sự khác biệt về hoạt động du lịch theo mùa, mà trước hết là số lượng khách, thời gian lưu lại, kéo theo những thay đổi về công suất sử dụng giường, buồng, doanh thu,…tạo ra mùa vụ trong năm của hoạt động du lịch. Các vùng khác nhau có tính mùa du lịch không như nhau do ảnh hưởng của các thành phần khí hậu. – Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh suối khoáng, du lịch trên núi cả mùa đông và mùa hè. Tất nhiên, trong thực tế, hiếm

29. khi có sự phân bố đồng đều các dòng khách du lịch theo mùa vì nó chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nguyên nhân (tự nhiên, kinh tế – xã hội, kỹ thuật,…). – Mùa đông là mùa du lịch trên núi đối với một số vùng ôn đới. Sự kéo dài của mùa đông có ảnh hưởng tới khả năng phát triển du lịch thể thao mùa đông và các loại hình du lịch mùa đông khác. – Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì có có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, du lịch núi,…Khả năng du lịch ngoài trời vào mùa hè khá phong phú và đa dạng. Mùa mưa đối với khu vực nhiệt đới ẩm Đông Nam Á là thời gian có các tháng liên tục đạt lượng mưa trên 100mm với tần suất đảm bảo ≥ 75% (L.R. Oldeman, M. Frere, nghiên cứu khí hậu nông nghiệp nhiệt đới ẩm Đông Nam Á, Tổ chức khí tượng Thế giới, 1986). Rõ ràng mùa này không thuận lợi cho hoạt động du lịch. Một số hiện tượng thời tiết có thể tác động đến sự ổn định và bền vững của các thành phần tự nhiên khác cũng như các công trình nhân tạo. Các kiểu thời tiết đặc biệt như mưa lơn, lũ lụt, bão, lốc hay gió tây khô nóng có thể phá hủy các thành phần thiên nhiên khác cũng như các cảnh quan du lịch hoặc các công trình nhân tạo, thậm chí trong một thời gian rất ngắn. Ngoài ra, một số yếu tố thời tiết còn ảnh hưởng thường xuyên và mạnh mẽ đến sự xuống cấp các công trình, nhất là công trình kiến trúc cổ. Quy luật chung là độ ẩm, nhiệt độ và biên độ nhiệt càng cao thì tốc độ phá hủy càng lớn. *Nguồn nước: Tài nguyên nước bao gồm nước trên lục địa và biển, đại dương. Nước trên lục địa có nước mặt (sông, hồ các loại) và nước dưới đất (nước ngầm). Có gí trị đối với du lịch là nước trên mặt (cơ sở để hình thành các loại hình du lịch sông nước, du lịch hồ và vùng biển (tiền đề cho các loại hình du lịch biển,…). Nước rất cần thiết cho đời sống và các nhu cầu khác của xã hội. Đáp ứng cho những nhu cầu này đòi hỏi phải có nguồn nước ngọt dồi dào. Các tổ hợp du lịch ở

30. vùng khô hạn và nửa khô hạn, cũng như ở các vùng thuộc các đới khí hậu cạn nhiệt và ôn đới thì nhu cầu cung cấp nước là rất lớn. Nguồn nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt của du khách được đánh giá thông qua các tiêu chí: vị trí, số lượng và chất lượng nước của hai nguồn: nước mặt và nước ngầm. Vị trí của nguồn nước thể hiện ở khoảng cách từ nguồn nước đến địa bàn hoạt động du lịch, chủ yếu là các điểm lưu trú của du khách. Về chất lượng, nếu nguồn nước bị ô nhiễm thì thành phần của nó bị biến đổi và không phù hợp để sử dụng hằng ngày. Sự biến đổi này bao gồm cả tính chất lý, hóa và sinh học của nước làm cho nước trở thành độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Như vậy, xét về chất lượng nước thì phải chú ý đến tính lý, hóa học và sinh học của nước. Chúng được thể hiện ở màu sắc, độ trong, mùi, nhiệt độ, tính chất phóng xạ, các chất hữu cơ và các chất vô cơ trong nước, vi khuẩn,…Các tiêu chuẩn về chất lượng nước nói chung hoặc theo mục đích sử dụng đã được các cơ quan chức năng của Nhà nước công bố. Ngoài phục vụ nhu cầu sinh hoạt, các dạng địa hình chứa nước, chủ yếu là nước mặt còn tạo những phong cảnh đẹp. Mặt nước là không gian để có thể xây dựng các công trình dịch vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn nổi, bến thuyền,…Các khách sạn, nhà hàng nổi là các cơ sở thu hút rất đông du khách nhờ vị trí độc đáo, cảnh quan ngoạn mục và khả năng cơ động của chúng. Nhiều loại hình du lịch được triển khai dựa trên đặc điểm của nguồn nước. Chẳng hạn như nước khoáng phục vụ cho du lịch chữa bệnh, những dòng sông thơ mộng, có tốc độ dòng chảy nhỏ, phù hợp cho hoạt động du thuyền, còn thác nước có thể gắn với du lịch mạo hiểm. Du lịch biển có điều kiện thuận lợi nhờ khí hậu mát mẻ cho phép nghỉ ngơi dài ngày, nhờ những bãi cát ven bờ để có thể vừa tắm biển, lại vừa tắm nắng, tắm khí trời trong lành. Nói chung, giới hạn nhiệt độ ở lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 180 C, đối với trẻ em là 200 C. Cùng với các tiêu chí cơ bản trên, cần chú ý đến tần suất và tính chất của sóng, độ sạch của nước. Biển với dòng chảy

31. ven bờ có tốc độ nhỏ, nước trong và sóng vừa phải thì phù hợp với tắm biển; sóng lớn phù hợp lướt sóng; nước trong và có nhiều động thực vật đẹp phù hợp với môn lặn biển,… Tài nguyên nước không chỉ có tác dụng trực tiếp đến hoạt động du lịch, như đã nêu trên. Ngoài ra, nó còn gián tiếp ảnh hưởng đến du lịch thông qua tác động đến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt là khí hậu ở quanh các bồn chứa nước lớn,… *Sinh vật: Hiện nay, khi mức sống của con người ngày càng nâng cao thì nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan du lịch và giải trí trở thành cấp thiết. Thị hiếu về du lịch cũng ngày càng đa dạng và phong phú. Ngoài một số hình thức truyền thống như tham quan phong cảnh, các di tích văn hóa – lịch sử của loài người, đã xuất hiện một số hình thức mới, với sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Đó là du lịch ở các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng tham quan là các loại động – thực vật. Việc tham quan du lịch trong thế giới động – thực vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu cuộc sống. Sở dĩ một số nước châu Phi, khu vực Đông Âu và vùng Đông Nam Á thu hút được đông đảo khách du lịch một phần là do họ biết tận dụng khai thác các tiềm năng thiên nhiên, trong đó có tài nguyên động – thực vật cùng với sự đa dạng của nó. Không phải mọi tài nguyên động thực vật nào cũng là đối tượng du lịch. Để phục vụ cho các mục đích du lịch khác nhau, người ta đã đưa ra các tiêu chí sau đây: -Tiêu chí phục vụ mục đích tham quan du lịch: + Thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình. + Có loài đặc trưng cho khu vực, loài đặc hữu, loài quý hiếm đối với thế giới và trong nước. + Có một số động vật (thú, chim, bò sát, côn trùng, cá,…) phong phú hoặc điển hình cho vùng.

32. + Có các loại có thể khai thác dưới dạng đặc sản phục vụ nhu cầu khách du lịch. + Thực, động vật có màu sắc hấp dẫn, vui mắt, một số loài phổ biến dễ quan sát bằng mắt thường, ống nhòm hoặc nghe tiếng hót, tiếng kêu và có thể chụp ảnh được. + Đường sá (đường tròn) thuận tiện cho đi lại quan sát, vui chơi của khách. -Tiêu chí đối với du lịch săn bắn thể thao: Quy định loài được săn là loài phổ biến, không ảnh hưởng đến số lượng, quỹ gen; loài động vật hoạt động (ở dưới nước, mặt đất, trên cây) nhanh nhẹn, có địa hình tương đối dễ vận động, xa khu cư trú của dân cư. Ngoài ra, khu vực dành cho săn bắn thể thao phải tương đối rộng, đảm bảo tầm bay của đạn và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho khách du lịch. Cấm dùng súng quân sự, mìn và chất nổ nguy hiểm. Thật ra, trong điều kiện hiện tại, nhiều nước đã khuyến cáo không nên phát triển loại hình du lịch này nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn thói quen hủy diệt động vật. -Đối với mục đích du lịch nghiên cứu khoa học: + Nơi có hệ thực, động vật phong phú và đa dạng. + Nơi còn tồn tại loài quý hiếm. + Nơi có thể đi lại quan sát, chụp ảnh. + Có quy định thu mẫu của cơ quan quản lý,… Như vậy, tài nguyên động – thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành du lịch. Thực vật, đặc biệt là các khối rừng tự nhiên và cả các khu rừng nhân tạo kiểu công viên ở các khu vực ngoại ô thành phố với sự phổ biến của các loại địa phương kết hợp với các loài khác đã thích nghi với khí hậu thực hiện chức năng nhiều mặt – làm sạch không khí, cản gió, tăng độ ẩm. Ngoài ra, nó còn có tác dụng giảm tiếng ồn một cách tự nhiên, tạo nên cảm giác ấm cúng. Cần phải bảo vệ và phát triển rưng phòng hộ, các quần thể thực vật ven sông, hồ ở các vùng đồng bằng và thung lũng bởi vì chúng rất có giá trị đối với loài hình du lịch cuối tuần. Đối với khách du lịch, những loài thực vật không có ở đất nước họ thường có sức

33. hấp dẫn mạnh. Chẳng thế mà khách du lịch châu Âu thường thích đến nơi có rừng rậm nhiệt đới, nhiều tầng với thảm thực vật đa dạng. Như vậy, cần phải phát hiện, tổ chức bảo vệ các khu bảo tồn tự nhiên để phục vụ phát triển du lịch bền vững. Cuối cùng, động thực vật đặc sản còn là nguyên liệu chế biến ra những món ăn độc đáo thỏa mãn nhu cầu ẩm thực của du khách. 1.3.3. Tài nguyên du lịch nhân văn 1.3.3.1. Khái niệm Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác, nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du nhân tạo có những đặc điểm khác biệt nhiều so với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), quy định tại điều 13, chương II: “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”. Tài nguyên du lịch nhân văn có tác động nhận thức nhiều hơn. Tác dụng giải trí không thật điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu. Ngoại trừ loại hình du lịch nghiên cứu, việc tham quan các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian rất ngắn. Nó thường kéo dài một vài giờ, thậm chí ít hơn. Trong khuôn khổ một chuyến du lịch, người ta có thể tìm hiểu nhiều đối tượng nhân tạo. Vì thế, tài nguyên du lịch nhân văn thích hợp nhất đối với loại hình du lịch nhận thức theo lộ trình. Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có trình độ văn hóa, thu nhập cũng như yêu cầu nhận thức cao hơn so với khách du lịch thuần túy. Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và các thành phố lớn. Đây lại là đầu mối giao thông quan trọng nên rõ ràng việc tiếp cận với nguồn tài nguyên này dễ dàng hơn nhiều. Khi đến tham quan nguồn tài nguyên

34. nhân văn có thể sử dụng cơ sở hạ tầng đã được xây dựng trong các điểm quần cư mà không cần phải xây dựng. 1.3.3.2. Đặc điểm – Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra nên chịu tác động của thòi gian, thiên nhiên và do chính con người. Vì vậy dễ bị suy thoái, hủy hoại và không có khả năng bị phục hồi ngay cả khi không có sự tác động của con người. Vì vậy di tích lịch sử – văn hóa khi bị bỏ hoang cũng bị xuống cấp nhanh chóng; những giá trị văn hóa phi vật thể như những làn điệu dân ca , các vũ khúc, các lễ hội, các nghề truyền thống, phong tục, tập quán,…khi không được bảo tồn và phát huy có hiệu quả sẽ bị mai một hoặc biến mất. Do vậy, khi khai thác tài nguyên du lịch nhân văn cho mục đích phát triển du lịch cần quan tâm đầu tư cho bảo tồn, tô tạo thường xuyên, khoa học và có hiệu quả. – Tài nguyên du lịch nhân văn là do con người sáng tạo ra nên có tính phổ biến. Ở đâu có con người, ở đó có tài nguyên nhân văn. Vì vậy, các địa phương, các quốc gia đều có tài nguyên du lịch nhân văn, trong đó có nhiều loại có sức hấp dẫn với du khách, đã hoặc sẽ có thể sử dụng cho phát triển du lịch. – Tài nguyên du lịch nhân văn của mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang những giá trị đặc sắc riêng. Do điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế – xã hội là những yếu tố nuôi dưỡng tạo thành tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia có những giá trị đặc sắc riêng, góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo có sức cạnh tranh và hấp dẫn du khách riêng. Do vậy, trong quá trình khai thác, bảo tồn tài nguyên du lịch này cần coi trọng việc bảo vệ, phát huy giá trị độc đáo của tài nguyên. – Tài nguyên du lịch nhân văn thường được phân bố gần các khu dân cư, đực biệt tập trung nhiều ở những khu vực đông dân cư. Bởi nó được sinh ra trong qua trình phát triển của xã hội và là sản phẩm do con người sáng tạo ra. Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, việc khai thác phần lớn các loại tài nguyên du lịch nhân văn thường ít chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết gây nên như mưa hay rét nên tính mùa vụ cũng ít hơn so với tài nguyên du lịch tự nhiên.

35. 1.3.3.3. Phân loại *Các di tích lịch sử, văn hóa: Di tích lịch sử – văn hóa là tài sản văn hóa vô giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước, mà ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, nghệ thuật. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định về di tích lịch sử – văn hóa. Theo quy định trong Hiến chương Vơnidơ (Italia) năm 1964, khái niệm về di tích lịch sử – văn hóa bao gồm những công trình xây dựng lẻ loi, những khu di tích ở đô thị hay ở nông thôn là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, hoặc của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử. Ở Việt Nam, theo Luật Di sản văn hóa (năm 2001) thì “Di sản văn hóa là những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, đặc điểm có giá trị lịch sử – văn hóa và khoa học”. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu trữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu trữ, lưu truyền khác, bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, trí thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, vể trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh,di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Danh lam thắng cảnh là cảnh thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mĩ, khoa học. Như vậy, về tổng thể có thể hiểu: Di tích lịch sử – văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị nhiều mặt điển hình, do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại.

36. Các di tích lịch sử – văn hoá nói chung được phân chia thành: + Di tích khảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kì lịch sử xa xưa. + Di tích lịch sử: là các di tích gắn với đặc điểm và quá trình phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Loại hình này gồm di tích ghi dấu về dân tộc học, di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược, di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động, di tích ghi dấu tội ác của các thế lực phản động. + Di tích văn hoá nghệ thuật: Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc, có giá trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật. Nó chứa đựng giá trị kiến trúc và giá trị văn hoá tinh thần. Ví dụ: Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình), toà thánh Tây Ninh. + Các loại danh lam thắng cảnh: Phong cảnh đẹp hòa quyện với các công trình mang tính chất văn hóa – lịch sử. Tại đây không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên mà còn có giá trị nhân văn sâu sắc. + Các bảo tàng: bảo tàng là nơi lưu giữ các tài sản văn hoá dân tộc, truyền thụ tri thức chấn hưng tinh hoa truyền thống. *Các lễ hội: Bất cứ một dân tộc nào, quốc gia nào trên thế giới đều cũng có lễ hội. Các lễ hội đã tạo nên môi trường mới, huyền diệu, giúp cho người tham dự có điều kiện tiếp xúc với những bí ẩn vừa mơ vừa thực. Giúp cho con người nhớ về cội nguồn lịch sử dân tộc, lễ hội khó có thể mất đi mà ngày càng phát triển cả về số lượng và quy mô. Thường lễ hội gắn với các di tích lịch sử – văn hóa của các dân tộc, địa phương, vùng hay quốc gia nào đó, được phản ánh nét đặc sắc riêng của mình. Lễ hội gồm hai phần: phần nghi lễ và phần hội – Phần nghi lễ là phần mở đầu cho các lễ hội, dù lớn hay nhỏ, dù dài hay ngắn với những nghi thức rất trang nghiêm. Nghi thức lễ nhằm bày tỏ lòng tôn kính

37. các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc, làm ăn phát đạt, con cháu được khỏe mạnh. – Phần hội diễn ra các hoạt động văn hóa đặc trưng của các dân tộc mang tính cộng đồng rất cao. Các hoạt động này tương đối đa dạng như: thi hát, đố, thi đấu các môn đối kháng,…được các dân tộc phô diễn rất nhiệt tình. Đây được coi là một hoạt động văn hóa nhằm nêu cao tinh thần đoàn kết dân tộc rất lớn. Từ đó, giúp cho người dân nêu cao tinh thần tự hào dân tộc, yêu nước, phấn đấu trong công việc hằng ngày. Thời gian của lễ hội diễn ra thường kém dài không lâu khoảng độ vài ngày dài lắm là một tuần. Quy mô của lễ hội lớn nhỏ khác nhau, có lễ hội sánh bằng cả quốc tế, có lễ hội chỉ nằm trong phạm vi của một thôn, xã. Các địa điểm tổ chức của lễ hội thường diễn ra ở các di tích lịch sử – văn hóa. Điều đó cho phép khai thác tốt hơn cả lễ hội lẫn di tích nhằm thu hút khách du lịch. Di tích và lễ hội là hai loại hình tài nguyên du lịch nhân văn luôn sóng đôi và đan xen lẫn nhau. Lễ hội gắn với di tích và không tách rời di tích. Có thể nói, di tích là tinh hoa truyền thống được kết tinh lại ở dạng cứng; còn lễ hội là cái hồn chuyển tải tinh hoa ấy đến đời thường *Các làng nghề truyền thống: Việt Nam là nước có nhiều nghề và làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng, phát triển lâu đời. Nghệ thuật sản xuất các sản phẩm, những giá trị văn hóa, lịch sử của các làng nghề thủ công truyền thống, có sức hấp dẫn lớn, góp phần tạo ra sự đa dạng, đặc sắc, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm du lịch của nước ta. Các sản phẩm làng nghề truyền thống là sự kết tinh, giao thoa và phát triển các giá trị văn hóa, văn minh lâu đời của mỗi dân tộc. Các sản phẩm này được làm ra bởi bàn tay tài hoa, óc sáng tạo của những nghệ nhân khéo léo. Những sản phẩm này luôn mang dấu ấn về tâm hồn lẫn bản sắc dân tộc và mang đầy tính nghệ thuật. Từ đời này sang đời khác được duy trì, cải tiến các sản phẩm truyền thống nên đây được coi là một loại tài nguyên vô cùng quý giá để thu hút khách du lịch. Các sản phẩm làng nghề này kết hợp với các sản phẩm du lịch, các điểm, khu du lịch cho

38. khách tham quan mua quà lưu niệm mang một sắc thái của vùng miền riêng, tạo thích thú cho khách tham quan. *Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học: Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, có văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất có tính đặc thù riêng trên một lãnh thổ nhất định. Những đặc thù của từng dân tộc lại có sức hấp dẫn đối với khách du lịch. Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có giá trị với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc, trang phục dân tộc,… Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều thể hiện những sắc thái riêng biệt của mình để thu hút khách du lịch. Trung Quốc có nền phong kiến kéo dài thể hiện nhiều đời vua khác nhau, mỗi thời đều có nhiều nhân vật tiêu biểu để tìm hiểu; hay đất nước Ấn Độ có nền văn minh Ấn – Hằng mà mọi người muốn tìm tòi. Ở Việt Nam có 54 dân tộc anh em, sống trên các địa bàn địa phương khác nhau. Mỗi vùng miền có một nét đặc sắc riêng, thể hiện rõ nhất là kiến trúc nhà, ngôn ngữ và trang phục. Cho nên có thể nói dân tộc học là một giá trị rất lớn của loài người cũng là giá trị cho phát triển du lịch. *Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác: Các đối tượng văn hóa cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu. Đó là các thành phố nổi tiếng, các trường đại học, triển lãm nghệ thuật, liên hoan âm nhạc, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao,…Các đối tượng này thường tập trung ở các thành phố lớn hay thủ đô của các nước nên phần nào tạo nên lợi thế về thu hút khách du lịch. Tất cả các khách du lịch có trình độ văn hóa từ trung bình trở lên đều có thể thưởng thức được giá trị văn hóa của đất nước mà họ đến thăm. Các thành tự văn hóa, kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia cũng thu hút khách du lịch mọi nơi trên thế giới. Thông qua các hoạt động xúc tiến đầu tư thương mại, triển lãm thành tựu kinh tế, thông qua các hội nghị, kí kết giao ước,…từ đó mà tạo mọi điều kiện cho các du khách vừa tham quan vừa tìm kiếm cơ hội hợp tác mới.

39. 1.3.4. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 1.3.4.1. Cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng là nhân tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch tại điểm đến. Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống các mạng lưới và phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới điện, hệ thống cấp thoát nước và xử lý rác thải… trong đó giao thông vận tải là nhân tố quan trọng hàng đầu. *Giao thông vận tải ảnh hưởng đến sự phát triển và phân vùng du lịch trên cả hai phương diện: số lượng, chất lượng của các loại hình và phương tiện giao thông vận tải. Do đặc thù của hoạt động du lịch là sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định vì vậy nó phụ thuộc nhiều vào giao thông. Chiều dài của mạng lưới giao thông vận tải chứng tỏ mức độ dễ hay khó trong việc tiếp cận điểm du lịch, số lượng phương tiện giao thông vận tải chứng tỏ khả năng vận chuyển hành khách. Số lượng loại hình vận chuyển gia tăng sẽ làm cho hoạt động du lịch trở nên tiện lợi và linh hoạt, có khả năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu của du khách. Về mặt chất lượng vận chuyển cần xét đến 4 khía cạnh là tốc độ, an toàn, tiện nghi và giá cả. – Tốc độ vận chuyển: việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiệm thời gian đi lại và kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch. – Đảm bảo an toàn vận chuyển: ngày nay, sự tiến bộ kỹ thuật đã làm tăng tính an toàn trong vận chuyển hành khách và điều này sẽ thu hút được nhiều người tham gia vào hoạt động du lịch. – Đảm bảo tiện nghi của các phương tiện vận chuyển nhằm làm vừa lòng hành khách. – Vận chuyển có giá rẻ: giá cước vận tải có xu hướng giảm, hợp lý thì nhiều tầng lớp nhân dân có thể tham gia vào hoạt động du lịch. Nhìn chung mỗi loại hình giao thông có những ưu điểm riêng nên có những ảnh hưởng nhất định phù hợp với địa điểm du lịch cũng như đối tượng du khách.

40. Đặc biệt sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển du lịch ở cả mức độ quốc gia và quốc tế. * Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du lịch, là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Đối với hoạt động du lịch, thông tin liên lạc không những đảm nhận việc chuyển các tin tức một cách nhanh chóng, kịp thời góp phần thực hiện các mối giao lưu giữa các vùng, các quốc gia mà còn đóng vai trò quan trong việc quảng bá du lịch. Thông tin, hình ảnh của các điểm du lịch được quảng bá rộng khắp sẽ tạo một lực hút, kích thích nhu cầu của khách du lịch tiềm năng muốn khám phá vẻ đẹp và các giá trị của điểm du lịch đó. Nhân tố này ngày càng có vai trò to lớn đối với sự phát triển của ngành du lịch, đặc biệt là trong thời đại thông tin hiện nay. * Hệ thống điện, thiết bị xử lý cấp thoát nước, xử lý rác thải vừa góp phần tạo ra những điều kiện đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho du khách và các hoạt động du lịch vừa tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du khách 1.3.4.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và cung cấp các sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu của du khách như lưu trú, ăn uống, đi lại, vui chơi, giải trí, chữa bệnh, mua sắm. Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch của mỗi vùng, mỗi quốc gia được xem như một trong những biểu hiện cho sự phát triển cũng như hiệu quả của việc khai thác tài nguyên du lịch phục vụ cho hoạt động du lịch tại vùng, quốc gia đó. Sự kết hợp hài hòa giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch giúp cho sự hoạt động có hiệu quả của cơ sở phục vụ du lịch, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm. Chính vị trí của tài nguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lý cơ sở vật chất kỹ thuật trên các vùng lãnh thổ và là tiền đề căn bản để hình thành các trung

41. tâm du lịch. Ngược lại, cơ sở phục vụ du lịch cũng có tác động nhất định tới mật độ sử dụng tài nguyên du lịch, giữ gìn bảo vệ chúng và đến lượt mình, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch lại có thể tạo ra, thực hiện các sản phẩm du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm nhiều thành phần với những chức năng và ý nghĩa khác nhau, bao gồm: cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú; mạng lưới cửa hàng thương nghiệp; các cơ sở thể thao; cơ sở y tế, các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa và cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác. Có 3 tiêu chí để đánh giá hiệu quả của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đó là: Đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho nghỉ ngơi du lịch; Hiệu quả kinh tế tối ưu trong xây dựng và khai thác; Thuận tiện cho du khách. * Cơ sở phục vụ ăn uống lưu trú: là thành phần đặc trưng nhất trong toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gồm những công trình đặc biệt nhằm đảm bảo nơi ăn nghỉ và giải trí cho khách du lịch. Đó là các cơ sở lưu trú du lịch xã hội, nhà hàng, khách sạn… * Mạng lưới cửa hàng thương nghiệp: đáp ứng về nhu cầu hàng hóa của khách du lịch thông qua việc bày bán các mặt hàng đặc trưng của du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác. * Cơ sở thể thao: tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách, làm tăng hiệu quả sử dụng của các cơ sở lưu trú, phục vụ ăn uống và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch. * Cơ sở y tế: các cơ sở y tế nhằm phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch. * Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa phục vụ du lịch nhằm mục đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội cho du khách cũng như giúp họ cảm thấy thoải mái trong kỳ nghỉ của mình. Đó là các trung tâm văn hóa- thông tin, phòng chiếu phim, phòng triển lãm, câu lạc bộ, nhà hát… * Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác như trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu, hiệu ảnh, bưu điện… là điều kiện bổ sung giúp cho du khách sử dụng triệt để

Cập nhật thông tin chi tiết về Luận Văn Phát Triển Chuỗi Giá Trị Du Lịch Tỉnh Ninh Bình trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!