Xu Hướng 2/2024 # Nam Định: Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Biển # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Nam Định: Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Biển được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nam Định có bờ biển dài 72km với nhiều tiềm năng giá trị đã được đưa vào khai thác để phát triển kinh tế du lịch biển. Cụ thể đã hình thành các khu du lịch biển Thịnh Long (Hải Hậu), Quất Lâm (Giao Thủy). Khu vực ven biển còn có các làng nghề khai thác, đánh bắt, chế biến hải sản với phong tục, tập quán sinh hoạt đậm nét văn hóa của nền văn minh lúa nước sông Hồng. Đặc biệt, Vườn Quốc gia Xuân Thủy (Giao Thủy) với hệ sinh thái rừng ngập mặn, nơi dừng chân của các loài chim di trú là điểm Ramsar quốc tế đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á được đánh giá là điểm tham quan, trải nghiệm hấp dẫn. Tuy nhiên, đến nay du lịch biển của tỉnh chưa thu hút được lượng khách như mong đợi, lượng du khách sử dụng dịch vụ lưu trú, mức chi tiêu của du khách thấp, đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế địa phương ở mức khiêm tốn.

Du khách trải nghiệm dịch vụ ngắm cảnh làng quê ven biển tại bãi biển Thịnh Long.

Trước thực trạng này, tỉnh định hướng các cấp, ngành, địa phương có biển phải tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để khai thác tiềm năng, thế mạnh vùng kinh tế biển, trong đó đặc biệt chú trọng phát triển kinh tế du lịch biển. Theo đó, để phát triển ngành du lịch biển, huyện Hải Hậu xác định giai đoạn 2024-2025 sẽ tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật. Chú trọng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng tại bãi biển Thịnh Long, khu nhà thờ đổ xã Hải Lý. Tăng cường mối liên kết giữa các điểm du lịch biển với các điểm du lịch khác trên địa bàn huyện, tỉnh; hình thành các tour du lịch biển, nghỉ dưỡng dài ngày kết hợp với các loại hình vui chơi, giải trí, thi đấu thể thao. Hướng dẫn, hỗ trợ người dân sản xuất các sản phẩm phục vụ khách du lịch; tạo chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch, nhất là các sản phẩm hàng hóa du lịch từ tài nguyên biển, các sản phẩm đặc trưng của địa phương. Huyện Nghĩa Hưng xác định phát triển kinh tế biển (trong đó có du lịch biển) trở thành vùng kinh tế động lực là 1 trong 2 khâu đột phá trong nhiệm kỳ 2024-2025 của huyện. Quản lý và thực hiện tốt các quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện: Quy hoạch hai bên tuyến đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển của tỉnh với đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình; Quy hoạch hai bên tuyến đường bộ ven biển và cầu Thịnh Long đoạn qua Nghĩa Hưng; quy hoạch đô thị Rạng Đông. Thu hút mọi nguồn lực để xã hội hóa đầu tư hạ tầng kinh tế biển, triển khai xây dựng khu chức năng phía Nam và hình thành đô thị Rạng Đông theo hướng phát triển đa ngành, đa lĩnh vực như phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Hình thành các tổ hợp đô thị – thương mại – du lịch – dịch vụ chất lượng cao, khu vui chơi giải trí, khách sạn, resort, sân golf… gắn với du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng. Huyện Giao Thủy xác định giai đoạn 2024-2025 sẽ tập trung phát triển du lịch biển trên cơ sở khai thác những tiềm năng, lợi thế sẵn có của địa phương. Khai thác có hiệu quả các điểm du lịch hiện có như Vườn Quốc gia Xuân Thủy, Bảo tàng Đồng quê… Nâng cấp khu du lịch Quất Lâm trở thành khu du lịch cấp tỉnh. Tổ chức kết nối các điểm du lịch thành các tour du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch trải nghiệm văn hóa, di tích lịch sử trên địa bàn huyện trong quan hệ hợp tác liên vùng. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng Giao Phong. Phấn đấu giai đoạn 2024-2025 ngành du lịch biển của huyện bình quân đón 550 nghìn lượt khách/năm; doanh thu du lịch bình quân đạt 200 tỷ đồng/năm.

Bên cạnh sự nỗ lực của các địa phương, tỉnh cũng chủ động xác định lộ trình, phương án huy động, sắp xếp nguồn lực để phát triển vùng kinh tế biển và thúc đẩy, khai thác tối đa tiềm năng du lịch biển theo quy mô liên vùng, bao trùm cả 3 địa phương có biển. Trong đó, chú trọng khuyến khích, tạo điều kiện thu hút đầu tư xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch; khai thác tiềm năng, thế mạnh về du lịch của địa phương trong mối tương quan với du lịch của vùng. Trong Chương trình hành động số 01-CTr/TU ngày 12-10-2024 thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX nhiệm kỳ 2024-2025, Tỉnh ủy xác định: Tập trung triển khai Quyết định số 1453/QĐ-TTg ngày 24-9-2024 của Thủ tướng Chính phủ xây dựng Khu kinh tế Ninh Cơ thành trung tâm lớn trong giao thương quốc tế về công nghiệp, thương mại, du lịch và cảng biển của vùng Nam đồng bằng sông Hồng; tạo động lực trong phát triển kinh tế – xã hội của các huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu. Xây dựng và phát triển các đô thị ven biển (Thịnh Long, Quất Lâm, Rạng Đông), trong đó xây dựng đô thị Thịnh Long – Rạng Đông trở thành thành phố trung tâm phía tây nam của tỉnh với chức năng phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch. Từng bước xây dựng không gian kinh tế liên kết khu vực biển huyện Nghĩa Hưng gồm đô thị Rạng Đông Thịnh Long – KCN Dệt may Rạng Đông – Khu chức năng phía nam đô thị Rạng Đông theo hướng phát triển đa ngành, đa lĩnh vực. Tiếp tục đầu tư và hoàn thành các tuyến đường giao thông quan trọng, huyết mạch kết nối khu kinh tế biển của tỉnh với các khu du lịch trong vùng. Bên cạnh đó, tiếp tục phát triển các trung tâm vui chơi, giải trí để khai thác những điều kiện, lợi thế về cảnh quan, sinh thái, các giá trị văn hoá, tâm linh; cải tạo, nâng cấp và nâng cao chất lượng dịch vụ tại các khu du lịch truyền thống. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động phát triển du lịch; có chế độ ưu đãi phù hợp để thu hút nhân lực du lịch có trình độ cao, chuyên nghiệp về công tác tại địa phương; ưu tiên nguồn nhân lực là người dân địa phương phục vụ du lịch cộng đồng. Tạo điều kiện để doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin trong du lịch, áp dụng các giải pháp và công nghệ du lịch thông minh để cải thiện chất lượng dịch vụ, tăng trải nghiệm của khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng của ngành. Nâng cấp trang thông tin điện tử về du lịch Nam Định; kết hợp sử dụng các nền tảng mạng xã hội phổ biến như Youtube, Facebook, Instagram… để xây dựng hình ảnh và phát triển thương hiệu du lịch biển Nam Định. Đổi mới cách thức, nâng cao hiệu quả xúc tiến và quảng bá du lịch trong và ngoài nước, đảm bảo tính thống nhất, chuyên nghiệp, hiệu quả, giới thiệu được các sản phẩm du lịch đặc sắc, hấp dẫn của địa phương đến du khách và nhà đầu tư; chú trọng kết hợp nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm với các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch biển để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành du lịch trong giai đoạn mới./.

Bài và ảnh: Thanh Thúy

 

Phát Triển Kinh Tế Biển Việt Nam

Cảng tàu khách du lịch quốc tế chuyên biệt Hạ Long tại Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh_Ảnh: TTXVN

Tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam

Về phát triển giao thông đường biển

Nước ta có lợi thế về giao thông đường biển, khi gần các tuyến đường hàng hải quốc tế và khu vực. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển ngành hàng hải, công nghiệp tàu thủy và logistics. Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa cho phép vận chuyển nhanh chóng, thuận lợi hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc, cũng như đi đến các nước trong khu vực và thế giới. Bờ biển dài và khúc khuỷu, với 114 cửa sông, khoảng 52 vịnh nước sâu ven bờ miền Trung (vũng, vịnh, đầm phá chiếm 60% chiều dài đường bờ biển), có hơn 100 vị trí có thể xây dựng các cảng biển lớn. Vùng biển Việt Nam nằm tại khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao và là cầu nối giữa nhiều cường quốc kinh tế và chính trị trên thế giới. Với vị trí thuận tiện cho giao thông và các vũng, vịnh kín có độ sâu lớn, rất thuận lợi làm cảng biển; không gian rộng lớn ở ven biển và trên bờ biển thuận lợi để phát triển các khu kinh tế.

Về khai thác và chế biến khoáng sản

Vùng biển Việt Nam chứa khoảng 35 loại hình khoáng sản với trữ lượng khai thác khác nhau từ nhỏ đến lớn, thuộc các nhóm: nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và bán quý, khoáng sản lỏng. Đặc biệt, tiềm năng dầu khí phân bố trong 6 bồn trầm tích và hoạt động khai thác dầu khí được duy trì tại 11 mỏ ở thềm lục địa phía Nam. Thời gian qua, ngành dầu khí luôn giữ vai trò quan trọng trong kinh tế biển nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung. Ngoài ra, ven biển nước ta đã phát hiện được các sa khoáng, khoáng vật nặng của các nguyên tố hiếm quý, như: titan, ziacon, xeri. Một số mỏ cát vật liệu xây dựng dưới đáy biển ở Quảng Ninh và Hải Phòng với trữ lượng trên 100 tỷ tấn và một dãy cát thạch anh ngầm dưới đáy biển Quảng Ninh (gần 9 tỷ tấn). Bên cạnh đó, tiềm năng tài nguyên nước biển cũng rất lớn, với các dạng năng lượng biển, như: băng cháy, năng lượng thủy triều, năng lượng sóng, năng lượng hạt nhân nước nặng từ nước biển.

Về khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản

Nguồn lợi hải sản trong vùng biển nước ta có độ phong phú cao. Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn có nhiều đặc sản khác có giá trị kinh tế, như: tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Chỉ tính riêng cá biển, có hơn 2.000 loài khác nhau đã được phát hiện, trong đó khoảng 100 loài có giá trị kinh tế; có 15 bãi cá lớn, phân bố chủ yếu ở vùng ven bờ. Theo các số liệu thống kê, trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hằng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Dọc ven biển có trên 37 nghìn héc-ta mặt nước các loại có khả năng nuôi trồng thủy sản nước mặn – lợ, nhất là nuôi các loại đặc sản xuất khẩu, như: tôm, cua, rong câu… Ngoài ra, còn có hơn 50 nghìn héc-ta các eo vịnh nông và đầm phá ven bờ, như vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, phá Tam Giang, vịnh Vân Phong,… là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển.

Về phát triển du lịch biển

Đường bờ biển dài trên 3.260km và hàng nghìn hòn đảo ven bờ đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát triển du lịch biển. Theo thống kê, dọc bờ biển Việt Nam có khoảng 125 bãi biển đẹp, trong đó, một số bãi biển và vịnh được đánh giá là những bãi biển và vịnh đẹp hàng đầu thế giới, như bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), Phú Quốc (Kiên Giang), Eo Gió (Bình Định), vịnh Nha Trang, vịnh Lăng Cô, vịnh Hạ Long. Sự phong phú, đa dạng về tài nguyên tự nhiên và văn hóa đặc trưng vùng biển, đảo đã tạo ra những tiềm năng to lớn và lợi thế so sánh cho du lịch biển Việt Nam. Vùng biển Việt Nam lại nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều khu vực ấm quanh năm, rất thuận lợi cho du khách từ nhiều quốc gia, đặc biệt từ các quốc gia có mùa đông lạnh tới nghỉ dưỡng, tắm biển. Những năm gần đây, ngành du lịch biển, hải đảo Việt Nam đang trên đà phát triển, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

Những thách thức trong phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay

Một là, nhận thức chung về phát triển bền vững đất nước dựa vào tiềm năng biển, đảo còn chưa sâu sắc, chưa đầy đủ. Cùng với đó, nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân chưa đầy đủ, quy mô kinh tế còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu các ngành nghề trong các lĩnh vực kinh tế biển chưa hợp lý, chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế. Mặt khác, việc đầu tư xây dựng các khu kinh tế ven biển còn tràn lan, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Vẫn còn nặng tư duy khai thác tự phát, chưa thực sự coi biển là ngôi nhà chung, do vậy sống nhờ biển hơn là dựa vào biển mà giàu lên, khai thác chưa thực sự gắn liền với bảo tồn, phát triển.

Hai là, kết cấu hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu, manh mún, thiết bị chưa đồng bộ, nên hiệu quả sử dụng thấp, kém bền vững. Các cảng biển, các khu kinh tế, sân bay ven biển còn nhỏ bé, chưa hình thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn… Hiện nay, hầu như tỉnh nào ở ven biển cũng quy hoạch cảng biển, nhưng không đủ kinh phí xây dựng, nên nhiều công trình dang dở; một số địa phương xây dựng cảng nhưng không thể khai thác, sử dụng, vì tính toán không hợp lý, gây lãng phí, kém hiệu quả.

Ba là, các phương tiện, thiết bị nghiên cứu khoa học biển và hệ thống các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển chưa được đầu tư xứng đáng; các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn,… ở ven biển còn nhỏ bé, trang bị thô sơ. Các phương thức quản lý biển mới, tiên tiến còn chậm được nghiên cứu áp dụng, như: quản lý tổng hợp dải ven biển, quản lý không gian biển, quy hoạch sử dụng biển chưa chú ý nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển tiên tiến trong khai thác tài nguyên biển.

Bốn là, tình hình khai thác, sử dụng biển và hải đảo chưa đạt hiệu quả cao, thiếu bền vững do khai thác tự phát, không tuân thủ quy hoạch biển đảo. Phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn theo hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu, chủ yếu là ưu tiên khai thác tài nguyên biển ở dạng vật chất, không tái tạo; chú trọng nhiều đến sản lượng, số lượng, ít chú ý đến chất lượng và lợi ích lâu dài của các dạng tài nguyên. Ngoài ra, công tác quản lý, giám sát việc khai thác nguồn lợi biển còn nhiều yếu kém. Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình quản lý còn rất thụ động, chưa làm rõ vấn đề sở hữu, sử dụng đất ven biển và mặt nước biển cho người dân vùng ven biển.

Sáu là, môi trường biển bị ô nhiễm và biến đổi theo chiều hướng xấu. Ngày càng có nhiều chất thải chưa qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển được đổ ra biển, một số khu vực ven bờ bị ô nhiễm, hiện tượng thủy triều đỏ xuất hiện ngày càng nhiều với quy mô rộng. Ngoài ra, Việt Nam cũng đang chịu tác động nặng nề của tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trước hết là vùng ven biển và các đảo nhỏ. Đặc biệt, việc Trung Quốc mở rộng, tôn tạo trái phép các bãi rạn san hô ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam thành đảo nhân tạo…, khiến cho môi trường rạn san hô ở đây bị phá hủy vĩnh viễn, nguồn lợi thủy sản suy thoái đến mức khó có thể phục hồi và nghề cá khu vực có nguy cơ đổ vỡ.

Một số giải pháp phát triển kinh tế biển Việt Nam theo hướng bền vững

Trước hết, cần xây dựng một quy hoạch sử dụng biển cho toàn quốc mang tính tổng hợp với phương thức tiếp cận sinh thái. Đồng thời, xây dựng và triển khai thực hiện nền kinh tế biển xanh bằng việc bảo đảm tối ưu hóa các lợi ích. Tăng cường tính liên ngành trong phát triển và quản lý kinh tế biển vì lợi ích chung và lâu dài qua các công cụ chính sách, quy hoạch lồng ghép. Phối hợp thành lập và quản lý các khu bảo tồn ven biển và hải đảo để bảo toàn chức năng sinh thái của vùng biển và nguồn vốn tự nhiên biển cho phát triển biển bền vững.

Thứ hai, nâng cao nhận thức về kinh tế biển bền vững, giảm thiểu các hành vi gây hại đối với môi trường và tài nguyên biển, cũng như cách ứng xử, đối phó với thiên tai, kiểm soát tốt nguồn thải, làm sạch bãi biển, bảo tồn hệ sinh thái biển nhằm tạo ra môi trường sống phù hợp, đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại và tương lai. Cùng với đó, tạo sinh kế, phúc lợi cho người dân từ biển; khuyến khích, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tham gia phát triển các ngành kinh tế biển như du lịch sinh thái, thám hiểm – khoa học, du lịch cộng đồng, gắn với nâng cao trách nhiệm của mọi tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân trong phát triển bền vững biển Việt Nam.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao. Bên cạnh việc chú trọng đầu tư phát triển đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia chất lượng cao, cần ưu tiên đầu tư cho công tác đào tạo, đào tạo lại nghề cho người dân, bảo đảm nhu cầu lao động của các ngành kinh tế biển. Đồng thời, phát triển khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tận dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tăng cường điều tra cơ bản biển, đẩy mạnh nghiên cứu, xác lập luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện chính sách, pháp luật; ưu tiên đầu tư đánh giá tiềm năng và lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, hệ sinh thái và các ngành, lĩnh vực kinh tế, như: hàng hải, chế biến hải sản, nuôi trồng thủy, hải sản, năng lượng tái tạo, thông tin và công nghệ số biển, nano biển, sinh dược học biển,…

Thứ tư, tôn trọng các yếu tố đặc thù, các giá trị cốt lõi trong vùng và từng địa phương, bảo đảm tốt liên kết vùng trong phát triển “chuỗi” khu kinh tế biển đảo, chuỗi đô thị ven biển và chuỗi đô thị đảo. Mỗi địa phương cần tìm ra nét đặc thù, tạo lợi thế cạnh tranh riêng biệt để khai thác, phát triển tiềm năng du lịch từ biển hoặc liên kết giữa các địa phương để tạo thành chuỗi du lịch biển nhằm khai thác lợi thế chung. Tăng cường đầu tư vào giá trị tự nhiên, bảo tồn và phát triển giá trị đa dạng sinh học thông qua mở rộng diện tích và lập mới các khu vực bảo tồn biển; phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, nhất là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển.

Thứ năm, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai từ biển, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, ngập lụt, xâm nhập mặn do triều cường, nước biển dâng cho các vùng duyên hải. Đồng thời, phải tiến hành cơ cấu lại các ngành kinh tế biển và ven biển dựa trên hệ sinh thái và phù hợp với lợi thế, tiềm năng tự nhiên. Trong đó, cần ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực như du lịch biển, đảo, năng lượng tái tạo (năng lượng gió, năng lượng dòng chảy thủy triều và năng lượng sóng biển), từng bước đầu tư phát triển công nghệ sinh học biển, dược liệu biển, bên cạnh việc thúc đẩy các ngành kinh tế biển truyền thống, như kinh tế hàng hải, khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản, nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản, hạ tầng nghề cá, công nghiệp đóng tàu,…

Thứ sáu, chú trọng tính tổng thể, toàn diện; phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự_ nhiên, vị trí địa lý, bảo đảm tính kết nối giữa các địa phương ven biển với nhau, cũng như với các địa phương trong nội địa, qua đó tăng cường sự gắn kết, tạo thành chuỗi kết nối khép kín, nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa, sức cạnh tranh cho các ngành, địa phương và các vùng trong cả nước. Mặt khác, cần đẩy mạnh công tác quản lý biển theo cách tiếp cận tổng hợp nhằm giảm thiểu tác động từ hoạt động của các ngành kinh tế khác đến môi trường và tài nguyên biển./.

Theo THS. HOÀNG VĂN KHẢI/Tạp chí Cộng sản

Phát Triển Kinh Tế Biển

20:54 18/06/2024 Trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW của Trung Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng xác định: Xây dựng du lịch biển có quy mô, tầm cỡ quốc gia, có vị trí trong khu vực…

Bến cá Đồ Sơn – Hải Phòng (Ảnh Trần Sơn)

Nằm ở vị trí trung tâm vùng duyên hải Bắc Bộ, đồng thời cũng là vùng đệm giữa vòng cung Đông Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng, Hải Phòng là nơi hội tụ của đa số các dòng sông phía Bắc đổ ra biển. Điều này đã hình thành cho Hải Phòng vùng bồi hơn 125 km bờ biển, có nhiều cửa sông lớn, bãi cát rộng, thuận tiện cho phát triển kinh tế xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng.

Cách đây hơn 15 năm, ngày 5-8-2003, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết 32-NQ/TW về “xây dựng và phát triển Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước”, trong đó xác định: Hải Phòng cần tập trung mọi nguồn lực để trở thành “một trọng điểm phát triển kinh tế biển; một trong những trung tâm công nghiệp, thương mại lớn của cả nước và trung tâm dịch vụ, du lịch, thuỷ sản, giáo dục và y tế của vùng duyên hải Bắc Bộ”.

Như vậy, du lịch là một trong những mục tiêu phát triển chiến lược đã được Trung ương định hướng cho Hải Phòng, trên cơ sở những tiềm năng thực tế.

Nhìn từ góc độ tự nhiên, lợi thế cạnh tranh của du lịch biển Hải Phòng đã rất rõ. Trong đó, Cát Bà nổi tiếng với việc sở hữu quần thể gồm 367 đảo với kho lưu trữ sinh học tự nhiên vô giá, được Unesco công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Cát Bà có nhiều loài động thực vật tầm giá trị toàn cầu, tiêu biểu là 3.860 loài trên cạn và dưới nước, có tới 130 loài được đưa vào “sách đỏ”, đặc biệt voọc đầu trắng đặc hữu trên thế giới chỉ còn phân bố duy nhất ở Cát Bà.

Chưa kể hệ sinh thái quần đảo đá vôi thuộc diện lớn nhất Châu Á, tạo thành chuỗi kế tiếp những rừng nhiệt đới nguyên sinh, rừng ngập mặn, vùng triều, hồ nước mặn, rạn san hô… Điều quan trọng là, qua hàng chục nghìn năm tiến hóa, Cát Bà vẫn cơ bản giữ được tính nguyên thủy, tạo sức hút lý tưởng đối với du khách thập phương.

Cũng như Cát Bà, khu du lịch Đồ Sơn thu hút khách nhờ được thiên nhiên ban tặng một địa thế lý tưởng, với dãy núi 9 ngọn kéo thành một bán đảo dài hơn 20km trên miền thềm lục địa, được ví như con rồng hướng ra biển, tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình. Chính vì vậy, sự hấp dẫn của Đồ Sơn mang sắc thái đặc trưng thuần túy của du lịch biển, với mọi sự thưởng ngoạn đều gắn với biển.

Riêng bãi biển Đồ Sơn với những dải cát mịn, bằng phẳng, mà khoảng có thể khai thác thành bãi tắm đã tới gần 5km, là một trong những bãi tắm tiềm năng được đánh giá lớn nhất Việt Nam. Cách đây vài chục năm, khả năng khai thác đã tương đối triệt để, khi Đồ Sơn được chia làm 3 khu 1, 2 và 3, nhưng hiện nay do gặp vấn đề về môi trường nước, nên nguồn vốn tự nhiên này của Đồ Sơn bị bỏ phí phần lớn.

Vẻ đẹp chùa tháp Tường Long – Đồ Sơn (Ảnh Trần Sơn)

Mặc dù vậy, với những gì đang hiện hữu vẫn đủ để khẳng định Đồ Sơn là tổng thể của một khu du lịch phức hợp, bao gồm cả tự nhiên và văn hóa, lịch sử… Ngoài vẻ đẹp cảnh quan như đã nói ở trên, vùng đất Đồ Sơn chứa đựng rất nhiều nét văn hóa đặc sắc.

Đặc biệt nhất có lẽ là văn hóa tín ngưỡng, với những ngôi chùa cổ, điểm nhất ấn tượng có thể kể đến chùa Hang (Cốc Tự) nằm ở ngay khu 1, tựa vào một hang đá tự nhiên có chiều cao 3,5m, rộng 7m, xuyên theo hình thang sâu vào lòng núi.

Theo lịch sử Phật giáo Việt Nam, cách đây hơn hai nghìn năm, một nhà sư Ấn Độ đã chọn nơi đây làm để tịnh tâm tu hành và truyền bá đạo Phật, bởi vậy chùa Hang cũng chính là di chỉ ghi dấu nơi phát tích đầu tiên của nền Phật giáo tại Việt Nam.

Một điểm nhấn nữa phải kể đến chùa tháp Tường Long, ngôi chùa nằm trên đỉnh núi Rồng thuộc phường Ngọc Xuyên, được xây dựng từ thời nhà Lý. Theo truyền tích, năm Mậu Tuất 1058 vua Lý Thánh Tông sau khi ngự giá qua biển đã dừng chân ghé lại, trong giấc mộng vua gặp rồng vàng bèn cho xây một tòa tháp đặt tên là Tường Long.

Giá trị càng được khẳng định khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 2630/QĐ-TTg ngày 31-12-2013 về thành lập khu bảo tồn biển Bạch Long Vỹ. Cùng với đó, thời gian qua, thành phố đã tập trung đầu tư khá lớn cho huyện đảo, nhằm cụ thể hóa mục tiêu để Bạch Long Vỹ trở thành một tụ điểm du lịch, đồng thời là trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá của vịnh Bắc Bộ.

Chưa hết, vùng đất cửa biển Hải Phòng còn lưu giữ khá nhiều những di sản lịch sử, văn hóa có giá trị. Hiện toàn thành phố có 470 di tích được xếp hạng, trong đó có 2 di tích đặc biệt cấp quốc gia là khu danh lam thắng cảnh quần đảo Cát Bà và đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (Vĩnh Bảo).

Trong hàng trăm di tích khác cấp quốc gia và thành phố, nổi lên nhiều di sản vô giá như các lễ hội: chọi trâu (Đồ Sơn); đua thuyền rồng, vật cầu, minh thề (Kiến Thụy), hát đúm (Thủy Nguyên)… Đặc thù miền biển Hải Phòng cũng hình thành một nền văn hóa ẩm thực hấp dẫn, hội tụ đủ đặc sản cả 3 vùng nước mặn – ngọt – lợ.

Có thể nói, du lịch Hải Phòng đang trở mình mạnh mẽ với mục tiêu vươn ra biển lớn, sống với biển và làm giàu từ biển, khẳng định hướng đi đúng đắn là củng cố, phát triển kinh tế để làm nền tảng cho ổn định quốc phòng an ninh, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Tuy nhiên, trong một thời gian dài du lịch Hải Phòng chỉ quen với việc khai thác những gì có sẵn, nghĩa là phần lớn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, nên chưa thực sự tạo ra sự bứt phá cho ngành “công nghiệp không khói”. Cụ thể là hiệu quả kinh tế du lịch thấp, cơ cấu và tỷ trọng du lịch trong nhóm ngành dịch vụ còn nhỏ bé.

Kết cấu hạ tầng du lịch thiếu đồng bộ, chưa nhiều những điểm du lịch, khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, mua sắm quy mô lớn, có sức hút. Sản phẩm du lịch mới chỉ dựa trên khai thác giá trị sẵn có, chưa độc đáo, hấp dẫn, bắt kịp xu hướng và nhu cầu thị hiếu của du khách.

Hy vọng trong tương lai gần, Hải Phòng sẽ hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 36-NQ/TW, tìm ra đáp số thiết thực giải bài toán trên, xứng đáng không chỉ là trung tâm du lịch xanh của Việt Nam, mà còn là điểm đến hấp dẫn mang tầm quốc tế, hòa nhịp vào mục tiêu tăng trưởng xanh mà thành phố đang hướng tới.

Lê Minh Thắng

tin bài cùng chuyên mục:

Hiệu Quả Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Biển Đảo Việt Nam

Hoàng hôn trên biển Bãi Dài Phú Quốc (Ảnh: Pinterest)

Với sự ra đời và đi vào thực hiện của Nghị định số 09-NQ/TW về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2024”, kinh tế biển tại nhiều vùng đã có những bước phát triển toàn diện, tiêu biểu trong đó phải kể đến đảo ngọc Phú Quốc. Sự bùng nổ của kinh tế du lịch đã giúp nơi đây trở thành huyện “giàu nhất” tỉnh Kiên Giang và là điểm sáng của cả nước về phát triển kinh tế biển xanh, tận dụng được triệt để lợi thế của du lịch biển đảo.

Bên cạnh đó, theo các số liệu thống kê của tổng cục du lịch thì với lượng khách tăng nhiều trong những năm qua và chiếm tới 70% tổng khách du lịch cả nước, du lịch biển đảo đã và đang là hình thức du lịch chủ đạo, góp phần quan trọng đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam.

Có thể nói chưa bao giờ Phú Quốc lại thu hút nhiều khách du lịch cả trong và ngoài nước như bây giờ. Riêng trong năm 2024 đã có trên 4 triệu lượt khách ghé thăm vượt hơn 1 triệu lượt so với năm 2024.

Nếu đến đảo Ngọc cách đây vài ba năm, ta chỉ thấy một hòn đảo đìu hiu, thưa vắng khách thì giờ đây khi nói đến đảo Ngọc người ta nhớ đến một vùng biển mộng mơ, trong xanh và đầy nên thơ. Để tạo nên cú chuyển mình đầy ngoạn mục đó là nhờ sự lớn mạnh không ngừng của du lịch biển đảo.

Các hệ thống nghỉ dưỡng “mọc” lên san sát khắp vùng đảo Ngọc. Từ chỗ chỉ có những làng chài xơ xác bên bãi biển, ngày nay Phú Quốc đã bước sang đẳng cấp khác khi sở hữu hàng loạt dự án tầm cỡ. Nhiều khu nghỉ dưỡng cao cấp, khu vui chơi giải trí lớn đã được đầu tư xây dựng nhằm phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước như Vinpeal, Safari…

Sự bứt phá mạnh mẽ nhất của huyện đảo Phú Quốc trong những năm qua là đầu tư khai thác tiềm năng du lịch vùng ven biển và hải đảo. Trong đó, nhiều dự án và công trình quan trọng đã được đầu tư hoàn thành và đưa vào sử dụng như: Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc, hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước. Kết cấu hạ tầng vùng ven biển, hải đảo cũng được quan tâm đầu tư, như các công trình giao thông, thủy lợi, hệ thống cảng biển, trường học, trạm y tế và các dự án phát triển du lịch mang tầm quốc tế.

Nhờ sự đầu tư quy mô này mà lượng khách du lịch đổ về Phú Quốc ngày càng đông, đặc biệt là khách quốc tế. Năm 2024 số lượng khách ngoại tăng 68,4% so với năm 2024.

Cũng như Phú Quốc, chỉ vài năm trước khu vực ven biển Nhơn Lý – Eo gió chỉ là những đồi cát hoang, trập trùng nắng gió, còn Quy Nhơn chỉ là điểm trung chuyển để du khách dừng chân tạm thời trước khi đến với những địa danh nổi tiếng hơn. Bình Định có thể coi là một địa danh “lạ” trên bản đồ Việt Nam.

Eo Gió (Quy Nhơn) (Nguồn: www.24h.com.vn)

Và sau một vài năm với sự phát triển của kinh tế vùng miền, những dấu hiệu đổi thay đã bắt đầu xuất hiện. Những cồn cát trắng đẹp hơn nhờ sắc xanh của cỏ cây, hoa lá rồi lần lượt là sự ra đời của các khách sạn, sân golf, hồ bơi… Những khu nghỉ dưỡng cao cấp, những khách sạn mọc lên nhanh chóng đã đem lại sức sống mới cho một vùng biển quanh năm chỉ thấy nắng, gió và cát bụi.

Nhờ những thước phim điện ảnh đặc sắc đã tô đậm thêm nét đẹp của Quy Nhơn, biến nơi đây trở thành một địa danh hấp dẫn nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Theo đó, cuộc sông của người dân vùng biển cũng ngày càng được cải thiện, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh nhà. Năm 2024, tỉnh Bình Định đã đón hơn 4 triệu lượt khách, đạt doanh thu 3.301 tỷ đồng, tăng 54,7% so với năm 2024, vượt chỉ tiêu đề ra 35,8%.

Nhờ sự phát triển của ngành du lịch đã tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong tỉnh.

Sự thành công của Phú Quốc, Quy Nhơn đã đánh thức nhiều vùng biển khác như Phú Yên, Hà Tĩnh…tạo đà phát triển cho các vùng miền này.

Có thể nói du lịch biển đảo đã, đang và sẽ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam.

Việt Nam có lợi thế của một nước có vùng biển dài và rộng trên thế giới, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền, có bờ biển dài 3.260 km.

Với nguồn tài nguyên thiên nhiên tiềm năng đó, theo PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, Giám đốc Diễn đàn phát triển đô thị bền vững châu Á tại Việt Nam, Ủy viên hội đồng Quy hoạch – Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh, trong những năm gần đây, Việt Nam đã dành nhiều sự quan tâm hơn cho biển với các chiến lược phát triển kinh tế biển, phát triển dải đô thị biển và dự án nối liền mạch tuyến đường bộ ven biển chạy qua 28 tỉnh thành bắt đầu từ Quảng Ninh đến Kiên Giang với tổng chiều dài 3.041km được khởi động.

Khi nhận thức về tiềm năng du lịch biển đảo đầy hứa hẹn ngày càng rõ ràng hơn, Đảng, nhà nước cùng nhân dân ta trong những năm gần đây đã đẩy mạnh phát triển và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, du lịch, đặc biệt là hệ thống cơ sở lưu trú ven biển.

Hiện nay, khu vực ven biển đã có hơn 1.400 cơ sở lưu trú cung ứng với gần 50.000 buồng. Nhờ sự đầu tư mạnh về cơ sở vật chất cùng sự ra đời của hàng loạt các dịch vụ giải trí, du lịch biển đã thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan và nghĩ dưỡng mỗi năm.

Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, trong giai đoạn 2000-2010, tỷ trọng khách quốc tế đến Việt Nam du lịch tại các địa phương giáp biển là 75,3%, hay tính trung bình trên 75% khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chọn du lịch biển đảo. Đối với khách du lịch trong nước, tỷ trọng này khiêm tốn hơn song cũng chiếm 54,5% tổng lượng khách du lịch trong nước.

Đặc biệt, kể từ năm 2000, ngành du lịch Việt Nam có sự tăng trưởng khá trong cả doanh thu và số lượt khách du lịch, đóng góp một vị thế quan trọng vào sự phát triển này là nhờ du lịch biển.

Theo các số liệu thống kê, năm 2024, ngành du lịch đã đón khoảng 15,6 triệu khách quốc tế đến, phục vụ trên 80 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt 620.000 tỷ đồng. Theo thống kê, trung bình trên 75% khách quốc tế chọn du lịch biển đảo và 28 tỉnh, thành phố có địa lý giáp biển, đóng góp tới 71,5% tổng doanh thu du lịch lữ hành của cả nước.

Top 20% các địa phương dẫn đầu chiếm tỷ trọng 75,8% tổng doanh thu du lịch lữ hành và trong top này tỷ lệ các địa phương giáp biển đã chiếm đến gần 82%.

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) Việt Nam xếp thứ 6/10 nước có tăng trưởng du lịch mạnh nhất thế giới đầu năm 2024 và đứng đầu châu Á về tốc độ phát triển du lịch.

Những thành quả này có được là nhờ sự vào cuộc quyết liệt của tất cả các cấp nhằm thúc đẩy du lịch phát triển trên lộ trình trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

An Nhơn Bình Định Tiềm Năng Phát Triển Kinh Tế

Bình Định với khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, nhiều đặc sản hấp dẫn khách du lịch, tiêu biểu đó chính là thị xã An Nhơn. Nằm trong vùng phát triển kinh tế năng động của Bình Định – hứa hẹn tiềm năng kinh tế trong tương lai thu hút nhà đầu tư

Vị trí địa lý

Thị xã An Nhơn ở phía nam của tỉnh Bình Định, có toạ độ địa lý 13 042 đến 13 049 vĩ độ bắc và 109 000 đến 109 0 11 kinh độ đông; phía bắc giáp huyện Phù Cát; phía nam giáp huyện Vân Canh và Tuy Phước; phía tây giáp các huyện Tây Sơn và Vân Canh; phía đông giáp huyện Tuy Phước.

Phía Tây Nam giáp Quy Nhơn: TP. Quy Nhơn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh Bình Định, có tiềm năng rất lớn về du lịch, nhận được sự quan tâm, đầu tư mạnh mẽ của tỉnh Bình Định trong những năm vừa qua. Là hạt nhân trong kế hoạch phát triển kinh tế tỉnh Bình Định.

Là nơi giao nhau của các tuyến giao thông huyết mạch của cả nước và khu vực: Quốc lộ

19 (là tuyến đường nối ra biển của các tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh Nam Lào và Campuchia) Quốc lộ 1A (tuyến giao thông huyết mạch của cả nước).Các đường can tốc Quảng Ngãi – Bình Định , Bình Định – Nha Trang đều có điểm bắt đầu hoặc kết thúc ở đây.

Tiềm năng rất lớn phát triển Du Lịch – Lịch Sử khi có nhiều các di tích văn hoá – lịch sử

đặc sắc. Các Tour Du lịch Văn Hoá cũng đang được chú trọng đầu tư.

Đô Thị Đập Đá, Đô Thị Bình Định, Khu Đô Thị Phía Tây là những động lực để phát triển Thị Xã An Nhơn.

An nhơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, được chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, chịu ảnh hưởng của gió tây và gió tây nam. Từ tháng 5 đến tháng 8 có gió nam khô, nóng. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc. Hằng năm, thường có mưa nhiều vào tháng 10, tháng 11. Tổng số ngày mưa trong năm là 130 ngày, độ ẩm tương đối trung bình 81%. Số giờ nắng trung bình trong năm là 2500 giờ. Số giờ nắng trung bình ngày từ 6-8 giờ. Nhiệt độ trung bình trong năm là 26,8 0 C.

Đặc điểm địa hình- thủy văn

Thị xã thuộc vùng đồng bằng của tỉnh Bình Định có xu hướng nghiêng từ tây sang đông với độ dốc không đáng kể, độ cao trung bình là 20m so với mực nước biển. Mạng lưới thuỷ văn tự nhiên phân bố khá đều với mật độ cao. Hệ thống hạ lưu sông Kôn chia thành hai nhánh Nam phái và Bắc phái, tiếp với sông An Tượng chia thành năm nhánh phân bố đều trên địa bàn thị xã, cùng với Hồ Núi Một và mạng lưới kênh mương nhân tạo đã tạo nên cảnh quan đa dạng, thuận lợi cho quy hoạch đầu tư xây dựng và phát triển toàn diện đô thị.

Địa danh du lịch thu hút du khách

Tọa lạc tại làng Nam An, trên địa bàn xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn 27 km về hướng Tây Bắc, tháp Cánh Tiên được xây dựng ở thế kỷ XVI. Tháp là biểu tượng cho loại hình kiến trúc phổ biến của văn hoá Champa. Được xây dựng trên một đỉnh đồi cao chừng vài chục thước, tháp Cánh Tiên thờ bà Nữ Thần Y A Na. Đã có cơ hội đến thăm Bình Định nên dừng chân tham quan tháp Cánh Tiên đồng thời tìm hiểu thêm về nghệ thuật kiến trúc thời bấy giờ.

Định Hướng Phát Triển Du Lịch Trở Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn

(TITC) – Chiều ngày 15/7, tại Trụ sở Chính phủ đã diễn ra Hội nghị Định hướng phát triển ngành Du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, dưới sự chủ trì của đồng chí Vương Đình Huệ – Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ và đồng chí Vũ Đức Đam -Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ.

Bộ VHTTDL báo cáo Chính phủ dự thảo Đề án Phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn. (Ảnh: Báo Tổ quốc)

Tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) Nguyễn Ngọc Thiện đã báo cáo Chính phủ dự thảo Đề án Phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Theo đó, để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch cần có các điểm nổi trội như đóng góp lớn vào nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhiều ngành và địa phương, tạo thu nhập và việc làm cho xã hội, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần ổn định xã hội… Đề án định hướng đến năm 2024, du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại, sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới, phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2024, thu hút 14-15 triệu lượt khách quốc tế, tăng trưởng bình quân 12-14%/năm trong giai đoạn 2024-2024; ngành Du lịch đóng góp 9-10% GDP, tổng thu từ khách du lịch đạt 29-32,5 tỷ USD, tăng trưởng 14-16% giai đoạn 2024-2024; tạo ra 3,5 triệu việc làm, trong đó có 1,02 triệu việc làm trực tiếp. Về dịch vụ lưu trú du lịch, tổng số buồng lưu trú là 600.000 buồng, trong đó 30-35% đạt chuẩn 3-5 sao.

Để thực hiện các mục tiêu trên, Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng, ngành Du lịch cần khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả trong công tác xúc tiến quảng bá du lịch, huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển du lịch; tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục nhập cảnh; tăng cường giao thông quốc tế và nội địa; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch; tăng cường quản lý điểm đến bền vững và tạo môi trường du lịch văn minh, thân thiện; đẩy mạnh hợp tác liên ngành, liên vùng.

Các đại biểu tham dự hội nghị bày tỏ sự nhất trí cao đối với sự cần thiết và tầm quan trọng của đề án, đồng thời đề nghị ban soạn thảo phân định rõ vai trò, trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương và địa phương; những công việc cần triển khai ở từng cấp, ngành, doanh nghiệp du lịch và người dân; vị trí của từng vùng động lực phát triển du lịch; mối quan hệ liên ngành trong phát triển du lịch.

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đánh giá cao sự nỗ lực của ban soạn thảo Đề án Phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn và những ý kiến đóng góp của 18 tỉnh, thành phố tham dự. Phó Thủ tướng khẳng định, thời gian qua du lịch Việt Nam đã có mức tăng trưởng nhanh, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nước, có tác động tích cực, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Với tư cách ngành kinh tế du lịch, hoạt động du lịch cũng thúc đẩy các ngành liên quan phát triển.

Phó Thủ tướng yêu cầu cần phân tích, đánh giá kỹ tiềm năng lợi thế, cơ hội, thách thức của du lịch Việt Nam, đồng thời đúc rút thêm bài học kinh nghiệm của bạn bè quốc tế để ngành du lịch phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có.

Phó Thủ tướng cho rằng để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trước hết cần coi du lịch là một ngành kinh tế, phải xây dựng một tư duy kinh tế trong quản lý và vận hành. Từ đó có thước đo cụ thể về tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể về ngành kinh tế dịch vụ chứ không đơn thuần là các chỉ tiêu về số lượng khách du dịch.

Phó Thủ tướng đề nghị Bộ VHTTDL tiếp thu các ý kiến để tiếp tục hoàn thiện đề án trước khi trình Bộ Chính trị, trong đó chú trọng việc đánh giá thực trạng du lịch và chủ trương chính sách phát triển, xác định quan điểm, mục tiêu và cuối cùng là nội dung thực hiện.

Phó Thủ tướng kỳ vọng lần này sẽ có một Nghị quyết của Bộ Chính trị về du lịch và đánh giá đây là cơ hội để ngành du lịch phát triển và cất cánh.

TITC

Cập nhật thông tin chi tiết về Nam Định: Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Biển trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!