Xu Hướng 1/2023 # Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Tỉnh Sóc Trăng # Top 10 View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Tỉnh Sóc Trăng # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Tỉnh Sóc Trăng được cập nhật mới nhất trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

    Sóc Trăng là tỉnh thuộc vùng châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cung cấp sản lượng lương thực quan trọng của cả nước, nơi có sản phẩm xuất khẩu dồi dào và đa dạng, đặc biệt là gạo và hàng thủy sản, nông sản thực phẩm chế biến. Đây là vùng có nhiều tiềm năng kinh tế để phát triển sản xuất, đồng thời cũng là nơi tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ lớn cho khu vực và cả nước.1-Vị trí địa lý:    Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh 231km, cách Cần Thơ 62km. Diện tích tự nhiên 3.310,03 km2, xấp xỉ 1% diện tích của cả nước và 8,3% diện tích của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.    Sóc Trăng có địa giới hành chính tiếp giáp 3 tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Ở phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, ở phía Tây Nam giáp Bạc Liêu, ở phía Đông Bắc giáp Trà Vinh và giáp biển Đông ở phía Đông và Đông Nam. Sóc Trăng nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang.Tỉnh có đường bờ biển dài 72 km. Vị trí tọa độ: 9 độ 12’ – 9 độ 56’ độ vĩ Bắc và 105 độ 33’ – 106 độ 23’ độ kinh Đông.2. Đơn vị hành chính; dân số:    Sóc Trăng gồm 09 huyện, 01 thị xã và 1 thành phố với 109 xã, phường, thị trấn. Thành phố Sóc Trăng là trung tâm hành chính của tỉnh.Theo thống kê ngày 01/4/2009, toàn tỉnh hiện có 1.289.441 người; trong đó, thành thị chiếm 251.328 người, nông thôn 1.038.113 người. Tổng dân số nam là 641.422 người, nữ 648.019 người.    Mật độ dân số trung bình hiện nay của tỉnh là 389 người/km2, thấp hơn mức trung bình ở Đồng bằng sông Cửu Long (434 người/km2). Dân số phân bổ không đều, tập trung đông ở vùng ven sông Hậu và các giồng đất cao, nơi có điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế. Cơ cấu này sẽ thay đổi theo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chiến lược phát triển của tỉnh trong tương lai. Ở Sóc Trăng, ngoài người Kinh chiếm tỷ lệ khoảng 65,28% dân số còn có nhiều dân tộc khác cùng chung sống, trong đó người Khmer chiếm 28,9%, người Hoa chiếm 5,9%. Thêm vào đó còn có người Nùng, Thái, Chăm… nên đời sống và sinh hoạt văn hóa của người dân Sóc Trăng rất đa dạng và phong phú.

Đơn vị

Diện tích (Ha)

Dân số (người)

Mật độdân số (người/Km)

Toàn tỉnh

331.003

1.289.441

389

Thành phố Sóc Trăng

7.615

135.478

1.780

Kế Sách

35.260

157.317

446

Long Phú

26.335,61

112.149

426

Cù Lao Dung

26.051

62.024

237

Mỹ Tú

60.435

105.891

228

Châu Thành

23.632

100.421

425

Thạnh Trị

28.810

85.499

297

Ngã Năm

24.220

79.400

328

Mỹ Xuyên

37.077,41

157.267

424

Thị xã Vĩnh Châu

47.313

163.918

346

Trần Đề

37.875,98

130.077

343

Ghi chú: số liệu Thống kê ngày 01/4/2009. Huyện Trần Đề được thành lập theo Nghị quyết số 64/NQ-CP của Chính phủ

3. Giao thông (thủy, bộ):    Từ Sóc Trăng có thể đi đến trung tâm các tỉnh, các đô thị khác trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và khắp vùng Nam bộ bằng cả đường bộ lẫn đường thủy. Cùng với hệ thống kinh rạch và 8 tuyến tỉnh lộ dài 277 km, các tuyến đường liên huyện, liên xã nối liền các huyện, thành phố thành hệ thống giao thông thủy, bộ khá thuận lợi.    Sóc Trăng có 72 km bờ biển với 3 cửa sông lớn Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh hình thành lưu vực rộng lớn thuận lợi cho giao thông đường thủy, nuôi trồng thủy hải sản, làm muối… khai thác biển, đánh bắt xa bờ4. Khí hậu:   Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu Sóc Trăng chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 270C, độ ẩm trung bình là 83%.5. Tiềm năng phát triển kinh tế:    Nhờ vào địa thế đặc biệt, nơi dòng sông Hậu đổ ra biển Đông Nam bộ, vùng có nhiều trữ lượng tôm cá, Sóc Trăng có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển tổng hợp.   Đất đai của Sóc Trăng có độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu nành, bắp, các loại rau màu như hành, tỏi và các loại cây ăn trái như bưởi, xoài, sầu riêng… Hiện đất sử dụng cho nông nghiệp chiếm 84,03%, đất lâm nghiệp 4,40%, đất chuyên dùng và các loại đất khác 11,57%. Trong tổng số 278.154 ha đất nông nghiệp có 160.910 ha sử dụng cho canh tác lúa, 18.319 ha dùng trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày, 40.911 ha dùng trồng cây lâu năm và cây ăn trái.   Với cấu tạo địa chất trẻ, hình thành trong quá trình lấn biển của châu thổ sông Cửu Long, tính chất địa hình nơi đây thể hiện rõ nét bằng những giồng cát hình cánh cung đồng phương với bờ biển từ Sóc Trăng đến Vĩnh Châu.   Mặc dù còn một số hạn chế về điều kiện tự nhiên như thiếu nước ngọt và bị xâm nhập mặn trong mùa khô, một số khu vực bị nhiễm phèn, nhưng việc sử dụng đất ở Sóc Trăng lại có nhiều thuận lợi cơ bản để phát triển nông, ngư nghiệp đa dạng và trên cơ sở đó hình thành những khu du lịch sinh thái phong phú.   Đặc biệt, Sóc Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú và Cù Lao Dung chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong lành như cồn Mỹ Phước, Khu du lịch Song Phụng, Cù Lao Dung… là địa điểm lý tưởng để phát triển loại hình du lịch sinh thái.   Hệ thống kinh rạch của tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m. Thủy triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dân địa phương, mà còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến tham quan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên.   Ngoài ra, Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng với diện tích 12.172 ha với các loại cây chính : Tràm, bần, giá, vẹt, đước, dừa nước phân bố ở 4 huyện Vĩnh Châu, Long Phú, Mỹ Tú và Cù Lao Dung. Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn.   Những kết quả thăm dò bước đầu cho thấy có triển vọng về khai thác dầu và khí đốt tại vùng thềm lục địa ngoài khơi gần Sóc Trăng.6. Đất đai:   Tổng diện tích: 322.330 ha   Sóc Trăng là vùng đất trẻ, được hình thành qua nhiều thế kỷ lấn biển nên địa hình bao gồm phần đất bằng, xen kẽ là những vùng trũng và các giồng cát với cao trình phổ biến ở mức 0,5-1,0 m so với mặt biển, nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam và có hai tiểu vùng địa hình chính: Vùng ven sông Hậu với độ cao 1,0-1,2 m, bao gồm vùng đất bằng và những giồng cát hình cánh cung tiếp nối nhau chạy sâu vào giữa tỉnh; vùng trũng phía Nam tỉnh với độ cao 0-0,5 m, thường bị ngập úng dài ngày trong mùa lũ.   Ngoài ra, Sóc Trăng còn có những khu vực nằm giữa các giồng cát, không hình thành vùng tập trung với độ cao trung bình 0,5-1,0 m.7. Nguồn gốc tên gọi Sóc Trăng:   Theo các nhà nghiên cứu, tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh’leang của tiếng Khmer mà ra. Srok tức là “xứ”, “cõi”, Kh’leang là “kho”, “vựa”, “chỗ chứa bạc”. Srok Kh’leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là “Sốc-Kha-Lang” rồi sau đó đọc thành Sóc Trăng. Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng đuợc đổi tên thành Nguyệt Giang tỉnh (chữ Sóc biến thành chữ Sông, Trăng thành Nguyệt nên Sóc Trăng biến thành Sông Trăng rồi được đổi thành Nguyệt Giang).8. Ẩm thực:   Về Sóc Trăng, du khách hãy dành thời gian thưởng thức các món ăn đặc sản, nhất là bún nước lèo, lẩu mắm, bún xào, bún gỏi già, cháo cá lóc… Ngoài ra, bánh pía, mè láo, các loại lạp xưởng thịt, tôm, cá, và tôm khô, tôm sú, củ hành tím, các loại trái cây miệt vườn . . . cũng trở thành những đặc sản nổi tiếng của Sóc Trăng. Tất cả đều có thể trở thành món quà đậm đà sắc thái vùng sông nước miền Tây để du khách mang về làm quà cho người thân.9. Du lịch:   Ngoài những đặc điểm chung của Đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng còn là nơi hội tụ nền văn hoá đa dân tộc, là xứ sở của lễ hội. Về thăm Sóc Trăng, quý khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc độc đáo của những ngôi chùa cổ kính; cùng vui với không khí náo nhiệt, sôi nổi của các Lễ hội truyền thống đua ghe Ngo của dân tộc Khmer. Trong tương lai, Lễ hội được nâng lên thành Festival đua ghe Ngo Quốc tế Sóc Trăng. Ngoài ra, quý khách còn được hoà mình vào thiên nhiên với cảnh sông nước mênh mông, vườn cây ăn trái trĩu quả hay rừng tràm, rừng bần, rừng đước bạt ngàn của vùng hạ lưu sông Hậu hữu tình mến khách, đem lại sự thoải mái, hấp dẫn cho chuyến đi.   Các địa điểm du lịch nổi tiếng tại Sóc Trăng:   • Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh (Đền thờ Bác Hồ) – Di tích lịch sử cấp Quốc gia (xã An Thạnh Đông, huyện Cù Lao Dung);   • Khu căn cứ Tỉnh ủy – Di tích lịch sử cấp Quốc gia (xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú);   • Đình Hòa Tú – Di tích lịch sử cấp Quốc gia (xã Hòa Tú, huyện Mỹ Xuyên);   • Chùa Kh’leang – Di tích lịch sử cấp Quốc Gia về kiến trúc (khóm 5, phường 6, thành phố Sóc Trăng);   • Chùa Sêrâytêchô-Mahatup (Chùa Mã Tộc – Chùa Dơi) – Di tích lịch sử cấp Quốc gia về cảnh quan du lịch (Đường Mai Thanh Thế, khóm 9, phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng);   • Chùa Bửu Sơn Tự (Chùa Đất sét) (đường Tôn Đức Thắng, thành phố Sóc Trăng);   • Chùa Sà lôn và chùa Bốn Mặt;   • Khu du lịch sinh thái Hồ Bể (ấp Huỳnh Kỳ, xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu);   • Vườn cò Tân Long – Thạnh Trị;   • Thắng cảnh Cồn Mỹ Phước (xã Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách);   • Chợ nổi Ngã Năm;   • Hồ nước ngọt Sóc Trăng;   • Khu du lịch Bình An. 

Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Quảng Trị

Dự án Icon Central có gì nổi bật?

Nội dung chính:

Dự án Icon Central là dự án đất nền sổ đỏ có vị trí đắc địa tại phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Dự án đất nền Icon Central có nên mua

Đầu tư ngay dự án Icon Central tại Dĩ An tọa lạc tại phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, do Phú Hồng Thịnh chủ đầu tư, Danh Việt Group phát triển và Lộc Phát Group phân phối chính.

Nếu bạn đang phân vân có nên mua đất nền Icon Central hay không, thì sau đây là thông tin về những điểm nổi bật của dự án bạn cần biết:

Pháp lý đầy đủ Trong bối cảnh thị trường bất động sản đang chững lại, Icon Central là dự án đất nền hiếm hoi sở hữu đầy đủ các yếu tố pháp lý được cấp sổ riêng đỏ từng nền.

Hạ tầng hoàn thiện Thuộc trong quy hoạch hoàn chỉnh đô thị mới, dự án có điện âm toàn khu, đường nội bộ 12 – 14m trải nhựa, công viên cây xanh.

Tiện ích đa dạng So với các dự án khác, Icon Central thừa hưởng hạ tàng giao thông, kinh tế, xã hội, dịch vụ hoàn chỉnh từ giáo dục, y tế, giải trí đến nhu cầu mua sắm…

Vị trí đắc địa Bên cạnh pháp lý đầy đủ, tiện ích và hạ tầng hoàn thiện thì yếu tố vị trí của Icon Central được đánh giá rất tiềm năng để đầu tư sinh lợi trong tương lai gần.

Giá bán ưu đãi Icon Central có giá bán cực kỳ hấp dẫn trong đợt đầu tiên, cùng nhiều chính sách ưu đãi trực tiếp từ chủ đầu tư mà bạn không nên bỏ lỡ.

Thông tin cần biết về dự án Icon Central

Vị trí dự án Icon Central

Icon Central sở hữu vị trí độc tôn, mặt tiền đường phường Tân Đông Hiệp (Thị xã Dĩ An, Bình Dương) cách Quốc lộ 13 chưa đầy 1km. Từ dự án cư dân dễ dàng kết nối về trung tâm các đô thị một cách nhanh chóng:

Di chuyển về chúng tôi theo tuyến QL 1A – Phạm Văn Đồng chỉ 15 phút.

Kết nối đến trung tâm TP. Thủ Dầu Một và Thành Phố Mới Bình Dương qua Đại Lộ Bình Dương chỉ 10 phút.

Thông qua cao tốc Mỹ Phước – Tân Vạn, di chuyển đến TP. Biên Hòa trong 20 phút.

Sơ đồ phân lô Icon Central

Diện tích và phương thức thanh toán Icon Central

Dự án gồm 469 sản phẩm có diện tích từ 60 – 150 m² đang nhận đặt chỗ chọn vị trí ưu tiên.

Khách hàng khi mua đất nền Icon Central Bình Dương còn được hỗ trợ vay lên đến 70% giá trị nền đất từ BIDV, Vietcombank. Icon Central có vị trí dễ dàng kết nối và lại nằm trong khu dân cư được quy hoạch đồng bộ hoàn chỉnh rất thuận tiện cho việc an cư cũng như tiềm năng đầu tư sinh lời.

Liên hệ

Quý khách quan tâm vui lòng đăng ký thông tin vào mẫu bên dưới, chuyên viên sẽ liên hệ lại và hỗ trợ cho quý khách trong vòng 24h kể từ khi nhận được yêu cầu.

Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Tỉnh An Giang Tuyển Dụng Viên Chức Năm 2022

Căn cứ Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Căn cứ Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập;

Căn cứ Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, viên chức; Thông tư số 04/2015/TT-BNV ngày 31 tháng 8 năm 2015 sửa đổi, bổ sung điều 6 Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư số 03/2019/TT-BNV ngày 14/5/2019 của Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập;

Căn cứ Thông tư số 228/2016/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2016 của Bộ Tài chính về Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí tuyển dụng, dự thi nâng ngạch, thăng hạng công chức, viên chức;

Căn cứ Quyết định số 34/2016/QĐ-UBND, ngày 19/7/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc Ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang; Quyết định số 57/2019/QĐ-UBND, ngày 15/11/2019 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 34/2016/QĐ-UBND ngày 19/7/2016của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang;Quyết định số 41/2018/QĐ-UBND ngày 31/10/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về việc ban hành Quy định phân cấp thẩm quyền tuyển dụng, sử dụng, quản lý và thực hiện chế độ tiền lương đối với viên chức trên địa bàn tỉnh An Giang; Quyết định số 3086A/UBND-TH, ngày 21/01/2020 của UBND tỉnh An Giang về việc giao số lượng người làm việc và số lượng hợp đồng lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP trong các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2020.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) xây dựng kế hoạch tuyển dụng viên chức vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở năm 2020:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1. Mục đích

Tuyển chọn đội ngũ viên chức có năng lực, trình độ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức, tận tụy với công việc, có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ và có kinh nghiệm công tác đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần xét tuyển.

2. Yêu cầu

Việc tuyển dụng viên chức phải được thực hiện nghiêm túc, khách quan, dân chủ, công khai, minh bạch, công bằng và đúng quy định pháp luật. Tuyển dụng đúng tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, vị trí việc làm và yêu cầu chính đáng của các đơn vị theo chỉ tiêu biên chế được giao.

II. CHỈ TIÊU TUYỂN DỤNG VÀ HÌNH THỨC TUYỂN DỤNG 1. Biên chế được giao:

– Số lượng người làm việc và hợp đồng theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2020: 347 người, trong đó biên chế viên chức và HĐLĐ theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP.

– Biên chế viên chức thực tế đang làm việc tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: 226 biên chế.

– Chỉ tiêu tuyển dụng viên chức vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở VHTTDL năm 2020: 41 chỉ tiêu.

2. Tổng số chỉ tiêu cần tuyển: 41 chỉ tiêu, cụ thể:

2.1. Bảo tàng tỉnh:

– Số lượng người làm việc cấp thẩm quyền giao: 24

– Số lượng người làm việc đã sử dụng:19

– Chỉ tiêu tuyển dụng năm 2020: 05 chỉ tiêu.

– Chỉ tiêu tuyển dụng thông qua hình thức xét tuyển: 05 vị trí, gồm:

+ 01 Kỹ thuật viên

+ 04 Nhân viên nghiệp vụ

2.2. Thư viện: 03 chỉ tiêu, gồm 03 Thư viện viên

– Số lượng người làm việc cấp thẩm quyền giao: 36

– Số lượng người làm việc đã sử dụng: 31

– Chỉ tiêu tuyển dụng năm 2020: 03 chỉ tiêu.

– Chỉ tiêu tuyển dụng thông qua hình thức xét tuyển: 03 vị trí, gồm: 03 Thư viện viên.

2.3. Trung tâm Đào tạo, Huấn luyện và Thi đấu TDTT:

– Số lượng người làm việc cấp thẩm quyền giao: 124

– Số lượng người làm việc đã sử dụng: 106

– Chỉ tiêu tuyển dụng năm 2020: 15 chỉ tiêu.

2.3.1. Chỉ tiêu tiếp nhận đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng viên chức: 05 vị trí, gồm:

– 01 HLV môn võ cổ truyền;

– 01 HLV môn Kickboxing;

– 01 HLV Silat;

– 01 HLV Boxing;

– 01 HLV Vovinam.

2.3.2. Chỉ tiêu tuyển dụng thông qua hình thức xét tuyển: 10 vị trí, gồm:

– 02 Viên chức phòng huấn luyện;

– 01 Hướng dẫn viên môn Fitness;

– 01 Chuyên viên Y sinh;

– 06 Huấn luyện viên: Kickboxing, Boxing, Điền kinh, Taekwondo, thủ môn, Xe đạp.

2.4. Ban quản lý Khu lưu niện Chủ tịch Tôn Đức Thắng:

– Số lượng người làm việc cấp thẩm quyền giao: 21

– Số lượng người làm việc đã sử dụng: 12

– Chỉ tiêu tuyển dụng năm 2020: 02 chỉ tiêu.

– Chỉ tiêu tuyển dụng thông qua hình thức xét tuyển: 02 vị trí, gồm:

+ 01 Quản trị mạng;

+ 01 Viết bài, tuyên truyền.

2.5. Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh:

– Số lượng người làm việc cấp thẩm quyền giao: 71

– Số lượng người làm việc đã sử dụng: 52

– Chỉ tiêu tuyển dụng năm 2020: 16 chỉ tiêu.

2.5.1. Chỉ tiêu tiếp nhận đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng viên chức: 05 vị trí, gồm:

– 01 Diễn viên múa;

– 04 Diễn viên hát.

2.5.2. Chỉ tiêu tuyển dụng thông qua hình thức xét tuyển: 11 vị trí, gồm:

– 02 Kế toán

– 03 Phương pháp viên

– 01 Kỹ thuật điện

– 02 Nhạc công

– 01 Kỹ thuật âm thanh

– 01 Đạo diễn

– 01 Thủ quỹ

(Chi tiết tại phụ lục đính kèm Kế hoạch này)

3. Hình thức tuyển dụng: Áp dụng trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng viên chức và tuyển dụng thông qua hình thức xét tuyển.

III. ĐIỀU KIỆN, TIÊU CHUẨN ĐĂNG KÝ DỰ TUYỂN 1. Điều kiện, tiêu chuẩn đăng ký dự tuyển

Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển viên chức:

– Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam;

– Từ đủ 18 tuổi trở lên

– Có đơn đăng ký dự tuyển;

– Có lý lịch rõ ràng;

– Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với vị trí việc làm; e) Đủ sức khỏe để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ;

2. Điều kiện bổ sung đối với xét tuyển trường hợp đặc biệt

a) Các trường hợp có ít nhất 05 năm công tác ở vị trí việc làm yêu cầu trình độ đào tạo đại học trở lên phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng và có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (không kể thời gian tập sự, thử việc, nếu có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn), gồm:

– Người ký hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc đơn vị sự nghiệp ngoài công lập;

– Người hưởng lương trong lực lượng vũ trang (quân đội, công an) và người làm công tác cơ yếu;

– Cán bộ, công chức cấp xã;

– Người đang làm việc tại doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

b) Người có tài năng, năng khiếu đặc biệt phù hợp vị trí việc làm trong các ngành, lĩnh vực: Văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, ngành nghề truyền thống.

c) Trường hợp đã là cán bộ, công chức, viên chức, sau đó được cấp có thẩm quyền đồng ý chuyển đến làm việc tại lực lượng vũ trang, cơ yếu, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

3. Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức

– Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

– Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng.

IV. HỒ SƠ ĐĂNG KÝ 1. Đối với người đăng ký xét tuyển

– Người đăng ký dự tuyển viên chức nộp trực tiếp nộp 01 Phiếu đăng ký dự tuyển theo mẫu quy định tại Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ vào một vị trí việc làm (nếu đăng ký thi tuyển vào từ 02 vị trí trở lên sẽ bị loại khỏi danh sách dự tuyển), người đăng ký phải khai đầy đủ các nội dung yêu cầu trong Phiếu đăng ký dự tuyển tính đến thời điểm nộp Phiếu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các nội dung kê khai trong Phiếu.

– Người đăng ký dự tuyển chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính hợp pháp, hợp lệ của các văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển. Trường hợp hành vi gian lận trong kê khai Phiếu đăng ký dự tuyển hoặc sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp, hợp lệ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hủy kết quả trúng tuyển và không tiếp nhận Phiếu đăng ký dự tuyển trong một kỳ tuyển dụng tiếp theo.

– Người đăng ký dự tuyển viên chức nộp trực tiếp Phiếu đăng ký, lệ phí tuyển dụng tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở VHTTDL có nhu cầu tuyển dụng viên chức hoặc gửi thông qua đường Bưu chính.

2. Đối với người đăng ký xét tuyển trường hợp đặc biệt

– Đơn đăng ký dự tuyển trường hợp đặc biệt theo mẫu số 01 của Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25/12/2012 của Bộ Nội vụ kèm theo Kế hoạch này.

– Bản sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 06 tháng (tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển).

– Bản sao các văn bằng, chứng chỉ, kết quả học tập và thành tích đạt được từ hạng Nhất đến hạng Ba mang tính chất toàn quốc, Cá nhân đạt giải Huy chương vàng Khu vực (đối với lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật); tính chất khu vực Đông Nam Á, Châu lục và Thế giới (đối với lĩnh vực thể dục thể thao) của tài năng, năng khiếu đặc biệt theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, được cơ quan có thẩm quyền chứng thực. Trường hợp có văn bằng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp phải được công chứng dịch thuật sang tiếng Việt (trong thời hạn 06 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển).

– Bản sao giấy khai sinh có chứng thực.

– Giấy chứng nhận sức khỏe còn giá trị sử dụng do cơ quan y tế đủ điều kiện được khám sức khỏe chứng nhận theo quy định (có thời hạn trong 12 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển).

– Giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên(nếu có) được cơ quan tổ chức có thẩm quyền chứng thực.

– 02 phong bì có dán tem (ghi rõ địa chỉ liên lạc), 02 ảnh cỡ 4 x 6 (mặt sau có ghi rõ họ tên và ngày tháng năm sinh).

– Ngoài các thành phần hồ sơ nêu trên, người đăng ký xét tuyển trường hợp đặc biệt nộp bổ sung: Bản tự nhận xét, đánh giá về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, quá trình công tác và các hình thức khen thưởng (nếu có); bản nhận xét và xác nhận của người đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi người đăng ký xét tuyển công tác; các bản hợp đồng lao động; bản sao sổ bảo hiểm xã hội được cơ quan có thẩm quyền chứng thực và bản kê khai quá trình đóng Bảo hiểm xã hội.

V. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐIỂM ƯU TIÊN

– Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B: được cộng 7,5 điểm vào kết quả điểm phỏng vấn tại vòng 2.

– Người dân tộc thiểu số, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an, quân nhân chuyên nghiệp, người làm công tác cơ yếu chuyển ngành, con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởng chính sách như thương binh, con của thương binh loại B, con của người hoạt động cách mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động: được cộng 5 điểm vào kết quả điểm phỏng vấn tại vòng 2.

– Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ phục vụ có thời hạn trong lực lượng công an nhân dân, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ: được cộng 2,5 điểm vào kết quả điểm phỏng vấn tại vòng 2.

VI. LỆ PHÍ XÉT TUYỂN

– Thực hiện theo Thông tư số 228/2016/TT-BTC, ngày 11 tháng 11 năm 2016 của Bộ Tài chính về Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí tuyển dụng, dự thi nâng ngạch, thăng hạng công chức, viên chức.

– Lệ phí: 500.000 đồng/hồ sơ

VII. QUY TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN XÉT TUYỂN 1. Thời gian và địa điểm tổ chức xét tuyển

– Thời gian: Dự kiến đầu quý 4/2020

– Địa điểm: Tại thành phố Long Xuyên, An Giang

2. Nội dung và hình thức xét tuyển

2.1. Xét tiếp nhận vào viên chức đối với trường hợp đặc biệt:

Thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Nghị định 161/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 14 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng viên chức.

2.2. Xét tuyển viên chức được thực hiện theo 02 vòng như sau:

2.2.1. Vòng 1:

– Kiểm tra điều kiện, tiêu chuẩn của người dự tuyển đăng ký tại Phiếu đăng ký dự tuyển và hồ sơ đăng kýxét tuyển trường hợp đặc biệt theo yêu cầu của vị trí việc làm, nếu phù hợp thì người dự tuyển được tham dự vòng 2 quy định tại khoản 2 Điều này.

– Chậm nhất là 05 ngày làm việc sau ngày kết thúc việc kiểm tra điều kiện, tiêu chuẩn của người dự tuyển tại vòng 1, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng phải thông báo triệu tập thí sinh tham dự vòng 2.

– Chậm nhất là 15 ngày sau ngày thông báo triệu tập thí sinh được tham dự vòng 2 thì phải tiến hành tổ chức xét vòng 2.

2.2.2. Vòng 2:

– Phỏng vấn hoặc thực hành để kiểm tra năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ người dự tuyển. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định hình thức phỏng vấn hoặc thực hành tại vòng 2 phù hợp với tính chất hoạt động nghề nghiệp và yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển.

– Điểm phỏng vấn hoặc thực hành được tính theo thang điểm 100.

– Thời gian phỏng vấn 30 phút; thời gian thực hành do người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định.

– Không thực hiện phúc khảo đối với kết quả phỏng vấn hoặc thực hành.

3. Thông báo tuyển dụng và tiếp nhận hồ sơ, phiếu đăng ký

a) Sở VHTTDL thông báo công khai ít nhất 01 lần trên Báo An Giang, Đài Phát thanh – Truyền hình An Giang; đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở VHTTDL; niêm yết tại trụ sở làm việc Sở VHTTDL và tại các đơn vị trực thuộc Sở có nhu cầu tuyển dụng về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển, thời hạn và địa điểm tiếp nhận Phiếu đăng ký dự tuyển của người đăng ký dự tuyển.

b) Tiếp nhận Phiếu đăng ký dự tuyển

– Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở VHTTDL có nhu cầu tuyển dụng viên chức tiếp nhận Phiếu đăng ký dự tuyển, lệ phí tuyển dụng của người đăng ký dự tuyển. Khi tiếp nhận, phải có biên nhận.

– Thời hạn tiếp nhận Phiếu đăng ký dự tuyển là 30 ngày kể từ ngày Thông báo tuyển dụng được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

– Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn nhận Phiếu đăng ký dự tuyển, các đơn vị trực thuộc Sở VHTTDL lập danh sách những người đủ điều kiện xét tuyển kèm theo Phiếu đăng ký dự tuyển, lệ phí tuyển dụng và có văn bản gửi về Sở VHTTDL để kiểm tra, tổng hợp.

– Sở VHTTDL lập danh sách người có đủ điều kiện dự tuyển và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan Sở trước ngày tổ chức xét tuyển tối thiểu là 05 ngày làm việc.

4. Thành lập Hội đồng xét tuyển và các Ban giúp việc

4.1. Thành lập Hội đồng xét tuyển:

a) Giám đốc Sở VHTTDL quyết định thành lập Hội đồng xét tuyển viên chức có 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm:

– Chủ tịch Hội đồng là Giám đốc hoặc Phó Giám đốc Sở VHTTDL;

– Phó Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có nhu cầu tuyển dụng viên chức;

– Ủy viên kiêm thư ký Hội đồng là người đại diện bộ phận làm công tác tổ chức cán bộ của Sở VHTTDL;

b) Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng xét tuyển viên chức thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 161/2018/NĐ-CP.

c) Nhiệm vụ, quyền hạn của các thành viên Hội đồng xét tuyển thực hiện theo quy định tại Điều 2 Quy chế tổ chức xét tuyển viên chức ban hành kèm theo Thông tư số 03/2019/TT-BNV.

d) Chậm nhất trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc tổ chức xét tuyển, Hội đồng xét tuyển tổ chức tổng hợp kết quả xét tuyển và chậm nhất 10 ngày sau ngày tổ chức tổng hợp kết quả, Hội đồng xét tuyển phải báo cáo Giám đốc Sở VHTTDL kết quả xét tuyển để xem xét, quyết định công nhận, phê duyệt kết quả xét tuyển.

4.2. Thành lập các Ban giúp việc:

– Chủ tịch Hội đồng xét tuyển quyết định thành lập các Ban giúp việc: Ban kiểm tra phiếu đăng ký dự tuyển, Ban kiểm tra sát hạch để thực hiện phỏng vấn và thực hành tại vòng 2, Tổ Thư ký giúp việc Hội đồng xét tuyển;

– Thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn và tiêu chuẩn thành viên của Ban kiểm tra Phiếu đăng ký dự tuyển và Ban kiểm tra sát hạch thực hiện theo quy định tại Điều 3 và Điều 4 Quy chế tổ chức xét tuyển viên chức ban hành kèm theo Thông tư số 03/2019/TT-BNV.

4.3. Thành lập Ban Giám sát kỳ xét tuyển:

– Giám đốc Sở VHTTDL quyết định thành lập Ban Giám sát kỳ xét tuyển.

– Thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn và tiêu chuẩn thành viên của Ban Giám sát kỳ xét tuyển thực hiện theo quy định tại Điều 6 Quy chế tổ chức xét tuyển viên chức ban hành kèm theo Thông tư số 03/2019/TT-BNV.

5. Xác định người trúng tuyển

a) Người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển phải có đủ các điều kiện sau:

– Có kết quả điểm phỏng vấn đạt từ 50 điểm trở lên;

– Có số điểm vòng 2 cộng với điểm ưu tiên quy định tại Mục V Kế hoạch này (nếu có) cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu được tuyển dụng của từng vị trí việc làm.

b) Trường hợp có 02 người trở lên có kết quả điểm phỏng vấn cộng với điểm ưu tiên (nếu có) bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng thì người có kết quả điểm phỏng vấn vòng 2 cao hơn là người trúng tuyển; nếu vẫn không xác định được thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định người trúng tuyển.

c) Trường hợp người dự xét tuyển viên chức thuộc nhiều diện ưu tiên quy định tại Mục V Kế hoạch này thì chỉ được cộng điểm ưu tiên cao nhất vào kết quả điểm phỏng vấn hoặc thực hành tại vòng 2.

d) Người không trúng tuyển trong kỳ xét tuyển viên chức không được bảo lưu kết quả xét tuyển cho các kỳ xét tuyển lần sau.

6. Thông báo kết quả xét tuyển, phê duyệt kết quả tuyển dụng

– Chậm nhất là 10 ngày sau ngày nhận được báo cáo kết quả vòng 2 của Hội đồng xét tuyển, Sở VHTTDL niêm yết công khai kết quả xét tuyển, danh sách dự kiến người trúng tuyển tại trụ sở làm việc và trên trang thông tin điện tử của Sở; gửi thông báo kết quả xét tuyển bằng văn bản tới người dự tuyển theo địa chỉ mà người dự tuyển đã đăng ký.

– Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết công khai kết quả vòng 2, Giám đốc Sở VHTTDL phê duyệt kết quả tuyển dụng và gửi thông báo công nhận kết quả trúng tuyển bằng văn bản tới người dự tuyển theo địa chỉ mà người dự tuyển đã đăng ký. Nội dung thông báo phải ghi rõ thời hạn người trúng tuyển phải đến cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức để xuất trình bản chính các văn bằng, chứng chỉ, kết quả học tập, đối tượng ưu tiên theo yêu cầu của vị trí tuyển dụng để hoàn thiện hồ sơ dự tuyển theo quy định và ký hợp đồng làm việc.

– Trường hợp người trúng tuyển không hoàn thiện đủ hồ sơ dự tuyển theo quy định hoặc có hành vi gian lận trong việc kê khai Phiếu đăng ký dự tuyển hoặc phát hiện người trúng tuyển sử dụng văn bằng, chứng chỉ không đúng quy định thì Giám đốc Sở VHTTDL ra quyết định hủy kết quả trúng tuyển và đồng thời Sở VHTTDL thông báo công khai trên phương tiệnthông tin đại chúng hoặc trên trang thông tin điện tử của cơ quan và không tiếp nhận Phiếu đăng ký dự tuyển trong một kỳ tuyển dụng tiếp theo.

– Giám đốc Sở VHTTDL quyết định công nhận kết quả trúng tuyển đối với người dự tuyển có kết quả tuyển dụng thấp hơn liền kề so với kết quả tuyển dụng của người trúng tuyển đã bị hủy bỏ kết quả trúng tuyển theo quy định tại điểm c Khoản 6 Mục VII hoặc trong trường hợp các đơn vị trực thuộc Sở VHTTDL phát sinh nhu cầu tuyển dụng mới trong cùng năm tuyển dụng đối với vị trí có yêu cầu về chuyên ngành đào tạo giống như vị trí việc làm mà người dự tuyển đã đăng ký trong năm tuyển dụng.

Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả tuyển dụng thấp hơn liền kề mà bằng nhau thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định người trúng tuyển.

7. Ký hợp đồng làm việc và nhận việc

– Căn cứ kết quả trúng tuyển đã được phê duyệt tại Khoản 6 Mục VII Kế hoạch này, Giám đốc Sở VHTTDL ban hành quyết định tuyển dụng viên chức và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc Sở ký hợp đồng làm việc đối với người trúng tuyển theo đúng quy định tại Thông tư số 03/2019/TT-BNV ngày 14/5/2019 của Bộ Nội vụ về sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.

– Chậm nhất là 20 ngày làm việc, kể từ ngày công bố kết quả tuyển dụng, người trúng tuyển phải đến ký hợp đồng làm việc với đơn vị đã đăng ký dự tuyển.

– Trong thời hạn chậm nhất là 20 ngày làm việc, kể từ ngày hợp đồng làm việc được ký kết, người trúng tuyển phải đến nhận việc, trừ trường hợp hợp đồng làm việc quy định thời hạn khác. Trường hợp người trúng tuyển có lý do chính đáng mà không thể đến nhận việc thì phải làm đơn xin gia hạn trước khi kết thúc thời hạn nêu trên gửi Sở VHTTDL và đơn vị đăng ký dự tuyển để biết, gia hạn.

– Trường hợp người trúng tuyển không đến ký hợp đồng làm việc trong thời hạn quy định tại điểm b Khoản 7 Mục VII hoặc đến nhận việc sau thời hạn quy định tại điểm c Khoản 7 Mục VII Kế hoạch này thì Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định hủy bỏ kết quả tuyển dụng.

VIII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Trách nhiệm của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

– Thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại cơ quan và đăng tải trên Trang thông tin điện tử Sở VHTTDL về Kế hoạch này.

– Thành lập Hội đồng xét tuyển viên chức và Ban giám sát kỳ xét tuyển viên chức ngành văn hóa, thể thao và du lịch.

– Phê duyệt kết quả tuyển dụng, quyết định tuyển dụng viên chức tại các đơn vị trực thuộc Sở VHTTDL; chỉ đạo các đơn vị sự nghiệp có nhu cầu tuyển dụng viên chức ký hợp đồng làm việc với người trúng tuyển.

– Tự cân đối từ nguồn thu phí tuyển dụng, trường hợp thu không đủ chi thì Hội đồng tuyển dụng được sử dụng từ nguồn kinh phí sự nghiệp Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã được UBND tỉnh giao cho Sở VHTTDL để chi cho việc tổ chức kỳ xét tuyển viên chức.

– Chỉ đạo thực hiện một số nội dung khác theo quy định.

2. Trách nhiệm của Hội đồng xét tuyển

– Tổ chức triển khai thực hiện tốt Kế hoạch tuyển dụng viên chức năm 2020 của Sở VHTTDL, xây dựng quy chế, nội quy kỳ xét tuyển, phân công nhiệm vụ cho các thành viên Hội đồng xét tuyển.

– Thành lập các Ban giúp việc để triển khai tổ chức thực hiện theo quy định.

– Chuẩn bị các điều kiện để tổ chức ôn tập (nếu có) xét tuyển; chỉ đạo thực hiện việc kiểm tra, sát hạch người đủ điều kiện xét tuyển theo đúng quy trình.

– Quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí theo đúng quy định.

– Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có điều chỉnh về chỉ tiêu tuyển dụng hoặc có vấn đề phát sinh về thủ tục, Chủ tịch Hội đồng xét tuyển ban hành văn bản để hướng dẫn thực hiện.

– Chỉ đạo giải quyết các thắc mắc, khiếu nại (nếu có).

3. Trách nhiệm của các đơn vị trực thuộc Sở có nhu cầu tuyển dụng

– Niêm yết công khai tại trụ sở làm việc về Kế hoạch này; hướng dẫn người đăng ký dự tuyển làm Phiếu đăng ký dự tuyển và thu phí theo đúng quy định.

– Tổng hợp Phiếu đăng ký dự tuyển, danh sách gửi về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch để kiểm tra, thông báo, niêm yết công khai những người đủ điều kiện, tiêu chuẩn dự tuyển; chịu trách nhiệm việc xét duyệt Phiếu đăng ký dự tuyển trước khi báo cáo về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Bộ Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch

CỦA NGÀNH VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Kể từ khi thành lập đến nay, trải qua quá trình xây dựng và phát triển, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch không ngừng lớn mạnh, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước qua các thời kỳ lịch sử.

Lịch sử phát triển của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch có thể chia thành các giai đoạn sau:

1. Giai đoạn trước và sau Cách mạng Tháng Tám

Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

Năm 1943, Đảng ta đã công bố “Đề cương văn hóa Việt Nam”, trong đó nêu rõ: Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị và văn hóa). Như vậy, ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thấy vai trò quan trọng của văn hóa, định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam.

Tuyên cáo ngày 28/8/1945 của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong nội các quốc gia Bộ Thông tin, Tuyên truyền được thành lập (sau đó ngày 1/1/1946 đổi tên là Bộ Tuyên truyền và Cổ động) – tiền thân của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày nay. Từ đó, ngày 28/8 hàng năm đã trở thành Ngày Truyền thống của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Sau khi Quốc hội khóa 1 họp ngày 2-3-1946, thành lập Chính phủ Liên hiệp chính thức thì Bộ Tuyên truyền và Cổ động không còn tồn tại. Đến ngày 13-5-1945, Nha Tổng giám đốc thông tin, tuyên truyền mới được tổ chức dưới quyền chỉ huy và kiểm soát trực tiếp của Bộ Nội vụ, và đến ngày 27-11-1946 đổi thành Nha thông tin. Các cơ quan phụ thuộc có Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, thành lập ngày 7-9-1945.

Ngày 24-11-1946, Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất được triệu tập tại Hà Nội. Hồ Chủ tịch khai mạc Hội nghị, Người chỉ rõ: Văn hóa phải hướng dẫn quốc dân thực hiện Độc lập, Tự cường và Tự chủ. Đây cũng chính là kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động của Ngành Văn hóa và Thông tin.

Lĩnh vực Thể dục thể thao:

Sắc lệnh ngày 30/1/1946 là “Thực hành thể dục trong toàn quốc”. Phát động phong trào ” Khỏe vì nước” thu hút đông đảo quần chúng tham gia.

2. Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (19-12-1946 đến tháng 7/1954).

Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

Công tác thông tin, tuyên truyền lúc này chiếm vị trí hàng đầu trong năm bước công tác cách mạng với khẩu hiệu của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ II họp vào tháng 7-1948 và Hội nghị cán bộ văn hóa lần thứ I vào tháng 2-1949: “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”.

Ngày 10-7-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 38/SL sáp nhập Nha Thông tin thuộc Bộ Nội vụ vào Thủ tướng Phủ và Sắc lệnh số 83/SL hợp nhất Nha thông tin thuộc Thủ tướng Phủ và Vụ Văn học, nghệ thuật thuộc Bộ Giáo dục thành Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng Phủ do đồng chí Tố Hữu phụ trách.

Cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm diễn ra ác liệt. Song ở đâu có kháng chiến, ở đó có văn hóa kháng chiến. Những “Chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” qua các thời kỳ cách mạng đã biết cách tổ chức công tác tuyên truyền thành một nghệ thuật, đồng thời lại biết cách đưa nghệ thuật vào công tác tuyên truyền. Đây là một thành tựu lớn của nền văn hóa – nghệ thuật – thông tin – tuyên truyền của Ngành chúng ta.

Lĩnh vực Thể dục thể thao:

Ngày 30 tháng Giêng năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 14 thiết lập Bộ Thanh niên một Nha thể dục Trung ương thuộc Bộ Thanh niên, tiền thân của ngành Thể dục thể thao ngày nay. Ngày 27/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 38 thiết lập trong Bộ Quốc gia Giáo dục một Nha Thanh niên và Thể dục, gồm có một phòng Thanh niên Trung ương và một Phòng Thể dục Trung ương.

Lĩnh vực Du lịch:

Thành lập Công ty Du lịch Việt Nam (tiền thân của Tổng cục Du lịch) trực thuộc Bộ Ngoại thương (Nghị định số 26/CP ngày 9/7/1960). Ngày 16/3/1963 Bộ Ngoại thương ban hành Quyết định số 164- BNT-TCCB quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam.

3. Giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà (1954-1975)

Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

* Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954-1964)

Bộ Tuyên truyền được Hội đồng Chính phủ thành lập từ trung tuần tháng 8-1954 và được Quốc hội V thông qua ngày 20-5-1955 đổi tên là Bộ Văn hóa, do giáo sư Hoàng Minh Giám làm Bộ trưởng. Giai đoạn này, sự nghiệp văn hóa và thông tin được phát triển toàn diện theo định hướng rõ ràng để đi sâu vào chuyên ngành hoạt động, phát triển có bài bản về nội dung, về đào tạo cán bộ và phương thức hoạt động, tăng cường lực lượng văn hóa, thông tin để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tham gia chiến đấu ở miền Nam.

Có thể nói đây là thời kỳ phát triển cơ bản, toàn diện nhất, xây dựng cơ sở nền văn hóa mới khắp các tỉnh, thành phố miền Bắc.

* Miền Bắc chống chiến tranh phá hoại và chi viện miền Nam (1965-1975)

Giai đoạn này, báo chí đóng vai trò hết sức quan trọng động viên toàn quân, toàn dân chiến đấu chống quân xâm lược. Đặc biệt trong thời kỳ này có hai hoạt động văn hóa, văn nghệ nổi bật đó là phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” và “Đọc sách có hướng dẫn” đã góp phần giáo dục lòng căm thù sâu sắc của nhân dân đối với bọn xâm lược và bè lũ tay sai, cổ vũ tinh thần yêu nước, giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Công tác thông tin trở thành “mũi nhọn” với việc thành lập Tổng cục Thông tin (Quyết định số 165-NQ/TVQH ngày 11-10-1965). Chỉ thị về công tác thông tin trong quần chúng của Ban Bí thư Trung ương Đảng số 118/CT-TW ngày 25-12-1965 đề ra cho công tác thông tin nhiệm vụ nặng nề: “Phải cổ động thường xuyên bằng các hình thức tuyên truyền nhẹ nhàng, có tính chất quần chúng rộng rãi” để “Nhà nhà đều biết, người người đều nghe”.

* Miền Nam chống Mỹ, ngụy (1954-1975)

Ở miền Nam, sau khi chuyển quân, tập kết, ngành Văn hóa, Thông tin thực tế không còn tồn tại. Mọi hoạt động phải chuyển vào bí mật, lấy tuyên truyền miệng là phương thức hoạt động chính. Sau khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam chính thức ra đời ngày 20-12-1960 tại tỉnh Tây Ninh, Ngành Thông tin Văn hóa ở miền Nam nhanh chóng được khôi phục. Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập ngày 6-6-1969, đồng chí Lưu Hữu Phước làm Bộ trưởng Bộ Thông tin – Văn hóa. Trải qua bao hy sinh, gian khổ, đất nước đã giành được tự do, độc lập: Đại thắng mùa xuân 1975 đi vào lịch sử như một thiên anh hùng ca bất diệt; người người nồng nhiệt xuống đường với rừng cờ, biểu ngữ, ảnh Bác Hồ, cất cao tiếng hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”.

Giai đoạn củng cố hậu phương lớn, chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và tất cả cho tiền tuyến lớn miền Nam, tiến lên “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” là giai đoạn sôi động nhất của ngành Văn hóa và thông tin trong cả nước.

Lĩnh vực Thể dục thể thao:

Ban Thể dục thể thao Trung ương được thành lập năm 1957, đến năm 1960 đổi thành Ủy ban Thể dục thể thao. Lĩnh vực Du lịch:

Chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam sang Phủ Thủ tướng quản lý (Nghị định 145 CP ngày 18/8/1969 của Hội đồng Chính phủ).

4. Giai đoạn sau Đại thắng mùa xuân 1975

Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

Tháng 6-1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập, Chính phủ tổ chức Bộ Văn hóa do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu làm Bộ trưởng.

Năm 1977, Ủy ban phát thanh và truyền hình Việt Nam ra đời. Xưởng phim truyền hình thuộc Tổng cục thông tin đã chuyển từ trước, nay chuyển tiếp phần truyền thanh các tỉnh sang Ủy ban phát thanh và truyền hình. Tổng cục thông tin hợp nhất với Bộ Văn hóa thành Bộ Văn hóa và Thông tin theo Nghị quyết số 99/NQ/QHK6 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, và đến ngày 4-7-1981 đổi lại là Bộ Văn hóa theo Nghị quyết kỳ họp thứ I Quốc hội khóa VII.

Có thể nói thời kỳ 1975-1985, ngành Văn hóa thông tin chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, tuy mấy năm đầu có lúng túng, bị động, khó khăn, nhưng đã vượt qua thử thách và phát triển toàn diện với một chất lượng mới trên phạm vi cả nước.

Lĩnh vực Thể dục thể thao:

Phát triển các phong trào thể dục thể thao quần chúng, đặc biệt đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.

Lĩnh vực Du lịch:

Thành lập Tổng cục Du lịch trực thuộc Hội đồng Chính phủ (Quyết nghị 262NQ/QHK6 ngày 27/6/1978 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ngày 23/1/1979, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 32/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.

5. Giai đoạn đổi mới (1986 – 2006)

Lĩnh vực Văn hóa – Thông tin:

Trước yêu cầu đổi mới, Bộ Thông tin được lập lại trên cơ sở giải thể Ủy ban phát thanh và truyền hình và tách các bộ phận quản lý xuất bản, báo chí, thông tin, cổ động, triển lãm của Bộ Văn hóa theo Quyết định số 34 của Bộ Chính trị và Thông cáo ngày 16-2-1986 của Hội đồng Nhà nước để thống nhất quản lý các phương tiện thông tin đại chúng. Đồng chí Trần Hoàn làm Bộ trưởng Bộ Thông tin. Đồng chí Trần Văn Phác làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa.

Ba năm sau (1987-1990), một tổ chức mới được hình thành, hợp nhất 04 cơ quan: Bộ Văn hóa, Bộ Thông tin, Tổng cục Thể dục thể thao, Tổng cục Du lịch thành Bộ Văn hóa – Thông tin – Thể thao và Du lịch theo Quyết định số 244 NQ/HĐNN8 ngày 31/3/1990 do đồng chí Trần Hoàn làm Bộ trưởng.

Vừa hợp lại xong đã thấy không hợp lý nên mỗi năm lại tách dần một bộ phận: Du lịch sáp nhập vào Bộ Thương mại và Du lịch (Nghị quyết Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 8 ngày 12/8/1991). Ngày 26/10/1992, thành lập Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Chính phủ (Nghị định số 05-CP). Sau khi tách Du lịch, lại đến Thể dục thể thao, Phát thanh truyền hình thành các ngành trực thuộc Chính phủ.

Năm 1993, Bộ Văn hóa – Thông tin trở lại như trước đây, với chức năng, nhiệm vụ như Nghị định số 81-CP ngày 8/4/1994 của Chính phủ quy định. Việc liên tục tách ra nhập vào như trên đã ảnh hưởng về nhiều mặt hoạt động của Ngành. Rất may là thấy trước vấn đề này, nên với phương châm chỉ đạo “Giữ nguyên trạng, bộ phận nào làm việc nấy, không xáo trộn cả người và kinh phí” nên mọi công việc được tiến hành bình thường. Trong hai năm 1994 – 1995, ngành Văn hóa – Thông tin đã tập trung mọi cố gắng phục vụ các ngày lễ lớn của dân tộc. Đây là sự khôi phục và phát triển các hoạt động văn hóa, thông tin chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp của toàn xã hội theo phương hướng đúng đắn mà Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 của Đảng đã đề ra.

Năm 1998, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được ban hành, mở ra một thời kỳ mới cho sự nghiệp văn hóa Việt Nam. Bám sát 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ mới, toàn Ngành đã phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, tiếp tục khẳng định những thành tựu trong quá trình đổi mới.

Năm 2000, năm bản lề chuyển giao thiên niên kỷ đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của ngành Văn hóa – Thông tin. Nhiều hoạt động văn hóa – thông tin kỷ niệm các ngày lễ lớn của Đảng và dân tộc được tổ chức; bộ mặt văn hóa nước nhà khởi sắc, chuyển biến đồng đều, tích cực theo hướng mà Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đề ra.

Từ năm 2006, ngành Văn hóa – Thông tin chủ động triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khóa VIII), Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo đảm “sự gắn kết giữ nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội” (Văn kiện Đại hội Đảng X).

Lĩnh vực Thể dục thể thao:

Năm 2000, thể thao tiếp tục con đường hội nhập quốc tế và chinh phục các đỉnh cao thành tích mới, tham dự Olimpic mùa hè lần thứ 27 tại Sydney. Năm 2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 57/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002 phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thể dục thể thao đến năm 2010. Lĩnh vực Du lịch:

Ngày 15/8/1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 120-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.

Nghị quyết Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 8 ngày 12/8/1991 sáp nhập Tổng cục Du lịch vào Bộ Thương mại và Du lịch.

Ngày 26/10/1992, Chính phủ ra Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Chính phủ.

6. Giai đoạn năm 2007 đến nay.

Ngày 31 tháng 7 năm 2007 lại đánh dấu một bước ngoặt lớn của Ngành: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được thành lập, thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực (Nghị quyết số: 01/2007/QH12) trên cơ sở sáp nhập Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thể dục thể thao; tiếp nhận phần quản lý nhà nước về gia đình từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.

Từ năm 2009 đến nay, toàn Ngành tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn và các hoạt động của Chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội; hoàn thành việc xây dựng các đề án lớn triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về “tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới”; đẩy mạnh thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020; Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020; Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; Quy hoạch phát triển thể dục thể thao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; triển khai thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình v.v… Năm 2014, với tinh thần “Trách nhiệm, kỷ cương, tiết kiệm, hiệu quả”, phương hướng chung của toàn Ngành là tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, thể dục thể thao và du lịch theo các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định tại các văn kiện của Đảng, tích cực góp phần cùng Chính phủ và cả nước hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước đã được Quốc hội thông qua.

Với những thành tựu to lớn đã đạt được trong gần 70 năm qua kể từ ngày thành lập, Ngành đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận và trao tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh cao quý.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế – văn hóa – xã hội của đất nước. Nhiều công việc đang đặt ra, đòi hỏi sự quyết tâm của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”./.

Cập nhật thông tin chi tiết về Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Tỉnh Sóc Trăng trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!