Xu Hướng 2/2024 # Tháo Gỡ Khó Khăn, Thúc Đẩy Phát Triển Du Lịch Bền Vững # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tháo Gỡ Khó Khăn, Thúc Đẩy Phát Triển Du Lịch Bền Vững được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Vừa gượng dậy sau gần 100 ngày ngành du lịch Việt Nam “hồi sinh” nhờ chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” thì đợt dịch thứ hai quay lại làm cho ngành kinh tế không khói trở nên kiệt quệ.

Không chịu đầu hàng, những người làm du lịch ngoài tự thân nỗ lực đang mong nhận được sự thấu hiểu và sẻ chia từ cơ quan làm chính sách, các đối tác và cả cộng đồng những người yêu thích dịch chuyển. Thông tin từ Tổng cục Du lịch cho biết, hết tháng 8 tỷ lệ hủy phòng các khách sạn vào khoảng 98%-100% ở hầu hết các địa phương; Hà Nội hủy 32.000 tour, TP Hồ Chí Minh hủy 35.000 tour, các doanh nghiệp lớn nhiều đoàn khách đông cũng hủy, gây ra thiệt hại lớn. Theo ông Võ Anh Tài, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Saigontourist: “Khó khăn không phải bây giờ các doanh nghiệp du lịch mới gặp, mà ngay từ đợt dịch trước nhiều doanh nghiệp đã phải ‘ngoi ngóp’ sống. Đây không phải lần đầu, cũng có thể không phải lần cuối ngành du lịch phải ‘chiến đấu’ với những khó khăn như vậy”.  

Du lịch Việt Nam đang lâm vào khó khắn do ảnh hưởng của dịch Covid – 19

Bàn về giải pháp khắc phục, ông Võ Anh Tài cho rằng: “Đây là trường hợp bất khả kháng, phải xử lý trong tình huống đặc biệt, do đó cần khung pháp lý hoàn chỉnh để đơn vị lữ hành xử lý tình huống với khách, với các đối tác, sao cho có tình có lý”. Chủ tịch Hội Lữ hành Hà Nội, Giám đốc Công ty Lữ hành Hanoitourist Phùng Quang Thắng thì nhận định: Thời điểm này, hoạt động du lịch chưa dừng hẳn, vì thế, các đơn vị cần có sự đánh giá, phân tích thị trường, hướng khách đến những vùng, điểm du lịch chưa có dịch. Lúc này, các đơn vị không đón những đoàn có đông du khách, mà cần xây dựng những sản phẩm dành cho những nhóm khách nhỏ như gia đình, bạn bè. Cho rằng vấn đề hiện nay là phải giữ cho đội ngũ những người làm du lịch còn “sống” được cho đến khi hết dịch, ông Vũ Thế Bình, Phó chủ tịch Thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam đề xuất: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần rà soát khó khăn, kiến nghị với Chính phủ cho phép các đơn vị tiếp cận được những nguồn vốn vay với lãi suất thấp để hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn này. Đồng thời, các đơn vị hoạt động du lịch cần có cam kết rõ ràng thời gian hoàn, hoãn các tour du lịch chưa thực hiện được với du khách trong giai đoạn này.  

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 các mục tiêu của ngành Du lịch trong năm 2024 khó hoàn thành, do đó để tháo gỡ khó khăn cho ngành và các doanh nghiệp du lịch, theo ông Nguyễn Văn Hùng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Trước mắt, Tổng cục Du lịch cần rà soát lại các khó khăn, bất cập mà các doanh nghiệp du lịch đang gặp hiện nay để báo cáo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm, Thứ trưởng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, giải pháp khả thi để giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh gây ra, từng bước phục hồi hoạt động kinh doanh du lịch, góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nguồn:

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 các mục tiêu của ngành Du lịch trong năm 2024 khó hoàn thành, do đó để tháo gỡ khó khăn cho ngành và các doanh nghiệp du lịch, theo ông Nguyễn Văn Hùng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Trước mắt, Tổng cục Du lịch cần rà soát lại các khó khăn, bất cập mà các doanh nghiệp du lịch đang gặp hiện nay để báo cáo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm, Thứ trưởng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, giải pháp khả thi để giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh gây ra, từng bước phục hồi hoạt động kinh doanh du lịch, góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.Nguồn: Báo Quân Đội Nhân Dân

Tháo Gỡ Khó Khăn Trong Đào Tạo Và Phát Triển Nhân Lực Du Lịch

(Thanhuytphcm.vn) – Sáng 2/8, tại TPHCM đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế” do Trường Đại học (ĐH) Văn Hiến phối hợp với Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL) tổ chức.

Tham dự có chúng tôi Tạ Quang Đông, Thứ trưởng Bộ VHTTDL; Giám đốc Sở Du lịch TPHCM Bùi Tá Hoàng Vũ; TS Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển du lịch; cùng đại diện Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch các tỉnh, thành và đông đảo các doanh nghiệp du lịch lữ hành; các chuyên gia, giảng viên trong và ngoài nước.

Theo số liệu từ Tổng cục Du lịch, mỗi năm toàn ngành cần thêm gần 40.000 lao động. Tuy nhiên, lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng 15.000 người/năm, trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên…

Tại hội thảo, các chuyên gia cho rằng, phát triển nhân lực du lịch chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang là thách thức cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ du lịch lữ hành cũng như hệ thống cơ sở đào tạo ngành học này.

Theo chúng tôi Trần Văn Thiện, Hiệu trưởng Trường ĐH Văn Hiến, trong những năm gần đây, ngành du lịch nước ta đã thu hút hàng chục triệu du khách nước ngoài, nhanh chóng nâng cao tỷ trọng thu nhập GDP của nền kinh tế quốc dân, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, ngành Du lịch Việt Nam cũng đang gặp những khó khăn, thách thức không nhỏ về nhiều mặt, trong đó lớn nhất là vấn đề về xây dựng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhìn chung ngành du lịch vẫn trong tình trạng vừa thừa vừa thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển của ngành trong giai đoạn hội nhập toàn cầu.

PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ đào tạo, Bộ VHTTDL nhận định, mặc dù nguồn nhân lực du lịch được quan tâm và phát triển mạnh trong thời gian qua, tuy nhiên vẫn còn có những bất cập, hạn chế, cần được quan tâm giải quyết. Đó là tình trạng mất cân đối trong cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực theo các vùng miền, địa phương; mất cân đối trong cơ cấu nhân lực theo ngành nghề, lĩnh vực, cấp độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực ngoại ngữ.

“Hiện nay, du lịch Việt Nam đang thiếu đội ngũ cán bộ cấp cao ở cả khối doanh nghiệp kinh doanh trực tiếp, khối quản lý nhà nước, các lĩnh vực quy hoạch, hoạch định chính sách chiến lược và khối sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu về du lịch. Thiếu hụt nhân lực quản trị cấp cao, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh khách sạn, khu resort… đang là vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Theo đó, tại hầu hết các doanh nghiệp, tập đoàn khách sạn lớn hoặc có yếu tố nước ngoài, đội ngũ quản lý cấp trung và cấp cao phần lớn là người nước ngoài”, chúng tôi Lê Anh Tuấn tâm tư.

Cũng tại hội thảo, các diễn giả cũng cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, với xu thế phát triển du lịch thông minh, công nghệ thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo được ứng dụng phổ biến trong lĩnh vực du lịch,… nhân lực du lịch cần phải được đào tạo và phát triển mạnh mẽ để đáp ứng với yêu cầu mới, song song đó, việc nghiên cứu để phát triển các ngành nghề và lĩnh vực mới thích ứng với du lịch thông minh thời 4.0 là vấn đề cấp bách hiện nay.

Giải Pháp Thúc Đẩy Ngành Du Lịch Việt Nam Phát Triển Bền Vững

Tiềm năng và thách thức đối với phát triển du lịch Việt Nam

Với những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý kinh tế và chính trị, Việt Nam có rất nhiều thuận lợi để phát triển du lịch. Nằm ở trung tâm Đông Nam Á, lãnh thổ Việt Nam vừa gắn liền với lục địa vừa thông ra đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi cả về đường biển, đường sông, đường sắt, đường bộ và hàng không. Đây là tiền đề rất quan trọng trong việc mở rộng và phát triển du lịch quốc tế.

Việt Nam là đất nước có tiềm năng lớn về du lịch. Ngoài những danh thắng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới như: Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bảng… Việt Nam còn thu hút khách du lịch nước ngoài với hàng loạt địa điểm du lịch sinh thái kéo dài khắp ba miền Tổ quốc.

Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng. Các đặc điểm đa dạng về cấu trúc địa hình biển và hải đảo, đồng bằng, đồi núi, cao nguyên đã làm cho lãnh thổ Việt Nam đa dạng, phong phú về cảnh quan và các hệ sinh thái có giá trị cao cho phát triển du lịch, đặc biệt là hệ sinh thái biển, hệ sinh thái sông hồ, hệ sinh thái rừng, hang động. Thêm vào đó, với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam cũng rất phong phú. Trong số khoảng 40.000 di tích lịch sử trên khắp miền đất nước, có hơn 2.500 di tích đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng.

Ngoài những lợi thế trên, Việt Nam còn là nước có chế độ chính trị ổn định, có nguồn nhân lực dồi dào. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Nhà nước cũng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại trong đó có du lịch phát triển.

Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng trên, hiện nay, ngành Du lịch Việt Nam còn gặp không ít khó khăn và thách thức như: Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, điểm xuất phát của du lịch Việt Nam quá thấp so với các nước trong khu vực. Khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam cũng còn rất hạn chế trước sự cạnh tranh gay gắt của du lịch trong khu vực và thế giới. Trong khi đó, công tác quản lý môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại nhiều điểm du lịch còn yếu kém và chưa được coi trọng. Công tác quản lý điểm đến chưa được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Tình trạng mất vệ sinh, an ninh, trật tự tại các điểm du lịch vẫn thường xuyên xảy ra. Tình trạng taxi dù, hiện tượng chèo kéo, bán hàng rong, lừa đảo, ép khách du lịch vẫn thường xuyên diễn ra ở nhiều địa phương, nhất là mùa cao điểm…

Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên du lịch chưa được thống kê, đánh giá, phân loại và xếp hạng để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả. Dẫn tới tài nguyên du lịch thì nhiều, nhưng khai thác bừa bãi, mới dừng ở bề nổi, khai thác cái sẵn có chưa phát huy giá trị của tài nguyên. Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích… tác động tiêu cực tới phát triển du lịch bền vững.

Tính chuyên nghiệp khi xây dựng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá cũng chưa được nâng cao. Sản phẩm du lịch Việt Nam vẫn chậm đổi mới, còn nghèo nàn, đơn điệu, thiếu đặc sắc, ít sáng tạo, còn trùng lặp giữa các vùng miền, giá trị gia tăng hàm chứa trong sản phẩm du lịch thấp, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết trong phát triển sản phẩm. Công tác xúc tiến quảng bá còn nhiều hạn chế, chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả; mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch. Kinh phí nhà nước đầu tư còn hạn chế, cho nên chưa tạo được hiệu ứng kích cầu đi du lịch Việt Nam tại các thị trường mục tiêu.

Hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp cận điểm đến còn thiếu đồng bộ. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh nhưng nhìn chung tầm cỡ quy mô, tính chất tiện nghi và phong cách sản phẩm du lịch nhỏ lẻ, vận hành chưa chuyên nghiệp, do vậy chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốc gia với thương hiệu nổi bật. Thêm vào đó, nguồn nhân lực du lịch cũng là điểm yếu kém rất lớn. Mặc dù có nhiều cố gắng trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch thời gian qua, nhưng so với yêu cầu về tính chuyên nghiệp của ngành dịch vụ hiện đại và hội nhập, toàn cầu hóa thì nhân lực du lịch chưa đáp ứng kịp về kỹ năng chuyên nghiệp, hội nhập, liên kết toàn cầu.

Giải pháp phát triển bền vững Du lịch Việt Nam

Để Du lịch Việt Nam phát triển bền vững và hiệu quả, cần tập trung giải quyết những vấn đề sau:

– Nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa như gia nhập WTO, Cộng đồng kinh tế ASEAN, đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do… ngành Du lịch Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức không nhỏ, đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Một trong những cách tiếp cận để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch Việt Nam là nghiên cứu xu hướng nhu cầu của du khách để tạo ra những sản phẩm mới, hấp dẫn, đáp ứng đúng nguyện vọng và mang đến sự hài lòng cho du khách.

– Chú trọng phát triển sản phẩm du lịch địa phương.Ngoài việc nâng cao năng lực cạnh tranh còn cần nâng cao chất lượng dịch vụ các khu, tuyến, điểm du lịch đã khai thác. Khai thác những lợi thế khác biệt để tạo nên những sản phẩm du lịch đặc thù, từ đó hình thành các tuyến du lịch nội vùng và liên vùng có tính hấp dẫn và cạnh tranh cao.

– Đẩy mạnh hoạt động quảng bá, xúc tiến và liên kết du lịch. Cụ thể, cần tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến, tạo ra các sản phẩm du lịch phù hợp với nhiều phân khúc thị trường du lịch. Lựa chọn, tham gia có chọn lọc vào các hoạt động, sự kiện du lịch, thành lập Quỹ Xúc tiến du lịch quốc gia để tăng cường hơn nữa việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam tới bạn bè quốc tế; Đề xuất xây dựng những sản phẩm du lịch mới, tăng cường xây dựng những tour, tuyến du lịch liên vùng nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, phối kết hợp các hoạt động du lịch giữa các tỉnh trong vùng với các địa phương khác để du lịch thực sự trở thành một hoạt động thông suốt, có tính cạnh tranh cao hơn.

– Đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch phụ thuộc nhiều vào việc cơ sở hạ tầng có được đầu tư tốt hay không và thái độ phục vụ cũng như trình độ của nhân viên. Vì vậy, phải chú trọng đến việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong đó tập trung đào tạo kỹ năng nghề và thực hành homestay.

– Chú trọng bảo vệ môi trường. Trong khai thác du lịch, các cơ quan quản lý phải luôn nhấn mạnh đến vấn đề bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái tự nhiên vốn có tại các điểm du lịch; Đặt vấn đề bảo vệ môi trường trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quy hoạch các đề án, chiến lược phát triển du lịch của tỉnh và các khu, điểm du lịch.

Ngành Du Lịch Hành Động Để Tháo Gỡ Khó Khăn Do Covid

DU LỊCH LÀ NGÀNH KINH TẾ MŨI NHỌN

Trong những năm gần đây, ngành Du lịch đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa; nâng cao vị thế và hình ảnh Việt Nam trong quá trình hội nhập với quốc tế, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Không chỉ đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và liên tục, tỷ trọng du lịch trong GDP cũng có sự bứt phá rõ rệt. Du lịch góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của khối ngành dịch vụ từ 38,7% (năm 2000) lên trên 40% (năm 2024). Bên cạnh đó, xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chất đột phá trong nâng cao chất lượng và hình ảnh của Việt Nam, thời gian qua ngành Du lịch luôn chú trọng công tác quản lý nhà nước về lữ hành, khách sạn, điểm đến và phát triển nguồn nhân lực du lịch; tập trung xây dựng hệ thống văn bản pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp du lịch. Đồng thời, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá du lịch trong nước và quốc tế, mở rộng giao lưu và hội nhập quốc tế theo hướng chuyên nghiệp, hướng đến những thị trường trọng điểm để thu hút du khách và các nhà đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Từ đó, nâng cao giá trị sản phẩm và năng lực cạnh tranh, lan tỏa Việt Nam – vẻ đẹp bất tận trên bản đồ du lịch thế giới.

TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19 ĐỐI VỚI DU LỊCH

Đại dịch COVID-19 đã khiến hoạt động du lịch toàn cầu đóng băng. Hoạt động đi lại, vận chuyển hàng không trên toàn thế giới trở nên rất khó khăn, hầu hết các đường bay quốc tế đã đóng. Ngành Du lịch Việt Nam ngừng trệ hoàn toàn khi Chính phủ triển khai các biện pháp mạnh để ứng phó với đại dịch như: ngừng nhập cảnh toàn bộ người nước ngoài từ 22/3; dừng mọi hoạt động hội họp, tập trung trên 20 người; các thành phố lớn đóng cửa toàn bộ các cơ sở dịch vụ từ 28/3 (trừ cung cấp thực phẩm, dược phẩm, khám chữa bệnh); ngừng hoạt động vận chuyển hàng không quốc tế, hạn chế giao thông công cộng.

Trong 5 tháng đầu năm 2024, lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ đạt 3,7 triệu lượt, giảm 50% so với cùng kỳ năm 2024; lượng khách nội địa đạt 16 triệu lượt, giảm 58,5% và tổng thu du lịch đạt 150.300 tỷ đồng, giảm 47,4% so với cùng kỳ năm 2024.

Hoạt động du lịch nội địa dần được phục hồi sau khi quy định về giãn cách xã hội được nới lỏng từ cuối tháng 4/2024. Tuy nhiên, du lịch quốc tế kể từ tháng 3/2024 đến nay vẫn đang ngừng trệ, tiếp tục tác động đến du lịch Việt Nam.

Trong quý I và II/2024 có khoảng 95% các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế trên cả nước đã dừng hoạt động. 137 doanh nghiệp lữ hành quốc tế xin thu hồi giấy phép, tăng gần 3 lần so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp xin cấp mới giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế giảm 48% so với cùng kỳ năm trước. Công suất phòng trung bình của các cơ sở lưu trú chỉ đạt khoảng 20%, giảm mạnh so với công suất trung bình năm trước (52%). Đến tháng 4/2024, có khoảng 90% cơ sở lưu trú phải tạm dừng hoạt động. Dự báo từ nay đến cuối năm, số lượng doanh nghiệp đóng cửa vì khó khăn do dịch COVID – 19 sẽ còn tăng mạnh. Nhiều doanh nghiệp chỉ bố trí khoảng 30% nhân sự trực tại công ty, nhân viên được cho nghỉ không lương hoặc giảm đến 80% lương.

NHIỀU BIỆN PHÁP CHÍNH SÁCH THÁO GỠ KHÓ KHĂN

Từ khi dịch bệnh khởi phát đến nay, Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn do đại dịch. Trong đó, doanh nghiệp và lao động ngành Du lịch là một trong số những đối tượng được quan tâm và hưởng chính sách hỗ trợ như: gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất cho các đại lý du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống, bảo tàng, khu vui chơi giải trí; giảm giá tiền điện cho các cơ sở lưu trú và các doanh nghiệp; miễn, giảm lãi suất và lệ phí; tiếp cận các khoản vay ưu đãi không lãi cho các doanh nghiệp trả lương cho nhân viên; hỗ trợ tài chính người lao động du lịch bị mất việc hoặc nghỉ không lương bởi đại dịch và gần đây nhất là triển khai các quy định mức thu, nộp phí thẩm định cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế; Giấy phép kinh doanh lữ hành nội địa; phí thẩm định cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch, trong đó giảm 50% phí thẩm định giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế; Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa; Phí thẩm định cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch.

Ngoài ra, ngành Du lịch cũng đã liên tục có các văn bản đề xuất, kiến nghị với Chính phủ một số chính sách hỗ trợ khác cho các doanh nghiệp du lịch để triển khai trong và sau khi kiểm soát được dịch bệnh. Đồng thời, thường xuyên nắm bắt tình hình triển khai và cập nhật các cơ chế, chính sách mới ban hành trong gói hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

KÍCH CẦU DU LỊCH NỘI ĐỊA

Triển khai Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 24/4/2024 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng chống dịch COVID-19 trong tình hình mới, ngày 8/5/2024, Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch đã ban hành Kế hoạch phát động chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” với mục tiêu kích cầu du lịch nội địa; đẩy mạnh truyền thông quảng bá điểm đến đảm bảo an toàn phòng chống dịch. Nhằm thu hút sự vào cuộc của các địa phương mở cửa lại du lịch, đảm bảo an toàn phòng chống dịch và sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch; sự đồng hành của các doanh nghiệp, triển khai các gói kích cầu du lịch Tổng cục Du lịch đã phối hợp với Ban Tư vấn nghiên cứu, phát triển kinh tế tư nhân của Chính phủ  tổ chức Hội nghị “Thời điểm vàng khám phá vẻ đẹp Việt” và Hội nghị “Giải pháp thúc đẩy du lịch nội địa và phục hồi du lịch quốc tế hậu COVID-19”. Ngày 24/5/2024, tại tỉnh Quảng Ninh, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức tuyên bố khởi động lại thị trường du lịch nội địa, đồng thời đề nghị chuẩn bị sẵn sàng để đón du khách quốc tế vào Việt Nam khi điều kiện cho phép.

Sau khi được phát động, chương trình kích cầu du lịch nội địa đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ và nhanh chóng của hầu hết các tỉnh, thành phố, các hiệp hội và doanh nghiệp du lịch trên phạm vi cả nước. Cho đến nay, đã có 15 địa phương ở các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch đồng loạt hưởng ứng kế hoạch kích cầu, tổ chức kết nối doanh nghiệp, hợp tác giữa du lịch, hàng không và các điểm tham quan, vui chơi giải trí xây dựng các sản phẩm kích cầu với nhiều ưu đãi, giá hợp; tổ chức các chương trình phát động, giới thiệu điểm đến, tiêu biểu như Hà Nội, Khánh Hòa, TP. Hồ Chí Minh liên kết với 13 tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, Đà Nẵng, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, liên kết hợp tác phục hồi du lịch Quảng Nam – Thừa Thiên Huế – Đà Nẵng, Nghệ An, Quảng Bình, Cần Thơ…

Đối với vận chuyển hàng không, việc mở lại các đường bay, tần suất bay và công suất chuyên chở đã tăng trở lại, gần bằng mức trước dịch COVID-19. Cụ thể như: Vietnam Airlines đã mở lại 100% các đường bay nội địa cũng như tần suất bay, công suất chuyên chở đã gần bằng trước dịch; Bamboo Airways đã khôi phục trở lại trên 50% so với trước dịch các đường bay nội địa, công suất chuyên chở tăng nhanh, hiện đạt khoảng 75-80%; Vietjet Air trong tháng 5 đã bay khoảng 8.000 chuyến tại 45 đường bay trong nước, gần bằng 100% so với trước dịch. Dự kiến tháng 6 sẽ tăng lên 10.000 chuyến và tháng 7 tăng lên 12.000 chuyến.

Để nhanh chóng phục hồi ngành Du lịch, kế hoạch tiếp theo được xác định chia thành các giai đoạn: 1) Giai đoạn 1: Tập trung phát triển thị trường nội địa song song với chuẩn bị các điều kiện cần thiết để mở cửa thị trường quốc tế vào thời điểm thích hợp; 2) Giai đoạn 2: Triển khai thí điểm đón khách quốc tế (trên cơ sở trao đổi khách song phương giữa một số quốc gia đảm bảo an toàn phòng chống dịch); 3) Giai đoạn 3: Tiếp tục xem xét mở rộng số quốc gia, khu vực thực hiện trao đổi khách quốc tế; 4) Giai đoạn 4: Khi dịch bệnh được khống chế toàn cầu, các hoạt động du lịch quốc tế và nội địa sẽ diễn ra bình thường tại Việt Nam.

Với những đổi mới và nỗ lực trong công tác quảng bá, xúc tiến và các chương trình hành động để tái khởi động hoạt động du lịch, hình ảnh du lịch Việt Nam liên tục xuất hiện trên các trang báo lớn như The Guardian, The New York Times, Reuters… gắn liền với thông điệp an toàn, thành công trong công tác chống dịch COVID-19. Ngoài việc tập trung đẩy mạnh du lịch nội địa, ngành Du lịch đã và đang chuẩn bị các giải pháp xúc tiến, quảng bá du lịch, tận dụng lợi thế khi là một trong những quốc gia kiểm soát thành công dịch COVID-19 sớm nhất, được các nước trên thế giới đánh giá rất cao. Du lịch Việt Nam sẵn sàng thu hút và đón khách quốc tế ngay khi điều kiện cho phép./.

Nguyễn Trùng Khánh Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam

Diễn Đàn Du Lịch Huế Thúc Đẩy Các Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thông Minh Và Bền Vững

Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Phan Ngọc Thọ, Tổng cục trưởng TCDL Nguyễn Trùng Khánh cùng các vị đại biểu chủ trì Diễn đàn. Ảnh: TITC/TA

Cùng dự có đại diện các Sở, ban, ngành, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo tỉnh Thừa Thiên Huế và một số địa phương.

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, ông Phan Ngọc Thọ – Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế nhấn mạnh, với nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng cả về tự nhiên và nhân văn, trong thời gian qua, Thừa Thiên Huế đã tập trung phát triển du lịch theo hướng bền vững, trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, bảo vệ tốt môi trường và cảnh quan thiên nhiên.

Những năm gần đây, ngành du lịch Thừa Thiên Huế đã đạt được một số kết quả khả quan, thể hiện ở mức độ tăng trưởng bình quân 17%/năm, tạo được sự chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt. Du lịch Thừa Thiên Huế đang thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GRDP và đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh.

Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Phan Ngọc Thọ phát biểu khai mạc Diễn đàn. Ảnh: TITC/TA

Tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 127/KH-UBND về triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2024 của Bộ Chính trị gắn với Nghị quyết 03-NQ/TU ngày 08/11/2024 của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế về phát triển du lịch, dịch vụ thành ngành kinh tế mũi nhọn, phấn đấu đến năm 2024 đưa Huế trở thành một trong những điểm đến hàng đầu của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á; đến năm 2030, xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành một điểm đến ngang hàng với các thành phố di sản văn hóa thế giới.

Để đạt được các mục tiêu trên, Thừa Thiên Huế đã tập trung kêu gọi các nhà đầu tư lớn, có thương hiệu; hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch; chú trọng tăng trưởng ổn định chỉ tiêu về lượng khách, tăng mạnh về chỉ tiêu doanh thu du lịch; tăng cường công tác quản lý nhà nước. Đặc biệt, Thừa Thiên Huế chú trọng xây dựng Hệ sinh thái du lịch thông minh với các mục tiêu: Xây dựng Điểm đến thông minh; tạo nên sự Trải nghiệm thông minh và hỗ trợ cho công tác Quản lý/Kinh doanh thông minh.

Phát biểu tại Diễn đàn Du lịch Huế 2024, Tổng cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh đánh giá cao chủ đề mà tỉnh Thừa Thiên Huế lựa chọn cho Diễn đàn là du lịch “thông minh” và “bền vững” rất đúng trọng tâm trong bối cảnh hiện nay cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang tác động mạnh mẽ, toàn diện đến các ngành, lĩnh vực, trong đó có du lịch.

Ngày 30/11/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2024-2024, định hướng đến năm 2025. Triển khai Đề án của Chính phủ, nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước đã có những chương trình, kế hoạch hành động cụ thể. Trong đó, các địa phương có những bước đi mạnh mẽ nhất phải kể đến Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế…

Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ Hợp tác – Đầu tư về triển khai các dự án phát triển du lịch thông minh. Ảnh: TITC/TA

Tổng cục trưởng nhấn mạnh, trong công tác quản lý cần phát triển theo hướng dựa trên hệ thống dữ liệu đồng bộ, kết nối với các chủ thể liên quan, hướng tới theo thời gian thực; các thông tin, vấn đề được phản ánh kịp thời thông qua hệ thống thông tin hiện đại. Để có thể số hóa toàn diện, kết nối hình thành dữ liệu lớn, tiến tới thực sự thông minh hóa và tối ưu hóa các hoạt động du lịch là một chặng đường cần nhiều nỗ lực, nhất là sự điều phối và hợp tác của các bên liên quan.

Về phía Tổng cục Du lịch sẽ tiếp tục nỗ lực xây dựng các nền tảng chung, liên kết với các hệ thống của Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan để tạo điều kiện cho các địa phương có thể kết nối đồng bộ; điều phối, hỗ trợ số hóa các thông tin, dữ liệu, gắn với Đề án phát triển Hệ tri thức Việt số hóa của Chính phủ và các đề án, chương trình liên quan khác; Hỗ trợ phong trào khởi nghiệp sáng tạo gắn với khu vực và thế giới. Tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch.

Theo báo cáo của Sở Du lịch Thừa Thiên Huế, những năm gần đây một số đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã áp dụng những công nghệ mới để gia tăng trải nghiệm cho du khách như công nghệ thực tế ảo (VR), thuyết minh tự động đa ngôn ngữ (audio guide), công nghệ ảnh 360 độ, quảng bá trên ứng dụng điện thoại di động… Đồng thời, đẩy mạnh quảng bá du lịch Huế trên các website, ứng dụng, mạng xã hội.

Để tạo dựng nền tảng cho các sản phẩm du lịch thông minh, Thừa Thiên Huế đã tập trung xây dựng hệ thống dữ liệu ngành du lịch tỉnh về: hướng dẫn viên du lịch, doanh nghiệp lữ hành quốc tế, các cơ sở lưu trú, chuẩn hóa nội dung giới thiệu về các điểm đến tiêu biểu, xây dựng cổng thông tin điện tử du lịch Huế…

Theo vietnamtourism.gov.vn Các doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm du lịch thông minh bên lề Diễn đàn. Ảnh: TITC/TA

Tuy nhiên, tỉnh cũng thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế như các hoạt động dịch vụ, ứng dụng công nghệ gắn với du lịch thông minh ở Thừa Thiên Huế đang còn nhỏ lẻ và manh mún, thiếu một hệ thống thông minh kết nối giữa cơ quan quản lý, khối doanh nghiệp, du khách và cộng động để hình thành chuỗi sản phẩm có tính liên hoàn – yếu tố quan trọng nhất cho du lịch thông minh.

Tại diễn đàn, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất giải pháp để phát triển du lịch thông minh ở Thừa Thiên Huế liên quan đến những nhóm vấn đề lớn như: Cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển du lịch thông minh; Phát triển du lịch thông minh nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch; Phát triển các ứng dụng quảng bá, truyền thông, cung cấp thông tin du lịch; Tăng cường hợp tác công – tư, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư vào du lịch thông minh; Phát triển nguồn nhân lực du lịch…

Cũng trong khuôn khổ diễn đàn đã diễn ra Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ Hợp tác – Đầu tư về triển khai các dự án phát triển du lịch thông minh tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tranh Thủ Thời Cơ, Vượt Qua Khó Khăn, Thách Thức Để Đưa Quảng Bình Phát Triển Nhanh Và Bền Vững “*”

Trang chủKinh tế – chính trị

Tranh thủ thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức để đưa Quảng Bình phát triển nhanh và bền vững “*” 

Phát biểu của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2024-2024.

Thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội.

Thưa các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động,

Thưa các đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Bình qua các thời kỳ,

Thưa các vị đại biểu và các vị khách mời của Đại hội,

Hôm nay, tôi rất vui mừng về dự Đại hội đại biểu lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2024-2024 của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi xin gửi tới các đại biểu đại diện cho trên 66.000 đảng viên của tỉnh Quảng Bình, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, các đồng chí lãnh đạo của tỉnh qua các thời kỳ cùng toàn thể các vị khách mời của Đại hội những lời chúc tốt đẹp nhất. Chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

Thưa các đồng chí,

Năm năm qua, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình đã phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, đoàn kết, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã đề ra, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiêp, dịch vụ có lợi thế. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2010-2024 đạt khá cao, tập trung cho đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, du lịch và một số khu kinh tế, khu công nghiệp, khu du dịch có tiềm năng và phát huy hiệu quả cao, tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Thu nhập bình quân đầu người đạt 27 triệu đồng/năm, (tăng 1,8 lần so với đầu nhiệm kỳ. Các loại hình du lịch, dịch vụ da dạng, phong phú. Du lịch mạo hiểm, du lịch sinh thái, tam giác du lịch Phong Nha-Kẻ Bàng, Vũng Chùa – Đảo Yến, Nhật Lệ-Bảo Ninh rất hấp dẫn, thu hút được lượng lớn du khách trong và ngoài nước.

Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển khá; đã hình thành một số vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn, ứng dụng công nghệ kỹ thuật; trên 96% diện tích lúa nước được tưới tiêu chủ động; đánh bắt, nuôi trồng thủy sản phát triển khá mạnh. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của địa phương tăng trưởng khá; đã khôi phục, duy trì một số ngành nghề truyền thống. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả thiết thực.

Lĩnh vực văn hóa – xã hội có nhiều chuyển biến. Công tác giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm hơn. Công tác bảo đảm an sinh xã hội đạt được nhiều kết quả, tỷ lệ hộ nghèo năm 2024 còn trên 5%, giảm bình quân 4%/năm.

Chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh được củng cố và tăng cường. An ninh biên giới được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Quan hệ hợp tác với một số địa phương của Lào, Thái Lan và một số quốc gia khác ngày càng được mở rộng và phát huy hiệu quả thiết thực, nhất là về kinh tế, văn hóa, du lịch.

Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên được nâng lên; giữ vững đoàn kết nội bộ. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp ngày càng được nâng lên; cải cách hành chính, cải cách tư pháp có nhiều chuyển biến tích cực. Nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thường xuyên được đổi mới, khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt biểu dương và chúc mừng Đảng bộ và quân dân tỉnh Quảng Bình về những thành tựu đã đạt được trong nhiệm kỳ qua.

Thưa các đồng chí,

Vui mừng trước những thành tích đã đạt được, chúng ta cần thấy rõ một số bất cập, hạn chế để tập trung khắc phục.

Quảng Bình vẫn còn là tỉnh nghèo, hạ tầng kinh tế – xã hội chậm phát triển. Tăng trưởng kinh tế đạt thấp so với mục tiêu đề ra, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế; cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm; quy mô sản xuất còn nhỏ, chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp trên địa bàn chưa cao, sản phẩm du lịch còn đơn điệu. Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự hấp dẫn, thu hút vốn đầu tư còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Việc ứng dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất lao động còn hạn chế.

Công tác giảm nghèo chưa thực sự vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn cao, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những nơi thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lũ. Công tác xây dựng Đảng có mặt còn hạn chế; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng và chất lượng một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao.

Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ chưa được chú trọng nhiều. Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế, cải cách hành chính chưa quyết liệt, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh chậm được cải thiện.

Tôi đề nghị Đại hội cần phân tích, đánh giá sâu về những hạn chế, yếu kém trên các lĩnh vực, chỉ rõ những nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan để đề ra các giải pháp khắc phục có hiệu quả.

Thưa các đồng chí,

Trong nhiệm kỳ tới, những thuận lợi, khó khăn của Quảng Bình cũng nằm trong bối cảnh chung của cả nước. Chúng ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều hiệp định FTA với các đối tác lớn đã được ký kết. Hiệp định TPP vừa kết thúc đàm phán, cộng đồng kinh tế ASEAN hình thành vào cuối năm nay…

Những cơ hội lớn về thương mại, đầu tư, thị trường được tạo ra nhưng đồng thời sức ép cạnh tranh kinh tế cũng sẽ gay gắt hơn trên nhiều lĩnh vực. Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, nhất là tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông cũng sẽ tác động đến nước ta. Biến đổi khí hậu, thiên tai dự báo tiếp tục có những diễn biến khó lường. Trước bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc tình hình, những thời cơ và thách thức, những tiềm năng, thế mạnh của tỉnh trong phát triển.

Thứ nhất, cần đẩy mạnh huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ có lợi thế; đưa công nghiệp trở thành ngành kinh tế trọng điểm và du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tập trung xây dựng Khu Kinh tế Hòn La thành khu kinh tế tổng hợp; phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, khai thác, chế biến gắn với nguồn nguyên liệu tại chỗ mà tỉnh có lợi thế.

Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ du lịch, dịch vụ; sớm đưa Phong Nha – Kẻ Bàng – Sơn Đoòng thành một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước. Lưu ý khai thác quần thể các hang động một cách khoa học, đa dạng, hiệu quả nhằm phát huy lợi ích kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân nhưng phải bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững, bảo tồn và duy trì sự đa dạng nguyên sơ và môi trường sinh thái. Làm được điều này sẽ càng tạo được sự hấp dẫn lớn đối với Phong Nha – Kẻ Bàng – Sơn Đoòng, xây dựng được thương hiệu lớn về du lịch.

Đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, tập trung phát triển nông nghiệp đa chức năng, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao gắn với xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh cây công nghiệp, cây lương thực, thực phẩm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao và sản phẩm sạch phục vụ xuất khẩu và trước hết phục vụ nguồn khách du lịch ngày càng đông trên địa bàn tỉnh.

Khai thác có hiệu quả thế mạnh về đất rừng, gò đồi để phát triển chăn nuôi đại gia súc và trồng rừng. Chăm sóc bảo vệ rừng gắn với chăm lo đời sống người giữ rừng. Phát triển mạnh kinh tế biển, đầu tư nâng cấp, cải tạo các cơ sở hạ tầng nghề cá, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền tránh, trú bão và các cơ sở chế biến thủy sản phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.

Thứ hai, phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hóa – xã hội, bảo vệ môi trường. Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chất lượng cao. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, các di tích lịch sử cách mạng, bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển du lịch.

Đặc biệt quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững; chính sách đối với người có công và các chính sách xã hội khác. Xây dựng môi trường sống lành mạnh, an ninh, an toàn, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Thứ ba, tăng cường quốc phòng – an ninh, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Chủ động phòng chống tội phạm, nhất là tội phạm về ma túy, các loại tội phạm phát sinh ở khu vực biên giới. Làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; nắm chắc tình hình để kịp thời giải quyết ngay tại cơ sở, không để hình thành “điểm nóng” phức tạp, kéo dài. Tăng cườn quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với các địa phương nước bạn Lào giáp biên giới. Thực hiện tốt chính sách đoàn kết dân tộc, tôn giáo.

Thứ tư, tăng cường công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, chủ quan, nóng vội. Đổi mới hơn nữa phương thức và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; đề cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của chính quyền các cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính để nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh; xây dựng bộ máy công quyền, đội ngũ công chức thực sự phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tỉnh cũng cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, sát dân, sát cơ sở hơn nữa; nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

Thưa các đồng chí,

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đại hội là bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2024 – 2024. Tôi đề nghị các đồng chí đại biểu đại hội phát huy dân chủ, công tâm, khách quan, với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và trước nhân dân, sáng suốt lựa chọn những đồng chí tiêu biểu cho trí tuệ, có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Ban Chấp hành mới vừa phải bảo đảm tiêu chuẩn, vừa phải có cơ cấu hợp lý, có tính kế thừa và phát triển.

Phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số theo tinh thần Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị đã đề ra. Đồng thời, đề nghị Đại hội đề cao trách nhiệm, lựa chọn những đồng chí tiêu biểu cho trí tuệ, ý chí của Đảng bộ để bầu vào Đoàn đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Ngay sau khi kết thúc Đại hội, đề nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khẩn trương xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, phân công tổ chức và cá nhân chịu trách nhiệm để tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội ngay từ đầu nhiệm kỳ.

Thưa các đồng chí,

Nhiệm vụ đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình những năm tới là rất nặng nề, nhưng hết sức vẻ vang. Tiếp tục phát huy truyền thống “Quảng Bình quật khởi”, “Quảng Bình hai giỏi” trong đấu tranh cách mạng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tin tưởng chắc chắn rằng, Đảng bộ, quân và dân tỉnh Quảng Bình sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu, đoàn kết một lòng, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, tranh thủ thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức để đưa tỉnh Quảng Bình – quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, phát triển nhanh và bền vững, đem lại cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc cho nhân dân.

Xin chúc sức khỏe các đồng chí đại biểu, các vị khách quý. Chúc Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ XVI thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn!

(*) Đầu đề do Tòa soạn rút trong bài phát biểu

Theo baoquangbinh.vn

[Trở về]

Các tin đã đăng

Những ý kiến tâm huyết từ Đại hội 

Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI 

Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ xvi, nhiệm kỳ 2024-2024 

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ XVI: Bầu Ban Chấp hành nhiệm kỳ 2024-2024 

Khai mạc trọng thể Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2024-2024 

Bộ TT&TT tặng quà hỗ trợ hộ nghèo thành phố Đồng Hới 

Thành phố Đồng Hới: Triển khai thi hành Luật hộ tịch năm 2014 

Cập nhật thông tin chi tiết về Tháo Gỡ Khó Khăn, Thúc Đẩy Phát Triển Du Lịch Bền Vững trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!