Xu Hướng 5/2022 # Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang # Top View

Xem 99

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang được cập nhật mới nhất ngày 16/05/2022 trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 99 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Địa Du Lịch An Giang
  • Vĩnh Phúc Phát Triển Du Lịch Đặc Trưng Bền Vững
  • Liên Hiệp Các Hội Khkt Tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Di Sản Văn Hóa Là Nguồn Tài Nguyên Độc Đáo Của Du Lịch
  • Khai Thác Và Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

    KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

    BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ- DU LỊCH

    TRÀ XUÂN MAI

    TÌM HIỂU DU LỊCH TỈNH AN GIANG

    LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    NGÀNH DU LỊCH

    Cần Thơ, tháng 5/2010

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

    KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

    BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ- DU LỊCH

    TRÀ XUÂN MAI

    MSSV: 6062719

    TÌM HIỂU DU LỊCH AN GIANG

    LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    NGÀNH DU LỊCH

    GV hướng dẫn: Th.s Trần Thị Phụng Hà

    Lời cảm ơn

    Phần 1: MỞ ĐẦU

    1.

    Lý do chọn đề tài……………………………………………………….1

    2.

    Mục tiêu nghiên cứu của đề tài …………………………………………1

    3.

    Đối tượng nghiên cứu ………………………………………………….1

    4.

    Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….2

    4.1.Phương pháp thưc tế………………………………………………….2

    4.2.Thu thập, xử lí thông tin, phân tích và tổng hợp tài liệu……………..2

    4.3.Phương pháp bản đồ………………………………………………….2

    5.

    Quan điểm nghiên cứu………………………………………………….2

    5.1.Quan điểm tổng hợp lãnh thổ…………………………………………..2

    5.2.Quan điểm lịch sử………………………………………………… …..2

    5.3.Quan điểm viễn cảnh……………………………………………………3

    Phần 2: NỘI DUNG………………………………………………………………..4

    Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG…………………………………………………….4

    1.1.Khái niêm du lịch và tài nguyên du lịch……………………………………….4

    1.1.1.Khái niệm du lịch……………………………………………………..4

    1.1.2.Khái niêm tài nguyên du lịch…………………………………………5

    1.2.Vai trò, ý nghĩa của du lịch và tài nguyên du lịch……………………………..5

    1.2.1.Vai trò, ý nghĩa của du lịch……………………………………………5

    1.2.2.Vai trò, ý nghĩa của tài nguyên du lịch……………………………….7

    1.3.Đặc điểm và phân loại tài nguyên du lịch………………………………………7

    1.3.1.Đặc điểm………………………………………………………………7

    1.3.2.Phân loại…………………………………………………………… ..8

    a. Tài nguyên du lịch tự nhiên………………………………….8

    b. Tài nguyên du lịch nhân văn………………………………..11

    Chương 2: TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH AN GIANG………………………15

    2.1.Khái quát về tỉnh An Giang…………………………………………………..15

    2.1.1.Lịch sử hình thành vùng đất An Giang………………………………15

    2.1.2.Vị trí địa lí……………………………………………………………15

    2.1.3.Đặc điểm tự nhiên……………………………………………………16

    a. Địa hình……………………………………………………16

    b. Khí hậu……………………………………………………16

    c. Sông, hồ, kênh, rạch………………………………………16

    2.1.4.Đặc điểm kinh tế- xã hội……………………………………………17

    a. Phân chia đơn vị hành chính………………………………17

    b. Dân cư và sự phân bố dân cư……………………………..18

    c. Kinh tế- du lịch……………………………………………18

    2.2.Tài nguyên du lịch của tỉnh An Giang………………………………………..21

    2.2.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên…………………………………………21

    a. Địa hình……………………………………………………21

    b. Khí hậu……………………………………………………21

    c. Sinh vật……………………………………………………22

    d. Nước………………………………………………………23

    2.2.2.Tài nguyên du lịch nhân văn…………………………………………24

    a. Di tích lịch sử- văn hóa- khảo cổ học……………………..24

    b. Các lễ hội………………………………………………….24

    c. Làng nghề thủ công truyền thống…………………………28

    d. Các đối tượng gắn với dân tộc học………………………..29

    e. Các đối tượng văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức

    khác………………………………………………….32

    2.3.Một số điểm du lịch tiêu biểu của tỉnh An Giang………………… ……….. 32

    2.3.1.Các điểm du lịch tự nhiên……………………………………………32

    a. Búng Bình Thiên- Đệ nhất hồ trời…………………………32

    b. Thế giới nước Trà Sư……………………………………..33

    c. Thất sơn hùng vỹ- trữ tình…………………………………34

    2.3.2.Các điểm du lịch nhân văn…………………………………………..35

    a. Đồi Tức Dụp………………………………………………35

    b. Cụm di tích núi Sam………………………………………37

    c. Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng…………………..39

    d. Thánh đường Hồi giáo Mubarak………………………….39

    e. Chùa Xà Tón( Xayvon)…… …………………………….40

    @Đánh giá chung về tài nguyên du lịch tỉnh An Giang……………………….41

    Chương 3: HIỆN TRẠNGVÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH

    AN GIANG

    3.1.Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục du lịch…………………………43

    3.1.1.Cơ sở hạ tầng………………………………………………………..43

    a. Giao thông…………………………………………………43

    b. Vận tải…………………………………………………….44

    c. Thông tin liên lạc…………………………………………44

    3.1.2.Cơ sở vât chất kỹ thuật………………………………………………45

    a. Cơ sở lưu trú………………………………………………………45

    b. Mạng lưới thương mại mua sắm hang lưu niệm…………………..45

    c. Cơ sở y tế………………………………………………………….45

    d. Cơ sở ăn uống……………………………………………………..45

    e. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch…………………………………..45

    3.2.Hiện trạng hoạt động du lịch và định hướng phát triển du lịch An Giang……46

    3.2.1.Tình hình khách du lịch tỉnh An Giang……………………………..46

    3.2.2.Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động du lịch tỉnh An Giang……..47

    a. Thuận lợi……………………………………………………………47

    b. Khó khăn……………………………………………………………48

    3.2.3.Định hướng phát triển du lịch An Giang……………………………49

    Phần 3: KẾT LUẬN…………………………………………………………… 51

    1. Kết quả đạt được…………………………………………………………..51

    2. Ý kiến đề xuất………………………………………………………… …51

    LỜI CÁM ƠN

    Trong suốt bốn năm rèn luyện và học tập trên giảng đường đại

    học, với sự dìu dắt và truyền thụ kiến thức của thầy cô, tôi đã có được

    những hành trang bổ ích để bước vào đời.

    Có thể nói, luận văn tốt nghiệp là công trình nghiên cứu có giá

    trị đầu tiên đối với mỗi sinh viên. Với công trình này, chúng tôi có dịp

    vận dụng những kiến thức đã được trang bị và trau dồi suốt bốn năm

    qua. Trải qua thời gian nỗ lực tìm tòi nghiên cứu, đề tài ” TÌM HIỂU

    DU LỊCH AN GIANG” đã hoàn thành.

    Trang viết đầu tiên này tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến

    cô Trần Thị Phụng Hà- Cán bộ hướng dẫn chính cho bài luận văn này,

    người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài.

    Đạt được kết quả này còn nhờ sự giúp đỡ của nhiều cơ quan,

    đơn vị khác. Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô Bộ môn Lịch sửĐịa lí- Du lịch, Sở Văn hóa- Thể thao- Du lịch An Giang, Cục Thống

    kê An Giang cùng các bạn lớp Cử nhân du lịch khóa 32. Chúc sức khỏe

    và thành đạt đến quý thầy cô, các cơ quan và tất cả các bạn!

    Vì thời gian và kiến thức bản thân có hạn nên chắc chắn đề tài

    này sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp

    của quý thầy cô và các bạn để luận văn tốt nghiệp này hoàn chỉnh hơn.

    PHẦN 1: MỞ ĐẦU

    1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    Quê hương tôi có cánh đồng xanh biếc

    Có cánh cò và có cả dòng sông

    Những người dân bàn chân đất ra đồng

    Tờ mờ sáng họ đi trong sương lạnh

    Mặt trời mọc là bức tranh ngoạn cảnh

    Đẹp tuyệt vời như họa sĩ vẻ ra

    Thương biết mấy những con người quê nội

    Đất An Giang tôi yêu mến muôn đời!

    (Sáng tác)

    Là một người con của mảnh đất An Giang, tôi tự hào bởi quê hương trù

    phú, nơi được đặc ân ưu đãi của thiên nhiên. Hệ thống sông Tiền và sông Hậu tạo

    cho An Giang một mùa nước nổi rất riêng biệt. An Giang còn sở hữu nhiều nét

    văn hóa phong phú đa dạng, nhiều di tích lịch sử đặc sắc, lâu đời gắn với thiên

    nhiên sông núi hữu tình, hùng vĩ. An Giang còn được mệnh danh là vùng “địa

    linh” với nhiều tín ngưỡng văn hóa đặc thù của các dân tộc.

    Giàu đẹp là thế, nhiều tiềm năng là thế. Nhưng hiện nay du lịch An Giang

    vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Vậy phải làm thế nào để đưa du

    lịch An Giang trở thành thế mạnh của tỉnh? Đây không chỉ là vấn đề bức xúc của

    riêng bản thân tôi mà còn là của các ngành, các cấp lãnh đạo trong hoạt động du

    lịch của tỉnh.

    Là sinh viên năm cuối chuyên ngành hướng dẫn viên, tôi hy vọng qua đề tài

    “TÌM HIỂU TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH AN GIANG” sẽ đưa hình ảnh du

    lịch tỉnh nhà giao lưu, hội nhập với các tỉnh bạn để du lịch An Giang có thể phát

    triển tương xứng với tiềm năng hiện có, từng bước tạo thương hiệu cho mình và

    góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch Việt Nam.

    2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

    Tìm hiểu tài nguyên du lịch tỉnh An Giang nhằm mục đích tìm hiểu những

    tìêm năng của một số tài nguyên có tác động đến hoạt động du lịch của một địa

    phương nói riêng và của tỉnh An Giang nói chung. Qua đó có những đánh giá về

    những tiềm năng du lịch của tỉnh và vạch ra phương hướng phát triển nhằm thúc

    đẩy ngành du lịch An Giang phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn trong tương lai.

    Song song đó, đề tài cũng giúp tôi củng cố lại những kiến thức đã học, bổ

    sung thêm những kiến thức mới nhằm nâng cao sự hiểu biết để phục vụ cho nghề

    nghiệp sau này.

    cứu phải tìm ra điểm độc đáo của lãnh thổ du lịch, sự hấp dẫn, nét riêng biệt của

    vùng, của điểm du lịch vùng này với điểm du lịch vùng khác.

    5.2. Quan điểm lịch sử: Tất cả các sự vật hiện tượng đều có quá trình xuất

    hiện và phát triển, vì thế khi nghiên cứu tài nguyên du lịch người nghiên cứu cần

    phải tìm hiểu nguồn gốc lịch sử dẫn đến sự hình thành tài nguyên du lịch để thấy

    được những bước khác nhau của nó trong những hoàn cảnh địa lí khác nhau, trong

    những khoảng thời gian khác nhau. Khi nghiên cứu chúng ta cần đặt theo một cấu

    trúc logic để lí giải nguyên nhân hình thành và phát triển. Quan điểm này giúp cho

    người nghiên cứu có cái nhìn động về sự vật, nghĩa là chúng ta phải luôn đặt

    chúng trong quá trình vận động và từ đó có thể thấy được những bước phát triển

    trong tương lai.

    5.3. Quan điểm viễn cảnh: Quan điểm này giúp người nghiên cứu định

    hướng được, dự đoán được những bước phát triển kế tiếp của các loại tài nguyên

    du lịch trong tương lai khi nhìn nhận đầy đủ bản chất cũng như quy luật vận động

    và phát triển của các loại tài nguyên du lịch ở quá khứ và hiện tại. Trong nghiên

    cứu du lịch thì quan điểm này kế thừa quan điểm lịch sử, nghĩa là khi áp dụng

    quan điểm viễn cảnh, người nghiên cứu phải căn cứ vào xu hướng vận động của

    các sự vật hiện tượng để lập dự báo, căn cứ có khoa học trong tương lai. Quan

    điểm này đảm bảo tính sáng tạo, tính tích cực của ngành Địa Lý và Du Lịch, đảm

    bảo tính kế thừa và phát triển trong tương lai.

    trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát

    triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức-văn hóa hoặc thể thao kèm

    theo việc tiêu thụ những giá trị về kinh tế, tự nhiên, văn hóa”.

    Nhìn chung, du lịch có thể được định nghĩa như sau: “Du lịch là hoạt động

    của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu

    tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. (Điều 10Pháp lệnh du lịch Việt Nam- 1999).

    Thông qua một số định nghĩa trên, có thể nói rằng du lịch là một dạng hoạt

    động đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức

    tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của

    ngành văn hóa- xã hội.

    1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch:

    Tài nguyên du lich hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên

    liệu, năng lượng và thông tin trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người

    có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình và được phân loại

    thành nhiều tài nguyên gắn liền với các nhân tố con người và xã hội.

    Khái niệm tài ngyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. Pháp lệnh

    du lịch Việt Nam (1999) định nghĩa như sau: “Tài nguyên du lịch được hiểu là

    cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công

    trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch,

    là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp

    dẫn du lịch”.

    Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch.

    Thực tế cho thấy, tài nguyên du lich càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì

    sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu.

    1.2. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA DU LỊCH VÀ TÀI NGUYÊN DU

    LỊCH

    1.2.1. Vai trò, ý nghĩa của du lịch:

    Du lịch có những chức năng nhất định. Có thể xếp các chức năng ấy thành

    bốn nhóm: xã hội, kinh tế, sinh thái và chính trị. Thông qua những chức năng này

    có thể thấy được vai trò rất lớn của du lịch và hoạt động du lịch.

    a. Chức năng xã hội:

    Thể hiện ở vai trò của du lịch trong việc giữ gìn, hồi phục sức khỏe và tăng

    cường sức sống cho nhân dân. Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn

    chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người.

    1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của tài nguyên du lịch:

    Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du

    lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hóa của vùng du lịch. Quy mô hoạt động du lịch

    của một vùng, một quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tài nguyên

    du lịch quyết định tính mùa vụ, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch. Sự hấp dẫn

    của vùng du lịch phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch.

    Số lượng tài nguyên du lịch vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết

    hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và

    phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia. Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài

    nguyên du lịch, các loại có chất lương cao có sức hấp dẫn du khách lớn và mức độ

    kết hợp các loại tài nguyên phong phú thì sức thu hút khách du lịch càng mạnh.

    1.3.

    ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH

    1.3.1. Đặc điểm:

    Để khai thác và sử dụng tốt nhất các tài nguyên du lịch, trước hết cần tìm

    hiểu và nghiên cứu các đặc điểm nguồn tài nguyên này. Tài nguyên du lịch có

    những đặc điểm chính sau:

    Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài

    nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ

    thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch.

    Thời gian khai thác xác định tính mùa của du lịch, nhịp điệu của dòng

    khách.

    Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút

    cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó.

    Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho

    phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế

    xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên.

    Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các quy

    định về sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để

    bảo vệ chung.

    Muốn đánh giá tài nguyên du lịch cần phải tổng hợp nhiều tri thức của các

    lĩnh vực khoa học: sinh lý học, tâm lý học, địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế, lịch sử

    văn hóa và nghệ thuật, kiến trúc và đô thị, kế hoạch hóa lãnh thổ và kế hoạch du

    lịch. Khía cạnh lãnh thổ của các đánh giá tài nguyên du lich là nhiệm vụ của địa lý

    du lịch.

    1.3.2. Phân loại tài nguyên du lịch:

    Tài nguyên du lịch có thể chia làm hai nhóm như sau:

     Tài nguyên du lịch tự nhiên

     Tài nguyên du lịch nhân văn

    a. Tài nguyên du lịch tự nhiên:

    Là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng

    ta và tác động đến người quan sát qua hình dạng bên ngoài của bản thân nó. Các

    tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên cũng như lịch

    sử, kinh tế, văn hóa, xã hội và chúng được khai thác đồng thời với các tài nguyên

    du lịch nhân văn. Các yếu tố tự nhiên được khai thác để phục vụ cho hoạt động du

    lịch đó là: địa hình, khí hậu, nước, sinh vật.

     Địa hình:

    Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong

    cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài

    của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách. Các đơn

    vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được phân biệt bởi

    độ chênh cao của địa hình.

    – Địa hình đồng bằng với độ cao tương đối dưới 10 mét, địa hình này

    tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình, ít gây cảm hứng cho khách tham quan du

    lịch. Song, đồng bằng là nơi thuận lợi cho hoạt động kinh tế, là nơi quần cư đông

    đúc, tạo ra đặc điểm văn hóa của các dân tộc, các hoạt động gắn liền với cuộc sống

    của người dân. Địa hình đông bằng có ảnh hưởng gián tiếp đến du lịch.

    – Địa hình vùng đồi với độ cao từ 10 đến 100 mét thường tạo ra một không

    gian thoáng đãng bao la… tác động mạnh đến tâm lý của khách ưa thích dã ngoại,

    rất thích hợp với loại hình cắm trại, tham quan….

    – Địa hình vùng núi với độ cao trên 100 mét thường có nhiều ưu thế đối với

    hoạt động du lịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện vẻ đẹp

    hùng vỹ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong

    lành. Ở miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch, đó là các sông, suối,

    hang động, thác nước, rừng cây với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú.

    Miền núi còn là nơi cư trú của các dân tộc ít người với đời sống và nền văn hóa đa

    dạng, đặc sắc. Ở miền núi với sự kết hợp của địa hình, khí hậu, nước, tài nguyên

    sinh vật và bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc ít người đã tạo nên tài

    nguyên du lịch tổng hợp có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch khác nhau

    và có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách.

    Ngoài các dạng địa hình trên, địa hình karst và địa hình ven bờ cũng có ý

    nghĩa rất lớn cho tổ chức du lịch.

    – Địa hình karst là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước

    trong các đá dễ hòa tan (đá vôi, dolomite, đá phấn, thạch cao, muối mỏ…) ở Việt

    Nam chủ yếu là đá vôi. Hang động karst là một kiểu karst được quan tâm đối với

    du lịch vì cảnh quan thiên nhiên của các hang động karst rất thu hút khách du lịch.

    Nhiều hang động có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo do tạo hóa sinh ra.

    Nhiều hang động chứa những di tích khảo cổ, di tích lịch sử văn hóa. Không ít

    hang động đã được con người xây dựng thêm các công trình kiến trúc như chùa

    chiền để thờ tự, tạo nên một thế giới tâm linh đầy bí ẩn…. Như vậy, có thể nói

    hang động karst là một loại tài nguyên du lịch- một loại hàng hóa đặc biệt có thể

    sinh lợi cao. Hiện nay ở nước ta đã có nhiều hang động được khai thác để phục vụ

    du lịch như: Phong Nha, Tam Cốc- Bích Động, Hương Tích, Thiên Cung….

    Ngoài hang động karst, còn có kiểu địa hình karst ngập nước tiêu biểu là vịnh Hạ

    Long- một di sản thiên nhiên thế giới; kiểu địa hình karst đồng bằng tiêu biểu là ở

    vùng Ninh Bình được mệnh danh là “vịnh Hạ Long cạn” cũng rất có giá trị về du

    lịch.

    – Địa hình ven bờ cũng có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch. Nước ta có

    đường bờ biển dài 3.260 km với nhiều bãi tắm vẫn còn ở dạng sơ khai, chưa bị ô

    nhiễm, độ dốc trung bình từ 10 đến 30 và một hệ thống đảo ven bờ, trong đó một

    số đảo có giá trị về du lịch. Từ Móng Cái đến Hà Tiên với rất nhiều bãi tắm đẹp

    như: Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Lăng Cô, Đại Lãnh, Nha Trang, Vũng Tàu….

    Đây là tiềm năng lớn để tạo nên các khu du lịch biển có thể cạnh tranh được với

    các nước trong khu vực.

     Khí hậu:

    Khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du lịch. Trong các chỉ tiêu

    về khí hậu, đáng lưu ý nhất là nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn phải tính

    đến các yếu tố khác như gió, áp suất khí quyển, ánh sáng mặt trời, các hiện tượng

    thời tiết đặc biệt.

    Bảng 1.1: Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người

    Hạng

    Ý nghĩa

    Thích nghi

    Khá thích nghi

    Nóng

    Rất nóng

    Không thích nghi

    ( Nguồn: Địa lý du lịch- Nguyễn Minh Tuệ)

    Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc

    hoạt động dịch vụ du lịch. Nhìn chung, những nơi có khí hậu ôn hòa thường được

    du khách ưa thích. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho hoạt động

    du lịch. Mỗi loai hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Chẳng

    hạn du khách đi nghỉ biển mùa hè thường chọn những dịp ít mưa, nắng nhiều

    nhưng không gắt, nước mát, gió vừa phải.

    Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng rất rõ rệt đến tính mùa vụ trong du lịch.

    Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của các

    yếu tố khí hậu. Sự phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch

    có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng.

    Mùa du lịch cả năm thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh ở suối

    khoáng, du lịch trên núi (cả mùa đông và mùa hè).

    Mùa đông là mùa du lịch trên núi, du lịch thể thao mùa đông.

    Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì nó có thể phát triển nhiều loại

    hình du lịch như du lịch biển, các loại hình du lịch trên núi và khu vực đồng bằng,

    đồi, khả năng du lịch ngoài trời rất phong phú và đa dạng.

     Nguồn nước:

    Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng. nó bao gồm nước đại

    dương, biển, song, hồ, suối phun, thác nước….

    Tài nguyên nước mặt không chỉ có tác dụng hồi phục trực tiếp mà còn ảnh

    hưởng nhiều dến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu đi

    khí hậu ven bờ.

    Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch, tuy nhiên cần phải nói

    đến tài nguyên nước khoáng. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị an dưỡng và chữa

    bệnh. Những nước có nhiều tài nguyên nước khoáng là: Liên Bang Nga, Bungari,

    Italia… cũng là những nước phát triển loại hình du lịch chữa bệnh. Ở Việt Nam,

    theo các nhà địa chất thủy văn có trên 400 điểm nước khoáng có giá trị du lịch

    như: Vĩnh Hảo, Kim Bôi, Quang Hanh, Hội Vân…

     Sinh vật:

    Con người cũng như mọi sinh vật đều được phát sinh và phát triển trong

    môi trường tự nhiên- nguyên thủy-một môi trường hàn toàn trong lành và ổn định.

    Con người đã thích nghi với môi trường đó. Giờ đây, sống trong một xã hội phát

    triển có những điều kiện thuận lợi do con nguười tạo ra, nhưng đồng thời môi

    trường lại bị ô nhiễm, biến đổi bất lợi cho cuộc sống của con người, vì vậy con

    người muốn trở về với thiên nhiên. Như vây có thể nói, cảnh quan thiên nhiên có

    một vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe con người và là nhân tố góp phần

    thúc đẩy sự phát triển của du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái.

    Động vật là một trong những nhân tố góp phần thu hút khách du lịch. Nhiều

    loài động vật có thể là đối tượng cho săn bắn du lịch, những động vật quý hiếm là

    đối tượng để nghiên cứu, có những loài có thể khai thác làm đặc sản phục vụ nhu

    cầu du lịch. Nước ta đã thành lập được 105 khu bảo vệ tự nhiên, bao gồm 27 vườn

    quốc gia, 44 khu bảo tồn tự nhiên và 34 khu rừng văn hóa lịch sử, môi trường với

    tổng diện tích khoảng 2.092 hecta (thống kê năm 2003).

    b. Tài nguyên du lịch nhân văn:

    Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm

    tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra. Theo quan

    điểm chung được chấp nhận hiện nay, toàn bộ những sản phẩm có giá trị vật chất

    cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra được xem là những sản phẩm văn

    hóa. Tuy nhiên không phải sản phẩm văn hóa nào cũng được xem là tài nguyên du

    lịch nhân văn, chỉ những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phục vụ du lịch mới

    được xem là tài nguyên du lịch nhân văn. Hay nói cách khác, những tài nguyên du

    lịch nhân văn chính là những giá trị văn hóa tiêu biểu cho mỗi dân tộc. Thông qua

    những hoạt động du lịch dựa trên việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn,

    khách du lịch có thể hiểu những đặc trưng cơ bản về văn hóa của dân tộc, địa

    phương nơi mình đến. Là những sản phẩm văn hóa nên nguồn tài nguyên du lịch

    tự nhiên cũng rất đa dạng và phong phú. Chúng có thể được phân thành các dạng

    chính như sau:

     Các di tích lịch sử- văn hóa:

    Di tích lịch sử-văn hóa là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, mỗi

    dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, cụ thể,

    xác thực nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì

    thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, những trí tuệ, những tài năng, giá

    trị văn hóa nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích lịch sử- văn hóa có giá trị rất lớn

    góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, phát triển khoa học

    nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dan tộc, mỗi đất

    nước.

    Như vậy, di tích lịch sử- văn hóa là những không gian vật chất cụ thể,

    khách quan trong đó chứa đựng những giá trị lịch sử điển hình do tập thể hoặc cá

    nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại. Theo những thang bậc giá trị khác

    nhau, những di tích lịch sử- văn hóa được phân thành những dạng khác nhau: các

    di tích có giá trị đặc biệt được xem là các di sản thế giới, các di tích cấp quốc gia

    và địa phương.

    Các di sản văn hóa thế giới: là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hóa

    của một dân tộc, nó có giá trị rất lớn đối với nhân loại. Nó là nguồn tài nguyên vô

    giá có sức thu hút du khách rất cao, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài. Ví dụ

    như: phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, cố đô Huế….

    Các di tích lịch sử- văn hóa danh thắng cấp quốc gia và địa phương: mỗi di

    tích có nội dung, giá trị văn hóa, lượng thông tin riêng biệt khác nhau. Có thể chia

    ra thành:

    – Di tích văn hóa khảo cổ

    – Di tích lịch sử

    – Di tích văn hóa nghệ thuật

    – Các danh lam thắng cảnh

    Để đánh giá đúng ý nghĩa của các di tích lịch sử văn hóa phục vụ cho mục

    đích du lịch, cần chú ý số lượng và chất lượng của di tích. Tài nguyên này có thể

    tận dụng để phát triển nhiều loại hình du lịch cũng như kết hợp các loại tài nguyên

    du lịch khác tạo ra sức hấp dẫn to lớn đối với du khách.

     Lễ hội:

    Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong

    phú, là một kiểu sinh hoạt của tập thể nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc,

    hoặc đó còn là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại:

    ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu,

    những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.

    Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới, huyền diệu giúp cho người tham

    dự có điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của nguồn khởi điểm mọi sinh vật sinh sống. Lễ

    hội dân tộc trở thành dịp cho con người hành hương về với cội nguồn. Trong kho

    báu các di sản quá khứ để lại cho hôm nay, các lễ hội dân tộc có lẽ là những thứ

    quý báu nhất. Và vì thế lễ hội dân tộc lành mạnh không bị mất đi mà ngày càng

    được nhân rộng, phát triển cả về hình thức lẫn nội dung. Nội dung lễ hội bao gồm

    hai phần:

    Phần lễ: đó là những nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu cho ngày hội

    theo không gian và thời gian. Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang

    tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng

    lỗi lạc có ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội. Phần nghi lễ nhằm bày tỏ lòng tôn

    kính đối với các bậc thánh hiền và thần linh cầu mong được thiên thời, địa lợi,

    nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc. Nó tạo thành nên móng vững chắc, tạo một

    yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng người

    đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội.

    Phần hội: là phần tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn…. Mặc dù

    cũng hàm chứa những yếu tố văn hóa truyền thống, nhưng phạm vi nội dung của

    nó không khuôn cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những yếu

    tố văn hóa mới. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy nếu nơi nào bảo tồn và phát triển

    được những nét văn hóa truyền thống trong phần hội với những trò chơi mang tính

    dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị hơn, có sức hấp dẫn hơn. Thông thường phần

    hội gắn với tình yêu, giao duyên nam nữ.

    Cũng có những lễ hội mà ở đó phần lễ và phần hội hòa quyện với nhau,

    trong đó trọng tâm là phần hội nhưng bản thân phần hội đã mang trong nó ý nghĩa

    tâm linh của phần lễ.

    Như vậy, lễ hội là tài nguyên du lịch quan trọng góp phần làm tăng hấp dẫn

    du khách trong hoạt động du lịch. Ở nước ta có rất nhiều lễ hội của nhiều dân tộc

    thu hút đông đảo khách du lịch như: lễ hội chùa Hương, lễ hội vía Bà Chúa Xứ An

    Giang, lễ Cholchnamthmay của người Khơ me…

     Nghề và các làng nghề thủ công truyền thống:

    Đây cũng là tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng. Thông thường nghề

    thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo

    tinh xảo của nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những

    tâm tư tình cảm của con người. Đây cũng chính là đặc tính riêng của nền văn hóa

    và cũng chính là sức hấp dẫn của các nghề và làng nghề thủ công truyền thống.

     Các đối tượng gắn với dân tộc học:

    Các đối tượng gắn với dân tộc học bao gồm các điều kiện sinh sống, những

    đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái

    riêng, địa bàn cư trú nhất định, kinh nghiệm sản xuất….

    Các đối tượng gắn với dân tộc học có ý nghĩa du lịch là các tập tục về cư

    trú, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, các

    trang phục dân tộc…. Những điều đó đã tạo nên nét văn hóa độc đáo thu hút du

    khách.

     Các đối tượng văn hóa thể thao và các hoạt động nhận

    thức khác:

    Những đối tượng văn hóa như các trung tâm khoa học, các trường đại học,

    các trung tâm thư viện lớn, các nhà bảo tàng,… đều có sức thu hút khách du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Đà Nẵng
  • Tài Nguyên Du Lịch Là Gì? Các Cách Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch
  • Khai Thác Tài Nguyên Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Những Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Tại Sơn La
  • Ba Lĩnh Vực Hứa Hẹn “hái Ra Tiền” Của Du Lịch Nghệ An
  • Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100