Giải Pháp Phát Triển Thương Hiệu Du Lịch Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Đà Nẵng 4 Ngày 3 Đêm Hà Nội
  • Noel Năm Này Nên Đi Du Lịch Ở Đâu Cho Kỳ Nghỉ Thật Hoàn Hảo?
  • Kĩ Năng Giao Tiếp Du Lịch
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Ngành Du Lịch
  • Giao Tiếp Khi Du Lịch Pháp
  • Xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch hiện nay là nhu cầu cấp bách của các quốc gia để tăng cường khả năng cạnh tranh, tạo dựng uy tín và thực hiện thành công phát triển du lịch. Du lịch Việt Nam trong những năm qua đã bước đầu xây dựng được những hình ảnh tích cực.

    Tuy nhiên, các hoạt động xúc tiến quảng bá mới chỉ thực hiện một cách đại trà với mục đích thông tin, chưa có chiến lược rõ ràng trong xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia. Với nhu cầu phát triển hiện tại, nếu không được định hướng và quản lý kịp thời, hình ảnh và thương hiệu du lịch Việt Nam có thể không hình thành theo hướng tích cực hoặc không đảm bảo được tính bền vững sẽ ảnh hưởng lâu dài đến phát triển du lịch.

    Đề tài Giải pháp phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam là đề tài mang tính đột phá được Bộ trưởng Bộ VHTTDL giao Viện NCPT Du lịch thực hiện nhằm giải quyết mục tiêu: làm rõ cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đáp ứng xu thế, yêu cầu phát triển của ngành du lịch trong giai đoạn tới.

    Đề tài đã tiếp cận theo một quy trình nghiên cứu toàn diện từ lý luận đến thực tiễn, so sánh quốc tế, áp dụng các phương pháp và kỹ thuật trong nghiên cứu xây dựng thương hiệu, nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá. Đề tài thực hiện phân tích hai chiều, một mặt đánh giá thực trạng công tác phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá, quá trình hình thành thương hiệu du lịch Việt Nam ở cấp quốc gia, vùng, địa phương, doanh nghiệp; mặt khác nghiên cứu nhận định của thị trường đối với thương hiệu du lịch Việt Nam thông qua các kết quả nghiên cứu tham khảo trong nhiều năm và thực hiện 1.000 cuộc phỏng vấn, điều tra đa đối tượng gồm: khách du lịch quốc tế và nội địa, quản lý nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng tham gia du lịch, từ đó so sánh để tìm ra nhận thức thương hiệu của thị trường. Kết quả nghiên cứu được tiếp tục so sánh với các quốc gia cạnh tranh trong khu vực để đúc rút các yếu tố cốt lõi thương hiệu du lịch Việt Nam được nhận diện tốt nhất. Đề tài cũng bám sát các định hướng phát triển của Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn 2030 để đề xuất các định hướng và các giải pháp phát triển thương hiệu du lịch.

    Các kết quả chính của đề tài: (1) Tổng hợp được toàn bộ các lý luận cơ bản về phát triển thương hiệu điểm đến du lịch; đề xuất quy trình xây dựng và phát triển, nguyên tắc phát triển thương hiệu điểm đến du lịch. (2) Phân tích, đánh giá hai chiều, làm rõ thực trạng thương hiệu du lịch Việt Nam được phát triển và nhận thức; so sánh cạnh tranh khu vực và đúc rút được các giá trị đặc trưng và cốt lõi thương hiệu phù hợp; tìm hiểu được một số bài học quốc tế quan trọng. (3) Đề xuất được định hướng chi tiết về phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đến 2022 gồm: giá trị cốt lõi và tính cách thương hiệu, cấu trúc thương hiệu, các định hướng phát triển thương hiệu 7 vùng du lịch, lộ trình định vị, phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam. (4) Đề xuất các giải pháp cụ thể về quản lý phát triển sản phẩm và quảng bá truyền thông để triển khai các giá trị thương hiệu phù hợp cấu trúc và lộ trình; giải pháp quan trọng về quản trị thương hiệu và đầu tư phát triển thương hiệu phù hợp yêu cầu phát triển. (5) Đề xuất các giải pháp hỗ trợ phát triển thương hiệu: nâng cao nhận thức về thương hiệu du lịch; phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế để thúc đẩy phát triển thương hiệu du lịch.

    (

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Tiền Giang: Tìm Giải Pháp Phát Triển
  • Giải Pháp Nhằm Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Huyện Đảo Phú Quốc
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Hải Phòng Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Đồng Tháp
  • Giải Pháp Truyền Thông Marketing Cho Khu Du Lịch Sinh Thái Măng Đen Tỉnh
  • Những Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Việt Nam Hậu Wto

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giải Pháp Đề Án Xu Hướng Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Ở Việt Nam
  • Những Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Bắc Giang
  • Note Ngay Những Khu Du Lịch Gần Sài Gòn Có Hồ Bơi ‘relax’ Cuối Tuần
  • Tổng Hợp Những Địa Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Miền Bắc Không Thể Bỏ Qua
  • Những Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Nhật Bản?
  • Toàn cảnh Hội thảo

    Trong bối cảnh đó, Tạp chí Du lịch Việt Nam được sự chỉ đạo của Lãnh đạo Tổng cục Du lịch đã phối hợp cùng Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc gia WTO – Những giải pháp phát triển Du lịch Việt Nam. Đây là dịp để các lãnh đạo các sở quản lý Nhà nước về du lịch, chuyên gia du lịch, nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà báo cùng đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức của Du lịch Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau khi bước vào sân chơi chung WTO, từ đó tìm ra những giải pháp để đưa Du lịch Việt Nam phát triển bền vững, sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

    NHỮNG GIẢI PHÁP

    * Cần nâng cao nhận thức và hiểu biết về WTO, về cơ hội và thách thức đối với du lịch khi hội nhập trong toàn Ngành.

    * Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và luật pháp về du lịch theo hướng vừa đúng luật pháp nước ta, vừa phù hợp thông lệ quốc tế;

    * Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch để phát huy lợi thế của từng vùng, miền, từng địa phương và cả nước.

    * Tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch thông qua các hoạt động hợp tác, trao đổi chương trình đào tạo…

    * Tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Chính phủ thông qua việc kiện toàn và phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo Nhà nước về du lịch. Nên thành lập Bộ Du lịch, bởi nếu không có cơ quan quản lý nhà nước về Du lịch xứng tầm thì khi gia nhập WTO, ngành Du lịch sẽ gặp nhiều khó khăn.

    * Về phía doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh phù hợp là trở thành các đối tác, liên minh chiến lược của các hãng lữ hành lớn và nổi tiếng trên thế giới dưới hình thức liên doanh, liên kết, hợp tác, tái cơ cấu tổ chức theo hướng linh hoạt nhằm tận dụng được nguồn khách và nghiệp vụ quản lý, điều hành du lịch tiên tiến của các doanh nghiệp nước ngoài.

    PHƯƠNG LÂM

    Chi tiết xem Tạp chí DLVN tháng 1/2007 (trang 8, 9,15)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Thú Vị Khi Du Lịch Thái Lan Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Những Điều Không Nên Làm Khi Đi Du Lịch Nhật Bản Bạn Cần Biết
  • Một Số Điều Bạn Nên Biết Khi Đi Du Lịch Nhật Bản
  • Những Điều Nên Biết Trước Khi Đi Du Lịch Ở Nhật Bản
  • Những Điều Nên Biết Trước Khi Đi Du Lịch Tại Nhật Bản
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Biểu Phí Bảo Hiểm Du Lịch Quốc Tế
  • Biểu Phí Bảo Hiểm Du Lịch Quốc Tế Liberty Travelcare
  • Xây Dựng Tiêu Đề Và Biểu Tượng Du Lịch Mới
  • Công Bố Biểu Tượng Du Lịch Việt Nam 2011
  • Ý Nghĩa Biểu Tượng Travel Logo Của Một Số Công Ty Du Lịch Hàng Đầu Việt Nam
  • Những kết quả đạt được

    Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, với 125 bãi tắm biển, trong đó hầu hết là các bãi tắm rất đẹp và thuận lợi cho khai thác du lịch mà không phải quốc gia nào cũng có như: Trà Cổ, Hạ Long, Lăng Cô, Ðà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc…

    Về di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh dnước ta có 85 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, 3.329 di tích xếp hạng di tích quốc gia và 9.857 di tích cấp tỉnh.

    Đến nay, Việt Nam có 8 di sản vật thể và danh thắng được công nhận Di sản thế giới, đó là: Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn, Khu phố cổ Hội An, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Thành Nhà Hồ, Khu danh thắng Tràng An.

    Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có 11 di sản được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản phi vật thể, đó là: Nhã nhạc cung đình Huế; Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Dân ca quan họ Bắc Ninh; Ca trù; Lễ hội Đền Gióng; Hát Xoan; Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; Đàn ca tài tử Nam Bộ; Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh; Kéo co; Tín ngưỡng thờ Tam Phủ.

    Ngoài những lợi thế trên, Việt Nam còn là nước có chế độ chính trị ổn định, có nguồn nhân lực dồi dào. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại trong đó có phát triển du lịch.

    Những yếu tố trên đã thúc đẩy ngành Du lịch phát triển mạnh mẽ (Bảng 1). Trong đó, 2022 là năm thành công, phát triển ấn tượng của ngành Du lịch. Tổng số khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2022 lên đến hơn 10 triệu lượt, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2022.

    Bên cạnh đó, ngành Du lịch cũng đã phục vụ 62 triệu lượt khách nội địa, trong đó có gần 30 triệu khách lưu trú. Tổng thu từ du lịch đạt 400.700 tỷ đồng, tăng 18,6% so với năm 2022 (Tổng cục Du lịch, 2022).

    Tất cả các con số trên đều đã bằng hoặc vượt chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đó là đón 10-10,5 triệu lượt khách quốc tế; 47-48 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 17-18 tỷ USD. Như vậy, ngành Du lịch đã về đích trước 4 năm so với Chiến lược đề ra.

    Năm 2022 cũng là năm đánh dấu ngành Du lịch vượt qua ngưỡng tăng trưởng cũ. Theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, năm 1994 mới chỉ có 1 triệu khách quốc tế đến Việt Nam; Năm 2000 tăng lên 2 triệu lượt khách quốc tế (mỗi năm giai đoạn này chỉ tăng 170.000 lượt khách quốc tế).

    Đến năm 2010 đạt 5 triệu lượt khách quốc tế (mỗi năm tăng trung bình 600.000 lượt khách). Đến năm 2022, đã tăng gấp đôi so với mốc năm 2010. Trước đó, để tăng từ 1 lên 5 triệu, ngành Du lịch đã phải mất tới 14 năm (từ năm 1994 đến năm 2010) mới đạt.

    Đáng chú ý, thời gian qua, nhiều điểm du lịch mới được mở ra đã thu hút đông đảo du khách tham quan. Các điểm du lịch ở các tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc như Hà Giang đã tạo dựng được thương hiệu là điểm đến mới quyến rũ qua việc tổ chức Lễ hội hoa tam giác mạch; Yên Bái với lễ hội “Mùa vàng Mù Căng Chải”, tâm điểm là sự kiện “Bay trên Mùa vàng”; Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng với hang Sơn Đoòng tạo sức hút lớn đối với du khách quốc tế và quan tâm của khách nội địa; Các điểm du lịch biển ở vùng Duyên hải Bắc Bộ, miền Trung, Nam Trung Bộ, Phú Quốc, Côn Đảo có nhiều đổi mới về quản lý và cung cấp dịch vụ, tạo sức hấp dẫn mới đối với khách du lịch trong nước và quốc tế…

    Hạn chế và khó khăn

    Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành Du lịch Việt Nam vẫn còn gặp không ít khó khăn và thách thức. Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, điểm xuất phát của du lịch Việt Nam quá thấp so với các nước trong khu vực.

    Khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam còn hạn chế trước sự cạnh tranh gay gắt của du lịch trong khu vực và thế giới. Công tác quản lý môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại nhiều điểm du lịch còn yếu kém và chưa được coi trọng. Công tác quản lý điểm đến chưa được triển khai đồng bộ, hiệu quả.

    Tình trạng mất vệ sinh, an ninh, trật tự tại các điểm du lịch vẫn thường xuyên xảy ra; taxi dù, hiện tượng chèo kéo, bán hàng rong, lừa đảo, ép khách du lịch vẫn thường xuyên diễn ra ở nhiều địa phương, nhất là vào mùa cao điểm…

    Trong khi đó, nguồn tài nguyên du lịch còn chưa được thống kê, đánh giá, phân loại và xếp hạng để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả, dẫn tới tài nguyên du lịch thì nhiều, nhưng khai thác bừa bãi, mới dừng ở bề nổi, khai thác cái sẵn có chưa phát huy giá trị của tài nguyên.

    Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích… tác động tiêu cực tới phát triển du lịch bền vững.

    Tính chuyên nghiệp khi xây dựng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá cũng chưa được nâng cao. Sản phẩm du lịch Việt Nam vẫn chậm đổi mới, nghèo nàn, đơn điệu, thiếu đặc sắc, ít sáng tạo, còn trùng lặp giữa các vùng miền, giá trị gia tăng hàm chứa trong sản phẩm du lịch thấp, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết trong phát triển sản phẩm.

    Công tác xúc tiến quảng bá còn nhiều hạn chế, chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả; mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch. Kinh phí Nhà nước đầu tư còn hạn chế, chưa tạo được hiệu ứng kích cầu.

    Hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng tiếp cận điểm đến còn thiếu đồng bộ. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh nhưng nhìn chung tầm cỡ quy mô, tính chất tiện nghi và phong cách sản phẩm du lịch nhỏ lẻ, vận hành chưa chuyên nghiệp, chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốc gia với thương hiệu nổi bật. Nguồn nhân lực du lịch cũng là điểm yếu kém lớn của ngành Du lịch.

    Ngoài ra, tình trạng các địa phương chọn ngành nào cũng là ngành “mũi nhọn” đã khiến mục tiêu phát triển chồng chéo, ảnh hưởng đến việc thực hiện, nhất là ngành Du lịch nghỉ dưỡng (vốn là Ngành coi trọng chất lượng môi trường) và ngành Công nghiệp nặng là Ngành có nguy cơ gây ô nhiễm cao.

    Một số giải pháp đề xuất

    Để phát huy những tiềm năng lợi thế, khắc phục những tồn tại hạn chế đang níu đà tăng trưởng của ngành Du lịch, thời gian tới, cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

    Thứ nhất, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

    – Cơ quan quản lý cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa huy động mọi thành phần kinh tế, nguồn lực đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; Cần quy hoạch sắp xếp và xây dựng các cơ sở dịch vụ: nhà nghỉ, y tế, ăn uống, vui chơi giải trí…; Quản lý chặt chẽ các loại dịch vụ, phí dịch vụ phục vụ du khách; Nâng cao ý thức phục vụ trong kinh doanh, tránh làm mất giá trị văn hóa truyền thống của người Việt.

    – Phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, nhất là các chuỗi liên kết và dịch vụ, đáp ứng các bộ tiêu chuẩn du lịch quốc tế, đi đôi với bảo tồn, phát triển, quảng bá hình ảnh và phát huy vai trò các vùng di tích lịch sử, các điểm đến và khu du lịch; Xây dựng hình ảnh và thương hiệu, nhận diện du lịch quốc gia có chiều sâu và tầm cao.

    – Đẩy mạnh liên kết với các nước trong khu vực, khai thác triệt để tuyến hành lang Đông – Tây, hình thành các tour, tuyến du lịch chung như: Chương trình giữa Việt Nam – Campuchia – Lào, tuyến đường bộ 3 nước Việt Nam – Lào – Thái Lan để đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao sức hấp dẫn, thu hút khách từ các nước ASEAN và khách du lịch từ nước thứ ba vào ASEAN nối tour sang Việt Nam.

    Thứ hai, xây dựng môi trường du lịch nhân văn, bền vững.

    – Đẩy mạnh công tác truyền thông, định hướng, nâng cao nhận thức của xã hội, cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ môi trường du lịch; Tăng cường tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng phong trào ứng xử văn minh thân thiện với du khách, giữ gìn trật tự trị an, vệ sinh môi trường…

    – Tăng cường quản lý bảo đảm về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; Cung cấp thông tin về dịch vụ tại địa phương cho du khách qua internet và hệ thống các ấn phẩm quảng bá du lịch.

    Thứ ba, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hài hòa các mục tiêu phát triển du lịch với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

    Chú trọng nâng cao năng lực cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành Du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; Thực hiện quản lý theo quy hoạch gồm: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cả nước; quy hoạch phát triển du lịch theo các vùng, địa phương; quy hoạch các khu du lịch tổng hợp và khu du lịch chuyên đề, để tập trung thu hút đầu tư phát triển theo hướng bền vững.

    Đồng thời, trước khi phát triển ngành, lĩnh vực khác, Nhà nước cần có những đánh giá tác động đối với ngành Du lịch để từ đó có sự lựa chọn ưu tiên phát triển ngành nào dựa trên tiềm năng, lợi thế của từng địa phương.

    Thứ tư, đào tạo và cải thiện nguồn nhân lực du lịch.

    – Ngành du lịch cần sớm hoàn thiện hệ thống chính sách và các cơ chế quản lý về phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch, bảo đảm thống nhất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.

    – Các trường học và DN cần trang bị cho nhân lực du lịch những kiến thức về hội nhập, giỏi về ngoại ngữ, tin học, nghiệp vụ du lịch, am hiểu thị trường, luật pháp quốc tế…

    Thứ năm, phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và thương hiệu du lịch.

    – Tập trung thu hút có lựa chọn các phân đoạn thị trường khách du lịch; Phát triển mạnh thị trường du lịch nội địa, chú trọng phân đoạn khách nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần và mua sắm; Đẩy mạnh thu hút khách du lịch quốc tế đến từ Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương; Tây Âu; Bắc Âu; Bắc Mỹ và Đông Âu…

    – Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch theo hướng chuyên nghiệp nhằm vào thị trường mục tiêu, lấy sản phẩm du lịch và thương hiệu du lịch là trọng tâm; quảng bá du lịch gắn với quảng bá hình ảnh quốc gia, phù hợp với các mục tiêu đã xác định; gắn xúc tiến du lịch với xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và ngoại giao, văn hóa.

    – Tập trung phát triển thương hiệu du lịch quốc gia trên cơ sở thương hiệu du lịch vùng, địa phương, DN và thương hiệu sản phẩm; chú trọng phát triển những thương hiệu có vị thế cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế. Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp và địa phương để đảm bảo hiệu ứng thống nhất.

    1. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; 2. Thủ tướng Chính phủ (2013), “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030”; 3. Tổng cục Du lịch (2016), Tình hình hoạt động của ngành Du lịch năm 2022 và triển khai nhiệm vụ trong năm 2022; 4. Tổng cục Thống kê (2016), Tình hình kinh tế – xã hội năm 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Quyết Đi Tour Du Lịch Nam Phú Quốc Từ A
  • Bí Quyết Đi Du Lịch Đà Nẵng Tự Túc Tiết Kiệm Nhất
  • Bí Quyết Du Lịch Phú Quốc Của Người Bản Địa
  • Bí Quyết Đặt Tour Du Lịch Nước Ngoài Giá Rẻ Nhưng Chất Lượng
  • Bí Quyết Du Lịch Nhật Bản Tiết Kiệm
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Đô Thị Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Trăn Trở Những Đô Thị Du Lịch
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Đô Thị Của Một Số Nước Và Bài Học Cho Việt Nam
  • Những Bước Phát Triển Của Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Bộ Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Gắn Với Các Sự Kiện Thể Thao Tại Việt Nam
  • Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Viện trưởng ITDR – TS. Đỗ Thị Thanh Hoa cho biết: Trên thế giới hiện nay, du lịch đô thị đang là sản phẩm hấp dẫn và triển vọng, ngày càng chiếm thị phần lớn trong thị trường du lịch. Các thành phố sở hữu lịch sử lâu đời và cả những đô thị du lịch mới nổi đều là những điểm đến thu hút du khách, tiêu biểu như Lisbon (Bồ Đào Nha), Lyon (Pháp), Bangkok (Thái Lan), Singapore…. Việt Nam cũng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch đô thị, trong đó rất nhiều thành phố là những điểm đến du lịch hấp dẫn như Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh.

    Tại hội thảo, nhiều giải pháp phát triển du lịch đô thị ở Việt Nam đã được đề xuất. Đô thị để phát triển du lịch cần phải đáp ứng được các nhu cầu dân sinh về cảnh quan, môi trường, kiến trúc…; đáp ứng nhu cầu của du khách về lưu trú, ẩm thực, giải trí, mua sắm… Bên cạnh đó, cần phải tôn trọng văn hóa bản địa, tận dụng nhân lực bản địa và phải quản lý được dịch vụ tự phát tại địa phương. Phát triển du lịch đô thị cần phải tính đến chiến lược thu hút du khách và yếu tố quá tải hạ tầng.

    Theo TS. Vũ An Dân (Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội), doanh nghiệp du lịch đóng nhiều vai trò đóng trong sự phát triển của loại hình du lịch đô thị bao gồm: dẫn dắt và định hướng các đơn vị trong chuỗi cung cấp; kết nối các mắt xích trong chuỗi cung cấp để đưa ra các sản phẩm du lịch đô thị; theo dõi sự hài lòng của khách hàng và chất lượng sản phẩm du lịch cung cấp cho du khách; tiếp thị điểm đến du lịch đô thị.

    Trong khi đó, KTS. Hoàng Đạo Cầm (ITDR) lại quan tâm đến vai trò quản lý nhà nước với phát triển du lịch đô thị; bao gồm nhiệm vụ quy hoạch phát triển đô thị; bảo tồn di sản (bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể, trong đó các công trình kiến trúc, đô thị là đối tượng cần đặc biệt quan tâm); phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng môi trường và hạ tầng xã hội phục vụ cộng đồng và du khách, đặc biệt chú trọng vấn đề tổ chức, quản lý giao thông, quản lý chất thải; bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội; bảo đảm an ninh, an toàn trong đó bao gồm cả vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.

    HN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Kiện Để Phát Triển Du Lịch
  • Các Điều Kiện Cơ Bản Để Phát Triển Du Lịch
  • Các Địa Điểm Vui Chơi Tham Quan Du Lịch Nên Đi Ở Vũng Tàu
  • Top 15 Điểm Du Lịch Vũng Tàu Hấp Dẫn, Độc Đáo
  • Top Các Địa Điểm Du Lịch Mà Các Bạn Nên Đến Khi Đi Tour Du Lịch Đà Nẵng
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Hướng Phát Triển Du Lịch Bình Định
  • Định Hướng Phát Triển Bền Vững Du Lịch Cần Thơ
  • Định Hướng Phát Triển Ngành Du Lịch Cần Thơ Đến Năm 2022 99Trang
  • Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ Thời Kỳ 2010 Định Hướng Đến 2022
  • Định Hướng, Mục Tiêu Phát Triển Côn Đảo Đến Năm 2030 Và Tầm Quan Trọng Của Việc Thu Hút Nhà Đầu Tư Quốc Tế Lớn Phát Triển Du Lịch Côn Đảo
  • Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, đảo. Nguồn: Internet.

    Du lịch biển vẫn ở dạng tiềm năng

    Việt Nam là một trong số ít quốc gia có nhiều lợi thế về tài nguyên biển. Với trên 3.260km đường bờ biển, hơn 1 triệu km 2 vùng đặc quyền kinh tế biển (gấp 3 lần diện tích đất liền) cùng với gần 3.000 đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam có hệ thống tài nguyên du lịch biển phong phú để có thể phát triển mạnh ngành du lịch gắn với biển.

    Biển Việt Nam dài và đẹp, lại chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng với trữ lượng, quy mô thuộc loại khá, cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng. Trong vùng biển nước ta, bên cạnh tiềm năng lớn về hải sản, khoáng sản, dầu mỏ, còn có nhiều vũng, vịnh, hang động trên đảo, bãi tắm…, là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, đảo.

    Nắm bắt thế mạnh này, thời gian qua, nhiều điểm du lịch biển nổi tiếng đã được đầu tư phát triển. Để tăng sức hấp dẫn và cạnh tranh cho du lịch biển, nhiều dịch vụ giải trí, thể thao biển đã được đưa vào hoạt động như: chèo thuyền du lịch, kéo dù bằng ca nô, lướt ván, đua thuyền… đặc biệt là loại hình ngắm biển bằng dù lượn, kinh khí cầu, máy bay mô hình (ở biển Nha Trang, Đà Nẵng); hay bằng máy bay trực thăng (ở vịnh Hạ Long).

    Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, du lịch, nhất là hệ thống cơ sở lưu trú ven biển của nước ta cũng được đầu tư phát triển. Tính đến nay, khu vực ven biển đã có hơn 1.400 cơ sở lưu trú cung ứng gần 50.000 buồng.

    Việt Nam đã hình thành 3 trung tâm du lịch biển có sức hút với khách quốc tế, gồm vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Đà Nẵng, Nha Trang (Khánh Hòa) với những cơ sở lưu trú hiện đại 4-5 sao, có thể đón những đoàn khách đến nghỉ dưỡng và phát triển du lịch MICE (du lịch hội nghị, hội thảo).

    Với sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng cùng các dịch vụ giải trí, du lịch biển đã thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan và nghỉ dưỡng mỗi năm. Hoạt động du lịch biển, đảo hiện chiếm khoảng 70% hoạt động của ngành Du lịch Việt Nam. Song theo đánh giá, những con số này còn quá nhỏ bé so với tiềm năng lớn của du lịch biển Việt Nam.

    Tuy có tiềm năng lớn nhưng du lịch biển ở Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển, chưa tạo được sức cạnh tranh cao do còn tồn tại nhiều hạn chế như: Dịch vụ du lịch còn thiếu, nghèo nàn; sản phẩm du lịch biển chưa đa dạng; an ninh trật tự và việc quản lý giá tại một số khu, điểm du lịch chưa đảm bảo; công tác xúc tiến, quảng bá du lịch chưa mạnh; cơ sở hạ tầng giao thông chưa thực sự thuận tiện; kết cấu hạ tầng tại nhiều cảng biển còn hạn chế và việc định hình chức năng cảng biển du lịch chưa rõ ràng…

    Ở một khía cạnh khác, du lịch Việt Nam đang lãng phí trong quá trình khai thác tiềm năng du lịch biển. Quy hoạch của nhiều bãi biển đẹp ở Việt Nam đã bị phá vỡ, phát triển manh mún và khó điều chỉnh. Điển hình là bãi biển Mũi Né đang kẹt cứng trong không gian ven bờ khi có quá nhiều khách sạn, resort chen dày ở mặt tiền biển.

    Ngành du lịch tàu biển ở Việt Nam chưa thu hút du khách vì hiện tại Việt Nam vẫn chưa có cảng hành khách tàu biển chuyên biệt. Mặt khác, sản phẩm du lịch ở các điểm dừng chân của du khách còn đơn điệu, vấn đề an ninh du lịch còn nhiều bất cập, trình độ nhân lực phục vụ cho ngành du lịch còn nhiều hạn chế về kỹ năng, ngoại ngữ…

    Nhu cầu khách đi biển vào dịp cuối tuần tăng rất cao, các trung tâm du lịch biển đều quá tải, đặc biệt là dịch vụ ở các nơi này thiếu, yếu và ít dịch vụ bổ trợ cho khách vui chơi, mua sắm.

    Một số vùng biển còn tiềm năng lớn nhưng rất khó đưa khách đến với số lượng đông như Hà Tiên, Hòn Chông và Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, do thiếu hạ tầng, dịch vụ hoặc đường bay chưa thật thuận lợi. An ninh trật tự và quản lý giá cũng là những vấn đề khiến nhiều DN du lịch bức xúc. Rất nhiều khu du lịch lên giá vào giờ chót khiến du khách bất bình.

    Phát triển du lịch biển, đảo trong tình hình mới

    Nhằm khắc phục những hạn chế cũng như tạo sức bật cho du lịch biển, đảo, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã xây dựng đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2022”. Mục tiêu của đề án là đến năm 2022, du lịch biển sẽ trở thành động lực của kinh tế biển Việt Nam, góp phần đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển và bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo góp phần làm cho đất nước giàu mạnh.

    Để nâng cao tầm vóc và xây dựng thương hiệu du lịch biển Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 201/QĐ-TTg, về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030.

    Theo các chuyên gia, việc chú trọng đẩy mạnh phát triển du lịch biển đảo là một định hướng đúng đắn, phù hợp với thế mạnh của ngành Du lịch Việt Nam và mang ý nghĩa đặc biệt trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất nước.

    Tuy nhiên, để du lịch biển đảo phát triển bền vững, tương xứng với tiềm năng và tạo được thương hiệu riêng, thì ngoài việc phải khắc phục những hạn chế đã tồn tại nhiều năm qua còn cần có sự đầu tư và quản lý một cách chiến lược cả về cơ sở vật chất, dịch vụ và con người cho các trung tâm du lịch biển đảo đã được xác định.

    Một là, các địa phương cần quan tâm đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất tại các bến cảng; cải tạo những điều kiện về kỹ thuật, vệ sinh, an toàn tại các bến cảng hàng hóa để phù hợp cho việc đón tàu du lịch; tập trung đầu tư trang bị mới và cải tạo đội tàu du lịch để phục vụ du khách với chất lượng tốt nhất theo tiêu chuẩn quốc tế…

    Đặc biệt, cần phát huy yếu tố văn hoá của từng địa phương trong phát triển du lịch biển để tạo dấu ấn riêng và thu hút khách du lịch quay trở lại nhiều lần. Về lâu dài, để phát triển bền vững ngành Du lịch tàu biển phải đầu tư xây dựng một số cảng du lịch với ga đón khách hiện đại, đầy đủ tiện nghi dành cho du lịch tàu biển…

    Hai là, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng các cảng biển, bến neo đậu, cầu cảng tại các vịnh, đô thị ven biển kết nối với các đảo, đặc biệt là hạ tầng cầu cảng tại các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc… để tăng cường khả năng tiếp cận điểm đến từ biển.

    Nghiên cứu tính khả thi đầu tư xây dựng sân bay phù hợp với điều kiện ở các đảo; kết nối các đảo của Việt Nam với đất liền và quốc tế. Đầu tư hạ tầng về năng lượng điện và nước sạch trên các đảo để từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ trên đảo.

    Ba là, hỗ trợ về giá, thuế cho các DN du lịch đầu tư phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo, cho các tuyến du lịch ra đảo xa. Ưu đãi tối đa trong khung quy định đối với đầu tư du lịch tại đảo xa. Nhà nước hỗ trợ các DN bù đắp chi phí khi cần thiết do gặp phải rủi ro do tác động của tình hình Biển Đông; hỗ trợ giảm thiểu những chi phí do việc hủy đột xuất các chương trình du lịch ra đảo và tuyến du lịch tàu biển trước những biến cố không lường trước.

    Nhà nước hỗ trợ liên kết phát triển du lịch biển giữa DN du lịch với ngành thủy sản, nuôi trồng và đánh bắt xa bờ, giao thông hàng hải, vận tải biển, dịch vụ hàng hải…

    Bốn là, các DN lữ hành cần có những biện pháp kích cầu và tạo ra những sản phẩm mới lạ, đa dạng cho nhóm du khách tàu biển với những chương trình tour đặc sắc; liên kết với các công ty dịch vụ, nhà hàng, khách sạn, cũng như các địa phương để giảm giá các dịch vụ, giá phòng, nâng cao chất lượng phục vụ cho du khách…

    Nhà nước cần quan tâm định hướng cho DN du lịch về sản phẩm du lịch biển hướng ra Biển Đông (đến nay, du lịch Việt Nam mới khai thác dịch vụ ven bờ và các bãi biển là chủ yếu; các hoạt động du lịch trên mặt nước và dưới đáy biển, ngoài đảo xa còn hạn chế).

    Hướng tới phát triển du lịch theo chiều sâu, khai thác các dịch vụ nghỉ dưỡng, giải trí, khám phá, thể thao trên mặt biển, dưới đáy biển và ngoài đảo xa; đa dạng hóa sản phẩm du lịch biển, nâng cao giá trị gia tăng và khai thác các tiềm năng, lợi thế từ biển.

    Năm là, tôn vinh văn hóa biển, ẩm thực biển, tạo sức hấp dẫn du khách trong và ngoài nước đến các vùng biển, đảo của Việt Nam song song với việc khơi dậy lòng yêu nước của người dân. Quan tâm giáo dục, phát triển nhân lực tại các tỉnh, thành phố có biển để khai thác các tài nguyên biển một cách bền vững phục vụ dân sinh. Tích cực thực hiện các chương trình hỗ trợ ngư dân bám biển, hỗ trợ người dân phát triển du lịch cộng đồng gắn với nông nghiệp và thủy sản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • An Giang Định Hướng Phát Triển Du Lịch Đến Năm 2030
  • Định Hướng Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Đến Năm 2030
  • Định Hướng Phát Triển Du Lịch Năm 2022
  • 9 Điều Cần Biết Để Xin Visa Trung Quốc Tự Túc Dễ Dàng Năm 2022
  • Điều Kiện Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Dành Cho Ai Chưa Biết
  • Giải Pháp Phát Triển Mô Hình Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Liên Kết Hợp Tác Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc Mở Rộng
  • Tạo Bước Đột Phá Phát Triển Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Tphcm Nhiều Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế
  • Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Tỉnh, Thành Nào Đang Phát Triển Ngành Du Lịch Y Tế Nhất Việt Nam?
  • 1. Du lịch văn hóa: Những chiều tác động và tính bền vững trong phát triển / Nguyễn Thị Phương Châm

    Tóm tắt: Nội dung bài viết trình bày về khái niệm du lịch văn hóa, những chiều hướng tác động của du lịch văn hóa đến các giá trị văn hóa. Từ đó, tác giả cho thấy tính bền vững trong quá trình phát triển du lịch văn hóa hiện nay.

    Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, 2022, Số 3 (183), tr. 3-11

    2. Vai trò của du lịch văn hóa trong chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam / Nguyễn Anh Tuấn, Lê Hoàng Anh

    Tóm tắt: Bài viết đề cập đến đôi nét về du lịch văn hóa, thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra định hướng phát triển du lịch văn hóa trong thời gian tới: (1) tiếp tục đầu tư việc khai thác bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch văn hóa; (2) đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững; (3) tăng cường mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch; (4) đầu tư cho việc bảo tồn và tôn tạo các giá trị văn hóa.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 8/2019, Số 422, tr. 5-8

    3. Phát huy giá trị của bảo tàng trong du lịch văn hóa / ThS. Phan Thị Thái Hà

    Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vai trò của ngành Bảo tàng trong phát triển mô hình du lịch văn hóa. Qua đó, tác giả đưa ra các giải pháp về nguồn nhân lực; đổi mới nội dung trình bày, đa dạng hóa hình thức trưng bày hiện vật tại Bảo tàng; xác định thị trường khách tham quan du lịch; đầu tư xây dựng của hàng lưu niệm; xây dựng biểu tượng độc đáo, đặc trưng cho từng địa điểm; xây dựng kế hoạch tuyên truyền quảng bá để thu hút khách tham quan, …

    Nguồn trích: Tạp chí Du lịch, 2022, Số 9, tr. 32-33

    4. Những quan điểm tiếp cận mới trong công tác bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa qua con đường du lịch ở Việt Nam hiện nay / Dương Văn Sáu

    Tóm tắt: Bài viết trình bày các quan điểm tiếp cận mới về bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa. Từ đó, tác giả đưa ra các nhiệm vụ trong công tác bảo tồn, khai thác, phát huy các giá trị của di sản văn hóa qua con đường du lịch: biến di sản thành tài sản, biến văn hóa thành hàng hóa, biến tài nguyên thành tài chính, biến môi trường thành thị trường, biến nguồn lực thành động lực, biến giá trị thành giá cả.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 9/2019, Số 423, tr. 49-52

    5. Phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững / Tô Đức Hạnh

    Tóm tắt: Bài viết phân tích, đánh giá những thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân của du lịch Việt Nam qua các khía cạnh; tốc độ phát triển du lịch; cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch; các điểm đến các sản phẩm du lịch và năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một só giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững.

    Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, 2022, Số 7, tr. 74-82

    Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/ (Chọn STD – Tài liệu KH&CN Việt Nam) Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

    1. Du lịch văn hóa ở Việt Nam – một cách nhìn toàn cảnh / Trần Thúy Anh, Phan Quang Anh

    Tóm tắt: Du lịch văn hóa là hoạt động du lịch khám phá và trải nghiệm bản sắc văn hóa với tham gia của cộng động theo tôn chỉ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Các nước đang phát triển được thế giới công nhận là điểm đến trong thời đại mới của loại hình du lịch này và Việt Nam, với tư cách là một nền kinh tế đang đà đi lên hội nhập quốc tế cũng không phải là ngoại lệ.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa học, 2014, Số 1, tr. 49-54

    2. Hướng tới quy hoạch du lịch văn hóa hiệu quả ở vùng ven biển / Geoffrey Wall

    Tóm tắt: Khu vực duyên hải là môi trường phức tạp về mặt hình thái, văn hóa và hành chính. Về mặt hình thái lãnh thổ, chúng bao gồm cả phần đất liền, biển và làn ranh giới khúc khuỷu ở giữa. Chúng có độ rộng thay đổi tùy theo khu vực và thẩm quyền, cũng như độ cao và chiều sâu. Hơn nữa, khu vực ven biển chịu ảnh hưởng rất lớn từ các quá trình diễn ra sâu trong đất liền mà cụ thể ở đây là những nguồn nước có khối lượng và chất lượng khác nhau từ những con sông tạo ra và những ảnh hưởng này được phân bố bởi các dòng chảy.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa học, 2014, Số 1, tr. 30-36

    3. Nghiên cứu giải pháp phát triển các sản phẩm du lịch gắn với đời sống văn hóa cộng đồng tỉnh An Giang thời kỳ hội nhập / Nguyễn Phú Thắng

    Tóm tắt: An Giang là nơi sinh sống của nhiều thành phần dân tộc, trong đó có người Kinh, Hoa, Chăm, Khơ – me. Các cộng đồng dân tộc với những nét văn hóa phong phú là yếu tố thuận lợi cho việc phát triển các sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng. Trong bối cảnh hoạt động du lịch của tỉnh còn đơn điệu về hình thức, việc phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với đời sống văn hóa cộng đồng là một hướng đi quan trọng nhằm thu hút khách du lịch, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc. Trên cơ sở phân tích các lợi thế, thách thức trong phát triển sản phẩm du lịch gắn với cộng đồng tỉnh An Giang thời kì hội nhập, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng ở An Giang.

    Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Giáo dục (Đại học Sư phạm – Đại học Huế), 2022, Số 2, tr. 96-104

    4. Du lịch văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa / Vũ Thị Lương, Nguyễn Thị Thảo

    Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa, bài viết đánh giá những tác động của toàn cầu hóa tới văn hóa và phát triển du lịch văn hóa. Đồng thời, nhận định việc khai thác các giá trị văn hóa trong du lịch là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành du lịch Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2022, Số 8, tr. 39-41

    5. Phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc thù văn hóa truyền thống, địa lí của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thực trạng và giải pháp / Nguyễn Thị Hằng

    Tóm tắt: Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Mỗi quốc gia, vùng, miền đều coi trọng sự phát triển du lịch văn hóa, nhằm góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong qua trình hội nhập. Đồng bằng Sông Cửu Long là một trong bảy vùng du lịch của cả nước có nguồn tài nguyên và văn hóa đa dạng, với các sản phẩm du lịch phong phú. Tuy nhiên, trong hoạt động du lịch, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu điểm nhấn. Vì vậy, cần tìm ra giải pháp để phát triển mạnh mẽ du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó, việc tạo ra các sản phẩm du lịch theo hướng du lịch văn hóa, du lịch sinh thái phù hợp với đặc thù Đồng bằng Sông Cửu Long là cấp thiết.

    Nguồn trích: Tạp chí Khoa học chính trị, 2022, Số 7, tr. 79-83

    Tổng hợp: Nguyễn Thị Cẩm Thiêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Lễ Hội Dân Gian Với Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam
  • Năm 2022, Năm Bản Lề Phát Triển Mới Của Du Lịch Thừa Thiên Huế
  • Thừa Thiên Huế Hướng Đến Phát Triển Du Lịch Thông Minh Và Bền Vững
  • Bắt Đầu Từ Thế Mạnh Đang Có
  • Đẩy Mạnh Liên Kết Phát Triển Du Lịch Tây Bắc
  • Thực Trạng Du Lịch Mice Ở Việt Nam Và Giải Pháp Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Ba Mục Tiêu Mới Để Phát Triển Du Lịch Mộc Châu
  • Phát Triển Du Lịch Mộc Châu Cần Những Giải Pháp Đột Phá
  • Tiềm Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Du Lịch Của Mộc Châu
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Mộc Châu,tiem Nang Phat Trien Du Lich Moc Chau
  • Để Phát Triển Du Lịch Nghệ An Trở Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Đa số khách đi du lịch MICE thường là các đoàn với số lượng đông, kéo theo đó mức chi tiêu cho các dịch vụ đi kèm cũng cao. Chính vì vậy lợi nhuận thu được từ khách du lịch MICE rất lớn. Có thể ước tính lợi nhuận từ loại hình du lịch này cao gấp 5 đến 6 lần so với du lịch thông thường.

    Du lịch MICE đem lại nhiều lợi nhuận

    Loại hình du lịch MICE yêu cầu cao về cơ sở lưu trú, địa điểm hội nghị, hội họp, vì vậy để gia tăng các điều kiện tổ chức MICE, cộng đồng chủ nhà phải xây dựng, bổ sung, nâng cấp hệ thống đường xá, khách sạn, trung tâm hội nghị…nhờ đó mà các cơ sở vật chất cũng được nâng cấp theo. Bên cạnh đó, du lịch MICE còn mở ra cơ hội quảng bá về đất nước, con người, tạo ấn tượng và thu hút khách du lịch.

    Thực trạng phát triển du lịch MICE ở Việt Nam hiện nay

    Có thể nói Việt Nam là một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút khách MICE trong khu vực Đông Nam Á, bởi lẽ:

    • Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nhiều kỳ quan thiên nhiên thế giới, nhiều Resort mới được xây dựng, đường bờ biển dài (3260 km) với nhiều bãi biển đẹp
    • Được mệnh danh là điểm đến an toàn, thân thiện với tình hình chính trị ổn định, sự hiếu khách của cư dân địa phương.
    • Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 7/12/2006 đã thổi bùng làn sóng đi lại, nghiên cứu thị trường, xúc tiến đầu tư…vào Việt Nam

    Cảnh quan, chính trị bình ổn là lợi thế đối với du lịch MICE

    Trong số thách thức Việt Nam gặp phải, điều đáng nói đầu tiên chính là cơ sở hạ tầng. Kết cấu hạ tầng của Việt Nam chưa phát triển. Do khách MICE chủ yếu là khách hạng sang, nên đòi hỏi hạ tầng phải đồng bộ, chất lượng cao và lại phải phong phú và đa dạng. Thêm vào đó, các hoạt động thu hút khách MICE chủ yếu là tự phát, chưa có định hướng và hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.

    Không chỉ vậy những hoạt động quảng bá còn nhỏ lẻ, chưa xứng tầm với tiềm năng. Đầu tư cho quảng bá còn quá ít dao động từ 2 đến 2,5 triệu USD/năm, trong khi đó so với các nước trong khu vực thì chi phí cho quảng bá cho du lịch của Việt Nam chỉ bằng 3% Thái Lan, 2,5% Singapore và 1,9% Malaysia. Do những nguyên nhân đó mà ngành du lịch Việt Nam rất khó cạnh tranh với các nước bạn.

    Một trong những thách thức Việt Nam đang gặp phải nữa là nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch nói chung và MICE nói riêng còn thiếu và chưa đảm bảo chất lượng. Công tác đào tạo chưa được trú trọng, đội ngũ nhân viên phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn, các trung tâm mua sắm… còn thiếu chuyên nghiệp, chủ yếu tự đào tạo, chưa có hệ thống.

    Giải pháp nào cho du lịch MICE tại Việt Nam

    Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

    Yếu tố con người luôn là điều cần phải quan tâm trước hết trong mọi vấn đề. Đối với du lịch MICE cũng vậy, để loại hình du lịch này phát triển, chúng ta cần chú trọng hơn việc đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch.

    Có thể mở thêm nhiều khoa chuyên ngành hay những trung tâm đào tạo chuyên cho loại hình du lịch này. Tiếp theo là đảm bảo đầu ra cho người học đạt tiêu chuẩn theo đúng khung tiêu chuẩn nghề quốc tế VTOS. Bên cạnh đó cũng có thể tổ chức thêm các khóa đào tạo ngắn hạn để cải thiện cũng như nâng cao chuyên môn của đội ngũ nhân viên làm việc trong lĩnh vực này.

    Đặc biệt có thể thường xuyên tổ chức cho cán bộ, nhân viên học tập thực tế về du lịch MICE ở những nước dẫn đầu về công nghiệp MICE như Mỹ, Anh, Úc, Nhật Bản, Thái Lan…

    Cải thiện cơ sở vật chất, kỹ thuật

    Đầu tiên, cần quy hoạch lại hệ thống đường bộ để giao thông thông thoáng hơn thuận tiện cho mọi hoạt động. Tiếp theo, cần mở thêm nhiều đường bay thẳng quốc tế để tạo sự thuận lợi cho các khách du lịch. Đặc biệt, không thể quên nâng cấp và mở thêm các khách sạn cũng như các trung tâm hội nghị có phòng ốc hiện địa, đầy đủ tiện nghi, sang trọng. Quy hoạch lại hệ thống đường đường bộ để giao thông thông thoáng, thuận tiện. Đảm bảo trang bị đầy đủ các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho hoạt động của du khách và khiến họ cảm thấy thoải mái nhất có thể.

    Du lịch MICE – khi đẳng cấp tạo nên sự khác biệt

    Tăng cường quảng bá, xúc tiến

    Đặc biệt, Việt Nam nên có một mạng lưới đại diện ở nước ngoài hoặc liên kết với các văn phòng ở nước ngoài để quảng bá. Thêm vào đó, cũng cần có trang web hấp dẫn cho phép các blog và giao tiếp qua các diễn đàn truyền thông xã hội như Twitter, Facebook, Youtube… Hơn nữa, các hoạt động quảng bá bằng hàng không phải được tăng cường và thu hút các hãng hàng không bay đến Việt Nam.

    Tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch, liên kết giữa ngành du lịch với chính quyền địa phương nhằm xây dựng thương hiệu phù hợp với nhiều yếu tố, từ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, cảnh quan đến các chương trình du lịch thu hút khách trong và ngoài nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Lý Sơn Vẫn Ở Dạng Tiềm Năng
  • Những Tiềm Năng Và Lợi Thể Để Phát Triển Du Lịch Lý Sơn
  • Hội Thảo “phát Triển Du Lịch Lý Sơn”
  • Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Ở Lý Sơn
  • Phát Triển Du Lịch Lý Sơn
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Ngành Du Lịch Việt Nam Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Giải Pháp Truyền Thông Marketing Cho Khu Du Lịch Sinh Thái Măng Đen Tỉnh
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Đồng Tháp
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Hải Phòng Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Giải Pháp Nhằm Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Huyện Đảo Phú Quốc
  • Tiềm năng và thách thức đối với phát triển du lịch Việt Nam

    Với những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý kinh tế và chính trị, Việt Nam có rất nhiều thuận lợi để phát triển du lịch. Nằm ở trung tâm Đông Nam Á, lãnh thổ Việt Nam vừa gắn liền với lục địa vừa thông ra đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi cả về đường biển, đường sông, đường sắt, đường bộ và hàng không. Đây là tiền đề rất quan trọng trong việc mở rộng và phát triển du lịch quốc tế.

    Việt Nam là đất nước có tiềm năng lớn về du lịch. Ngoài những danh thắng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới như: Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bảng… Việt Nam còn thu hút khách du lịch nước ngoài với hàng loạt địa điểm du lịch sinh thái kéo dài khắp ba miền Tổ quốc.

    Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng. Các đặc điểm đa dạng về cấu trúc địa hình biển và hải đảo, đồng bằng, đồi núi, cao nguyên đã làm cho lãnh thổ Việt Nam đa dạng, phong phú về cảnh quan và các hệ sinh thái có giá trị cao cho phát triển du lịch, đặc biệt là hệ sinh thái biển, hệ sinh thái sông hồ, hệ sinh thái rừng, hang động. Thêm vào đó, với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam cũng rất phong phú. Trong số khoảng 40.000 di tích lịch sử trên khắp miền đất nước, có hơn 2.500 di tích đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng.

    Ngoài những lợi thế trên, Việt Nam còn là nước có chế độ chính trị ổn định, có nguồn nhân lực dồi dào. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Nhà nước cũng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại trong đó có du lịch phát triển.

    Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng trên, hiện nay, ngành Du lịch Việt Nam còn gặp không ít khó khăn và thách thức như: Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, điểm xuất phát của du lịch Việt Nam quá thấp so với các nước trong khu vực. Khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam cũng còn rất hạn chế trước sự cạnh tranh gay gắt của du lịch trong khu vực và thế giới. Trong khi đó, công tác quản lý môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại nhiều điểm du lịch còn yếu kém và chưa được coi trọng. Công tác quản lý điểm đến chưa được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Tình trạng mất vệ sinh, an ninh, trật tự tại các điểm du lịch vẫn thường xuyên xảy ra. Tình trạng taxi dù, hiện tượng chèo kéo, bán hàng rong, lừa đảo, ép khách du lịch vẫn thường xuyên diễn ra ở nhiều địa phương, nhất là mùa cao điểm…

    Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên du lịch chưa được thống kê, đánh giá, phân loại và xếp hạng để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả. Dẫn tới tài nguyên du lịch thì nhiều, nhưng khai thác bừa bãi, mới dừng ở bề nổi, khai thác cái sẵn có chưa phát huy giá trị của tài nguyên. Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích… tác động tiêu cực tới phát triển du lịch bền vững.

    Tính chuyên nghiệp khi xây dựng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá cũng chưa được nâng cao. Sản phẩm du lịch Việt Nam vẫn chậm đổi mới, còn nghèo nàn, đơn điệu, thiếu đặc sắc, ít sáng tạo, còn trùng lặp giữa các vùng miền, giá trị gia tăng hàm chứa trong sản phẩm du lịch thấp, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết trong phát triển sản phẩm. Công tác xúc tiến quảng bá còn nhiều hạn chế, chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả; mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch. Kinh phí nhà nước đầu tư còn hạn chế, cho nên chưa tạo được hiệu ứng kích cầu đi du lịch Việt Nam tại các thị trường mục tiêu.

    Hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp cận điểm đến còn thiếu đồng bộ. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh nhưng nhìn chung tầm cỡ quy mô, tính chất tiện nghi và phong cách sản phẩm du lịch nhỏ lẻ, vận hành chưa chuyên nghiệp, do vậy chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốc gia với thương hiệu nổi bật. Thêm vào đó, nguồn nhân lực du lịch cũng là điểm yếu kém rất lớn. Mặc dù có nhiều cố gắng trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch thời gian qua, nhưng so với yêu cầu về tính chuyên nghiệp của ngành dịch vụ hiện đại và hội nhập, toàn cầu hóa thì nhân lực du lịch chưa đáp ứng kịp về kỹ năng chuyên nghiệp, hội nhập, liên kết toàn cầu.

    Giải pháp phát triển bền vững Du lịch Việt Nam

    Để Du lịch Việt Nam phát triển bền vững và hiệu quả, cần tập trung giải quyết những vấn đề sau:

    Nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa như gia nhập WTO, Cộng đồng kinh tế ASEAN, đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do… ngành Du lịch Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức không nhỏ, đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Một trong những cách tiếp cận để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch Việt Nam là nghiên cứu xu hướng nhu cầu của du khách để tạo ra những sản phẩm mới, hấp dẫn, đáp ứng đúng nguyện vọng và mang đến sự hài lòng cho du khách.

    Chú trọng phát triển sản phẩm du lịch địa phương.Ngoài việc nâng cao năng lực cạnh tranh còn cần nâng cao chất lượng dịch vụ các khu, tuyến, điểm du lịch đã khai thác. Khai thác những lợi thế khác biệt để tạo nên những sản phẩm du lịch đặc thù, từ đó hình thành các tuyến du lịch nội vùng và liên vùng có tính hấp dẫn và cạnh tranh cao.

    Đẩy mạnh hoạt động quảng bá, xúc tiến và liên kết du lịch. Cụ thể, cần tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến, tạo ra các sản phẩm du lịch phù hợp với nhiều phân khúc thị trường du lịch. Lựa chọn, tham gia có chọn lọc vào các hoạt động, sự kiện du lịch, thành lập Quỹ Xúc tiến du lịch quốc gia để tăng cường hơn nữa việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam tới bạn bè quốc tế; Đề xuất xây dựng những sản phẩm du lịch mới, tăng cường xây dựng những tour, tuyến du lịch liên vùng nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, phối kết hợp các hoạt động du lịch giữa các tỉnh trong vùng với các địa phương khác để du lịch thực sự trở thành một hoạt động thông suốt, có tính cạnh tranh cao hơn.

    Đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch phụ thuộc nhiều vào việc cơ sở hạ tầng có được đầu tư tốt hay không và thái độ phục vụ cũng như trình độ của nhân viên. Vì vậy, phải chú trọng đến việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong đó tập trung đào tạo kỹ năng nghề và thực hành homestay.

    Chú trọng bảo vệ môi trường. Trong khai thác du lịch, các cơ quan quản lý phải luôn nhấn mạnh đến vấn đề bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái tự nhiên vốn có tại các điểm du lịch; Đặt vấn đề bảo vệ môi trường trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quy hoạch các đề án, chiến lược phát triển du lịch của tỉnh và các khu, điểm du lịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Vé Vào Khu Du Lịch Bình Quới Bao Nhiêu?
  • Cập Nhật Giá Vé Vào Cổng Khu Du Lịch Bà Nà Hills Năm 2022
  • 2 Cách Mua Vé Tàu Sapa Giá Rẻ, Kinh Nghiệm Đi Tàu Sapa
  • Giá Vé Tàu Superdong Từ Cảng Trần Đề (Sóc Trăng) Đi Côn Đảo Là 310K
  • Giá Vé Khu Du Lịch Xẻo Quýt Tỉnh Đồng Tháp
  • Những Biện Pháp Để Thúc Đẩy Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Ở Vùng Phía Tây Nghệ An

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Miền Tây Ở Đâu Đẹp
  • Đã Ai Từng Thắc Mắc Đi Du Lịch Miền Tây Ở Đâu Đẹp Nhất
  • “bật Mí” 5 Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Phượt Miền Tây Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Du Lịch Miền Tây: Sài Gòn
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Miền Tây: “lênh Đênh” Trên Sông Và “lạc” Vườn Cây Trái
  • Theo nhóm nghiên cứu, cần nâng cao chất lượng dịch vụ, thu hút vốn đầu tư phát triển, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường cho phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An.

    Du lịch cộng đồng đối với ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch vùng miền Tây Nghệ An nói riêng còn mới mẻ. Nhưng với lợi thế văn hóa lâu đời, kho tàng di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đa dạng, độc đáo của cộng đồng các dân tộc cùng với vẻ đẹp nguyên sơ hùng vĩ của núi miền Tây Nghệ An, việc phát triển du lịch cộng đồng đang là hướng đi bền vững cho du lịch Nghệ An.

    Tuy nhiên, loại hình du lịch cộng đồng tại các huyện miền Tây Nghệ An thời gian qua, mới được tổ chức chủ yếu mang tính tự phát tại một số xã ở Tương Dương, Quế Phong, Con Cuông, Kỳ Sơn, chưa được tổ chức định hướng một cách bài bản, khoa học và nhất là yếu tố môi trường chưa được chú ý, làm giảm đi sự hấp dẫn của loại hình du lịch khám phá…

    Đề tài “Phát triển du lịch cộng đồng tại các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An, tỉnh Nghệ An” được nhóm tác giả tập trung nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng trong đó chủ thể là các hộ hoạt động du lịch cộng đồng trên địa bàn các huyện miền Tây Nghệ An.

    Nhóm tác giả đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng; Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng tại các huyện miền Tây Nghệ An.

    Đề tài được thực hiện trên địa bàn các huyện miền Tây Nghệ An và đã tập trung nghiên cứu ba công trình: Hạng Dương Thành (2014). Phát triển du lịch cộng đồng huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang; Lô Văn Ốc (2015). Phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nguyễn Huy Hoàng và Cs (2014). Nghiên cứu nội dung và giải pháp xây dựng mô hình phát triển du lịch cộng đồng nhằm bảo tồn văn hoá, giảm nghèo và bảo vệ môi trường tỉnh Nghệ An.

    Các nghiên cứu trên được thực hiện tại các địa điểm khác nhau, trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển du lịch của địa phương, phân tích được các yếu tố ảnh hưởng và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển du lịch cộng đồng.

    Dù nghiên cứu từ góc độ nào thì cả ba công trình nghiên cứu trên đều hướng đến mục đích: Tìm ra giải pháp phát triển du lịch cộng đồng nhằm: Giải quyết an sinh xã hội mà trực tiếp là cộng đồng địa phương làm du lịch; tạo kế sinh nhai, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương; bảo tồn văn hoá địa phương….

    Tuy nhiên, với nghiên cứu: “Phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” và “Nghiên cứu nội dung và giải pháp xây dựng mô hình phát triển du lịch cộng đồng nhằm bảo tồn văn hoá, giảm nghèo và bảo vệ môi trường tỉnh Nghệ An” thì nghiên cứu xây dựng mô hình du lịch cộng đồng nhằm góp phần bảo tồn văn hóa, giảm nghèo và bảo vệ môi trường.

    Đây là một hướng nghiên cứu mới nhằm khai thác những giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc để phát triển du lịch, góp phần giảm nghèo và giúp cho người dân địa phương gìn giữ và bảo vệ môi trường nhằm phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

    Nghiên cứu: “Phát triển du lịch cộng đồng huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang” thì dựa trên các lợi thế điều kiện tự nhiên, văn hoá bản địa để phát triển du lịch cộng đồng.

    Đề tài tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An ở các khía cạnh: Quy hoạch phát triển du lịch, Phát triển các loại hình – dịch vụ du lịch, Phát triển hạ tầng cơ sở du lịch, Phát triển lao động hoạt động trong ngành du lịch, Liên kết các loại hình du lịch, Phát triển tour và khách du lịch.

    Đề tài cũng đánh giá sự tham gia của cộng đồng chính quyền địa phương trong phát triển du lịch cũng như vấn đề khai thác hợp lí các nguồn tài nguyên du lịch. Qua đó, cho thấy:

    – Về cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch trên địa bàn nghiên cứu: Về chất lượng giao thông tại các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An, đa số khách du lịch cho rằng chất lượng giao thông ở mức trung bình. 60% hộ làm du lịch được hỏi cũng cho ý kiến chất lượng giao thông ở mức trung bình.

    Về chất lượng hệ thống cấp thoát nước, 48,89% khách du lịch cộng đồng cho biết nước sinh hoạt ở mức tốt, 55% hộ làm du lịch cộng đồng cho rằng chất lượng nước ở mức tốt. Về hệ thống điện, tỷ lệ khách du lịch cộng đồng đánh giá tốt và trung bình gần bằng nhau (48,89% và 42,22%), còn 55% hộ làm du lịch cho rằng chất lượng điện ở mức trung bình.

    – Về các dịch vụ cung cấp trong phát triển du lịch cộng đồng: 100% hộ làm du lịch cộng đồng cung cấp dịch vụ lưu trú, 75% – 82,5% hộ cung cấp dịch vụ ăn uống, 5% cung cấp dịch vụ biểu diễn.

    Đối với dịch vụ lưu trú, 41,67% du khách đánh giá chất lượng trung bình, 38,33% đánh giá chất lượng thấp. Đối với dịch vụ ăn uống, 33% du khách đánh giá chất lượng trung bình, 45% đánh giá chất lượng thấp. Dịch vụ biểu diễn có tới 46,67% khách đánh giá cao mặc dù có ít hộ cung cấp.

    – Về công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho phát triển du lịch cộng đồng: lao động có trình độ được đào tạo chuyên ngành du lịch có bằng cấp chỉ chiếm 10% số lao động trong ngành.

    Lao động trong lĩnh vực du lịch còn rất hạn chế và chỉ chiếm 1% tổng số lao động của huyện. Trình độ lao động trong nghành du lịch còn rất hạn chế, hầu hết lao động chưa được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ chuyên môn.

    Phát triển du lịch cộng đồng tại các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An thời gian qua, mới được tổ chức chủ yếu mang tính tự phát tại một số xã ở các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An, chưa được tổ chức định hướng một cách bài bản, khoa học và nhất là yếu tố môi trường chưa được chú ý, làm giảm đi sự hấp dẫn của loại hình du lịch khám phá.

    Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng đã được đầu tư tương đối đồng bộ, nhưng vẫn tập trung chủ yếu ở những xã phát triển du lịch trọng điểm.

    Những xã vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn, nơi có đời sống kinh tế, văn hoá xã hội còn thấp, thì hệ thống đường giao thông đi lại khó khăn. Sự liên kết giữa các thành phần để phát triển du lịch đã được phát huy và mang lại những tín hiệu tích cực cho phát triển du lịch cộng đồng.

    Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đề xuất phương hướng và những nhóm giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng trong thời gian tới: Nhóm giải pháp cho đối tượng tham gia là Nhà nước bao gồm: giải pháp về cơ chế chính sách, quy hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch cộng đồng, thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch cộng đồng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và quảng bá thu hút thị trường, tăng cường huy động mọi nguồn lực tham gia vào phát triển du lịch cộng đồng.

    Nhóm giải pháp cho đối tượng tham gia là cộng đồng bao gồm: nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm du lịch và thương hiệu du lịch cộng đồng; kết hợp tài nguyên du lịch nhân văn với tài nguyên du lịch tự nhiên phát triển thành sản phẩm du lịch cộng đồng độc đáo mang thương hiệu du lịch Nghệ An; Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường cho phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An.

    Cũng thông qua đề tài, nhóm nghiên cứu đã đề xuất Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An: Nghiên cứu và thể chế hoá việc triển khai phát triển du lịch cộng đồng trong bối cảnh, xu thế mới phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của tỉnh; Chỉ đạo các cơ quan chức năng cùng với ngành du lịch phối hợp thực hiện chủ trương, chế độ chính sách khuyến khích các hoạt động XHH trong lĩnh vực du lịch.

    Mặt khác cần tích cực hóa triển khai hoạt động của mô hình ở địa bàn mình phụ trách trên cơ sở vận dụng những giải pháp mà nhóm nghiên cứu đã đề xuất một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện của địa phương.

    Có những chỉ đạo cụ thể phù hợp với từng khu vực khác nhau của tỉnh, tăng cường quan tâm hỗ trợ nhiều hơn cho các cơ sở có tiền năng DLCĐ ở những vùng trọng điểm.

    Đề xuất Ngành văn hóa tăng cường tổ chức chương trình tập huấn cho các bộ xã bản kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền nhận thức, lợi ích về DLCĐ, vận động nhân dân địa phương tham gia vào các hoạt động DLCĐ của bản, đặc biệt là vấn đề môi trường tại cộng đồng dân cư điểm DL.

    Cần cụ thể hóa cơ chế cho địa phương trong việc phát triển DLCĐ đang mang tính tư phát, cơ chế về quản lý và sự phân chia quyền lợi về kinh tế thu nhận được từ du lịch của xã, bản. Các chi hội du lịch cần tăng cường đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vân động nhân dân địa phương tham gia hoạt động du lịch theo hình thức xã hội hóa.

    Thông qua việc nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An, đề tài đã đề xuất phương hướng và những nhóm giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng trong thời gian tới.

    Giải pháp hướng vào giải quyết những vấn đề chủ yếu như cơ chế chính sách, nâng cao chất lượng dịch vụ và sản phẩm du lịch; Tăng cường công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống kết hợp phát triển du lịch cộng đồng; Phát triển nguồn nhân lực và quảng bá thu hút thị trường; Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường cho phát triển du lịch cộng đồng; Tăng cường huy động mọi nguồn lực, các lực lượng xã hội tham gia vào phát triển du lịch cộng đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tác Tập Huấn Du Lịch Cộng Đồng Cho Người Dân Miền Tây Nghệ An
  • Cần “cú Hích” Cho Du Lịch Miền Tây Nghệ An
  • 10 Địa Điểm Du Lịch Miền Tây Nghệ An Không Phượt Thủ Nào Muốn Bỏ Lỡ
  • “quẩy” Cho Hết Tất Cả Các Điểm Nổi Tiếng Nhất Khi Du Lịch Miền Tây Nghệ An
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tây Nghệ An (Cập Nhật 01/2021)
  • Top 10 Giải Pháp Để Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 6 Địa Chỉ Cho Thuê Xe Hà Nội Uy Tín, Chất Lượng
  • Top 3 Địa Chỉ Dịch Vụ Cho Thuê Xe Du Lịch Có Lái Giá Rẻ Tại Hà Nội
  • Dịch Vụ Xe Du Lịch, Xe Taxi, Xe Hơi
  • Top 5 Công Ty Du Lịch Uy Tín Tại Hà Nội Năm 2022 Bạn Nên Biết
  • 5 Công Ty Du Lịch Uy Tín Nhất Ở Hà Nội.
  • Hiện nay, không gian thắng cảnh và di sản văn hóa đang bị xâm hại, tiêu biểu là việc khai thác nguồn tài nguyên với mục đích kinh tế nhằm phá vỡ cảnh quan, gây ô nhiễm môi trường và làm mất đi không gian thiêng liêng của di tích. Ngành du lịch Việt Nam cần có biện pháp bảo tồn các khu di tích văn hóa để vừa gìn giữ được những di tích cho con cháu đời sau, vừa giới thiệu được những nét văn hóa với du khách quốc tế.

    Chú trọng an toàn cho du khách tại Việt Nam

    Tệ nạn xã hội đã và đang là một vấn đề cần được sự quan tâm chặt chẽ bởi chính quyền địa phương cũng như của toàn thể người dân trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đặc biệt, vấn đề này càng được quan tâm hơn nữa trong việc phát triển ngành du lịch nước nhà. Nạn móc túi, cướp bóc, ăn xin, lừa đảo,… đã trở thành một ấn tượng không tốt trong lòng du khách khi đến với Việt Nam. Họ cảm thấy sợ hãi và không an tâm khi tham quan các danh lam thắng cảnh, thưởng thức món ăn ở các nhà hàng và thậm chí là khi lưu trú nhà nghỉ hay khách sạn. Bởi vậy, để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn thì chúng ta cần chú trọng an toàn cho các du khách bằng việc có biện pháp giải quyết triệt để các tệ nạn xã hội.

    Phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp

    Những điểm du lịch ở Việt Nam cần tạo được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp cũng như những khu vực không hút thuốc lá, không bán đồ, trèo kéo khách, bổ sung thực đơn tăng cường rau, củ, các món ăn ít béo, tổ chức các câu lạc bộ sức khỏe cho du khách. Các dịch vụ này cần được bổ sung, tăng cường song cũng phải đảm bảo về chất lượng dịch vụ.

    Chuyên nghiệp hóa dịch vụ

    Hiện nay, số lượng dịch vụ tại bất kỳ điểm du lịch nào cũng tăng nhanh một cách đáng kể. Tuy nhiên, do không được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp nên chất lượng dịch vụ còn rất thấp và không mang tính cạnh tranh. Ngành du lịch thực sự còn thiếu đội ngũ nhân viên có kỹ năng, chuyên nghiệp trong giao tiếp, quản lý cũng như chất lượng phục vụ. Bởi vậy cần chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ giúp Việt Nam có khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch.

    Thay đổi nhận thức du lịch từ cấp quản lý nhà nước

    Công tác quản lý ngành du lịch còn gặp nhiều bất cập và chưa hiệu quả, tiêu biểu là công tác quản lý an ninh, an toàn, đảm bảo phát triển bền vững còn yếu kém, chưa bảo tồn và phát huy được giá trị của di sản cũng như công tác bảo vệ môi trường. Ngành du lịch Việt Nam cần tổ chức bồi dưỡng kiến thức giao tiếp, ứng xử, quản lý cho các cán bộ, hướng dẫn viên, và người dân nhằm đưa ngành du lịch nước nhà phát triển.

    Quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới

    Việt Nam là đất nước hoàn toàn có nhiều điều kiện để phát triển ngành du lịch so với các nước khác trong toàn khu vực nhưng chính chất lượng của quá trình quảng bá hình ảnh đã khiến ít du khách quốc tế biết đến Việt Nam. Với việc sở hữu những Di sản văn hóa, những điểm đến hấp dẫn như: Hạ Long, Huế, Hội An, Đà Nẵng, Nha Trang,… thì Việt Nam cần chú trọng hơn chất lượng quảng bá hình ảnh của mình để tạo được tiếng vang, sức hấp dẫn trong lòng du khách.

    Tạo sản phẩm du lịch độc đáo

    Phần lớn các doanh nghiệp du lịch ở Việt Nam đều có quy mô vừa và nhỏ, vốn ít và chỉ tập trung khai thác những tài nguyên có sẵn hoặc “sao chép” các sản phẩm du lịch. Đây là một trong những điểm yếu làm cho ngành du lịch Việt Nam trở nên chậm phát triển. Bởi vậy cần chú trọng việc tạo ra các sản phẩm đặc trưng, nổi bật của từng vùng miền để tạo nên nét độc đáo tại mỗi điểm du lịch, đồng thời quảng bá được hình ảnh Việt Nam đến với du khách.

    Đa dạng hóa hình thức du lịch

    Bắt kịp xu hướng du lịch của thế giới với nhiều sự thay đổi, hướng tới những giá trị mới mang tính độc đáo, nguyên sơ đang là một thách thức lớn với ngành du lịch Việt Nam. Bởi vừa phải phát triển dịch vụ đồng thời phải bảo tồn các điểm du lịch mang tính tự nhiên, hướng về cội nguồn, thiên nhiên đối với Việt Nam là hết sức khó khăn. Song, nếu không muốn đứng trước nguy cơ tụt hậu, mất thị phần trong ngành du lịch thì cần phải đa dạng hóa hình thức du lịch theo xu hướng của thế giới, đồng thời vẫn đảm bảo tính chuyên nghiệp, hiện đại trong dịch vụ.

    Cải tạo giao thông tại các thành phố lớn

    Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai cửa ngõ chính đón khách quốc tế bằng đường hàng không đến với Việt Nam. Tuy nhiên, giao thông là vấn đề đáng lo ngại nhất đối với hai thành phố này bởi cơ sở hạ tầng và đặc biệt là ý thức của người tham gia giao thông còn rất thấp. Hình ảnh tắc đường, lấn làn, vỉa hè hàng ngày đã và đang trở thành một mối lo ngại đối với du khách khi đặt chân tới Việt Nam. Bởi vậy mà chúng ta cần cải tạo giao thông tại các thành phố lớn, tiêu biểu là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để góp phần tạo ấn tượng tốt trong lòng du khách.

    Xây dựng hình ảnh du lịch Việt Nam

    Du lịch Việt Nam cần tăng cường việc xây dựng hình ảnh du lịch đến với bạn bè quốc tế bằng cách tăng cường thực hiện nếp sống văn minh, tổ chức thông tin hướng dẫn, hỗ trợ du khách tại các điểm du lịch, đặc biệt là xây dựng phong trào ứng xử văn minh, có thái độ cởi mở, chân thành, nhiệt tình đối với du khách. Bằng việc làm này sẽ khiến du lịch Việt Nam có được hình ảnh tốt trong mắt du khách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Gắn Với Các Sự Kiện Thể Thao Tại Việt Nam
  • Bộ Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch
  • Những Bước Phát Triển Của Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Đô Thị Của Một Số Nước Và Bài Học Cho Việt Nam
  • Trăn Trở Những Đô Thị Du Lịch
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×