Tài Liệu Chính Sách Phát Triển Du Lịch Biển Đà Nẵng

--- Bài mới hơn ---

  • Tổng Chi Phí Đi Du Lịch Sapa 2 Người Hết Bao Nhiêu Tiền?
  • Địa Điểm Du Lịch Hà Nội Mùa Đông
  • Nên Đi Hàn Quốc Hay Nhật Bản?
  • Du Lịch Gần Sài Gòn 1 Ngày Nên Đi Đâu? Top 17 Địa Điểm Tphcm
  • Huế Tập Trung Phát Triển Du Lịch Thông Minh Và Bền Vững
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Bảng Giá Cho Thuê Xe Du Lịch Tại Huế
  • Danh Sách Đầy Đủ Xe Khách Đi Mộc Châu Từ Hà Nội Và Các Tỉnh
  • Du Lịch Lào Cai Tiềm Năng Có Vẫn Khó Phát Triển
  • Địa Chỉ Mua Quà, Đặc Sản Nổi Tiếng Khi Đi Du Lịch Nha Trang
  • Du Lịch Ẩm Thực Singapore ,du
  • Thực Thi Chính Sách Phát Triển Du Lịch Tại Thành Phố Đà Nẵng

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Phát Triển Du Lịch Bà Rịa
  • Đà Nẵng: Đẩy Mạnh Xúc Tiến Du Lịch 2022
  • Kinh Nghiệm Cho Bé Đi Du Lịch Thái Lan
  • Những Địa Điểm Du Lịch Gần Sài Gòn Cho Ngày Cuối Tuần ~ Blog Du Lịch Bụi
  • Vì Sao Thu Hồi Khu Đất Chợ Du Lịch Vũng Tàu?
  • Nhiều địa phương xác định du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và Đà Nẵng là một trong những địa phương phát triển theo xu hướng đó. Từ 1997, Đà Nẵng được tách ra từ tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng và trở thành thành phố trực thuộc trung ương. Đà Nẵng là thành phố có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, thiên nhiên so với các tỉnh Duyên hải miền Trung với bờ biển với tổng chiều dài khoảng 60km kéo dài từ chân đèo Hải Vân cho đến Non Nước. Là một thành phố trẻ, năng động, sáng tạo, thành phố xanh, sạch, đẹp, văn minh, thân thiện, Đà Nẵng được mệnh danh là “thành phố đáng sống với nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch. Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng xác định du lịch là một ngành có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và dành sự quan tâm đặc biệt cho phát triển du lịch. Để thực thi các mục tiêu phát triển, hàng loạt chương trình, chính sách đã được ban hành. Thành phố thực thi 03 đột phá về phát triển kinh tế – xã hội theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI Đảng bộ thành phố Đà Nẵng cùng với Nghị quyết 03 của Thành ủy về đẩy mạnh phát triển du lịch trong tình hình mới và chương trình hành động của UBND thành phố thực thi Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị, và gần đây là Nghị quyết 92/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới; Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ chính trị về phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Du lịch của thành phố Đà Nẵng đang từng bước khẳng định vị thế của mình trên bản đồ du lịch chung của Việt Nam và Quốc tế, góp phần đáng kể nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cũng như sự phát triển kinh tế xã hội.

    Hiện đã có nhiều tác giả nghiên cứu và viết bài trên các tạp chí, sách báo về chính sách phát triển du lịch như:

    Đối với du lịch Đà Nẵng đã có những nghiên cứu đề cập tới. Cụ thể, đề tài cấp thành phố do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đà Nẵng chủ trì, năm 2012 đã triển khai đề tài: Một số giải pháp cơ bản nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế của thành phố Đà Nẵng. Đề tài được nghiên cứu nhằm đưa ra những căn cứ khoa học cho hoạch định các chủ trương chính sách phát triển, các kế hoạch đầu tư và hợp tác, đồng thời đón nhận cơ hội đẩy nhanh quá trình phát triển, từng bước đưa Đà Nẵng trở thành một thành phố phát triển mạnh về kinh tế.

    Đề tài cấp thành phố thứ 3 do Sở Xây dựng thành phố Đà Nẵng chủ trì năm 2012 về Kiến trúc đô thị ven sông, ven biển trên địa bàn thành phố, định hướng và giải pháp đề tài đã đã nghiên cứu đưa ra những định hướng về chính sách và giải pháp tổ chức kiến trúc cảnh quan hợp lý phục vụ cho phát triển du lịch mang tính bền vững cho dải đô thị ven sông, ven biển, góp phần tích cực vào bộ mặt đô thị và nhấn mạnh đặc trưng của môi trường cảnh quan Đà Nẵng.

    Năm 2013, Sở Du lịch Đà Nẵng đã có báo cáo: Nghiên cứu phát triển các loại hình và hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Đề tài đã nghiên cứu và phát triển các loại hình sản phẩm và hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2013-2020. Cụ thể, đề tài đã nghiên cứu các sản phẩm du lịch, các hoạt động dịch vụ du lịch của Đà Nẵng trong mối liên hệ tác động với môi trường trên cơ sở đó, nghiên cứu và đề xuất hệ thống các giải pháp phát triển các sản phẩm và hoạt động dịch vụ du lịch Đà Nẵng.

    Tác giả Phan Thanh Nam (2016) đã thực thi đề tài: “Xây dựng chiến dịch truyền thông cổ động cho ngành du lịch thành phố Đà Nẵng” luận văn vận dụng những nghiên cứu về lý luận, tổ chức thu thập tài liệu về thực trạng phát triển các sản phẩm du lịch và hoạt động truyền thông cổ động của du lịch thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua. Trên cơ sở đó, Luận văn đã xây dựng được một chiến dịch truyền thông cổ động cho ngành xác định thị trường mục tiêu, từ đó xác định mục tiêu và lựa chọn kênh truyền thông từng đoạn thị trường.

    Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu đều quan tâm đến vấn đề về lý luận và thực tiễn về thực trạng phát triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, vấn đề phát triển du lịch ở Đà Nẵng mới chỉ được quan tâm đến một số khía cạnh, chủ yếu tập trung quan tâm các nội dung để phát triển du lịch nói riêng và ngành du lịch nói chung trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố Đà Nẵng, như tăng cường khả năng cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp du lịch tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nâng cao chất lượng phục vụ, sản phẩm du lịch, quản lý nhà nước về du lịch, phát triển mạnh kinh doanh lưu trú trong du lịch… Để phát triển du lịch ở thành phố Đà Nẵng trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội nhưng đảm bảo về bảo vệ môi trường và nghiên cứu các yếu tố tác động khác có thể tác động đến phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về việc thực thi chính sách phát triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng và đề xuất giải pháp, cơ chế chính sách phát triển du lịch. Do đó, đề tài luận văn về Thực thi chính sách phát triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng không trùng lặp với các công trình đã công bố.

      Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
    • Làm rõ những vấn đề lý luận về thực thi phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng.
    • Làm rõ việc thực thi chính sách phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng. Từ đó thấy được những thành tựu và hạn chế chính sách phát triển du lịch của thành phố.
    • Đề xuất giải pháp để tăng cường việc thực thi chính sách phát triển du lịch ở thành phố Đà Nẵng.
      Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách phát triển du lịch tại thành phố Đà Nẵng.

    Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn là lĩnh vực du lịch tại thành phố Đà Nẵng.

    Các số liệu được phân tích lấy từ năm 2022 đến năm 2022.

    Luận văn nghiên cứu về thực thi chính sách công một cách khoa học và áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính sách công từ lý luận đến thực tiễn và rút ra các bài học kinh nghiệm và giải pháp thực tiễn nhằm tăng cường việc thực thi chính sách. Các quy phạm chính sách công về chương trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực thi và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được áp dụng vào thực tiễn của chính sách công nhằm giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành chính sách phát triển du lịch.

    Luận văn nghiên cứu chính sách công dựa trên phương pháp kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính:

    Tham khảo, nghiên cứu và sử dụng các tài liệu trong sách, báo, tạp chí nói về du lịch, các trang thông tin điện tử của thành phố Đà Nẵng; các Nghị quyết, Chỉ thị và quy hoạch tổng thể về phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng; kết quả phỏng vấn, điều tra khách du lịch tại một số điểm du lịch.

    Đề tài này một phần nào đã cung cấp lý luận về thực thi chính sách công cho việc nghiên cứu các vấn đề chính sách phát triển du lịch cho các cơ quan ban hành chính sách công về phát triển du lịch.

    Hệ thống hóa một số lý luận và đánh giá thực tiễn từ thành phố Đà Nằng, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường thực thi chính sách phát triển du lịch cho các cơ quan Nhà nước nhằm phát huy tối đa hiệu quả chính sách đã ban hành và đề xuất đổi mới chính sách.

    Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

    CHƯƠNG 1

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CẤP ĐỊA PHƯƠNG

    1.1.1. Khái niệm về tài nguyên du lịch

    Tài nguyên du lịch là loại tài nguyên có những đặc điểm giống với những loại tài nguyên nói chung, song có một số đặc điểm riêng gắn với sự phát triển của ngành Du lịch. Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về tài nguyên du lịch.

    Theo cuốn “Tài nguyên du lịch” của Bùi Thị Hải Yến (2015): ” Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hoá – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi ” .

    Theo Luật du lịch Việt Nam (Điều 4, chương I, Luật du lịch Việt Nam, 2022): ” Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản hình thành khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” .

    Các khái niệm trên tuy có cách thể hiện khác nhau về tài nguyên du lịch, song đều có điểm chung là đều cho rằng tài nguyên du lịch là tiền đề để phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc, có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn đối với du khách và hiệu quả kinh doanh du lịch cao.

    Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, việc khai thác phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội, khoa học, chính trị nên ngày càng được mở rộng. Do vậy, tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên đã, đang khai thác và tài nguyên du lịch chưa được khai thác.

    Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch và chuyên môn hóa của vùng du lịch. Nói cách khác nó quy định đến tính chất của loại hình du lịch cũng như sự đa dạng của loại hình du lịch tại một địa điểm, một quốc gia. Quy mô hoạt động du lịch của một vùng, một quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tài nguyên du lịch quy định tính theo mùa, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch. Sức hấp dẫn của vùng du lịch phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch.

    Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản để tạo nên vùng du lịch. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia. Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài nguyên du lịch các loại có chất lượng cao, có sức hấp dẫn khách du lịch và mức độ kết hợp các loại tài nguyên càng phong phú thì càng có sức hút lớn đối với du khách.

    “Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau đã quyết định tính chất vụ mùa của hoạt động du lịch. Các địa phương, những người quản lý, điều hành và tổ chức các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch cũng như du khách đều phải quan tâm đến tính chất này để có các biện pháp chủ động điều tiết thích hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc của mình”[4].

    1.1.2. Đặc điểm về thời gian tổ chức hoạt động và không gian tổ chức các dịch vụ du lịch

    1.1.2.1.Đặc điểm về thời gian tổ chức hoạt động dịch vụ

    Tính mùa, vụ có ở tất cả các điểm, các khu vực có hoạt động du lịch, du lịch. Nhưng quá trình diễn ra giữa các vùng, các khu vực có sự khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.

    Một điểm du lịch, khu du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ du lịch và nó phụ thuộc vào các thể loại du lịch phát triển ở khu vực đó.

    Tại các khu vực mà hoạt động du lịch phát triển thì mùa du lịch thường kéo dài hơn, mức độ thay đổi của cường độ hoạt động du lịch nhỏ hơn.

    Độ dài của mùa du lịch và cường độ mùa chính còn phụ thuộc vào thể loại du lịch khác nhau. Thông thường loại hình du lịch chữa bệnh thường có độ dài hơn nhưng cường độ yếu vì giá trị tài nguyên du lịch phục vụ cho loại hình du lịch này ít biến động trong năm. Trong khi đó du lịch nghỉ biển thì ngược lại: mùa du lịch ngắn hơn nhưng cường độ mùa chính cao hơn nhiều vì tài nguyên du lịch phục vụ cho thể loại này phụ thuộc nhiều vào thời tiết khí hậu.

    Để đơn giản hoá ta có thể nghiên cứu tính mùa trong du lịch thông qua sự thay đổi của cường độ hoạt động dịch vụ du lịch qua các khoảng thời gian (mỗi tháng, mỗi ngày). Về mặt tổng quát có thể biểu thị thời vụ du lịch theo đồ thị sau:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quảng Nam Tập Trung Hỗ Trợ Phát Triển Du Lịch Miền Núi
  • Thực Hiện Chính Sách Phát Triển Du Lịch Từ Thực Tiễn Tỉnh Quảng Nam (Luận Văn
  • Một Số Vấn Đề Trong Phát Triển Du Lịch Bền Vững Đảo Phú Quốc, Kiên Giang
  • Chính Sách Hỗ Trợ Đầu Tư Phát Triển Du Lịch
  • An Giang Phát Triển Du Lịch Trở Thành Điểm Đến Hấp Dẫn
  • Luận Văn: Chính Sách Phát Triển Du Lịch Biển Đà Nẵng, 2022, Hot!

    --- Bài mới hơn ---

  • Đẩy Mạnh Phát Triển Du Lịch Bình Định (*)
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Của Quy Nhơn
  • Bình Định Phát Triển Du Lịch Kéo Thị Trường Bất Động Sản Đi Lên Mchính Sách Phát Triển Du
  • 5 Yếu Tố Nền Tảng Khiến Singapore Trở Thành Con Rồng Châu Á
  • Bài Học Kinh Nghiệm Tổ Chức Quản Lý Phát Triển Du Lịch Của Một Số Nước
  • Khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề thực tập hay những luận văn thạc sĩ là những tài liệu cần thiết cho các bạn sinh viên làm khóa luân tốt nghiệp hay các anh chị thạc sĩ làm đề tài nghiên cứu…, hôm nay chúng tôi giới thiệu cho các bạn đề tài luận văn thạc sỹ ngành chính sách công với đề tài cụ thể là: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

    Đề cương luận văn thạc sĩ với đề tài: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

    • DANH MỤC BẢNG
    • MỞ ĐẦU
    • 1. Lý do chọn đề tài luận văn
    • 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
    • 4. Đối tượng và phạm vi của luận văn
    • 0 5. Phương pháp nghiên cứu
    • 6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
    • 7. Kết cấu của luận văn
    • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN
    • 1.1. Khái niệm, nội dung chính sách phát triển du lịch biển
    • 1.2. Vai trò của chính sách phát triển du lịch biển đối với phát triển kinh tế – xã hội
    • 1.3. Chính sách phát triển du lịch ở một số địa phương trong và ngoài nước
    • Tiểu kết chương
    • Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG
    • 2.1. Khái quát chung về thành phố Đà Nẵng.
    • 2.2. Chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng .
    • 2.3. Đánh giá chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng .
    • Tiểu kết chương .
    • Chương 3: HOÀN THIỆN NỘI DUNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG
    • 3.1. Định hướng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng
    • 3.2. Đề xuất hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng
    • 3.3. Một số kiến nghị cụ thể
    • Tiểu kết chương
    • KẾT LUẬN
    • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    DANH MỤC BẢNG trong luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

    • Bảng 2.1. Chi phí dành cho phát triển du lịch 2011-2015
    • Bảng 2.2. Chi phí dành cho phát triển du lịch 2022-2020
    • Bảng 2.3. Số lượng khách du lịch đến Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2022
    • Bảng 2.4. Doanh thu ngành du lịch của Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2022
    • Bảng 2.5. Tổng số vốn đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực du lịch tại Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2022
    • Bảng 2.6. Số lượng cơ sở lưu trú và số buồng phòng phục vụ du lịch biển Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2022
    • Bảng 2.7 Kinh phí dự kiến dành cho xúc tiến thị trường, quảng bá du lịch Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2022

    Một số hình ảnh về luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

    Lời mở đầu luận văn thạc sĩ: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Du Lịch Miền Trung Phát Triển Bền Vững Ngày Càng Hiệu Quả Hơn
  • Chuyên Đề :”du Lịch An Giang Và Những Định Hướng Phát Triển”
  • Tăng Cường Hỗ Trợ Chính Sách Đầu Tư Phát Triển Du Lịch
  • Du Lịch Thái Lan [Trọn Gói
  • Chiến Lược Quảng Bá Du Lịch Thông Minh Nhất Thế Giới
  • Luận Văn: Thực Hiện Chính Sách Phát Triển Du Lịch Biển Đà Nẵng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Hà Nội Sài Gòn Mũi Né Miền Tây Kdl Đại Nam 7 Ngày
  • Suối Mơ Huế Ở Đâu? Review Chi Tiết Địa Chỉ, Đường Đi, Giá Vé, Có Gì Hay?
  • Kiên Giang Tiềm Năng Du Lịch Biển Đảo
  • Chia Sẻ Một Vài Kinh Nghiệm Du Lịch Thái Lan Theo Tour
  • Khu Du Lịch Sinh Thái Gáo Giồng Đồng Tháp
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562

    Published on

    Luận văn thạc sĩ ngành chính sách công: Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, cho các bạn tham khảo

    1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGÔ PHÚ MƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2022
    2. 2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGÔ PHÚ MƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Chính sách công Mã số: 834.04.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Samthienha.com BÙI NHẬT QUANG HÀ NỘI, năm 2022
    3. 3. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ ta luôn quan tâm đến phát triển du lịch, đã có những chính sách đột phá để tạo động lực cho các địa phương phát triển về du lịch. Từ đó, chất lượng du lịch ở mỗi địa phương nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung phát triển mạnh mẽ, hình ảnh du lịch ngày càng được nâng cao. Nhiều điểm du lịch được đầu tư nâng cấp, mở rộng trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách trong nước và Quốc tế. Ngành Du lịch đang được Chính phủ và Lãnh đạo thành phố quan tâm. Từ năm 1997 tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được chia tách ra làm hai đơn vị hành chính, đó là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Đến nay, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng luôn quan tâm đến phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch biển. Bên cạnh những khó khăn thách thức, thì ngành du lịch cũng có những điều kiện thuận lợi để phát triển, đó là Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc… Ban chỉ đạo du lịch từ Trung ương đến địa phương được củng cố và chương trình kích cầu du lịch được Chính phủ tiếp tục đầu tư. Có thể thấy, ngành du lịch thành phố Đà Nẵng nói chung và du lịch biển nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu nổ bật, đã góp phần đáng kể vào sự phát triển chung của thành phố. Đảng bộ và chính quyền thành phố xác định du lịch biển là một ngành có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch cũng như kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng, phù hợp với vị trí địa lý, thiên nhiên ưu đãi và xu thế phát triển của đất nước. Do vậy, phát triển du lịch, trong đó phát triển du lịch biển đã được thành phố Đà Nẵng đặc biệt quan tâm và để thực hiện các mục tiêu phát triển, hàng
    4. 4. 2 loạt chương trình, chính sách đã được ban hành. Thành phố Đà Nẵng được biết đến là một thành phố xanh, sạch, đẹp, văn minh và thân thiện. Thành phố Đà Nẵng được mệnh danh là thành phố đáng sống; thêm vào đó là một thành phố trẻ, năng động, sáng tạo, tạo dựng được nhiều lợi thế về vị trí địa lý, thiên nhiên so sánh đối với các tỉnh Duyên hải miền Trung. Với những đặc điểm vốn có, Đà Nẵng có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, đặt biệt những thế mạnh hấp dẫn về du lịch biển với nhiều danh lam thắng cảnh du lịch nổi tiếng, bờ biển với tổng chiều dài khoản 60km kéo dài từ chân đèo Hải Vân cho đến Non Nước. Biển Đà Nẵng không chỉ chinh phục được du khách trong và quốc tế với nhiều cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn là một trong những bãi biển thuộc diện sạch và an toàn thu hút được một lượng khách du lịch hằng năm kéo đến đây. Cùng với những lợi thế đó, trong nhiều năm qua trên cơ sở thực hiện 03 đột phá về phát triển kinh tế – xã hội theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI Đảng bộ thành phố Đà Nẵng cùng với Nghị quyết 03 của Thành ủy về đẩy mạnh phát triển du lịch trong tình hình mới và chương trình hành động của UBND thành phố thực hiện Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị, và gần đây là Nghị quyết 92/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới; Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ chính trị về phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng đang từng bước khẳng định vị thế của mình trên bản đồ du lịch chung của Việt Nam, trong khu vực và quốc tế. Sự phát triển toàn diện của ngành du lịch đã giúp kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, Đà Nẵng tự hào khi trở thành thành phố biển nổi tiếng về du lịch. Tuy nhiên, đi đôi với sự phát triển vẫn còn nhiều tồn tại và thách thức cần khắc phục, cụ thể: Chưa có được những sản phẩm du lịch chủ lực đặc thù; chất lượng sản
    5. 5. 3 phẩm du lịch chưa cao, khả năng cạnh tranh hạn chế; nhiều khu du lịch, điểm du lịch phát triển tự phát, chưa được đầu tư đúng tầm gây ảnh hưởng, ô nhiễm môi trường tự nhiên; thiếu các khu vui chơi giải trí có quy mô lớn và sức hấp dẫn đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của du khách; nhiều chương trình du lịch còn đơn điệu, trùng lặp, đội ngũ nhân lực còn thiếu; sức hấp dẫn của du lịch Đà Nẵng trên thị trường du lịch quốc tế còn hạn chế. Tuy sở hữu một trong sáu bãi biển đẹp nhất thế giới, nhưng hiện nay tiềm năng du lịch biển Đà Nẵng chưa được khai thác phù hợp để đủ sức thu hút khách du lịch. Vấn đề làm cản trở sức hấp dẫn của du lịch biển Đà Nẵng đã được không ̣ ít du khách cho rằng: các dịch vụ vui chơi giải trí ở các khu du lịch biển dường như quá thiếu và nghèo nàn; đồng thời với chất lượng giá cả các loại hình kinh doanh dịch vụ tại các khu du lịch biển còn quá nhiều bất cập. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường do sự thiếu ý thức của người dân, của khách du lịch, của việc xử lý nước thải, rác thải của các dịch vụ phục vụ du lịch đã và đang trở thành yếu tố cản trở sự phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Vào mùa du lịch biển, các bãi biển Đà Nẵng luôn đông khách, nhưng phần lớn là người dân thành phố, khách nội địa chiếm vị trí thứ hai. Khách du lịch nước ngoài có chăng chỉ tập trung ở khu vực bãi biển các khách sạn 5 sao như: Furama, Premier, Crowne plaza… Những hạn chế nêu trên đã làm cho ngành du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng của thành phố Đà Nẵng đang đứng trước thách thức về sự phát triển. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn Thạc sỹ tốt nghiệp chuyên ngành chính sách công góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách nầy là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Phát triển du lịch nói chung hay phát triển du lịch biển nói riêng, ngày nay
    6. 6. 4 đang được Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương quan tâm, hiện đã có nhiều tác giả nghiên cứu và viết bài trên các tạp chí, sách báo về chính sách phát triển du lịch biển như: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Như Lâm – Hoàng Thanh Hiền (2010) “Thực trạng sản phẩm du lịch thành phố Đà Nẵng với khả năng liên kết phát triển du lịch vùng Duyên hải miền Trung” của tác giả Phùng Tấn Viết (2013) “Phát triển ngành du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Hồ Kỳ Minh (2011) Các đề tài tập trung nghiên cứu vào các nội dung: Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch nói chung hay du lịch biển thành phố Đà Nẵng trong những năm qua; phân tích về du lịch Đà Nẵng trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế; phân tích và dự báo nguồn khách du lịch đến Đà Nẵng; Đề xuất các nhóm giải pháp dự báo phát triển du lịch biển trên địa bàn thành phố Đà Nằng đến năm 2022 về kinh tế, văn hóa – xã hội, cùng các kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó có một số đề tài nghiên cứu về phát triển du lịch khác như: ”Xây dựng chiến lược thương hiệu du lịch thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Xuân Vinh (2010). “Phát triển loại hình dịch vụ sinh thái tại khu du lịch bán đảo Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiệp (2012) Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu đều quan tâm đến vấn đề về lý luận và thực tiễn về thực trạng phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, vấn đề phát triển du lịch biển ở Đà Nẵng mới chỉ được quan tâm đến một số khía, chủ yếu tập trung quan tâm các nội dung để phát triển du lịch biển nói riêng và ngành du lịch nói chung trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành
    7. 7. 5 phố Đà Nẵng, như tăng cường khả năng cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp du lịch tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nâng cao chất lượng phục vụ, sản phẩm du lịch, quản lý nhà nước về du lịch, phát triển mạnh kinh doanh lưu trú trong du lịch… Để phát triển du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội nhưng đảm bảo về bảo vệ môi trường và nghiên cứu các yếu tố tác động khác có thể tác động đến phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống, đề xuất giải pháp và cơ chế chính sách. Thành phố Đà nẵng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch đặc biệt là du lịch biển, nhưng việc nghiên cứu các giải pháp để phát triển chưa được đề cập nhiều. Do đó, đề tài luận văn về Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng không trùng lặp với các công trình đã công bố. 3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1.Mục đích nghiên cứu Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển qua đó phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch biển, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng. 3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu Luận án có các nhiệm vụ như sau: Nhiệm vụ thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển du lịch biển là gì? Nhiệm vụ thứ hai: Làm rõ việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng như thế nào? Từ đó thấy được những thành tựu và hạn chế chính sách phát triển du lịch biển của thành phố. Nhiệm vụ thứ ba: Thực hiện những giải pháp để tăng cường việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1.Đối tượng nghiên cứu
    8. 11. 9 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TẠI ĐÀ NẴNG 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Các khái niệm cơ bản Samthienha.com lịch biển Du lịch biển là một ngành kinh doanh các hoạt động như hướng dẫn du lịch, trao đổi hàng hóa và các dịch vụ của các doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu thăm quan, nghỉ dưỡng, ăn uống, vui chơi, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp (định nghĩa của Khoa quản trị Kinh doanh Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân). Các nhà nghiên cứu về du lịch đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến thăm quan, nghỉ dưỡng không phải là nơi ở và là nơi làm việc của họ. Ngoài ra, còn có nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa khác: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch”. Trong đó khách du lịch là khách hàng rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đi đến các nơi khác và quay trở lại nhằm thỏa mãn các mục đích khác nhau, nhà cung ứng là các tổ chức kinh tế, đơn vị hành chính sự nghiệp cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho hoạt động du lịch; dân cư sở tại là những người dân ở tại địa phương diễn ra hoạt động du lịch; chính quyền địa phương là cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương tại điểm du lịch.
    9. 12. 10 Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với việc sử dụng tài nguyên biển (tài nguyên biển trong du lịch bao gồm: bãi biển, các loại sinh vật biển như tôm, cá, san hô,…) gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, ăn uống, khám phá, thăm quan,… của khách du lịch. Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của con người để nghỉ dưỡng sau thời gian làm việc căng thẳng cũng như có nhu cầu thăm quan tăng thêm sự hiểu biết về phong cảnh, con người xung quanh. Tuy nhiên, hiện nay quan điểm nhận xét về du lịch của người làm du lịch và các nhà nghiên cứu về du lịch vẫn còn có sự khác nhau trong lĩnh vực này. Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội. 1.1.1.2.Chính sách công và Chính sách phát triển du lịch biển Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định. Từ cách hiểu như trên ta có thể thấy chính sách công có những đặc trưng cơ bản sau: – Chính sách công là sản phẩm của chủ thể nắm giử quyền lực công nên bất cứ chủ thể nào nắm quyền lực công đều có khả năng ban hành chính sách công.
    10. 29. 27 đến việc thực hiện chính sách. Qua đó, góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề về lý luận, những mặt ưu, khuyết điểm, tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách phát triển du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng hiện nay.
    11. 30. 28 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1. Khái quát về tình hình phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Những năm qua, bên cạnh việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch, thành phố Đà Nẵng đã vận dụng sáng tạo các cơ chế, chính sách, huy động các nguồn lực để chỉnh trang đô thị, đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, xây dựng các điểm, các loại hình, sản phẩm du lịch… đặc sắc, mang tính riêng của thành phố Đà Nẵng. Góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển, trở thành một trong các trung tâm du lịch lớn của cả nước, có vai trò đầu tàu, là trung tâm phân phối nguồn khách du lịch cho các địa phương khu vực miền Trung và Tây Nguyên… Ngành du lịch dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng; giải quyết công ăn việc làm; bảo vệ môi trường sinh thái và đưa hình ảnh Đà Nẵng đến với bạn bè thế giới… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng còn nhiều hạn chế, bất cập, kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu các khu mua sắm, khu vui chơi và dịch vụ giải trí về đêm. Thiếu các dịch vụ, sản phẩm du lịch đặc sắc riêng mang đẳng cấp quốc tế. Công tác xúc tiến, quảng bá hiệu quả chưa cao, thị trường khách thiếu ổn định… Từ những vấn đề đặt ra ở trên, cần nghiên cứu, đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế, đúc kết các bài học kinh nghiệm từ đó đề xuất các cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng phát triển mạnh, nhất là du lịch cao cấp, hình thành trung
    12. 31. 29 tâm du lịch ven biển lớn tầm cỡ quốc gia và quốc tế. 2.2. Tình hình thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Nghị quyết số 33-NQ/TW đề ra phương hướng “phát triển mạnh du lịch, nhất là du lịch cao cấp, hình thành trung tâm du lịch ven biển lớn tầm cỡ quốc gia và quốc tế”. Điều đó đã khẳng định vai trò, vị trí của du lịch đối với sự phát triển của Đà Nẵng. Đồng thời, là căn cứ quan trọng để thành phố xây dựng các chương trình, đề án, vận dụng sáng tạo các cơ chế, chính sách, tạo sự đột phá để phát triển trong những năm qua. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã đoàn kết, nỗ lực thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, giữ được sự ổn định tình hình và phát triển du lịch tương đối toàn diện. Thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW, Ban Thường vụ Thành uỷ Đà Nẵng đã phê duyệt nhiều chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình hành động cụ thể để chỉ đạo, tạo cơ chế, điều kiện thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội thành phố; Kế hoạch số 19-KH/TU triển khai quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết và Chương trình hành động số 16-CTr/TU, trong đó đề ra 12 chương trình trọng tâm trên các ngành, lĩnh vực để thực hiện Nghị quyết, trong đó, du lịch thuộc chương trình số 03 được phê duyệt tại Quyết định số 109/2004/QĐ-UB ngày 22/6/2004 ban hành Chương trình “Tập trung phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ lớn của cả nước” và Quyết định số 188/2004/QĐ-UB ngày 25/11/2004 phê duyệt Kế hoạch triển khai “Chương trình Tập trung phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ lớn của cả nước”. Ngoài ra, căn cứ tình hình thực tiễn, ban hành các chương trình, kế hoạch,
    13. 32. 30 đề án phát triển du lịch: – Quyết định số 7099/QĐ-UBND ngày 17/9/2010 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, thể thao và du lịch thành phố Đà Nẵng đến năm 2022”; – Quyết định số 5528/QĐ-UBND ngày 30/6/2011 ban hành “Chương trình Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2015”; – Quyết định số 7383/QĐ-UBND ngày 11/9/2015 ban hành “Đề án Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2022-2020”; – Kế hoạch số 10652/KH-UBND ngày 30/12/2017 ban hành kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; – Đề án phát triển dịch vụ thành phố Đà Nẵng đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2022. Đề án Quản lý và khai thác các bãi biển du lịch Đà Nẵng. Đề án Phát triển nguồn nhân lực du lịch giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2022. Đề án Phát triển mạnh các ngành dịch vụ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2022, định hướng đến năm 2035… Thành phố đã đầu tư xây dựng các tuyến đường du lịch như: Đường Nguyễn Tất Thành, đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa, nhằm phục vụ khách du lịch. Hệ thống bãi tắm công cộng trên tuyến đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa và đường Nguyễn Tất Thành cơ bản phục vụ tốt cho người dân và khách du lịch đến Đà Nẵng. Đến nay đã có 11 bãi tắm công cộng được đầu tư với tổng vốn 82,2 tỷ đồng đưa vào phục vụ người dân và du khách. Hệ thống thông tin liên lạc cơ bản đã hoàn thành và đưa vào phục vụ cho các dự án đầu tư tại bán đảo Sơn Trà; đã triển khai lắp đặt mạng lưới Wifi tại một số vị trí trung tâm thành phố để phục vụ khách đến tham quan và du lịch tại Đà Nẵng.
    14. 33. 31 Thành phố tập trung kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế, trọng tâm là các dự án tại bán đảo Sơn Trà, ven biển đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa, khu vực Làng Vân, Nam Ô… Ngoài ra, thành phố đầu tư trồng cây xanh, phát triển hệ thống điện chiếu sáng và trang trí, vệ sinh môi trường đảm bảo, trật tự xã hội ổn định góp phần thu hút du khách đến Đà Nẵng. 2.3. Kết quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Thứ nhất, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội: Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2022, lượng khách du lịch đến thành phố Đà Nẵng tăng bình quân 21%/năm, trong đó khách quốc tế tăng bình quân 30%/năm, khách nội địa tăng bình quân 17%/năm. Từ hơn 2.700.000 lượt khách năm 2012 tăng lên 5.510.000 lượt khách năm 2022 Các bộ, ngành Trung ương hỗ trợ, đầu tư xây dựng một số công trình trọng điểm phục vụ dân sinh và phát triển du lịch, như: Hầm đường bộ Hải Vân, Quốc lộ 14B, Cầu Trần Thị Lý, Cung Thể thao Tiên Sơn, Cầu Thuận Phước, Ga hàng không quốc tế Đà Nẵng, đường Đà Nẵng – Hội An…, góp phần tác động mạnh mẽ đến tình hình phát triển kinh tế – xã hội thành phố và khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Ngoài ra, thành phố đã chủ động phối hợp lập quy hoạch sử dụng đất quốc phòng tại các khu vực Nam Hải Vân, bán đảo Sơn Trà… phục vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh. Ngoài ra, thành phố đã chủ động xin Bộ Quốc phòng cho sử dụng một phần đất tại bán đảo Sơn Trà (300m từ mực nước biển trở lên) để phục vụ phát triển du lịch biển. Thành phố tập trung kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế, trọng tâm là các dự án tại bán đảo Sơn Trà, ven biển đường Sơn Trà – Điện Ngọc (nay là đường Hoàng Sa – Võ Nguyên
    15. 35. 33 – Các bãi biển có khả năng thu hút khách nội địa: Xuân Thiều, Nam Ô. – Các bãi biển có khả năng thu hút dân cư địa phương: Thanh Bình, Thanh Khê, Thọ Quang, Mân Thái… Bảng 2.2. Đánh giá sức thu hút của các bãi biển ở Đà Nẵng (Ghi chú: Theo thang điểm: Độ sạch của nước biển, phong cảnh, sức chứa, khả năng phát triển sản phẩm, khả năng thu hút, tính biệt lập…) Điểm thu hút (các bãi biển) Độ sạch Phong cảnh Sức chứa K/năng pt sản phẩm Khả năng thu hút Tính biệt lập TỔNG ĐIỂM 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ Làng Vân 4 3,5 3 4 3 4 21,5 Nam Ô 3 3 2 2 2,5 2,5 15 Xuân Thiều 3,5 2,5 4 2,5 3,5 2 18 Thanh Khê 3 2 3 1 2 1,5 12,5 Xuân Hà 3 2 3 1 2 1,5 12,5 Tam Thuận 3 2 3 1 2 1,5 12,5 Thanh Bình 3 2,5 2 1 2 1,5 12 Tiên Sa 4 3,5 2 3 3,5 2,5 18,5 Bãi Bắc 4 3,5 2 3 1 3 16,5 Bãi Nam 4 3,5 2 3 2 3 17,5 Bãi Bụt 4 3,5 2 3 2,5 3 18 Thọ Quang 3 2 3 1 1 1,5 11,5 Mân Thái 3 2 3 1 1 1,5 11,5 Phước Mỹ 3,5 2,5 4 3 4,5 2 19,5 Bắc Mỹ An 3,5 2,5 4 2 4,5 2 18,5 Sân Bay Nước Mặn 3,5 2,5 3 2 3 2 16 Non Nước 3,5 3,5 4 3 4,5 2,5 21 (Nguồn: sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng đánh giá năm 2008)
    16. 37. 35 Tuấn nhận định, du lịch Đà Nẵng thời gian qua đã có bước phát triển mạnh mẽ, trở thành điểm đến nổi tiếng trong và ngoài nước. Những chính sách phát triển du lịch Đà Nẵng đã được nhân dân thành phố hưởng ứng. Đây chính là những bài học, mô hình hay để nhân rộng trên cả nước. – Đặc biệt năm 2022 thành phố Đà Nẵng được chọn là nơi tổ chức Đại hội Thể thao Bãi biển Châu Á lần thứ 5 (ABG5). Các hoạt động trong sự kiện: Cuộc đua thuyền buồm quốc tế Clipper Race đã góp phần quảng bá hình ảnh, thu hút du khách đến với thành phố. Năm 2022 ước đón 5,51 triệu lượt khách du lịch, đạt 107,2% KH, tăng 17,7%(1) ; tổng thu từ hoạt động du lịch ước đạt 15.979 tỷ đồng, bằng 107,1% KH, tăng 24,7%. Thành phố vinh dự được nhận danh hiệu “Điểm đến hàng đầu Châu Á về sự kiện và lễ hội” tại Lễ trao giải thưởng du lịch thế giới World Travel Awards năm 2022. Bốn năm liên tiếp từ năm 2013 đến năm 2022 đạt danh hiệu “Top 10 điểm đến nghỉ dưỡng hàng đầu Châu Á” do độc giả Tạp chí Smart Travel Asia bình chọn, tiếp tục khẳng định thương hiệu của du lịch thành phố đã bắt đầu lan toả đến thị trường quốc tế. Du lịch thành phố Đà Nẵng đã xây dựng nhiều tour tuyến, sản phẩm du lịch đưa vào phục vụ khách như: tour du lịch city tour “Khám phá phố biển Đà Nẵng”, tour lặn biển ngắm san hô, câu cá, khám phá Sơn Trà, xích lô du lịch, tour đường thủy nội địa… nhưng chủ yếu vẫn là các điểm tham quan danh thắng Ngũ Hành Sơn, bán đảo Sơn Trà, Bảo tàng Đà Nẵng, Bà Nà… Qua cuộc điều tra khảo sát, sự đóng góp của du lịch trong GRDP thành phố Đà Nẵng, hoạt động du lịch đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua thuế sản phẩm năm 2022 đạt 1.847 tỷ đồng. Đóng góp tổng hợp của du lịch vào GRDP Đà Nẵng năm 2022 đạt 23,72% (16.544 tỷ đồng), trong đó: đóng góp trực tiếp là 13,24% (9.234 tỷ đồng) và đóng góp gián tiếp (lan tỏa) là 10,48% (7.310 tỷ đồng). Để đạt được những con ( 1) Khách quốc tế ước đạt 1,67 triệu lượt, đạt 126,2% KH, tăng 31,6%.
    17. 38. 36 số ấn tượng này, không thể không kể đến vai trò của việc đầu tư, nâng cấp các sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn như: quần thể du lịch sinh thái Bà Nà – Suối Mơ, bán đảo Sơn Trà, các khu du lịch Hòa Phú Thành, Helio, Công viên Núi Thần Tài, Công viên Châu Á… Bên cạnh đó, công tác xúc tiến, quảng bá được chú trọng quan tâm cả ở trong nước và nước ngoài; các sự kiện lớn thu hút khách du lịch được thành phố tổ chức hàng năm như: Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, Cuộc thi marathon quốc tế, Cuộc đua thuyền buồm quốc tế Clipper Race, Khai trương mùa du lịch biển, Đà Nẵng – Điểm hẹn mùa hè, Đại hội Thể thao bãi biển Châu Á. Đồng thời, công tác đảm bảo môi trường du lịch tiếp tục được giữ vững, đảm bảo về an ninh, an toàn, nhiều mô hình mới được đưa vào hoạt động hiệu quả tạo tâm lý an tâm cho du khách như Trung tâm hỗ trợ du khách, Đội cứu hộ biển, Lực lượng chống chèo kéo khách du lịch, Tổ phản ứng nhanh. Thứ hai, giải quyết việc làm trong ngành du lịch. Du lịch tạo ra theo tác động tổng hợp là 140.536 việc làm, chiếm 25,43% tổng số lao động có việc làm trên địa bàn thành phố năm 2022 (552.696 người – Cục Thống kê), trong đó trực tiếp tạo ra 77.026 việc làm, chiếm 13,94% tổng số lao động có việc làm tại Đà Nẵng. Gián tiếp tạo ra 63.511 việc làm cho các ngành khác, chiếm 11,49% tổng số lao động có việc làm tại Đà Nẵng. Trong đó, tập trung chủ yếu tại khách sạn 47,2%, nhà hàng 34,2%, quản lý Nhà nước 0,5%. Chất lượng nguồn nhân lực du lịch tuy có bước phát triển nhưng chưa cao, số lao động được đào tạo đúng chuyên môn về du lịch còn thấp, chỉ chiếm 40.6% số lao động toàn ngành, nhà hàng 16,4%, khách sạn 49,4%, lao động chưa có ngoại ngữ 61,97% (Nguồn: Đề án Phát triển nguồn nhân lực du lịch). Trong những năm qua, với sự hỗ trợ tích cực của Trung ương và sự chủ động phát huy nội lực của địa phương, thành phố đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp thiết thực, tạo điểm nhấn quan trọng trong việc phát triển liên kết Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, trong đó bước đầu đã tạo lập và được sự
    18. 39. 37 thừa nhận về vai trò khu vực, phát triển khá toàn diện trong lĩnh vực du lịch. Nhiều công trình, dự án quy mô lớn được đầu tư xây dựng, góp phần rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết phát triển kinh tế – xã hội. Hạ tầng du lịch được tập trung đầu tư, nhiều khu du lịch, tour, tuyến, sản phẩm, từng bước liên kết và tạo không gian kinh tế thống nhất toàn Vùng. 2.4. Ưu điểm và hạn chế trong thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng 2.4.1. Ưu điểm Thứ nhất, cơ chế chính sách phát triển du lịch của thành phố phù hợp với tình hình thực tế tạo điều kiện cho du lịch biển phát triển, ổn định về chính trị, an ninh trật tự, là điểm đến an toàn thân thiện cho du khách. Thứ hai, trong thời gian qua các sở, ngành, địa phương cũng đã cố gắng trong việc huy động tiềm năng và nguồn lực để tập trung phát triển du lịch. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trẻ làm du lịch có chuyên môn nghiệp vụ chuyên nghiệp bước đầu được quan tâm hơn. Thứ ba, sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, quận, huyện trong phát triển du lịch đã có sự chuyển biến tích cực. Nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng đối với hoạt động du lịch được nâng cao đồng bộ, môi trường du lịch được cải thiện tốt. Thứ tư, thương hiệu du lịch Đà Nẵng ngày càng được khẳng định là điểm đến an toàn, thân thiện, sản phẩm và dịch vụ đa dạng, đẳng cấp với thế mạnh về du lịch nghỉ dưỡng biển, MICE và các loại hình giải trí phong phú, đặc sắc khác2 ; Thành phố đã tổ chức thành công nhiều sự kiện lớn, mang tầm quốc tế 2 Hệ thống các khu vui chơi giải trí lớn: Khu vui chơi giải trí đặc biệt dành cho người nước ngoài Crown Plaza, các khu vui chơi thể thao biển, Công viên Châu Á… đáp ứng phần nào nhu cầu của du khách đến Đà Nẵng. Nhiều tour tuyến, sản phẩm du lịch đưa vào phục vụ khách như: Tour liên kết của Đà Nẵng – Huế – Quảng Nam và các tỉnh miền Trung Tây Nguyên đã đưa vào khai thác các chương trình tour “Con đường di sản miền Trung”, “Con đường xanh Tây Nguyên”, “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại”; tour du lịch city tour “Khám phá phố biển Đà Nẵng”, tour lặn biển ngắm san hô, câu cá, khám phá Sơn Trà, tour đường thủy nội địa với các điểm tham quan chính như: Danh thắng Ngũ Hành Sơn, bán đảo Sơn Trà, Bảo tàng Đà Nẵng, Bà Nà, Bảo tàng Mỹ
    19. 40. 38 như: Tuần lễ cấp cao APEC 2022, Cuộc thi Pháo hoa quốc tế, Cuộc thi Marathon, Dù lượn và đua Thuyền buồm quốc tế, Đại hội Thể thao bãi biển Châu Á – ABG5, Đại hội Du lịch Golf Châu Á … Đồng thời, tập trung đầu tư và kêu gọi đầu tư hạ tầng du lịch, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế, trọng tâm là các dự án ven biển Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn. Thứ năm, việc mở thêm các đường bay mới đến Đà Nẵng đã tạo điều kiện khai thác khách du lịch đến bằng đường hàng không tăng cao. Cụ thể, các hãng hàng không Korean Air, Asiana Airlines đã tăng chuyến bay từ 2 chuyến/tuần lên 3-4 chuyến/tuần, Hãng Silk Air tăng 4 chuyến/tuần lên 5 chuyến/tuần. Tính đến nay, thành phố có 31 đường bay quốc tế trực tiếp đến Đà Nẵng, trong đó có 143 đường bay trực tiếp thường kỳ và 174 đường bay trực tiếp thuê chuyến với tổng tần suất 269 chuyến/tuần. Thứ sáu, du lịch đường biển đã có sự tăng trưởng đáng kể. Năm 2022 đón 78 chuyến tàu với 120.000 lượt khách. Tuy nhiên, việc mở các tuyến du lịch đường biển như: Đà Nẵng – Singapore, Đà Nẵng – Hồng Kông đến nay vẫn chưa thực hiện được do các tuyến này hiện nay đều nắm trong hải trình chung khu vực Đông Nam Á của các hãng du lịch tàu biển. Nguồn khách có nhu cầu đi bằng đường biển tại các điểm trên đến Đà Nẵng không nhiều và chưa phát triển, Thuật… Khu du lịch Bà Nà Hills cũng đã được đầu tư xứng tầm quốc tế, bao gồm nhiều hạng mục như Cáp treo, khu vui chơi giải trí trong nhà Fantasy Park, khách sạn và nhiều hạng mục khác đã đưa vào khai thác khách du lịch từ năm 2009 đến nay. 3 Singapore-Đà Nẵng (Silk Air), Hồng Kông-Đà Nẵng (Dragon Air, HK Expss, Jetstar), Siêm Riệp – Đà Nẵng (Vietnam Airlines, Silk Air), Incheon – Đà Nẵng (Asiana Airlines, Korean Airlines, Vietnam Airlines, Jin Air, Jeju Air, T’way Air), Quảng Châu – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Narita – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Kuala Lumpur – Đà Nẵng (Air Asia), Hàng Châu – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Busan – Đà Nẵng (Air Busan, JinAir, T’Way), Macao-Đà Nẵng (Air Macau), Bangkok – Đà Nẵng (Bangkok Airways, Thai Air Asia), Đài Bắc – Đà Nẵng (Jestar), Daegu – Đà Nẵng (T’ways), Osaka – Đà Nẵng (Jetstar). 4 Bắc Kinh – Đà Nẵng (China Eastern Airlines), Thành Đô – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Thượng Hải – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Nam Ninh – Nam Kinh – Đà Nẵng (China Eastern Airlines, Vietnam Airlines), Quảng Châu – Đà Nẵng (Hainan), Tam Á – Đà Nẵng (Far Eastern Air), Lan Châu – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Thẩm Quyến – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Côn Minh – Đà Nẵng (China Eastern), Trịnh Châu – Đà Nẵng (China Southern Airlines), Hợp Phi – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Tần Hoàng Đảo – Đà Nẵng (Vietjet Air), Vũ Hán – Đà Nẵng (Vietjet Air), Tây An – Đà Nẵng (Vietjet Air), Cheongju – Đà Nẵng (Jin Air), JeJu – Đà Nẵng (Eastar), Muan – Đà Nẵng (T’way).
    20. 41. 39 việc mở các tuyến này chưa thật sự thu hút các đối tác đầu tư. 2.4.2. Những hạn chế, bất cập Những thành tựu là rất rõ nét. Tuy nhiên, so với mục tiêu xây dựng du lịch biển nói riêng và ngành du lịch nói chung trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố thì Đà Nẵng cần phải có bản sắc riêng, mang tầm vóc quốc tế vẫn đang là thách thức lớn trước mắt và lâu dài. Ngành du lịch biển còn thiếu chính sách ưu đãi đầu tư, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài, nhằm phát triển sản phẩm du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí, nhất là giải trí về đêm; doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn trong vấn đề tiếp cận đất đai đầu tư để phát triển tạo thêm sản phẩm du lịch mới; chưa có nhiều sản phẩm đặc trưng hướng tới thị trường khách quốc tế. Tại hội nghị Thành ủy Đà Nẵng (mở rộng) lần thứ 18, năm 2022, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Trần Thọ đánh giá: Mặc dù, du lịch Đà Nẵng đạt được nhiều thành công, song cũng lưu ý là “lượng khách du lịch lưu trú tại Đà Nằng vẫn còn thấp hơn so với tỉnh Quảng Nam anh em”, do nhiều du khách vẫn chỉ xem Đà Nẵng là điểm trung chuyển để ra Huế hoặc vào Hội An lưu trú. Tại kỳ họp thứ 11 HĐND TP Đà Nẵng khóa VIII, Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND TP Đà Nẵng Mai Đức Lộc đã chỉ rõ: “Đà Nẵng tuy được đánh giá là một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn nhưng lượng khách quốc tế chưa nhiều và điều đáng quan tâm là các chỉ số về thời gian lưu trú, mức chi tiêu của du khách vẵn chưa có sự cải thiện căn bản. Theo ông Mai Đức Lộc, “nguồn đóng góp cho ngân sách từ lĩnh vực du lịch chưa tương xứng với sự đầu tư rất lớn mà Đà Nẵng đã bỏ ra trong những năm qua”. Thành phố phát triển tốt về cơ sở hạ tằng giao thông, lưu trú. Nhưng những dịch vụ cho một nền du lịch chất lượng cao như: nhân lực, mua sắm, giải trí… chưa đáp ứng yêu cầu và đến nay Đà Nằng vẫn chưa triển khai việc hoàn thuế VAT cho du khách.
    21. 42. 40 – Chính sách hỗ trợ cho một số hoạt động du lịch của thành phố chậm được ban hành. Doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn trong vấn đề tiếp cận nguồn vốn để đầu tư, phát triển sản phẩm, chưa chủ động tạo sản phẩm du lịch đặc sắc, các sản phẩm du lịch hiện có chủ yếu phục vụ du lịch nội địa, chưa có nhiều sản phẩm đặc trưng hướng tới thị trường khách quốc tế. Việc chèo kéo du khách vẫn chưa được khắc phục triệt để. Trong kế hoạch phát triển tổng thể kinh tế, thành phố Đà Nẵng chưa giải quyết thỏa đáng bài toán lựa chọn ưu tiên giữa phát triến vùng du lịch ven biển với vùng dịch vụ hậu cần nghề cá và cảng biển… – Nhiều dự án đầu tư ven biển và tại trung tâm thành phố triển khai xây dựng chậm, thiếu quỹ đất để hình thành cụm khu vực mua sắm, vui chơi giải trí, nhất là vui chơi giải trí về đêm cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Các dịch vụ giải trí, thể thao biển chỉ mới khai thác một số môn thể thao nhưng giá dịch vụ còn cao. – Thành phố đã quy hoạch vị trí xây dựng cầu tàu, bến du thuyền, tuy nhiên các dự án chậm triển khai; điểm đến, tour tuyến chưa phong phú; thiếu cảng biển chuyên phục vụ du lịch; chưa khai thác hết tiềm năng tuyến biển đường Nguyễn Tất Thành; chậm hình thành chợ đêm và các khu mua sắm, ẩm thực, giải trí tập trung quy mô lớn. – Du lịch biển là thế mạnh, nhưng hình thành chưa đủ mạnh để cạnh tranh với các nước trong vùng và quốc tế, việc xác định sản phẩm đặc thù của Đà Nẵng vẫn còn chưa rõ nét. – Về phát triển tour, tuyến, tuy có sự phát triển mở rộng không gian, hình thành nhiều tour, tuyến mới nhưng việc khai thác vẫn còn hạn chế, chưa thực sự hấp dẫn thị trường khách quốc tế. – Chưa xây dựng và triển khai nhiều các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng để đổi mới tư duy về phát triển du lịch biển.
    22. 44. 42 phát triển du lịch biển còn hạn chế. – Kinh phí đầu tư cho phát triển du lịch biển chưa xứng tầm. – Năng lực của nhà quản lý trong hoạch định chính sách còn hạn chế về một số kỹ năng chính như kỹ năng dự báo, định hướng vấn đề… Kết luận Chương 2 Chương 2 đã đề cập đến quá trình thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng, các văn bản chính sách về du lịch đã đựợc Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành. Chính sách đánh giá ưu, khuyết điểm và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách: cách tiếp cận, phương pháp thực hiện; kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; công tác phổ biến, tuyên truyền; phân công phối hợp triển khai thực hiện giữa các sở, ban, ngành; công tác duy trì, điều chỉnh, kiểm tra, giám sát, đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách. Qua việc phân tích, đánh giá thực trạng, những vấn đề được rút ra về ưu, khuyết điểm và những tồn tại cần khắc phục trong thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng ở chương 2 là cơ sở thực tiễn quan trọng nhằm đề xuất những phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng.
    23. 45. 43 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Để việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng được nâng cao hơn nữa thì cần phải đổi mới tư duy phát triển du lịch, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trong các cấp, các ngành và nhân dân về vị trí, vai trò của ngành du lịch trong phát triển kinh tế – xã hội. Chuyển hướng du lịch thành phố theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ và sản phẩm du lịch; hình thành các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhằm kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của khách. Phát huy hơn nữa các lợi thế, xây dựng Đà Nẵng trở thành là điểm đến có thương hiệu, hấp dẫn và có sức cạnh tranh cao trong khu vực, nơi thường xuyên tổ chức các sự kiện lớn tầm cỡ khu vực và quốc tế; là điểm đến du lịch “xanh” hấp dẫn, an toàn, môi trường trong lành, con người thân thiện, văn minh; giữ vai trò trung tâm trong chuỗi phát triển du lịch miền Trung, tạo không gian du lịch toàn vùng, có đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều việc làm cho xã hội và có sức lan tỏa kéo theo nhiều ngành kinh tế khác phát triển. 3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Trong thời gian tới, ngành du lịch nói chung trong đó du lịch biển nói riêng, đặc biệt là ngành du lịch biển cao cấp được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố. Thông qua việc phát triển ngành du lịch nói chung trong đó có ngành du lịch biển nói riêng tạo cơ sở cho các ngành khác phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Giá Rẻ Phú Quốc Đi Bằng Máy Bay (03 Ngày 02 Đêm) Giá 3.995.000Đ/k
  • Khám Phá Biển Bình Tiên
  • Mổ Xẻ Yếu Kém Của Ngành Du Lịch
  • Tour Du Lịch Huế 1 Ngày Khởi Hành Từ Đà Nẵng Giá Rẻ
  • Review Kinh Nghiệm Du Lịch Jeju Tự Túc 3 Ngày 2 Đêm (Trải Nghiệm Thật)
  • Học Hỏi Các Chính Sách Phát Triển Du Lịch Từ Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhật Ký Du Lịch Bụi Lào (7): Gia Đình Người Úc
  • Du Lịch Cần Giờ Có Điểm Đến Nào Hấp Dẫn?
  • Ngày 5: Tham Quan Di Tích Lịch Sử Hiroshima
  • Nhật Ký Du Lịch Nhật Bản Ngày 18/4/2017
  • Nhật Ký Du Lịch Tự Túc Cùng Hdv Tiếng Việt Trải Nghiệm Kimono Tại Kyoto
  • Được mệnh danh là “xứ sở mặt trời mọc”, Nhật Bản thực sự là một trong những điểm du lịch nổi tiếng trên thế giới với những cảnh quan xinh đẹp và nền văn hóa hấp dẫn.

    Trong những năm gần đây, nhờ có chính sách quản lý, vận hành, phát triển du lịch hợp lý nên ngành du lịch của nước này đạt mức độ phát triển cao và ổn định, được du khách cũng như các chuyên gia du lịch thế giới đánh giá cao.

    Trong những năm từ 2000-2008 du lịch Nhật Bản đón lượng khách quốc tế rất hạn chế dao động từ 8-10 triệu khách/năm. Nguyên nhân là do Nhật Bản trước đây vốn nổi tiếng là thị trường gửi khách mà ít chú trọng tới việc thu hút khách du lịch quốc tế đến do những nguyên nhân như: sự ưu tiên của Chính phủ cho phát triển các ngành công nghiệp – điện tử, giá cả các sản phẩm dịch vụ du lịch rất cao làm hạn chế lượng khách quốc tế đến Nhật Bản.

    Năm 2011 sau thảm họa động đất và sóng thần lượng du khách đến Nhật chỉ còn 6,21 triệu/năm. Trước đó du lịch chưa bao giờ được đánh giá đầy đủ là một ngành kinh tế tiềm năng, có ảnh hưởng lớn tới cán cân thương mại và kinh tế của Nhật Bản.

    Chỉ sau khi thảm họa xảy ra, Nhật Bản muốn xây dựng lại hình ảnh đất nước mình trong mắt bạn bè và du khách quốc tế, khi đó Chính phủ và chính quyền các địa phương (đặc biệt là ở các khu vực bị thảm họa) cũng như các doanh nghiệp du lịch của Nhật Bản mới xúc tiến và đẩy mạnh hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản thông qua các chương trình du lịch trọn gói, giá rẻ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tốt.

    Từ con số 6,21 triệu lượt khách quốc tế năm 2011 đến 2022 Du lịch Nhật Bản đã đón 31,2 triệu lượt khách, tăng gần 5 lần. Nhật Bản đã trở thành cường quốc về du lịch chỉ đứng sau Trung Quốc về lượng khách. Khách quốc tế đã đem lại 4.518,9 tỷ yên (42,197 tỷ USD) hỗ trợ cho nền kinh tế đang có dấu hiệu chững lại của Nhật Bản.

    Đến năm 2022, số lượng du khách nước ngoài đến Nhật Bản lại tăng lên 31,88 triệu lượt. Cùng với đó là lượng chi tiêu của khách du lịch cho các dịch vụ, sản phẩm của Nhật Bản đạt kỷ lục 4,81 nghìn tỷ Yen (tương đương 43,6 tỷ USD) trong năm 2022.

    Theo Cơ quan du lịch quốc gia Nhật Bản, khoảng 75% khách du lịch quốc tế đến Nhật chọn lưu trú tại khách sạn, 18% ở tại các khách sạn kiểu Nhật, 12% ở nhà dân và phòng trọ gọi là “minpaku” cho khách du lịch thuê. Tỷ lệ kín phòng ở các khách sạn trong thành phố và khách sạn công vụ đạt khoảng 80% trên toàn quốc, nhưng thường kín phòng tại Tokyo và các thành phố chính như Nagoya, Osaka và Fukuoka và các khu vực phụ cận.

    Mục tiêu phát triển của du lịch Nhật Bản

    Mục tiêu cao nhất của Nhật Bản là “Ngành công nghiệp du lịch đẳng cấp thế giới!” Nhật Bản sẵn sàng đón khách du lịch quốc tế trên toàn quốc gia. Chính phủ mong muốn khuyến khích sự giao lưu văn hóa đa quốc gia để Nhật Bản có thể thực sự mở cửa với thế giới, nhanh chóng phát triển dịch vụ mới và các sáng kiến trong lĩnh vực du lịch để từ đó hình thành động lực cho phát triển kinh tế và công nghiệp của các vùng.

    Mục tiêu cụ thể:

    – Lượng khách du lịch quốc tế đến đạt 60 triệu người năm 2030

    – Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt 15.000 tỷ Yên năm 2030

    – Số đêm khách quốc tế nghỉ ngoài 3 khu đô thị chính đạt 130 triệu đêm/2030.

    – Lượng khách du lịch quốc tế quay lại Nhật đạt 36 triệu năm 2030.

    – Chi tiêu của khách du lịch nội địa cho du lịch đạt 22.000 tỷ Yên năm 2030.

    Để đạt được các mục tiêu đề ra và khắc phục vấn đề hiện tại, chiến lược đưa ra 3 tầm nhìn và 10 vấn đề cần cải cách:

    – Tầm nhìn 1: Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng.

    + Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công

    + Điều chỉnh sự cân bằng trong chính sách di sản từ “chỉ tập trung vào công tác bảo tồn” sang khuyến khích khách du lịch tìm hiểu nhiều hơn về điểm di sản.

    + Nâng cấp các vườn quốc hiện tại thành các vườn quốc gia đẳng cấp thế giới (mục tiêu 5 vườn quốc gia của Nhật Bản).

    + Xây dựng các kế hoạch cải tạo cảnh quan cho các khu vực du lịch chính.

    – Tầm nhìn 2: Tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo trong du lịch để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và đưa du lịch thành một trong những ngành công nghiệp chính.

    + Rà soát các quy định và quy tắc để ngành du lịch đạt hiệu quả cao hơn.

    + Tập trung phát triển các thị trường mới, thời gian lưu trú dài ngày hơn (thị trường Châu Âu, Mỹ, Úc; thị trường khách MICE).

    + Cải tạo và nâng cấp các khu resort nước suối khoáng nóng và các khu thị trấn địa phương thông qua cải cách phương án quản lý (xây dựng các mô hình DMOs đẳng cấp thế giới).

    – Tầm nhìn 3: Đảm bảo tất cả du khách có trải nghiệm thoải mái, thỏa mãn và stress-free.

    + Nâng cấp toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng cứng và mềm đề khách du lịch có thể hưởng thụ môi trường cơ sở lưu trú tốt nhất trên thế giới.

    + Hoàn thành việc xây dựng “hành lang khôi phục cấp vùng” để khách du lịch có thể di chuyển một cách thoải mái tới tất cả các điểm đến trên nước Nhật.

    + Hoàn thiện hệ thống “ngày làm việc” và “ngày nghỉ” tạo điều kiện cho người dân Nhật có kỳ nghỉ dài để đi du lịch.

    Để thực hiện các tầm nhìn và giải pháp trên, mỗi tầm nhìn sẽ có 8 đến 10 Dự án chính để có thể triển khai Chiến lược đạt mục tiêu đề ra. Các Dự án chính được thực hiện bởi nhiều dự án nhỏ với thời gian, địa điểm và quy mô dự án cụ thể được đưa ra.

    – Một số chính sách nổi bật hỗ trợ phát triển du lịch của Chính phủ Nhật Bản thời gian qua

    + Làm suy yếu đồng Yên Nhật đẩy mạnh xuất khẩu từ đó làm cho giá cả các mặt hàng tại Nhật giảm.

    + Thiết lập mạng lưới các mặt hàng miễn thuế

    + Đa dạng các tuyến bay và giảm giá vé máy bay

    + Miễn thị thực cho một số nước ( miễn thị thực cho 67 nước và vùng lãnh thổ) để thúc đẩy du lịch

    + Đẩy mạnh đầu tư cho du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch

    Bài học kinh nghiệm cho du lịch Việt Nam

    – Xây dựng chiến lược với tầm nhìn, giải pháp, kế hoạch thực hiện nhất quán, đồng bộ để đạt được mục tiêu chung đề ra.

    – Các giải pháp/hành động cụ thể, rõ ràng, với hoạt động cụ thể, thực hiện được, xác định được thời gian.

    – Các chính sách phát triển được thực hiện đồng bộ, sự kết hợp liên ngành thể hiện rõ ràng trong từng chính sách, trong đó đặt phát triển du lịch là trọng tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Phát Triển Thần Kỳ Của Du Lịch Nhật Bản
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Nhật Bản Và Những Bài Học Cho Xây Dựng Chính Sách Phát Triển Du Lịch Việt Nam
  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Úc
  • Dịch Vụ Làm Visa Đi Nhật Trọn Gói Tại Tphcm
  • Khi Nhận Hồ Sơ Xin Visa Du Lịch Nhật Bản, Happyvisa Cam Kết Đậu 99,9%
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Nhật Bản Và Những Bài Học Cho Xây Dựng Chính Sách Phát Triển Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Phát Triển Thần Kỳ Của Du Lịch Nhật Bản
  • Học Hỏi Các Chính Sách Phát Triển Du Lịch Từ Nhật Bản
  • Nhật Ký Du Lịch Bụi Lào (7): Gia Đình Người Úc
  • Du Lịch Cần Giờ Có Điểm Đến Nào Hấp Dẫn?
  • Ngày 5: Tham Quan Di Tích Lịch Sử Hiroshima
  • Khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt kỷ lục 28,7 triệu lượt năm 2022, tăng 19% so với năm trước và đang dần tiến tới mục tiêu của chính phủ Nhật là đón 40 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến năm 2022.

    Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật năm 2022 đạt 4.400 tỷ Yên, tăng 17% so với năm 2022. Du lịch quốc tế hiện là nhân tố chính khiến giá đất tại Nhật tăng cao ở các điểm đông khách du lịch.

    Hoa anh đào nở rộ bên bờ sông Matsukawa ở Toyama (JNTO)

    Theo Cơ quan du lịch quốc gia Nhật Bản, khoảng 75% khách du lịch quốc tế đến Nhật chọn lưu trú tại khách sạn, 18% ở tại các khách sạn kiểu Nhật, 12% ở nhà dân và phòng trọ gọi là “minpaku” cho khách du lịch thuê. Tỷ lệ kín phòng ở các khách sạn trong thành phố và khách sạn công vụ đạt khoảng 80% trên toàn quốc, nhưng thường kín phòng tại Tokyo và các thành phố chính như Nagoya, Osaka và Fukuoka và các khu vực phụ cận. Tuy nhiên, tỷ lệ kín phòng của các khách sạn truyền thống kiểu Nhật vẫn khá thấp, đạt khoảng 50-60%, lý do thường bởi các khách sạn này không ở địa điểm thuận tiện hoặc có dịch vụ phù hợp với khách du lịch nước ngoài.

    Chiến lược phát triển Du lịch Mới của Nhật Bản nhằm thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản (tháng 3/2016)

    Chiến lược đặt mục tiêu: ” Ngành công nghiệp du lịch đẳng cấp thế giới!” Nhật Bản sẵn sàng đón khách du lịch quốc tế trên toàn quốc gia. Chính phủ mong muốn khuyến khích sự giao lưu văn hóa đa quốc gia để Nhật Bản có thể thực sự mở cửa với thế giới, nhanh chóng phát triển dịch vụ mới và các sáng kiến trong lĩnh vực du lịch để từ đó hình thành động lực cho phát triển kinh tế và công nghiệp của các vùng.

    – Lượng khách du lịch quốc tế đến đạt 40 triệu người năm 2022, 60 triệu người năm 2030 (Mục tiêu cũ: 20 triệu năm 2022 và 30 triệu năm 2030)

    – Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt 8.000 tỷ Yên năm 2022, 15.000 tỷ Yên năm 2030 (Mục tiêu cũ: 4.000 tỷ Yên trong năm đầu tiên có 20 triệu khách QT)

    – Số đêm khách quốc tế nghỉ ngoài 3 khu đô thị chính đạt 70 triệu đêm/2020 và 130 triệu đêm/2030.

    – Lượng khách du lịch quốc tế quay lại Nhật đạt 24 triệu năm 2022 và 36 triệu năm 2030.

    – Chi tiêu của khách du lịch nội địa cho du lịch đạt 21.000 tỷ Yên năm 2022 và 22.000 tỷ Yên năm 2030.

    Để đạt được các mục tiêu đề ra và khắc phục vấn đề hiện tại, chiến lược đưa ra 3 tầm nhìn và 10 vấn đề cần cải cách:

    – Tầm nhìn 1: Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng.

    + Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công

    + Điều chỉnh sự cân bằng trong chính sách di sản từ “chỉ tập trung vào công tác bảo tồn” sang khuyến khích khách du lịch tìm hiểu nhiều hơn về điểm di sản (sử dụng tài sản văn hóa là cốt lõi cho 200 trung tâm du lịch; hình thành khoảng 1.000 dự án xây dựng hướng dẫn thông tin dễ hiểu cho du khách đa ngôn ngữ).

    + Nâng cấp các vườn quốc hiện tại thành các vườn quốc gia đẳng cấp thế giới (mục tiêu 5 vườn quốc gia của Nhật Bản).

    + Xây dựng các kế hoạch cải tạo cảnh quan cho các khu vực du lịch chính.

    – Tầm nhìn 2: Tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo trong du lịch để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và đưa du lịch thành một trong những ngành công nghiệp chính.

    + Rà soát các quy định và quy tắc để ngành du lịch đạt hiệu quả cao hơn.

    + Tập trung phát triển các thị trường mới, thời gian lưu trú dài ngày hơn (thị trường Châu Âu, Mỹ, Úc; thị trường khách MICE).

    + Cải tạo và nâng cấp các khu resort nước suối khoáng nóng và các khu thị trấn địa phương thông qua cải cách phương án quản lý (xây dựng các mô hình DMOs đẳng cấp thế giới).

    – Tầm nhìn 3: Đảm bảo tất cả du khách có trải nghiệm thoải mái, thỏa mãn và stress-free.

    + Nâng cấp toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng cứng và mềm đề khách du lịch có thể hưởng thụ môi trường cơ sở lưu trú tốt nhất trên thế giới.

    + Hoàn thành việc xây dựng “hành lang khôi phục cấp vùng” để khách du lịch có thể di chuyển một cách thoải mái tới tất cả các điểm đến trên nước Nhật (khách du lịch quốc tế được mua Thẻ đi tàu toàn quốc khi tới Nhật, nâng cấp các tuyến tàu cao tốc Shinkansen, xây mới các sân bay nội địa).

    + Hoàn thiện hệ thống “ngày làm việc” và “ngày nghỉ” tạo điều kiện cho người dân Nhật có kỳ nghỉ dài để đi du lịch.

    Để thực hiện các tầm nhìn và giải pháp trên, mỗi tầm nhìn sẽ có 8 đến 10 Dự án chính để có thể triển khai Chiến lược đạt mục tiêu đề ra. Các Dự án chính được thực hiện bởi nhiều dự án nhỏ với thời gian, địa điểm và quy mô dự án cụ thể được đưa ra.

    Ví dụ: với Tầm nhìn 1 – Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng, hành động cần làm là Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công.

    Dự án cần thực hiện sẽ là: Các điểm di sản nổi bật về giá trị lịch sử và truyền thống của Chính phủ sẽ được mở cửa cho tất cả các đối tượng du khách, như Nhà khách chính phủ ở Kyoto, Nhà khách Chính phủ ở Akasaka.

    Các dự án nhỏ: 1) Mở cửa tự do cả năm vào thăm Nhà khách Chính phủ ở Akasaka, bắt đầu từ 19/4/2016, trừ khi nơi này được sử dụng cho các sự kiện của chính phủ; 2) Mở cửa thử nghiệm từ ngày 28/4 đến 9/5 cho Nhà khách chính phủ ở Kyoto, dựa vào đó, mở cửa quanh năm muộn nhất vào cuối tháng 7/2016; 3) Việc mở cửa tự do cho các điểm của chính phủ khác sẽ được cân nhắc nếu có giá trị khai thác cho du lịch.

    Một số chính sách cụ thể hỗ trợ phát triển du lịch của Chính phủ Nhật Bản thời gian qua

    – Coi du lịch là động lực để phát triển cho các khu vực phụ cận vào nông thôn (không phải là các trung tâm đô thị chính);

    – Năm 2013, thực hiện thỏa thuận “Bầu trời mở”, cho phép tăng chuyến bay tới các sân bay quốc tế;

    – Năm 2014, miễn thị thực cho công dân của Thái Lan và Malaysia. Năm 2022, đơn giản hóa thủ tục xin visa cho công dân Trung Quốc, theo đó, người Trung Quốc với mức thu nhập trên mức quy định có thể có visa 5 năm vào Nhật Bản;

    – Hạ giá trị đồng Yên xuống 30% so với đồng Đô la Mỹ trong giai đoạn 2012-2015

    Bài học kinh nghiệm cho du lịch Việt Nam

    – Xây dựng chiến lược với tầm nhìn, giải pháp, kế hoạch thực hiện nhất quán, đồng bộ để đạt được mục tiêu chung đề ra.

    – Các giải pháp/hành động cụ thể, rõ ràng, với hoạt động cụ thể, thực hiện được, xác định được thời gian.

    – Các chính sách phát triển được thực hiện đồng bộ, sự kết hợp liên ngành thể hiện rõ ràng trong từng chính sách, trong đó đặt phát triển du lịch là trọng tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Úc
  • Dịch Vụ Làm Visa Đi Nhật Trọn Gói Tại Tphcm
  • Khi Nhận Hồ Sơ Xin Visa Du Lịch Nhật Bản, Happyvisa Cam Kết Đậu 99,9%
  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản
  • Nhận Làm Visa Du Lịch Hàn Quốc Vắng Mặt
  • Chính Sách Hỗ Trợ Đầu Tư Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Trong Phát Triển Du Lịch Bền Vững Đảo Phú Quốc, Kiên Giang
  • Thực Hiện Chính Sách Phát Triển Du Lịch Từ Thực Tiễn Tỉnh Quảng Nam (Luận Văn
  • Quảng Nam Tập Trung Hỗ Trợ Phát Triển Du Lịch Miền Núi
  • Thực Thi Chính Sách Phát Triển Du Lịch Tại Thành Phố Đà Nẵng
  • Xây Dựng Và Phát Triển Du Lịch Bà Rịa
  • Về nguyên tắc áp dụng, trong cùng một thời điểm, nếu có nhiều CSHT đầu tư từ Nhà nước với cùng nội dung và đối tượng HT thì được hưởng mức HT cao nhất từ nguồn kinh phí của địa phương. Đồng thời, các tổ chức, cá nhân được hưởng cùng lúc nhiều CS ưu đãi và HT đầu tư tại quy định này nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện ưu đãi và HT đầu tư theo quy định.

    Theo đó, một số CSHT được quy định, như: XD mới và sửa chữa, nâng cấp cơ sở lưu trú DL; XD nhà hàng kết hợp bán đặc sản An Giang; XD khu mua sắm, nhà vệ sinh công cộng đạt tiêu chuẩn phục vụ khách DL; đầu tư khai thác DL sông nước; HT PTDL cộng đồng; hỗ trợ lãi suất cho vay đầu tư PT loại hình DL cộng đồng.

    Về XD mới và sửa chữa nâng cấp cơ sở lưu trú DL, tỉnh HT đầu tư xây cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn 3 sao tại các huyện: Chợ Mới, Châu Thành, Phú Tân, An Phú, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú và TX. Tân Châu, với mức HT mỗi dự án tối đa 2 tỷ đồng, mỗi địa phương được thực hiện 1 dự án.

    Đầu tư xây mới hoặc sửa chữa cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn 4 sao được HT 50 triệu đồng/phòng ngủ tại TP. Long Xuyên và TP. Châu Đốc, mức HT tối đa 3 tỷ đồng/dự án, mỗi địa phương được HT 1 dự án. Đầu tư xây mới hoặc sửa chữa cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn 5 sao được HT 60 triệu đồng/phòng ngủ tại TP. Long Xuyên và TP. Châu Đốc, mỗi địa phương được HT 1 dự án, mức HT tối đa 4-6 tỷ đồng/dự án.

    XD nhà hàng kết hợp bán đặc sản An Giang, tỉnh HT XD mới 10 dự án nhà hàng kết hợp bán đặc sản An Giang gắn với các khu, điểm DL trọng điểm của tỉnh, điều kiện HT là diện tích xây dựng từ 200m2 trở lên (không bao gồm bãi đỗ xe, khuôn viên và công trình phụ trợ) đáp ứng năng lực phục vụ tối thiểu 100 khách cùng một lúc.

    Nhà hàng đạt tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước, gồm: phòng ăn, nhà bếp, nhà vệ sinh có hồ sơ, thiết kế xây dựng được duyệt, có báo cáo thẩm định của cơ quan chức năng. Mức HT 500.000 đồng/m2 (gồm cả hạng mục nhà vệ sinh; không gồm các hạng mục khuôn viên, tiểu cảnh, hoa viên tạo cảnh quan), mức HT tối đa 500 triệu đồng/dự án.

    XD khu mua sắm đạt tiêu chuẩn phục vụ khách DL, tỉnh HT XD mới 10 dự án khu mua sắm đạt chuẩn phục vụ khách DL gắn với các khu, điểm DL trọng điểm của tỉnh hoặc trạm dừng chân, mức HT 500.000 đồng/m2 (gồm cả hạng mục nhà vệ sinh nếu có; không gồm khuôn viên, tiểu cảnh, hoa viên tạo cảnh quan), mức HT tối đa 100 triệu đồng/dự án. XD nhà vệ sinh công cộng đạt tiêu chuẩn phục vụ khách DL, HT đầu tư 20 dự án XD mới nhà vệ sinh đạt chuẩn tại các khu, điểm DL, khu vui chơi giải trí, trạm dừng chân được tỉnh phê duyệt danh sách hàng năm sau khi có báo cáo đánh giá của các cơ quan chuyên môn. Mức HT 10% tổng mức phí của dự án, mức HT tối đa 20 triệu đồng/dự án.

    Đầu tư khai thác DL sông nước, HT đầu tư khai thác tuyến DL đường sông trên địa bàn có giá trị về văn hóa, lịch sử, cảnh quan, đủ điều kiện tổ chức đầu tư khai thác DL đã được cơ quan có thẩm quyền tổ chức khảo sát đánh giá tiềm năng, đảm bảo điều kiện và tính khả thi khai thác, phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt. HT đầu tư tàu, bến tàu, cầu tàu đón khách DL và các trang thiết bị bảo đảm an toàn cho du khách.Địa bàn HT khai thác tại các tuyến DL đường sông tại các huyện: An Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Thoại Sơn, TX. Tân Châu, TP. Long Xuyên và TP. Châu Đốc. Mỗi địa phương HT đầu tư 1 dự án XD mới, với định mức HT 10% tổng mức chi phí của dự án, mỗi dự án tối đa 2 tỷ đồng.

    HT PTDL cộng đồng, kinh doanh loại hình nhà có phòng cho khách DL thuê (loại hình homestay). HT các tổ chức, hộ gia đình làm kinh doanh loại hình nhà ở có phòng cho khách DL thuê (loại hình homestay) tại 11 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh nơi có giá trị lịch sử văn hóa, cảnh quan, môi trường đủ điều kiện khai thác DL có quy mô đón, phục vụ tối thiểu từ 20 khách trở lên. Nội dung hỗ trợ, gồm: kinh phí mua sắm trang thiết bị, cải tạo cảnh quan, thiết kế kiến trúc trong nhà phục vụ khách lưu trú. Mức hỗ trợ 50 triệu đồng cho một dự án có qui mô đón, phục vụ từ 20 khách đến dưới 40 khách. Hỗ trợ 80 triệu đồng cho một dự án với quy mô đón, phục vụ từ 40 khách trở lên.

    HT lãi suất cho vay đầu tư PT loại hình DL cộng đồng đối với các đối tượng là các tổ chức hoặc hộ gia đình có nhu cầu vay vốn đầu tư phát triển loại hình DL cộng đồng trên địa bàn tỉnh. Mỗi tổ chức hoặc hộ gia đình được hỗ trợ 1 lần. Mức HT 50% lãi suất tiền vay trong hạn khi vay vốn ở các ngân hàng để đầu tư PT loại hình DL cộng đồng, số nợ vay HT tối đa không quá 2 tỷ đồng/tổ chức hoặc hộ gia đình. Các nội dung HT nêu trên được thực hiện sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng, đủ điều kiện được thẩm định và công nhận theo quy định.

    MINH THƯ

    --- Bài cũ hơn ---

  • An Giang Phát Triển Du Lịch Trở Thành Điểm Đến Hấp Dẫn
  • Kinh Nghiệm Phát Triển Du Lịch Của Thái Lan Và Một Số Gợi Ý Đối Với Việt Nam
  • Chiến Lược Marketing Của Vietravel
  • Chiến Lược Mới Cho Sự Phát Triển Của Du Lịch Quảng Ninh
  • Quảng Nam Phát Triển Du Lịch Nông Nghiệp
  • Đưa Chính Sách Phát Triển Du Lịch Vào Cuộc Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Phát Triển Vùng Ảnh Hưởng Như Nào Đến Vinpearl Nam Hội An?
  • Hội Thảo Bàn Về Chính Sách Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Tại Việt Nam
  • Phú Quốc Đẩy Mạnh Phát Triển Du Lịch Biển
  • Phú Quốc Phát Triển Du Lịch Gắn Với Bảo Vệ Môi Trường Biển
  • Từng Bước Khẳng Định Thương Hiệu Du Lịch Quảng Bình
  • Có thể hiểu rằng, Chính sách phát triển du lịch là tập hợp các chủ trươnghành động của Nhà nước để đấy mạnh phát triển du lịch bằng cách tác động vào việc cung cấp và giá cả của các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng); tác động tới giá sản phẩm du lịch; tác động đến số lượng khách du lịch; tác động việc thay đổi tổ chức và năng lực của nguồn nhân lực du lịch; tác động vào việc chuyển giao công nghệ du lịch… Hai vế quan trọng của chính sách là chủ trương và hành động, chủ trương tốt và hành động quyết liệt sẽ đảm bảo chính sách thành công.

    Trong bối cảnh hiện nay, rất cần những chính sách phát triển du lịch chủ yếu sau:

    Chính sách tạo nguồn lực: Về chủ trương, cần huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển để bảo đảm du lịch phát huy vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn. Về hành động, ưu tiên, hỗ trợ phát triển các loại hình du lịch biển đảo, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lich văn hóa, du lịch MICE; ưu tiên các dự án phát triển du lịch gắn liền với bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

    Chính sách về đất đai và vốn: Chủ trương là khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch; tuyên truyền, quảng bá du lịch; phát triển nguồn nhân lực du lịch; nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm du lịch mới; hiện đại hóa hoạt động du lịch; xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch cao cấp và khu du lịch quốc gia; phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch nhưng điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, ở vùng sâu, vùng xa, nhằm sử dụng lao động, hàng hóa và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xóa đói, giảm nghèo. Hành động là: giảm tiền thuê đất, ưu tiên cho cơ sở lưu trú và khu du lịch sử dụng nhiều diện tích đất cho tạo cảnh quan và bảo vệ môi trường; được cấp và cho vay tín dụng với lãi suất ưu đãi, ân hạn dài; ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo du lịch đạt chuẩn.

    Chính sách bố trí ngân sách: Chủ trương là ưu tiên cho công tác quy hoạch; hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực du lịch. Về hành động, cần xem xét một cách minh bạch, đơn giản hóa thủ tục quyết định cấp ngân sách và cấp ngân sách đủ, đúng, nhanh theo lộ trình.

    Chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho tiếp cận điểm đến: Chủ trương là tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch. Hành động là: tiếp tục xem xét mở rộng diện miễn visa nhập cảnh đơn phương cho công dân một số thị trường du lịch trọng điểm của Việt Nam; áp dụng cấp visa tại cửa khẩu; đơn giản hóa thủ tục cấp visa; thực hiện cấp visa trực tuyến; đẩy mạnh phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; ưu đãi đầu tư xây dựng các điểm dừng chân đạt chuẩn trên các tuyến du lịch quốc gia; xây dựng cảng biển du lịch tại các cảng biển trọng điểm của Việt Nam; tạo điều kiện cho khách quốc tế mang phương tiện giao thông riêng vào Việt Nam du lịch.

    Chính sách xã hội hóa du lịch: Về chủ trương, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế về du lịch. Hành động là: đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động du lịch; huy động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia quảng bá cho du lịch Việt Nam, hỗ trợ thành lập và hoạt động của văn phòng đại diện du lịch Việt Nam tại nước sở tại ngoài…

    Chính sách về quỹ hỗ trợ phát triển du lịch: Chủ trương là khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch từ các nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Hành động là: Áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% đối với doanh thu đón khách du lịch quốc tế vào Việt Nam; hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách du lịch quốc tế khi mua hàng của Việt Nam mang ra; giảm và cho chậm nộp thuế trong các trường hợp cần thiết; sử dụng lãi suất từ tiền ký quỹ của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế gửi ngân hàng thương mại để thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch; vận động, khai thác và tiếp nhận đóng góp cho quỹ hỗ trợ phát triển du lịch của mọi tổ chức và cá nhân tình nguyện.

    Chính sách về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch: Chủ trương là cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi hợp pháp từ hoạt động du lịch. Về hành động, cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bản sắc văn hoá địa phương của cộng đồng; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường để tạo sự hấp dẫn du lịch; tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư được đầu tư phát triển du lịch, khôi phục và phát huy các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công truyền thống; sử dụng lao động và nguyên liệu địa phương để sản xuất hàng hóa phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương;

    Chính sách về hiệp hội du lịch: Chủ trương là cho phép và tạo điều kiện cho hiệp hội du lịch được thành lập và hoạt động thuận lợi theo quy định của pháp luật. Về hành động, cần xem xét đơn giản hóa thủ tục thành lập hiệp hội, hội và câu lạc bộ nghề nghiệp du lịch; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và góp phần thúc đẩy sự phát triển của các thành viên; tạo điều kiện thuận lợi cho hiệp hội du lịch tham gia tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch, tham gia xây dựng, tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về du lịch.

    Chính sách quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch: Chủ trương là: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch; cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch; chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch. Hành động là: Các Bộ, ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch quốc gia phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

    Chính sách về bảo vệ môi trường du lịch: Về chủ trương, môi trường du lịch cần được bảo vệ, tôn tạo và phát triển nhằm bảo đảm du lịch xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh. Theo đó, các b ộ, ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình ban hành các quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch; Ủy ban nhân dân các cấp có biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương; tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình gây ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong cơ sở kinh doanh của mình; khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và các tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và Du lịch Việt Nam; ưu tiên các dự án du lịch gắn với sử dụng năng lực sạch, áp dụng mô hình 3R góp phần giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.

    Như vậy, chính sách phát triển du lịch phải là một hệ thống đồng bộ những chủ trương và hành động thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, phù hợp xu thế phát triển du lịch của thời đại, đáp ứng mong muốn của nhân dân và đúng định hướng phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước.

    TS. Nguyễn Văn Lưu (Tạp chí Du lịch)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội An Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Thái Lan Điều Chỉnh Chính Sách Phát Triển Du Lịch
  • Bài Học Kinh Nghiệm Tổ Chức Quản Lý Phát Triển Du Lịch Của Một Số Nước
  • 5 Yếu Tố Nền Tảng Khiến Singapore Trở Thành Con Rồng Châu Á
  • Bình Định Phát Triển Du Lịch Kéo Thị Trường Bất Động Sản Đi Lên Mchính Sách Phát Triển Du
  • Thái Lan Điều Chỉnh Chính Sách Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội An Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Đưa Chính Sách Phát Triển Du Lịch Vào Cuộc Sống
  • Chính Sách Phát Triển Vùng Ảnh Hưởng Như Nào Đến Vinpearl Nam Hội An?
  • Hội Thảo Bàn Về Chính Sách Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Tại Việt Nam
  • Phú Quốc Đẩy Mạnh Phát Triển Du Lịch Biển
  • Bộ trưởng Kobkarn cho biết, từ thực tế, Cục Du lịch Thái Lan cũng xây dựng kế hoạch tương tự. Ví dụ như chương trình 12 thành phố du lịch không thể bỏ qua, thu nhập từ du lịch của các thành phố tham gia chương trình này trong năm ngoái đã tăng 15%. Những ý tưởng giúp du lịch thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, giúp dân nghèo tăng thu nhập đang được áp dụng vào công tác phát triển du lịch của Thái Lan. Nhà chức trách Thái Lan cho rằng, nếu nâng cao việc thu thập dữ liệu thì có thể nêu bật rõ hơn mục tiêu của công tác này.

    Cùng với việc điều chỉnh chính sách phát triển, Thái Lan cũng mới ban lệnh cấm kinh doanh dịch vụ du lịch trên 3 đảo

    Lệnh cấm bắt đầu có hiệu lực từ ngày 24/5 tại ba hòn đảo đang là điểm hút du khách quốc tế ở Thái Lan: Koh Khai Nok, Koh Khai Nui và Koh Khai Nai. Tại các địa điểm này, song song với sự gia tăng du khách là hàng loạt nhà hàng, khách sạn… mọc lên như nấm. Lệnh cấm chỉ là giải pháp tạm thời, nhưng chính quyền Thái Lan hy vọng nó sẽ phần nào bảo vệ được tài nguyên của nước mình.

    Việc du khách dành nhiều giờ để bơi, cho cá ăn, lặn biển… ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển, đặc biệt là trên các rặng san hô. Do đó, các nhà chức trách Thái Lan đã ban hành lệnh cấm kinh doanh du lịch tại ba hòn đảo trên. Người dân sẽ phải tháo dỡ các thiết bị và công trình xây dựng phục vụ du khách như ghế, dù che, các cửa hàng, nhà hàng trên đảo. Các công ty lữ hành cũng được thông báo về việc này trong một cuộc họp vào ngày 24/5.

    Trước đó, một lệnh cấm tương tự đã được ban hành tại đảo Koh Tachai, ngoài khơi bờ biển phía tây của Thái Lan. Nhữnglệnh cấm này được ban hành ra với mong muốn những tuor du lịch thân thiện với môi trường có “đất” để phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Học Kinh Nghiệm Tổ Chức Quản Lý Phát Triển Du Lịch Của Một Số Nước
  • 5 Yếu Tố Nền Tảng Khiến Singapore Trở Thành Con Rồng Châu Á
  • Bình Định Phát Triển Du Lịch Kéo Thị Trường Bất Động Sản Đi Lên Mchính Sách Phát Triển Du
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Của Quy Nhơn
  • Đẩy Mạnh Phát Triển Du Lịch Bình Định (*)
  • Chính Sách Phát Triển Du Lịch Nhật Bản Và Những Bài Học Cho Xây Dựng Chính Sách Phát Triển Du Lịch Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhu Cầu Của Khách Du Lịch Và Những Đặc Trưng Của Nó
  • 【Tokyo】 Top 10 Điểm Tham Quan Có Phong Cảnh Hùng Vĩ Ở Khu Vực Phía Tây Tokyo (Tama – Okutama)
  • Những Địa Điểm Tham Quan Đẹp Ở Kyoto
  • 15 Địa Điểm Check In Miễn Phí Ở Đà Nẵng Không Phải Ai Cũng Biết!
  • 10 Địa Điểm Du Lịch Đà Nẵng Miễn Phí Và Cực Kỳ Thú Vị
  •    Khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt kỷ lục 28,7 triệu lượt năm 2022, tăng 19% so với năm trước và đang dần tiến tới mục tiêu của chính phủ Nhật là đón 40 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến năm 2022.

    Lượng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản giai đoạn 1964-2016

    Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản năm 2022

       Khách du lịch đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông chiếm 70% tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản. Số lượng khách du lịch Trung Quốc tăng 15% đạt 7,35 triệu, Hàn Quốc tăng 40% đạt 7,14 triệu lượt[3]. Tuy nhiên, trong quá khứ, lượng khách du lịch từ 2 quốc gia này đột ngột giảm khi mối quan hệ giữa Nhật Bản và 2 nước này bị ảnh hưởng từ các vấn đề chính trị. Vì vậy, để tránh việc phụ thuộc vào 2 thị trường lớn và nhạy cảm với chính trị này, Chính phủ Nhật Bản tập trung vào các thị trường như các quốc gia khác ở Châu Á, Mỹ, Châu Úc, Châu Âu.

    Chiến lược phát triển Du lịch Mới của Nhật Bản nhằm thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản (tháng 3/2016)

       Chiến lược đặt mục tiêu: “Ngành công nghiệp du lịch đẳng cấp thế giới!” Nhật Bản sẵn sàng đón khách du lịch quốc tế trên toàn quốc gia. Chính phủ mong muốn khuyến khích sự giao lưu văn hóa đa quốc gia để Nhật Bản có thể thực sự mở cửa với thế giới, nhanh chóng phát triển dịch vụ mới và các sáng kiến trong lĩnh vực du lịch để từ đó hình thành động lực cho phát triển kinh tế và công nghiệp của các vùng.

       Mục tiêu cụ thể:

       – Lượng khách du lịch quốc tế đến đạt 40 triệu người năm 2022, 60 triệu người năm 2030 (Mục tiêu cũ: 20 triệu năm 2022 và 30 triệu năm 2030)

       – Chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản đạt 8.000 tỷ Yên năm 2022, 15.000 tỷ Yên năm 2030 (Mục tiêu cũ: 4.000 tỷ Yên trong năm đầu tiên có 20 triệu khách QT)

       – Số đêm khách quốc tế nghỉ ngoài 3 khu đô thị chính đạt 70 triệu đêm/2020 và 130 triệu đêm/2030.

       – Lượng khách du lịch quốc tế quay lại Nhật đạt 24 triệu năm 2022 và 36 triệu năm 2030.

       – Chi tiêu của khách du lịch nội địa cho du lịch đạt 21.000 tỷ Yên năm 2022 và 22.000 tỷ Yên năm 2030.

       Để đạt được các mục tiêu đề ra và khắc phục vấn đề hiện tại, chiến lược đưa ra 3 tầm nhìn và 10 vấn đề cần cải cách:

       – Tầm nhìn 1: Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng.

       + Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công

       + Điều chỉnh sự cân bằng trong chính sách di sản từ “chỉ tập trung vào công tác bảo tồn” sang khuyến khích khách du lịch tìm hiểu nhiều hơn về điểm di sản (sử dụng tài sản văn hóa là cốt lõi cho 200 trung tâm du lịch; hình thành khoảng 1.000 dự án xây dựng hướng dẫn thông tin dễ hiểu cho du khách đa ngôn ngữ).

       + Nâng cấp các vườn quốc hiện tại thành các vườn quốc gia đẳng cấp thế giới (mục tiêu 5 vườn quốc gia của Nhật Bản).

       + Xây dựng các kế hoạch cải tạo cảnh quan cho các khu vực du lịch chính.

       – Tầm nhìn 2: Tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo trong du lịch để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và đưa du lịch thành một trong những ngành công nghiệp chính.

              + Rà soát các quy định và quy tắc để ngành du lịch đạt hiệu quả cao hơn.

              + Tập trung phát triển các thị trường mới, thời gian lưu trú dài ngày hơn (thị trường Châu Âu, Mỹ, Úc; thị trường khách MICE).

              + Cải tạo và nâng cấp các khu resort nước suối khoáng nóng và các khu thị trấn địa phương thông qua cải cách phương án quản lý (xây dựng các mô hình DMOs đẳng cấp thế giới).

    – Tầm nhìn 3: Đảm bảo tất cả du khách có trải nghiệm thoải mái, thỏa mãn và stress-free.

       + Nâng cấp toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng cứng và mềm đề khách du lịch có thể hưởng thụ môi trường cơ sở lưu trú tốt nhất trên thế giới.

       + Hoàn thành việc xây dựng “hành lang khôi phục cấp vùng” để khách du lịch có thể di chuyển một cách thoải mái tới tất cả các điểm đến trên nước Nhật (khách du lịch quốc tế được mua Thẻ đi tàu toàn quốc khi tới Nhật, nâng cấp các tuyến tàu cao tốc Shinkansen, xây mới các sân bay nội địa).

       + Hoàn thiện hệ thống “ngày làm việc” và “ngày nghỉ” tạo điều kiện cho người dân Nhật có kỳ nghỉ dài để đi du lịch.

       Để thực hiện các tầm nhìn và giải pháp trên, mỗi tầm nhìn sẽ có 8 đến 10 Dự án chính để có thể triển khai Chiến lược đạt mục tiêu đề ra. Các Dự án chính được thực hiện bởi nhiều dự án nhỏ với thời gian, địa điểm và quy mô dự án cụ thể được đưa ra.

       Ví dụ: với Tầm nhìn 1 – Tối đa hóa sự hấp dẫn của các tài nguyên du lịch để đưa du lịch thành nền tảng cho sự khôi phục cấp vùng, hành động cần làm là Thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế vào tham quan các điểm di sản công.

       Dự án cần thực hiện sẽ là: Các điểm di sản nổi bật về giá trị lịch sử và truyền thống của Chính phủ sẽ được mở cửa cho tất cả các đối tượng du khách, như Nhà khách chính phủ ở Kyoto, Nhà khách Chính phủ ở Akasaka.

       Các dự án nhỏ: 1) Mở cửa tự do cả năm vào thăm Nhà khách Chính phủ ở Akasaka, bắt đầu từ 19/4/2016, trừ khi nơi này được sử dụng cho các sự kiện của chính phủ; 2) Mở cửa thử nghiệm từ ngày 28/4 đến 9/5 cho Nhà khách chính phủ ở Kyoto, dựa vào đó, mở cửa quanh năm muộn nhất vào cuối tháng 7/2016; 3) Việc mở cửa tự do cho các điểm của chính phủ khác sẽ được cân nhắc nếu có giá trị khai thác cho du lịch.

       Một số chính sách cụ thể hỗ trợ phát triển du lịch của Chính phủ Nhật Bản thời gian qua

       – Coi du lịch là động lực để phát triển cho các khu vực phụ cận vào nông thôn (không phải là các trung tâm đô thị chính);

       – Năm 2013, thực hiện thỏa thuận “Bầu trời mở”, cho phép tăng chuyến bay tới các sân bay quốc tế;

       – Năm 2014, miễn thị thực cho công dân của Thái Lan và Malaysia. Năm 2022, đơn giản hóa thủ tục xin visa cho công dân Trung Quốc, theo đó, người Trung Quốc với mức thu nhập trên mức quy định có thể có visa 5 năm vào Nhật Bản;

       – Hạ giá trị đồng Yên xuống 30% so với đồng Đô la Mỹ trong giai đoạn 2012-2015

       Bài học kinh nghiệm cho du lịch Việt Nam

       – Xây dựng chiến lược với tầm nhìn, giải pháp, kế hoạch thực hiện nhất quán, đồng bộ để đạt được mục tiêu chung đề ra.

       – Các giải pháp/hành động cụ thể, rõ ràng, với hoạt động cụ thể, thực hiện được, xác định được thời gian.

       – Các chính sách phát triển được thực hiện đồng bộ, sự kết hợp liên ngành thể hiện rõ ràng trong từng chính sách, trong đó đặt phát triển du lịch là trọng tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đối Thủ Cạnh Tranh Của Du Lịch
  • “Giấy Bảo Hành” Cho Môi Trường Du Lịch
  • Kích Cầu Du Lịch Bằng Âm Nhạc
  • Bạn Có Chắc Phân Biệt Được Khách Sạn, Nhà Nghỉ, Homestay & Resort?
  • Phân Biệt Nhà Nghỉ Du Lịch & Nhà Nghỉ Bình Dân Có Gì Khác Nhau
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×