Cơ Quan Quản Lý Du Lịch Tại Địa Phương

--- Bài mới hơn ---

  • Dịch Vụ Du Lịch Là Gì? Tìm Hiểu Các Loại Hình Dịch Vụ Du Lịch
  • (2021) Top 10 Công Ty Du Lịch Uy Tín, Chất Lượng Tại Huế
  • Cập Nhật Bảng Giá Vé Các Dịch Vụ Du Lịch Ở Nha Trang
  • Top Công Ty Du Lịch Tại Nha Trang Uy Tín Và Chất Lượng
  • Tìm Hiểu Top 20 Công Ty Du Lịch Cần Thơ Uy Tín Nhất
  • 1.Vị trí, chức năng của sở Du lịch

    Sở Du lịch ra đời theo Quyết định số 171/1993/TTg ngày 17/04/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Sở Du lịch ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Sở Du lịch là cơ quan giúp Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các hoạt động du lịch trên phạm vi tỉnh, thành phố; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng cục Du lịch.

    2.Nhiệm vụ, quyền hạn của sở Du lich

    2. Tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ, luật pháp Nhà nước về du lịch tại địa phương.

    4.Cung cấp các thông tin kinh tế – kỹ thuật của ngành và hưóng dẫn việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh, thành phố nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong kinh doanh du lịch.

    5.Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố việc thành lập, giải thể các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoạt động về du lịch, khách sạn và các dịch vụ bổ sung khác trên địa bàn tỉnh, thành phố.

    Chuẩn bị thủ tục để ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đề nghị Tổng cục Du lịch thẩm định về thành lập các doanh nghiệp Nhà nước về du lịch thuôc đia phương trước khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ra quyết định.

    Trình Chủ tịch Uy ban nhân dân tỉnh, thành phô viộc cấp giấy phép đầu tư đối vói các hợp đồng liên doanh, hợp tác đầu tư giữa các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần địa phương với người nước ngoài và nước ngoài đầu tư vào địa phương về du lịch và khách sạn để Chủ tịch Uỷ ban nhân dân đề nghị uỷ ban Nhà nước về hợp tác và địa đầu tu và Tổng cục Du lịch cấp giấy phép.

    6.Hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị kinh doanh du lịch thực hiện chủ định hướng kinh doanh của ngành, các chế độ quản lý tài chính, tài sản, tiền vốn, lao động tiền lương v.v… đã được Nhà nước, Tổng cục Du lịch và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố giao theo quy định của pháp luật.

    7.Chỉ đạo thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý và kinh doanh du lịch cho viên chức thuộc ngành ở địa phương theo kế hoạch của uỷ ban nhân dân và của Tổng cục Du lịch giao.

    3.Cơ cấu tổ chức của sở Du lịch

    Sở Du lịch do Giám đốc Sở phụ trách. Giám đốc Sở do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm sau khi có thoả thuận bằng văn bản của Tổng cục trưỏng Tổng cục Du lịch.

    Giúp việc Giám đốc sở có các Phó giám đốc do Giám đốc Sở đề nghị, Chủ tịch Ưỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố ra quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm.

    Giám đốc Sở chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố về mọi hoạt động của sở.

    Biên chế của Sở du lịch do Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định trong tổng số biên chế quản lý Nhà nước của địa phương.

    Việc bô’ trí cán bộ phải theo tiêu chuẩn, chức danh ngạch công chức Nhà nước thuộc ngành du lịch.

    Các tỉnh chưa có sở du lịch, Chủ tịch uỷ ban tỉnh giao cho Sở Thương mại và Du lịch thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về du lịch ở địa phương.

    Đối với Sở Thương Mại – Du lịch, Sở Du lịch – Thương Mại,…tuy có khác Sở Du lịch về cơ cấu tổ chức nhưng nhiệm vụ quản lý nhà nước về Du lịch thì giống Sở Du lịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Đà Nẵng Hút Khách Trở Lại
  • Phát Triển Du Lịch Quảng Nam Và Đà Nẵng Hậu Covid
  • Phát Triển Du Lịch Đà Nẵng Theo Hướng Bền Vững, Hài Hòa Môi Trường
  • Những Bài Viết Hay Trên Facebook Về Lợi Ích Của Du Lịch
  • Những Bãi Biển Đẹp Nhất Miền Bắc.
  • Quản Lý Quy Hoạch Phát Triển Các Khu Du Lịch “resort” Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Khu Du Lịch Đại Lải
  • 10 Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Cần Thơ “nức Tiếng” Trong Và Ngoài Nước
  • Vns360:các Khu Du Lịch Đẹp Trong Nước
  • Những Khu Du Lịch Sinh Thái “trốn Nắng” Sài Gòn Dịp Tết Dương Lịch
  • Các Khu Du Lịch Ven Biển Thiếu Nước Ngọt
  • Thứ năm, 27/07/2006 00:00

    Một số nội dung về Quy hoạch phát triển và quản lý khu du lịch “Resort”

    Xác định cơ sở hình thành và phát triển:

    Để xác định tính khả thi của dự án đầu tư phát triển KDL, cần căn cứ một số tiêu chí quy hoạch, đầu tư xây dựng, kinh doanh khai thác đã được quy định trong Luật Du lịch; khu du lịch được xếp hạng KDl quốc gia, KDL địa phương theo các tiêu chí tài nguyên du lịch, quy mô phát triển, điều kiện cơ sở hạ tầng, dịch vụ, khả năng thu hút, phục vụ khách du lịch, đang được soạn thảo tại các văn bản hướng dẫn luật, sau đây là một số tiêu chí chủ yếu:

    – Có tài nguyên du lịch, đặc biệt hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch cao; không gian, môi trường; có ranh giới được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định với quy mô, diện tích tối thiểu 1.000ha KDL quốc gia, tối thiểu 200 ha.

    – Có quỹ đất tối đa không vượt quá 20% tổng diện tích khu du lịch để xây dnựg các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch phù hợp với tiêu chuẩn, quy phạm được Nhà nước ban hành đối với loại hình du lịch đã được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

    Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch; các công trình, phương tiện, trang thiết bị, kỹ thuật được xây dựng đồng bộ, đạt tiêu chuẩn quy phạm và quy định kỹ thuật được Nhà nước ban hành, trong đó tối thiểu đạt 70% tiêu chuẩn quốc tế; phù hợp với tính chất của khu du lịch và quy hoạch phát triển du lịch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và được quản lý khai thác có hiệu quả; đảm bảo phục vụ cho ít nhất 1.000.000 lượt khách du lịch/năm KDL quốc gia; 100.000 lượt khách du lịch/năm KDL địa phương.

    – Cơ sở lưu trú đủ khả năng phục vụ 200.000 lượt khách du lịch lưu trú trở lên KDL quốc gia, 10.000 lượt khách du lịch lưu trú trở lên KDL địa phương.

    Xác định thị trường, nhu cầu khách du lịch, dự báo các sản phẩm du lịch:

    Yêu cầu bắt buộc khi thực hiện nghiên cứu dự án đầu tư xây dựng KDL, quyết định đến sự hình thành, tồn tại bền vững của KDL, về khía cạnh kinh tế là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của chủ đầu tư khi huy động nguồn lực để thực hiện dự án là xác định yếu tố thị trường khách du lịch xác định nhu cầu sử dụng. Thị trường khách du lịch được khảo sát theo loại khách, lứa tuổi, dân tộc, khả năng chi trả các dịch vụ du lịch…quyết định đến nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của khách du lịch cần được khảo sát để xác định loại hình du lịch, dịch vụ, sản phẩm du lịch cung cấp cho khách. Là tiền đề quan trọng để luận chứng hình thành phát triển KDL

    Về sản phẩm du lịch, thực chất là xác định các khả năng cung cấp dịch vụ vui chơi giải trí đáp ững nhu cầu của khách du lịch gồm: lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, văn hoá, nghệ thuật, thể thao, mua sắm và các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí đồng thời là tiền đề xác định quy mô, hạng mục đầu tư xây dựng các công trình, phương tiện được sử dụng phục vụ các hoạt động của khách du lịch.

    Xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, quản lý sử dụng đất đai, kiến trúc cảnh quan và chất lượng xây dựng công trình:

    Bảo đảm yêu cầu tạo lập môi trường thuận lợi, tiện nghi cho khách du lịch, tăng tính hấp dẫn khách, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Kinh nghiệm đầu tư xây dựng KDL ở Mỹ, dự án phát triển các KDL được quy định rất chặt chẽ về quy mô, quản lý kiến trúc, sử dụng đất, môi trường, bảo vệ cảnh quan: KDL biển loại lớn có diện tích tối thiểu 64 ha 16 ha với KDl biển có vị trí cách bờ biển dưới 4km; tỷ lệ không gian trống trên 50%; tính đồng bộ của cơ sở vật chất hạ tầng được biểu hiện ở mức đầu tư tối thiểu 7 triệu USD, trong đó đòi hỏi tối thiểu 150 phòng lưu trú, cơ sở dịch vụ ăn uống đảm bảo trên 100 người, cơ sở vui chơi giải trí theo tiêu chuẩn xây dựng chuyên ngành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch 50.000 lượt khách lưu trú, 100.000 lượt khách tham quan/năm. Đối với KDL loại nhỏ, diện tích tối thiểu là 8 ha, tối thiểu phải đầu tư 2 triệu USD cho 25-75 phòng lưu trú, phòng họp, nhà hàng cho lượng khách du lịch lưu trú 12.000 lượt khách, 25.000 lượt khách tham quan/năm

    Hiện nay nước ta đang thiếu các tiêu chuẩn quy phạm phù hợp với từng loại KDL, đang phải vận dụng từ nhiều tiêu chuẩn quy phạm khác nhau, dự kiến một số tiêu chuẩn cụ thể sẽ được ban hành như sau:

    – Mật độ xây dựng tối đa theo loại hình KDL từ 5-25%; mật độ phòng lưu trú, khách sạn tối đa từ 20-75 phòng/ha, tuỳ theo quy mô KDL, tính chất hoạt động chủ yếu của KDL. Hệ số sử dụng đất phụ thuộc vào quy định kiến trúc cảnh quan cho phép đối với công trình xây dựng trong KDL với mục tiêu bảo vệ cảnh quan, tạo lập môi trường sinh thái thuận lợi cho du khách; độ cao tối đa cho phép đối với khách sạn không quá 16m, 8m đối với công trình khác; hệ số sử dụng đất tối đa không vượt quá 1,0 đối với khu vực dành để xây công trình. Ngoài ra yếu cầu khác về quản lý xây dựng, bảo vệ cảnh quan, theo vị trí, điều kiện cảnh quan, tài nguyên, khoảng lùi của công trình, lô đất xây dựng KDL được quy định cụ thể, từ 30m đối với KDL vùng núi, 50m đối với khu nghỉ biển đảo…

    Xây dựng, ban hành và thực hiện quy chế quản lý khu du lịch:

    Luật Du lịch năm 2005 đã quy định các KDL phải có Ban Quản lý, có chức năng quản lý khai thác, kinh doanh và phát triển KDl phù hợp với đặc thù của một khu vực hoạt động giải trí, nghỉ ngơi của khách du lịch, vừa là cơ sở kinh doanh đòi hỏi chất lượng cao về mọi mặt. Nội dung quản lý KDL bao gồm: quản lý ranh giới KDL, phân khu chức năng hoạt động du lịch theo quy hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt; quản lý hoạt động, một số chính sách và quản lý Nhà nước đối với KDL; quản lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, quản lý đầu tư phát triển, quản lý sử dụng và khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng du lịch; quản lý hoạt động của khách du lịch, các tổ chức cá nhân có hoạt động kinh doanh du lịch; sự tham gia của cộng đồng tại KDL; phối hợp các ngành trong việc quản lý KDl theo quy hoạch, kế hoạch đã được cấp thẩm quyền phê duyệt.

    Tác giả: TS. KTS Lê Trọng Bình

    Nguồn tin: T/C Quy hoạch xây dựng, số 2/2006

    --- Bài cũ hơn ---

  • Review Kinh Nghiệm Du Lịch Bản Cát Cát Sapa
  • Bản Đồ Các Địa Điểm Du Lịch Tại Sapa
  • Bảng Giá Vé Du Lịch Sapa 2022 Và Các Điểm Thăm Quan
  • Cập Nhật Bảng Giá Vé Tham Quan Tại Quảng Bình
  • Tập Trung Bảo Vệ Môi Trường Tại Các Khu Du Lịch
  • Tổng Quan Cơ Sở Lưu Trú Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Triển Vọng Tích Cực Cho Du Lịch Việt Nam Trong Năm 2022 Và Tương Lai
  • Sức Bật Của Ngành Du Lịch Hậu Covid
  • ​du Lịch Là Một Ngành Kinh Tế Tổng Hợp
  • Văn Hóa Du Lịch Là Gì ? Khái Niệm Về Văn Hóa Du Lịch
  • Việt Nam Học (Chuyên Ngành Văn Hóa Du Lịch)
  • Định hướng phát triển hệ thống cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam

    Du lịch Việt Nam thời gian qua có bước tăng trưởng mạnh mẽ, tạo nguồn động lực chủ yếu gia tăng giá trị và kích thích đầu tư vào các cơ sở lưu trú du lịch, đặc biệt là các bất động sản du lịch ở những trung tâm du lịch lớn. Những năm gần đây, chúng ta chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc của ngành Du lịch, tác động mạnh mẽ và lan tỏa tới nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó đặc biệt kích thích đầu tư vào bất động sản du lịch.

    Nhìn lại chặng đường phát triển, năm 1994, Việt Nam lần đầu tiên đón 1 triệu lượt khách quốc tế, đến năm 2022 đón 7,9 triệu lượt và đến năm 2022 đón 15,5 triệu lượt. Như vậy, nếu tính tròn số thì để đạt được 8 triệu lượt khách quốc tế đầu tiên chúng ta đã trải qua 21 năm (1994 – 2022), nhưng đạt 8 triệu lượt tiếp theo chúng ta chỉ cần 3 năm (2015 – 2022). Có thể nói, tốc độ tăng trưởng du lịch rất ấn tượng, có năm lên tới 30% về lượng khách quốc tế; trong 3 năm 2022 – 2022 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gấp 2 lần. Năm 2022 đón 15,5 triệu lượt khách quốc tế, tăng 20% so với năm 2022, cùng với 80 triệu lượt khách nội địa thì quy mô kinh tế du lịch chiếm tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế với tổng thu du lịch đạt trên 620.000 tỷ đồng, đóng góp trên 8% GDP.

    Khu nghỉ dưỡng Melia Hồ Tràm

    Thực tế tăng trưởng của ngành Du lịch những năm qua đã vượt xa dự báo của năm 2010 khi xây dựng Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030. ‚eo đó, năm 2022 dự báo sẽ đón 10 – 10,5 triệu lượt khách quốc tế mà thực tế con số 10 triệu lượt đã vượt qua từ năm 2022 (trước 4 năm so với dự báo). Sự tăng trưởng vượt bậc đó đã tạo ra những tác động đột phá đến nhiều ngành, lĩnh vực trong đó có cơ sở lưu trú du lịch (CSLTDL).

    Cùng với sự lớn mạnh không ngừng của ngành Du lịch, năm 2022, tiếp nối đà tăng trưởng của năm 2022, hệ thống CSLTDL tiếp tục thu hút vốn đầu tư, phát triển về số lượng và chất lượng, phục vụ nhu cầu đa dạng của hàng chục triệu lượt khách mỗi năm ở các mức chi tiêu khác nhau, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam.

    Loại hình CSLTDL tại Việt Nam ngày càng phong phú. Ngoài khách sạn và nhà nghỉ du lịch là hai loại hình chủ yếu, đã xuất hiện những loại hình: căn hộ du lịch, biệt thự du lịch, làng du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, bãi cắm trại du lịch.

    Sự tăng trưởng của khách du lịch quốc tế và nội địa đã tạo nhu cầu cao về CSLTDL, tăng cơ hội cho các nhà đầu tư và mở ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động trong lĩnh vực này.

    Khách du lịch tăng cao tạo sức hấp dẫn cho kênh đầu tư vào bất động sản du lịch và chính yếu tố hấp dẫn du lịch là cội nguồn gia tăng giá trị cho bất động sản tại điểm du lịch. Chỉ trong thời gian ngắn số lượng cơ sở lưu trú chủ yếu là khách sạn, resort, biệt thự nghỉ dưỡng, căn hộ khách sạn, nhà phố thương mại du lịch tăng lên nhanh chóng. Năm 2011, cả nước có 13.756 CSLTDL với trên 256.000 buồng thì tới năm 2022 con số đã đạt 28.000 cơ sở với 550.000 buồng, tốc độ tăng trưởng về quy mô buồng bình quân 12%/năm.

    Từ năm 2014 đến nay, xuất hiện làn sóng đầu tư ồ ạt vào các bất động sản du lịch như khu nghỉ dưỡng, khách sạn, resort, căn hộ khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng, căn hộ du lịch, shop house hay khu phức hợp du lịch giải trí tại khu du lịch có lượng khách du lịch tăng cao…

    Trên phạm vi cả nước, hàng loạt dự án bất động sản du lịch được mở bán tại các thành phố lớn, các khu vực ven biển, miền núi, hải đảo như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Phú Quốc, Đà Lạt… đã tạo diện mạo mới cho ngành Du lịch. Trong đó, Nha Trang, Đà Nẵng, Phú Quốc là 3 địa bàn phát triển mạnh nhất.

    Với công suất buồng và mức giá trung bình khá cao đối với phân khúc 4 – 5 sao, có thể thấy đầu tư vào 1m2 bất động sản du lịch cao cấp mang lại giá trị gia tăng vượt trội hơn hẳn các kênh đầu tư vào bất động sản loại hình khác. Tại những điểm đến hấp dẫn du lịch, những địa danh gắn liền với các khu du lịch quốc gia, nơi được xác định có giá trị tài nguyên du lịch đặc sắc và độc đáo, nơi có di sản thiên nhiên, di sản văn hóa được UNESCO công nhận, có giá trị sinh thái như biển, núi, hồ… với đặc điểm địa hình, khí hậu lý tưởng cho sự sống và thụ hưởng của con người, những dự án đầu tư vào hệ thống CSLTDL đang đón nhận lượng lớn khách du lịch quốc tế và nội địa.

    Nghỉ dưỡng tại Paradise Dai Lai Resort

    Xu hướng tăng trưởng du lịch tác động đến đầu tư

    Ngày 16/01/2017, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 08/NQ-TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thể hiện quyết tâm cao độ của Đảng tập trung chỉ đạo phát triển du lịch tạo động lực mới cho nền kinh tế. Với tiềm năng to lớn và vị thế ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế, Việt Nam vẫn luôn và ngày càng tự tin về triển vọng trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu vực và trên thế giới. Không những thế, với thành công của năm APEC Việt Nam 2022, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều (tháng 2/2019) và nhiều sự kiện tầm vóc toàn cầu khác như giải đua Công thức 1 sẽ diễn ra tại Hà Nội năm 2022…, Việt Nam đang tạo được niềm tin của quốc tế, ngày càng khẳng định là một trong những điểm đến an toàn nhất thế giới và sẽ trở thành trung tâm của các sự kiện quốc tế.

    Đánh giá quá trình phát triển giai đoạn vừa qua, nhận định những cơ hội và thách thức cũng như tiềm năng, vị thế và triển vọng của Du lịch Việt Nam, dự thảo Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã dự báo đến năm 2022 Việt Nam đón 21,0 triệu lượt khách quốc tế, đến năm 2025 đón 32 triệu lượt và đến năm 2030 sẽ đón 47 triệu lượt, tăng trưởng bình quân cả giai đoạn 9 – 11%/năm. Với tốc độ tăng trưởng như dự báo, Du lịch Việt Nam sẽ cất cánh và phát triển lên tầm cao mới, thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong thập kỷ tới.

    Với xu hướng dòng khách tiếp tục hướng về khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó Việt Nam như ngôi sao đang lên trong ASEAN, chúng ta có thể lạc quan dự báo về viễn cảnh tăng trưởng du lịch 10 năm tới. Du lịch Việt Nam tiếp tục đà tang trưởng đặt ra nhu cầu đầu tư vào CSLTDL cần đạt tới không chỉ là mở rộng quy mô gia tăng số lượng, đa dạng loại hình mà phải tăng cường chất lượng, đẳng cấp. Theo đó, đến năm 2022, cả nước cần có 650.000 đến 700.000 buồng lưu trú du lịch; năm 2025 cần có 950.000 đến 1.050.000 buồng và đến năm 2030 cần có 1.300.000 đến 1.450.000 buồng; tốc độ tăng trưởng bình quân 8,2 – 8,5% đến năm 2022; 7,8 – 8,0% giai đoạn 2022 – 2025 và 7 – 7,5% giai đoạn 2025 – 2030. Tiếp đà tăng trưởng của ngành Du lịch, nhu cầu đầu tư vào CSLTDL cũng tăng lên tuy nhiên tính chất, loại hình và địa bàn sẽ thay đổi theo xu hướng nhu cầu của khách du lịch thế hệ mới. Bất động sản du lịch vẫn là kênh đầu tư hấp dẫn hứa hẹn hiệu quả cao nếu lựa chọn đúng địa bàn, đúng loại hình phù hợp với xu hướng nhu cầu của thế hệ khách du lịch mới, thời kỳ gắn với cách mạng công nghiệp 4.0.

    Phòng nghỉ tại Khách sạn Park Hyatt Saigon

    Xu hướng cầu du lịch đòi hỏi thích ứng trong đầu tư vào nguồn cung Trong những năm qua, ngành Du lịch Việt Nam có sự tăng trưởng ổn định, bình quân tăng trên 15% cả về số lượng khách du lịch nội địa và khách quốc tế đến Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ trọng du khách (quốc tế và khách nội địa) lựa chọn nghỉ dưỡng dài ngày còn thấp, phổ biến vẫn là loại hình du lịch biển, du lịch theo mùa, lễ hội, kỳ nghỉ ngắn và theo hội chứng đám đông; khách có nhu cầu chuyên biệt chưa rõ nét, chưa đa dạng.

    Giai đoạn tới, với đặc trưng của thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 trong đó công nghệ thông tin truyền thông được ứng dụng sâu rộng trong du lịch, khách du lịch dựa vào công nghệ sẽ có nhiều lựa chọn tiếp cận điểm đến với nhiều phương thức tiêu dùng du lịch theo nhiều xu hướng khác nhau và được tiếp cận dễ dàng, tiện lợi hơn rất nhiều: Thứ nhất, nổi lên xu hướng khách du lịch sẽ quan tâm nhiều hơn tới chất lượng trải nghiệm tại điểm đến thay vì hình ảnh điểm đến đơn thuần; khách sẽ lưu lại dài ngày hơn nếu điểm đến có nhiều trải nghiệm thú vị và ngược lại. Điều này đòi hỏi các nhà đầu tư bất động sản du lịch cần cân đối quy mô, loại hình lưu trú phù hợp với tính chất, loại hình các hoạt động và trải nghiệm du lịch, ví dụ CSLTDL sẽ trở thành quần thể và gắn với nhiều tiện ích như casino, giải trí, thể thao, sự kiện, nghệ thuật, game và các hoạt động giao lưu văn hóa địa phương… Thứ hai, khách du lịch thế hệ mới đến Việt Nam và khách là người Việt cũng nhờ công nghệ, kinh nghiệm đã và đang trở nên từng trải hơn, khó tính hơn với nhu cầu cá biệt hóa, đa dạng hóa. Nếu trước đây du lịch biển theo trào lưu là phổ biến thì tiếp đến sẽ chuyển hướng sang nghỉ dưỡng núi, trải nghiệm văn hóa địa phương, du lịch sinh thái đồng quê… Khách du lịch thế hệ mới là những người yêu môi trường, tôn trọng môi trường và có trách nhiệm với môi trường, có xu hướng tìm về những giá trị văn hóa đặc sắc và sinh thái nguyên sơ, những giá trị tiện ích rất nhân văn. Như vậy, việc đầu tư vào CSLTDL cần có nhiều ý tưởng mới, mở rộng đa dạng địa bàn (không chỉ tập trung vào các khu du lịch biển mà còn ở vùng núi cao, hồ trên núi, những vùng sinh thái độc đáo, vùng văn hóa được bảo tồn nguyên vẹn). Thứ ba, kinh nghiệm du lịch ngày càng được tích lũy, dòng khách tự túc ngày càng nhiều, nhu cầu rất khác nhau vì vậy bên cạnh du lịch đại trà theo số đông, đi theo nhóm, theo tour thì số lượng khách đi lẻ, đi tự túc nhiều lên. Đây là tín hiệu mà nhà đầu tư cần quan tâm để cân nhắc mở rộng nhiều loại hình lưu trú du lịch đa dạng, quy mô không lớn, đan xen với cộng đồng dân cư, hòa nhập với văn hóa bản địa. Thứ tư, sự phát triển của ngành Hàng không và ứng dụng công nghệ trong kinh tế chia sẻ làm cho khách du lịch tiếp cận điểm đến thuận lợi hơn vì vậy khách có khuynh hướng đi nhiều lần trong năm và đi ngắn ngày. Do đó, đầu tư vào CSLTDL đòi hỏi phải tiện tích thông minh, có giá thành cạnh tranh và trong môi trường điểm đến thân thiện để khách quay trở lại nhiều lần.

    Thứ năm, dòng khách du lịch MICE (meeting-incentive-convention-exhibition) là xu hướng ngày càng phổ biến sẽ rất phù hợp với các quần thể, các khu phức hợp dịch vụ gắn với hội họp, hội chợ, sự kiện… đồng thời tại trung tâm du lịch có sức hấp dẫn. Thứ sáu, sự dao động về dòng khách trong năm theo sự kiện, thời vụ đòi hỏi nhà đầu tư cần tính toán về quy mô dự án, tính kết nối theo chuỗi giá trị gắn với tuyến hành trình của khách và nhu cầu trải nghiệm của khách. Thứ bảy, áp lực của cuộc sống, sự ô nhiễm môi trường và những hệ lụy của nó đã dẫn đến yêu cầu về chăm sóc sức khỏe tốt và toàn diện. Xu hướng chăm sóc sức khỏe được đánh giá là mang lại nhiều tiềm năng trong bối cảnh thị trường hiện nay, mở ra những cơ hội mới cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp khách sạn. Thứ tám, xu hướng bán phòng qua mạng, hoạt động chia sẻ kỳ nghỉ trở nên phổ biến, mạng airbnb chiếm một thị phần lớn trong việc cung ứng CSLTDL.

    GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NGÀNH DU LỊCH

    Năm 2022, ngành Du lịch đặt mục tiêu thu hút trên 18 triệu lượt khách quốc tế (tăng trên 16%), 85 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt trên 700.000 tỷ đồng. Đây là mục tiêu tăng trưởng cao, đòi hỏi ngành Du lịch phải tập trung khắc phục những điểm yếu, vượt lên thách thức, tháo gỡ những nút thắt, rào cản để phát triển. Với tiềm năng và dư địa phát triển du lịch còn rất lớn, đặc biệt là khi cả nước triển khai Nghị quyết 08/NQ-TW, cụ thể hóa bằng các đề án: (1) cơ cấu lại ngành Du lịch; (2) đề án ứng dụng công nghệ thông tin trong du lịch, (3) đề án thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch và (4) đề án nâng cao hiệu quả xúc tiến quảng bá du lịch thì những vấn đề, hạn chế, yếu kém hiện hữu của ngành Du lịch như chất lượng sản phẩm dịch vụ, chất lượng nguồn nhân lực, quản lý an toàn văn minh môi trường điểm đến, vấn đề “chặt chém”, kinh doanh chộp giật cho tới quảng bá thương hiệu… sẽ được giải quyết. Những giải pháp sau đây mang tính đồng bộ và then chốt, góp phần duy trì đà tăng trưởng, mở rộng cả quy mô và không gian theo hướng phát triển về chiều sâu chất lượng và bền vững, giải quyết bài toán của ngành Du lịch: Một là, tiếp tục đầu tư vào hạ tầng du lịch, phát triển nhiều điểm đến mới, mở rộng không gian phát triển, kết nối nhiều đường bay mới cũng như hệ thống sân bay, cảng biển, đường sắt, đường cao tốc;… tăng cường khả năng kết nối thuận tiện các điểm đến của Việt Nam với thị trường thế giới để tiếp tục gia tăng lượng khách du lịch; khuyến khích đầu tư tư nhân và hợp tác công tư (PPP) đối với các dự án phát triển có tầm nhìn, đẳng cấp quốc tế, có sức hút, điểm nhấn và hiệu ứng trội dẫn dắt cho đầu tư du lịch. Hai là, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, điểm đến du lịch nhằm thu hút khách du lịch chất lượng cao, quay lại nhiều lần, lưu trú dài ngày, trải nghiệm nhiều, chi tiêu cao. Theo ông Kenneth Atkinson – Chủ tịch Grant Thornton Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Du lịch Việt Nam (TAB): “Nếu không cải thiện các sản phẩm du lịch và chất lượng của dịch vụ, chúng ta sẽ không thể thu hút được khách du lịch chi tiêu cao hơn hay thôi thúc du khách quay trở lại”. Đây là cơ sở để gia tăng giá trị cho sản phẩm du lịch từ đó quyết định hiệu quả đầu tư. Ba là, đẩy mạnh quảng bá thương hiệu điểm đến nói chung cũng như thương hiệu của dự án phát triển nói riêng nhằm định vị giá trị và niềm tin cho du khách cũng như các nhà đầu tư. Quảng bá thương hiệu làm nên đẳng cấp và tạo dựng giá trị cho dự án đầu tư. Chính quyền quản lý điểm đến cần phối hợp huy động doanh nghiệp chung sức để triển khai các chương trình xúc tiến quảng bá; qua đó đẩy mạnh thu hút khách du lịch; chỉ khi có khách du lịch thì dự án mới có thể khả thi và sống được bền vững. Bốn là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với tầm quản lý tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời đảm bảo kỹ năng dịch vụ cơ bản có tính sáng tạo và đậm bản sắc văn hóa Việt Nam. Chính yếu tố con người tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch chất lượng cao, có giá trị gia tăng cao được tạo bởi nguồn nhân lực chất lượng cao. Năm là, thực hiện bảo tồn văn hóa, bảo vệ tài nguyên gìn giữ môi trường để duy trì sức hấp dẫn của điểm đến; kiểm soát chặt chẽ quá trình lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư phát triển để kiên quyết loại bỏ những dự án có tầm nhìn ngắn hạn, kém sáng tạo, không thân thiện môi trường, không tôn trọng giá trị văn hóa, giá trị truyền thống địa phương.

    Tính đến 31/12/2018, Việt Nam có 28.000 CSLTDL với trên 550.000 buồng (tăng hơn 2.400 CSLTDL và hơn 42.000 buồng so với năm 2022). Nhóm CSLTDL 3 – 5 sao: có 965 cơ sở với 126.631 buồng, tăng trưởng 11% về số cơ sở và 23,2% số buồng so với năm 2022. Khối 5 sao có sự tăng trưởng mạnh và sức chứa lớn nhất. Nhóm CSLTDL 1 – 2 sao: khách sạn xếp hạng 1 – 2 sao giảm. Đến 31/12/2018, có 5.711 cơ sở với 136.292 buồng, giảm 15,5% về số cơ sở và 12,6% số buồng so với năm 2022. Trong thời gian tới, định hướng hoạt động CSLTDL cần tập trung đảm bảo quyền lợi cho khách sử dụng dịch vụ lưu trú tại Việt Nam, đảm bảo chất lượng cam kết. Các nhà đầu tư cần nắm rõ luật pháp, yêu cầu hội nhập, nhu cầu, xu hướng thị trường, khắc phục điểm yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo thương hiệu mạnh trong khu vực, góp phần đạt được mục tiêu trong khối ASEAN nói chung và Chiến lược của ngành Du lịch Việt Nam nói riêng.

    Bài viết đăng trên ấn phẩm “Hotels & Resorts in Vietnam – Khách sạn & Khu nghỉ dưỡng Việt Nam”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chọn Học Ngành Du Lịch – Khách Sạn, Nên Hay Không?
  • Bổ Sung Ngành Nghề Lữ Hành Quốc Tế
  • Khánh Hòa Tiếp Tục Duy Trì Đà Tăng Trưởng
  • Phát Triển Du Lịch Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Tuyển Sinh Trường Du Lịch
  • Tuyển Dụng Viên Chức Tại Ban Quản Lý Làng Văn Hóa Du Lịch Các Dân Tộc Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Bán Tour Du Lịch Online Và 7 Kênh Bán Tour Hiệu Quả Nhất 2022
  • Quy Trình & Kinh Nghiệm Bán Tour Du Lịch Chuyên Nghiệp, Hiệu Quả
  • Cho Thuê Xe Tháng Giá Tốt Chất Lượng
  • Bảng Giá Dịch Vụ Khu Du Lịch Văn Thánh
  • Bảng Giá Cho Thuê Xe Đi Cần Giờ 1 Ngày
  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    BỘ NỘI VỤ

    HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

    TRẦN VŨ AN

    TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI

    BAN QUẢN LÝ LÀNG VĂN HÓA DU LỊCH CÁC DÂN TỘC VIỆT

    NAM

    Chuyên ngành

    Mã số

    : Quản lý công

    : 60 34 04 03

    Tóm tắt luận văn Thạc sĩ Quản lý công

    HÀ NỘI – NĂM 2022

    Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: chúng tôi LÊ THỊ VÂN HẠNH

    Phản biện 1: chúng tôi Ngô Thành Can

    Phản biện 2: chúng tôi Nguyễn Minh Phương

    Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ,

    Học viện Hành chính Quốc gia

    Địa điểm: Phòng họp A, Nhà A- Hội trường bảo vệ luận

    văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia

    Thời gian: vào hồi 14 giờ 30, ngày 24 tháng 11 năm 2022

    Có thể tìm hiểu luận văn tại

    Thư viện Học viện Hành chính Quốc giahoặc trên trang Web Khoa

    Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Trong thời đại ngày nay, con người được coi như là một tài nguyên,

    một nguồn lực quan trọng nhất, do vậy, việc phát triển con người, phát

    triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ

    thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố

    chắc chắn nhất cho sự phồn vinh thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư

    vào con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. Nâng

    cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề mà mỗi quốc gia đều phải quan

    tâm chăm sóc, bồi dưỡng, phát triển và tìm cách phát huy có hiệu quả

    trên con đường phát triển văn minh tiến bộ của mình.

    Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là nguồn lực quan trọng, có

    vị trí rường cột trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan hành chính, có

    vai trò quyết định đến sự phát triển của đất nước, là người trực tiếp tham

    gia vào quá trình xây dựng và thực thi luật pháp, quản lý mọi mặt của

    đời sống kinh tế – xã hội; tham mưu, hoạch định, tổ chức thực hiện và

    thanh tra, kiểm tra việc thực thi các đường lối, chính sách. Tuyển chọn

    nhân lực chuyên môn có chất lượng là công việc quan trọng mà mọi tổ

    chức đều phải chú trọng thực hiện bởi con người là nguồn lực quý giá

    nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức. Trong quá trình

    vận hành của nền công vụ, việc tuyển dụng được những công chức, viên

    chức giỏi thì nhất định nền công vụ sẽ hoạt động đạt kết quả cao hơn vì

    công chức, viên chức là nhân tố quyết định đến sự vận hành của một

    nền công vụ. Như Bác Hồ đã từng nói: “cán bộ là gốc của mọi công

    việc”. Để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức, công tác

    tuyển dụng công chức, viên chức đóng góp một phần đáng kể cho chiến

    lược quản lý nguồn nhân lực công cho đất nước hiện tại cũng như lâu

    1

    dài. Và đồng thời trở thành một trong những nhiệm vụ trọng yếu của các

    tổ chức, đơn vị nhà nước, trong đó có Ban Quản lý Làng Văn hóa – Du

    lịch các dân tộc Việt Nam (sau đây viết tắt là: LVH-DLCDTVN).

    Ban Quản lý LVH-DLCDTVN được thành lập theo Quyết định số

    142/1999/QĐ-TTg,ngày 16 tháng 6 năm 1999 của Thủ tướng Chính

    phủ. Ban Quản lý LVH-DLCDTVN là cơ quan trực thuộc Bộ Văn hoá,

    Thể thao và Du lịch để thực hiện chức năng quản lý đầu tư xây dựng và

    tổ chức, quản lý các hoạt động của LVH-DLCDTVN theo đúng quy

    hoạch đã được Thủ tướng phê duyệt. Quy mô của Ban Quản lý LVHDLCDTVN tương đương với tổng cục. Đây là một quy mô tương đối

    lớn cùng với chức năng nhiệm vụ nặng nề đòi hỏi Ban Quản lý LVHDLCDTVN cần có một đội ngũ công chức, viên chức thực sự có đức, có

    tài, đủ sức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Trong đó khâu

    tuyển dụng được đặc biệt quan tâm.

    Từ khi pháp lệnh công chức sửa đổi năm 2003 ra đời đến nay, mặc

    dù Ban Quản lý LVH-DLCDTVN cũng đã tổ chức được 3 kỳ thi tuyển

    dụng công chức, viên chức nhưng đến nay, số lượng Công chức, viên

    chức biên chế tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ban Quản lý LVHDLCDTVN vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công việc cũng

    như mục tiêu chung của Ban Quản lý.

    Từ thực trạng đó, vấn đề cấp thiết đặt ra đối với Ban Quản lý LVHDLCDTVN là làm sao để tuyển dụng được một đội ngũ viên chức đủ về

    số lượng và nâng cao về chất lượng. Đây vừa là mục tiêu trước mắt, vừa

    là chiến lược lâu dài để phát triển Ban Quản lý LVH-DLCDTVN một

    cách bền vững, xứng đáng với quy mô và trọng trách được giao. Với ý

    nghĩa đó, tôi chọn đề tài “Tuyển dụng viên chức tại Ban Quản lý Làng

    2

    Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ

    của mình.

    2. Tình hình nghiên cứu

    Việc tuyển chọn người vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị của nhà

    nước và các vấn đề xung quanh hoạt động này là đề tài nghiên cứu của

    nhiều luận án, luận văn, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học. Phần

    lớn các công trình đều tập trung nghiên cứu công tác tuyển dụng đối với

    đối tượng công chức, viên chức nói chung hoặc đi sâu nghiên cứu riêng

    về hoạt động tuyển dụng đối với từng đối tượng công chức, viên chức

    trong các đơn vị sự nghiệp công lập hay cụ thể các đối tượng đó trong

    một tổ chức đơn vị nhất định.

    Đối tượng Công chức là bộ phận nhân sự ra đời đầu tiên trong bộ

    máy nhà nước và được nhiều tác giả, giáo sư, chuyên gia nghiên cứu về

    mọi khía cạnh. Như với mảng tuyển dụng công chức thì có rất nhiều

    những công trình nghiên cứu điển hình là:

    Tác giả Đào Thị Thanh Thủy (2010), “Một số kiến nghị về xây

    dựng cơ chế tuyển dụng công chức theo mô hình công vụ việc làm ở

    nước ta”, với nội dung Xây dựng hệ thống bản mô tả công việc phù hợp

    với từng vị trí của từng cơ quan, tổ chức; Đổi mới nội dung và cách thức

    thi tuyển công chức, đổi mới cơ bản chế độ tiền lương đối với công chức

    theo từng vị trí việc làm;

    Tác giả Hoàng Quốc Long, Phó Vụ trưởng Vụ Công chức-Viên

    chức, Bộ Nội vụ (2010), Bài viết “Một số nội dung mới trong công tác

    tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức”, đăng trên websites Sở Nội

    3

    vụ tỉnh Quảng Nam với nội dung giới thiệu một số nội dung mới trong

    công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức;

    TS. Ngô Thành Can (2010), “Tuyển chọn, bồi dưỡng người tài

    năng cho công vụ”, Tạp chí tổ chức nhà nước, số 11, trong đó đề cập

    đến sự cần thiết và các giải pháp để tuyển chọn và bồi dưỡng người có

    tài năng trong công vụ,

    ThS. Lê Cẩm Hà (2010) “Một số nội dung trong tuyển dụng nhân

    lực của khu vực nhà nước”,Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Số 9, trong đó

    đề cập đến nội dung một số khâu trong công tác tuyển dụng nhân lực

    của khu vực nhà nước bao gồm: Xác định nhu cầu, xác định tiêu chuẩn,

    người cần tuyển, thu hút ứng viên trong quá trình tuyển dụng và lựa

    chọn;

    Tác giả Trần Văn Quảng nguyên vụ trưởng vụ Tổ chức Cán bộ, Bộ

    Tư pháp (2011), “Một số vấn đề về tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ nhân

    tài”, Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 1/2011, với nội dung để

    nâng cao nhận thức cua các cấp, các ngành trong việc thực hiện chính

    sách phát triển, thu hút nhân tài, gắn chính sách này là một bộ phận của

    chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, khắc phục những tồn tại, hạn chế

    trong thời gian qua và nâng cao hiệu quả thực thi của chính sách này

    trong thời gian tới. Bài viết đưa ra một số kiến nghị bổ sung nội dung

    vào các văn kiện trình Đại hội Đảng XI;

    TS. Ngô Thành Can, “Công chức và đào tạo công chức ở nước

    Cộng hòa Pháp”, trong bài viết tác giả có đưa ra cái nhìn tổng thể về vấn

    đề công chức và một số nội dung về tuyển dụng công chức ở nước Công

    hòa Pháp.

    Đối với đối tượng Viên chức, tuy trước đây phần lớn đều được gộp

    chung nghiên cứu cùng với đối tượng công chức nhưng từ khi được tách

    4

    5

    DLCDTVN hầu như chưa được đề cập đến. Trên cơ sở những công

    trình nghiên cứu đã hoàn thiện của các tác giả về tuyển dụng đội ngũ

    viên chức nói chung, Nội dung Luận văn này đi sâu nghiên cứu về hoạt

    động tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ban

    Quản lý LVH-DLCDTVN với hy vọng sẽ có những đóng góp nhất định

    trong hoạt động tuyển dụng viên chức của các tổ chức công lập nói

    chung và hoạt động tuyển dụng viên chức cho riêng Ban Quản lý LVHDLCDTVN

    3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:

    – Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân

    tích thực trạng tuyển dụng viên chức tại Ban Quản lý LVH-DLCDTVN

    hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

    tuyển dụng viên chức tại Ban Quản lý LVH-DLCDTVN đáp ứng yêu

    cầu của thực tế đặt ra cũng như sự phát triển bền vững trong tương lai.

    – Nhiệm vụ nghiên cứu:để đạt được mục đích trên, luân văn cần

    phải làm rõ một số vấn đề:

    + Nghiên cứu cơ sở lý luận về viên chức trong các đơn vị sự

    nghiệp, khái niệm và điều kiện để tuyển dụng lao động nói chung và

    tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng;

    nghiên cứu tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức tại Ban Quản lý LVHDLCDTVN.

    + Tìm hiểu kinh nghiệm tuyển dụng của một số nước trên thế

    giới và của đơn vị ngoài công lập ở Việt Nam để đưa ra nhận định làm

    tiền đề cho các giải pháp.

    + Phân tích đánh giá thực trạng tuyển dụng viên chức tại Ban

    Quản lý LVH-DLCDTVN.

    6

    7

    8

    1.1.2. Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập

    1.1.2.1. Người lao động

    “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao

    động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản

    lý, điều hành của người sử dụng lao động” .

    Người lao động được phân thành 02 đối tượng là: Lao động phổ

    thông và Lao động tri thức.

    1.1.2.2. Viên chức

    Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc

    làm, làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng,

    hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định

    của Pháp luật

    1.2. Tuyển dụng Viên chức

    1.2.1. Khái niệm

    1.2.1.1. Tuyển dụng

    Tuyển dụng là tuyển thêm người, hay bổ sung thêm người cho tổ

    chức, cũng được hiểu như đưa thêm người mới vào làm công việc chính

    thức cho tổ chức, tức là khâu đầu tiên cho giai đoạn hình thành nguồn

    nhân lực cho tổ chức

    1.2.1.2. Khái niệm tuyển dụng Viên chức

    Tuyển dụng viên chức là việc lựa chọn những công dân Việt Nam

    có phẩm chất đạo đức, trình độ và năng lực làm công tác chuyên môn

    tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Việc tuyển dụng được thực hiện thông

    qua hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển cho những vị trí mà đơn vị có nhu

    cầu

    1.2.2. Nội dung cơ bản của tuyển dụng viên chức

    1.2.2.1. Nguyên tắc tuyển dụng viên chức

    9

    a) Những nguyên tắc chung về tuyển dụng người lao động

    – Nguyên tắc thứ nhất, tuyển dụng theo nhu cầu thực tiễn

    – Nguyên tắc thứ hai, dân chủ và công bằng

    – Nguyên tắc thứ ba, tuyển dụng tài năng qua thi tuyển

    – Nguyên tắc cuối cùng là tuyển dụng phải có điều kiện, tiêu chuẩn

    rõ ràng.

    b) Các nguyên tắc tuyển dụng viên chức

    1. Bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng

    pháp luật

    2. Bảo đảm tính cạnh tranh

    3. Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm

    4. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công

    lập

    5. Ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng,

    người dân tộc thiểu số

    1.2.2.2. Điều kiện và thủ tục để tuyển dụng viên chức

    Điều kiện thủ tục để tuyển dụng viên chức được nêu rõ trong Luật

    Viên chức 2010, Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 về tuyển

    dụng, quản lý và sử dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập và

    các văn bản hướng dẫn thi hành.

    1.2.2.3. Nguồn tuyển dụng

    a) Các nguồn nhân lực từ bên trong tổ chức công

    b) Các nguồn lực từ bên ngoài tổ chức công

    1.2.2.4. Quy trình tuyển dụng viên chức

    Bước 1. xác định nhu cầu tuyển dụng

    Bước 2. Thành lập hội đồng tuyển dụng:

    10

    Bước 3. Hội đồng tuyển dụng xây dựng yêu cầu với vị trí tuyển

    dụng và kế hoạch tuyển dụng.

    Bước 4. Thông báo tuyển dụng

    Bước 5. Nhận hồ sơ và sàng lọc hồ sơ

    Bước 6. Hội đồng Tuyển dụng thành lập Ban Ra đề, Ban Coi thi,

    Ban Thanh tra, Ban Chấm thi đối với hình thức thi tuyển và thành lập

    Hội đồng kiểm tra, sát hạch đối với hình thức xét tuyển.

    Bước 7. Tổ chức tuyển dụng với các hình thức thi tuyển hoặc xét

    tuyển

    Bước 8. Tổ chức chấm thi

    Bước 9. Thông báo kế quả

    Bước 10. Phúc tra, phúc khảo

    Bước 11. Công nhận kết quả và ký hợp đồng tuyển dụng

    1.2.2.5. Hình thức tuyển dụng viên chức

    a) Thi tuyển

    Nội dung thi các môn: kiến thức chung và thi chuyên môn, nghiệp

    vụ chuyên ngành . Việc thi tin học văn phòng và ngoại ngữ đối với

    người dự thi tuyển viên chức thực hiện theo tiêu chuẩn chức danh nghề

    nghiệp và yêu cầu của vị trí việc làm.

    Hình thức: Thi viết, vấn đáp, trắc nghiệm và thực hành trên máy

    tính hoặc thực tế.

    Miễn thi các môn Tin học và Ngoại ngữ căn cứ theo nội dung

    Chương II, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 về việc tuyển

    dụng, quản lý và sử dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập.

    b) Xét tuyển

    11

    Điều 11và Điều 14, Chương II, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày

    12 tháng 4 năm 2012 quy định rõ nội dung xét tuyển viên chức và xét

    tuyển đặc cách viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập.

    1.3. Kinh nghiệm tuyển dụng của một số nƣớc trên thế giới và

    của khu vực ngoài công lập ở Việt Nam

    1.3.1. Một số kinh nghiệm tuyển dụng công chức ở Pháp và Nhật

    Bản

    Qua nghiên cứu việc tổ chức tuyển dụng của một số nước trên thế

    giới để rút ra những kinh nghiệm cụ thể trong tuyển dụng công chức

    như sau:

    a) Bộ phận tổ chức tuyển dụng

    Ở Nhật Bản, công chức được phân thành 2 loại: công chức quốc gia

    và công chức địa phương.

    Ở Pháp, hàng năm có khoảng 1 triệu người thi vào công chức, thi

    tuyển được tổ chức ở các bộ và địa phương.

    b) Điều kiện dự tuyển

    Ở Pháp, Yêu cầu về bằng cấp hoặc trình độ học vấn rất đa dạng tùy

    theo vị trí việc làm hay mục tiêu nghề nghiệp nói chung.

    Ở Nhật kỳ thi tuyển công chức quốc gia sẽ tổ chức để tuyển chọn

    công chức theo 2 vị trí: vị trí tổng hợp và vị trí phổ thông. Thí sinh dự

    thi công chức ở vị trí tổng hợp là những thí sinh đã tốt nghiệp đại học

    hoặc sau đại học còn với thí sinh dự thi vào vị trí phổ thông có thể đã tốt

    nghiệp đại học hoặc tốt nghiệp phổ thông hoặc là người đã có kinh

    nghiệm

    c) Hình thức và nội dung tuyển dụng

    Ở Pháp việc tuyển dụng công chức được thực hiện với 4 hình thức

    cụ thể là tuyển dụng cạnh tranh, tuyển dụng nội bộ, tuyển dụng theo chế

    12

    độ hợp đồng, tuyển dụng không qua thi tuyển. Thi tuyển được tiến hành

    qua hai giai đoạn: thi viết và thi vấn đáp.

    Ở Nhật Bản thì lại duy trì duy nhất một hình thức tuyển dụng công

    chức đó là thi tuyển.

    Nội dung thi tuyển phải hợp lý, chú trọng đến kiến thức chuyên

    ngành và năng lực công tác của thí sinh sau khi trúng tuyển.

    d) Công tác tổ chức thi tuyển

    Đây là công việc được các nước chuẩn bị khá chu đáo vào cẩn thận

    dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch.

    1.3.2. Kinh nghiệm tuyển dụng nhân sự khu vực ngoài công lập

    ở Việt Nam

    Bước một, xác định nhu cầu tuyển dụng

    Bước hai, là tìm kiếm ứng viên

    Bước ba, đánh giá và lựa chọn

    Bước cuối, hướng dẫn và hội nhập.

    1.4. Các yếu tổ ảnh hƣởng đến tuyển dụng viên chức

    1.4.1. Yếu tố khách quan

    – Cơ chế, chính sách của nhà nước

    – Yếu tố kinh tế – chính trị

    – Yếu tố văn hóa – xã hội

    – Môi trường cạnh tranh

    1.4.2. Yếu tố chủ quan

    – Mục tiêu phát triển của tổ chức

    – Vị thế và uy tín của tổ chức

    – Khả năng tài chính

    – Nhu cầu nhân sự

    – Vai trò, tính chất và đặc điểm của công việc

    13

    – Tính ổn định

    – Quan điểm và tư tưởng của nhà quản lý

    Tiểu kết Chƣơng 1

    Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI

    BAN QUẢN LÝ LÀNG VĂN HÓA – DU LỊCH CÁC DÂN TỘC

    VIỆT NAM

    2.1. Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ban Quản lý Làng Văn

    hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam

    2.1.1. Mô hình tổ chức của Ban Quản lý Làng Văn hóa – Du lịch

    các dân tộc Việt Nam

    Ban Quản lý LVH-DLCDTVN (tổ chức tương đương Tổng cục) có

    tư cách pháp nhân, sử dụng con dầu hình Quốc huy, được mở tài khoản

    tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng; là đầu mối kế hoạch đầu tư và

    ngân sách trực thuộc Trung ương (Đơn vị dự toán cấp I), được quyết

    định thu, chi ngân sách thuộc các lĩnh vực đầu tư phát triển, hành chính

    sự nghiệp, các chương trình mục tiêu và các lĩnh vực khác theo quy định

    của pháp luật.

    Ban Quản lý LVH-DLCDTVN có tất cả 6 tổ chức quản lý nhà

    nước và 6 đơn vị sự nghiệp công lập được công nhận.

    2.1.2. Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ban Quản lý Làng Văn hóa –

    Du lịch các dân tộc Việt Nam

    2.1.2.1. Ban Quản lý Khu các làng dân tộc

    2.1.2.2. Trung tâm Thông tin – Dữ liệu

    2.1.2.3. Tap chí Làng Việt

    2.1.2.3. Các Ban Đầu tư xây dựng

    2.1.3. Các vị trí viên chức thuộc Ban Quản lý Làng Văn hóa – Du

    lịch các dân tộc Việt Nam

    14

    Căn cứ Quyết định số 332/QĐ/LVH ngày 07/10/2010 của Trưởng

    Ban Quản lý LVH-DLCDTVN về việc ban hành Tiêu chuẩn nghiệp vụ

    của các ngạch công chức, viên chức thuộc Ban Quản lý LVHDLCDTVN có tất cả 11 ngạch viên chức trực thuộc.

    2.2. Các Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động

    tuyển dụng tại Ban Quản lý Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc

    Việt Nam

    2.3. Thực trạng tuyển dụng viên chức tại Ban Quản lý Làng

    Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam

    2.3.1. Xác định căn cứ, nhu cầu, điều kiện và chế độ ưu tiên

    trong tuyển dụng viên chức

    a) Căn cứ tuyển dụng và xây dựng nhu cầu tuyển dụng

    Căn cứ các VBQPPL về điều chỉnh hoạt động tuyển dụng viên chức

    như: Luật Viên chức năm 2010; Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày

    12/4/2012 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý

    viên chức; Căn cứ chỉ tiêu biên chế hành chính và chỉ tiêu biên chế sự

    nghiệp của Ban Quản lý LVH-DLCDTVN; Căn cứ Quy chế chi tiêu nội

    bộ ban hành kèm theo Quyết định số 238/QĐ-LVH ngày 08/7/2010 của

    Trưởng Ban Quản lý LVH-DLCDTVN và Quyết định số 294/QĐ-LV H

    ngày 10/09/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế chi

    tiêu nội bộ; Trưởng các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ban Quản lý LVHDLCDTVN xác định các vị trí, chức danh còn thiếu trong tổ chức, đề

    nghị Lãnh đạo ban xem xét tổ chức tuyển dụng theo nhu cầu công việc

    thực tế.

    b) Điều kiện đối với các ứng viên dự tuyển

    15

    Áp dụng các điều kiện chung theo Điều 4, mục 1 Chương II của

    Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ

    Về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

    c) Chế độ ưu tiên

    Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2012 của Chính

    phủ Về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

    2.3.2. Nguồn tuyển dụng viên chức

    Tìm kiếm ứng viên cho các vị trí cần tuyển từ cả 2 nguồn lực bên

    trong và bên ngoài tổ chức

    2.3.3. Kế hoạch tuyển dụng

    Bảng 2.6. Kế hoạch thực hiện công tác tuyển dụng năm 2014

    Ngày

    Nội dung

    09/9-25/9

    Thông báo tuyển dụng

    22/9/26/9

    Tiếp nhận Hồ sơ, lập danh sách thí sinh

    02/10/2014

    Tập trung thí sinh, phổ biến hình thức nội dung

    thi và quy chế thi

    10/10/2014

    Sáng thi môn : Hành chính nhà nước ; chiều :

    Ngoại ngữ

    11/10/2014

    Sáng : Môn chuyên ngành ; Chiều : Tin học

    12/10/2014

    Thi vấn đáp

    13-30/10/2014

    Chấm thi và thông báo kết quả

    (Nguồn : Ban Tổ chức Cán bộ, Ban Quản lý LVH-DLCDTVN)

    2.3.4. Hình thức và nội dung tuyển dụng viên chức

    a) Thi tuyển

    + Tổ chức hình thức thi viết với các môn: Môn kiến thức chung, lý

    thuyết chuyên ngành, tiếng anh.

    16

    + Tổ chức hình thức thi trắc nghiệm với các môn: tin học và các môn

    thực hành chuyên ngành cho các vị trí: Công nghệ thông tin, Kế toán,

    Tổ chức tổng hợp, Biên tập viên.

    + Tổ chức thi vấn đáp với chuyên ngành: Thuyết minh viên.

    + Tổ chức thi vẽ cho vị trí: Họa sỹ thiết kế.

    – Các trường hợp được miễn thi các môn điều kiện: Tương tự như các

    đợt tuyển dụng trước.

    b) Xét tuyển

    – Thực hiện hình thức xét tuyển đóng với các đối tượng đang làm

    việc hợp động tại đơn vị có nguyện vọng phù hợp với nhu cầu tuyển

    dụng, căn cứ vào nhu cầu thực tế, năm 2022 các đơn vị sự nghiệp trực

    thuộc Ban Quản lý LVH-DLCDTVN xây dựng vị trí việc làm trình

    Lãnh đạo Ban Quản lý xem xét tổ chức hội đồng xét tuyển cho 05 đối

    tượng. Thực hiện theo các bước được quy định trong Nghị định số

    29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 về việc tuyển dụng, sử

    dụng và quản lý viên chức.

    2.3.5. Kết quả tuyển dụng viên chức

    23 vị trí và kết quả trúng tuyển là 8 người trong đó 4 người trúng tuyển

    với kết quả thi tuyển dụng và 4 người với kết quả phúc khảo, đạt 34% so

    với chỉ tiêu tuyển dụng ban đầu.

    Đối với hình thức xét tuyển viên chức : mục tiêu tuyển 05 người kết quả

    xét tuyển là 05 đạt 100% mục tiêu.

    2.4. Những ƣu điểm, hạn chế và nguyên nhân tồn tại của các hạn

    chế trong công tác tuyển dụng tại Ban Quản lý Làng Văn hóa – Du

    lịch các dân tộc Việt Nam

    2.4.1. Ưu điểm trong công tác tuyển dụng viên chức tại Ban

    Quản lý LVH-DLCDTVN

    17

    Chấp hành đầy đủ yêu cầu của Pháp luật

    Đổi mới trong hình thức thi tuyển

    Áp dung công nghệ thông tin trong phương pháp tìm kiếm nguồn

    lực

    Đặc thù tổ chức đem lại những lợi thế trong tuyển dụng

    2.4.2 Hạn chế trong công tác tuyển dụng và nguyên nhân của

    những hạn chế đó

    2.4.2.1. Hạn chế, khó khăn

    Khó khăn trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tuyển

    dụng viên chức

    Chưa đảm bảo tính công khai minh bạch trong tuyển dụng

    Tiêu chuẩn và điều kiện tuyển dụng đối với các đối tượng dự tuyển

    vẫn chung chung chưa rõ ràng cụ thể

    Nguồn tuyển dụng chưa được xác định rõ ràng

    Quy trình tuyển dụng không diễn ra đúng thời gian theo kế hoạch

    Nội dung thi tuyển còn nhiều bất cập

    Kết quả tuyển dụng chưa đạt chỉ tiêu đề ra và tình trạng tuyển dụng

    chưa đúng người

    2.4.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế

    a) Nguyên nhân khách quan

    Chưa có quy chế tuyển dụng riêng cho đặc thù ngành Văn hóa, thể

    thao và Du lịch nói chung.

    Hạn chế về vị trí địa lý về cơ quan làm việc cách xa trung tâm, khó

    khăn cho đi lại và thực hiện công việc.

    Tư duy, quan niệm và nhu cầu lao động thay đổi.

    b) Nguyên nhân chủ quan

    18

    Thiếu kinh nghiệm tổ chức tuyển dụng, quản lý và sử dụng công

    chức và viên chức nói chung.

    Đội ngũ nhân sự làm công tác Tổ chức cán bộ còn thiếu và yếu

    Chưa đảm bảo điều kiện tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự

    nghiệp

    Nhận thức về tuyển dụng viên chức của một bộ phận lãnh đạo đôi

    lúc còn chưa đúng

    Đặc thù công việc của tổ chức làm ảnh hưởng đến tiến độ công tác

    tuyển dụng.

    Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tuyển dụng vẫn chưa thực

    hiện triệt để.

    Tiểu kết Chƣơng 2.

    CH 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT

    LƢỢNGTUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI BAN QUẢN LÝ LVHDLCDTVN

    3.1. Quan điểm, đƣờng lối của Đảng và Chính sách của nhà

    nƣớc về viên chức và tuyển dụng viên chức

    3.2. Những yêu cầu đặt ra nhằm nâng cao chất lƣợng tuyển

    dụng viên chức tại Ban Quản lý LVH-DLCDTVN

    3.2.1. Công tác tuyển dụng phải bám sát yêu cầu đổi mới nâng

    cao chất lượng đội ngũ Viên chức nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây

    dựng và phát triển đội ngũ viên chức ngành Văn hóa

    3.2.2. Tuyển dụng dựa trên nhu cầu, công việc, vị trí việc làm và

    quỹ tiền lương của đơn vị

    3.2.3. Tuyển dụng viên chức phải tuân thủ các nguyên tắc chung

    19

    3.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu

    quả của việc tuyển dụng viên chức tại Ban Quản lý LVHDLCDTVN

    3.3.1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện thể chế chính sách

    3.3.1.1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, Pháp luật của

    nhà nước về tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp trực thuộc

    Bộ Văn háo, Thể thao và Du lịch

    Mục tiêu: xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật

    làm cơ sở tuyển dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ

    Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

    Nội dung thực hiện:

    – Cụ thể hóa một số quy định và tiêu chuẩn tuyển dụng viên chức.

    – Xây dựng hệ thống khung pháp lý cho công tác kiểm tra, thanh

    tra.

    3.3.1.2. Xây dựng chính sách thu hút nguồn nhận lực

    Mục tiêu: thu hút được nguồn ứng viên có trình độ, tâm huyết

    Nội dung thực hiện:

    – Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút nhân tài

    – Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nhân tài

    – Có kế hoạch sử dụng nhân tài cụ thể

    – Xây dựng những điều kiện tốt nhất thuận lợi cho những đối tượng

    đảm nhiệm các vị trí đặc thù

    3.3.1.3. Xây dựng quy chế tuyển dụng phù hợp với đơn vị

    Mục tiêu: điều chỉnh hoạt động tuyển dụng của đơn vị đi đúng

    hướng, đúng mục đích yêu cầu và mang lại hiệu quả cao

    Nội dung thực hiện:

    20

    Xác định rõ một số nội dụng của tuyển dụng viên chức như: mục

    đích, nguyên tắc, căn cứ, quy trình, hình thức, chế độ ưu tiên, đặc cách,

    3.3.2. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện

    3.3.2.1. Thống kê và mô tả vị trí việc làm

    Mục tiêu: làm căn cứ cho việc tuyển dụng được đúng người xứng

    đáng phù hợp với yêu cầu của tổ chức

    Nội dung thực hiện:

    Thực hiện rà soát các nhóm công việc thuộc các lĩnh vực khác nhau

    trong tổ chức

    Thống kê và mô tả vị trí việc làm theo hướng dẫn.

    3.3.2.2. Lựa chọn hình thức tuyển dụng phù hợp

    Mục tiêu: lựa chọn hình thức tuyển dụng phù hợp để tuyển dụng

    được đúng đối tượng, tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí tuyển

    dụng của đơn vị.

    Nội dung thực hiện:

    – Thực hiện hình thức thi tuyển:

    + Đối tượng: Các nguồn lực bên ngoài tổ chức và các nguồn lực

    bên trong không đủ điều kiện tham gia xét tuyển.

    – Hình thức xét tuyển:

    + Đối tượng: với đối tượng lao động hợp đồng đủ điều kiện tham

    dự xét tuyển tại vị trí công tác.

    3.3.2.3. Xây dựng kế hoạch tổ chức tuyển dụng viên chức hợp lý,

    khoa học

    Mục tiêu: Thực hiện công tác tuyển dụng đúng tiến độ, lộ trình đem

    lại hiệu quả cao.

    Nội dung thực hiện:

    21

    22

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Quản Lý Khu Du Lịch Thác Bản Giốc Tỉnh Cao Bằng
  • Vĩnh Phúc: Ban Quản Lý Khu Du Lịch Tam Đảo Tăng Cường Công Tác Quản Lý Hoạt Động Du Lịch
  • Bản Đồ Khu Du Lịch Sầm Sơn Thanh Hóa
  • 10 Khu Du Lịch Mũi Né Bình Thuận Nổi Tiếng Bạn Nên Ghé Qua
  • Review Ăn Chơi Ở Khu Du Lịch Dốc Lết, Bãi Biển Mới Đẹp Như Mơ
  • Ở Việt Nam Học Quản Trị Du Lịch Ở Đâu Chất Lượng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Ngành Quản Trị Dịch Vụ Du Lịch Và Lữ Hành Ở Đâu?
  • Học Ngành Quản Trị Du Lịch
  • Nên Mua Sắm Ở Đâu Và Mua Quà Gì Khi Đi Hàn Quốc?
  • Thổ Địa Hàn: Mua Sắm Shopping Ở Hàn Đâu Chỉ Có Dongdeamun
  • Du Học Ngành Quản Trị Du Lịch Khách Sạn
  • Học quản trị du lịch được xem là ngành học không bao giờ “lỗi thời” vì dù kinh tế có lạm phát đến mấy thì mọi người vẫn luôn có nhu cầu sử dụng các dịch vụ vui chơi, giải trí và nghỉ dưỡng trong năm. Vậy ở Việt Nam học quản trị du lịch ở đâu chất lượng? Có thể học ngành quản trị du lịch ở đâu? …là bước tìm hiểu quan trọng tiếp theo sau khi bạn nhận thấy mình hội đủ tố chất để theo đuổi ngành học đầy hấp dẫn này.

    Trong bối cảnh du lịch phát triển như hiện nay,quản trị du lịch là ngành được rất nhiều bạn trẻ chọn theo học, bởi tính chất năng động và có rất nhiều cơ hội việc làm.

    Học ngành quản trị du lịch ra làm gì?

    Ngành quản trị du lịch được rất nhiều bạn trẻ chọn, bởi tính năng động và có rất nhiều cơ hội việc làm. Với chương trình đào tạo này, sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành quản trị du lịch ra trường có thể làm các công việc sau đây:

    • Nhân viên thiết kế – điều hành tour trong nước, quốc tế.
    • Hướng dẫn viên du lịch.
    • Nhân viên chăm sóc khách hàng cho các hãng tour.
    • Nhân viên khách sạn với các vị trí: lễ tân, sales, chăm sóc khách hàng…
    • Tìm các việc làm du thuyền trên các hãng tàu du lịch…

    Học quản trị du lịch ở đâu chất lượng?

    Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – chúng tôi

    • Bộ môn Du lịch được thành lập từ năm 1991, nay trực thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại Học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Sau một chặng đường dài liên tục phát triển, để phù hợp với nhu cầu thực tế về đào tạo và nghiên cứu, từng bước bộ môn du lịch được chính trở thành thành bộ môn độc lập. Bộ môn du lịch đã được phép của Đại Học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh chính thức đào tạo cử nhân du lịch và đã được Tổng cục Du lịch Việt Nam ủy nhiệm đào tạo nghiệp vụ hướng dẫn du lịch dành cho các đối tượng có nhu cầu xin cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch.
    • Bộ môn Du Lịch thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh với mục tiêu đào tạo nhân lực du lịch cho cả nước và hướng tới hội nhập thị trường khu vực ASEAN; cung ứng nguồn nhân lực trình độ cao và có bản sắc riêng trong lĩnh vực du lịch; cung cấp các sản phẩm khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách quản lý và phát triển du lịch.

    Đại Học Ngoại Ngữ – Tin Học chúng tôi

    • Nắm bắt xu thế phát triển của xã hội và nhằm đáp ứng nhu cầu về nhân lực, Khoa Du lịch – Khách sạn trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập từ tháng 01/2003 góp phần vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch trên toàn quốc, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ đại học và có thể sử dụng ngoại ngữ trong môi trường làm việc trong nước và nước ngoài.
    • Trong quá trình đào tạo Khoa Du lịch-Khách sạn đặt trọng tâm là: Sinh viên theo học có đủ kiến thức và kỹ năng quản trị các nghiệp vụ chuyên môn du lịch, khách sạn để hoạt động trong lĩnh vực du lịch – khách sạn trong và ngoài nước, có đủ kiến thức về các hoạt động lữ hành, tổ chức thiết kế tour và nghiệp vụ hướng dẫn du lịch để hoạt động thành công trong lĩnh vực du lịch trong và ngoài nước. Khoa Du lịch – Khách sạn đặt trọng tâm vào việc dùng ngoại ngữ làm công cụ giảng dạy ngành nghề nhằm đào tạo cho sinh viên kiến thức và kỹ năng làm việc chuyên nghiệp và tự tin trong môi trường quốc tế. Bên cạnh những kiến thức được cung cấp trên giảng đường, Khoa Du lịch – Khách sạn còn giúp sinh viên có được những kiến thức thực tế.

    Công ty Cổ phần Be Hotelier – Đơn vị chuyên đào tạo các khóa học online về Ngành khách sạn – Đơn vị chuyên tư vấn đào tạo và setup doanh nghiệp ngành khách sạn lớn vừa và nhỏ, từ 0 đến 5 sao tiêu chuẩn quốc tế, trang bị kiến thức và kinh nghiệm thực tế từ các Giảng viên đồng thời là chuyên viên có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề cho người học Việt. Với sứ mệnh nâng tầm giá trị ngành Dịch vụ Khách sạn và những nhân sự làm việc trong ngành nhà hàng – khách sạn tại Việt Nam, Be Hotelier luôn chú trọng đào tạo ngành quản trị nhà hàng khách sạn chuyên nghiệp, mang lại những giá trị hữu ích cho học viên. Gọi ngay hotline 0972 291 313 để được tư vấn về các khóa học quản trị nhà hàng khách sạn.

    BE HOTELIER

    Địa chỉ: 104 Nguyễn Thái Bình, P.12, Q.Tân Bình, Tp.HCM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bỏ Túi 30 Địa Điểm Du Lịch Quy Nhơn Đẹp Không Thể Bỏ Qua
  • Bỏ Túi Kinh Nghiệm Du Lịch Ở Trung Quốc Giá Rẻ
  • Du Lịch Phú Quốc Nên Nghỉ Ở Đâu?
  • Khu Du Lịch Phú An Khang Đặc Sắc Bậc Nhất Bến Tre Có Gì?
  • Khu Du Lịch Sinh Thái Phú An Khang Bến Tre
  • Top Các Điểm Du Lịch Một Mình Lý Tưởng Nhất Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 5 Điểm Đến Du Lịch Một Mình Lý Tưởng Và An Toàn Ở Việt Nam
  • Xu Hướng Du Lịch Một Mình
  • #9 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội 2 Ngày 1 Đêm (Chi Phí Rẻ + Đường Đi Dễ)
  • Bỏ Túi 10 Địa Điểm Du Lịch 2N1Đ Gần Hà Nội ‘bao Vui, Bao Đẹp’
  • Tour Huế 1 Ngày Từ Đà Nẵng Giá Rẻ, Chất Lượng Cao
  • Bình Ba được biết đến là một hòn đảo thuộc thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, tại hòn đảo xinh đẹp này vẫn còn giữ nguyên nét đẹp hoang sơ với biển xanh nắng vàng, cát trắng. Tại đây du khách sẽ được hòa mình vào làn nước trong xanh, hiền hoàn nằm giữa các bờ cát trắng. Xung quanh đỏa là những bãi tắm đẹp, hàng dừa cao, vút tỏa bóng mát hay những hoạt động của người dân chài. Tất cả sẽ mang lại cho bạn những trải nghiệm tuyệt vời và thú vị.

    Bên cạnh những cảnh đẹp, bãi biển trong xanh thì các bạn có thể hoà mình vào các hoạt động vui chơi trên biển như lặn ngắm san hô, ngắm hòng hôn chieu62, bình minh trên biển, câu mực, tôm hùm sẽ thật tuyệt.

    2. Huế

    Nếu bạn muốn tìm một nơi thanh bình kèm với đó là một chút buồn cỏ kính, thì Huế là lựa chọn lý tưởng để dừng chân. Đến đây bạn sẽ trải nghiệm những gì?. Sông Hương lững lờ trôi, cùng với đó là bãi biển Lăng Cô trong xanh hòa quyện với cảnh sắc mây trời, non nước.

    Lang thang một mình ngắm nhìn những công trình cổ kính, kiến trúc thời xa xưa tại kinh thành Huế, một bản nhạc cung đình – một nét đẹp văn hóa xa xưa của dân tộc sẽ cho bạn những cảm giác thú vị mà không nơi nào có được.

    3. Đà Lạt

    Nếu bạn thích một chút lãng mạn và đầy màu sắc tình yêu vớ những khung cảnh nên thơ thì Đà Lạt là một điểm dừng chân lý tưởng cho những ai thích du lịch một mình. Đừng nghĩ rằng, Đà Lạt là nơi của tình yêu dành cho những cặp đôi, bạn thử đến một mình xem sao, sẽ có đủ thời gian để bạn chiêm ngưỡng những cảnh sắc trữ tình nơi đây, ngắm nhìn trăm hoa khoe sắc, những con đường cây xanh cao vời vợi, hay là những màn sương long lanh mờ ảo.

    Hội An chắc ai cũng biết, một thành phố nhỏ bé xinh đẹp nhưng cổ kính, hiền hòa luôn được du khách trong và ngoài nước yêu thích. Buổi tối nơi đây rất đẹp, sáng rực lên những chiếc lòng đèn treo khắp phố, ngồi thuyền ngắm cảnh phố cổ mới thấy được hết vẻ đẹp của thành phố cổ kính này.

    Đến với Hội An, một mình lang thang khắp các con phố nhỏ, ngồi bệt ở một quán cafe ven đường gọi một ly cafe, ghé quán cao lầu, mua vài món quà lưu niệm nhỏ xinh để ghi nhớ những tháng ngày sống chậm.

    Đặc biệt, bạn sẽ có cơ hội hòa nhịp vào cuộc sống của người dân làng chài với phiên chợ nhộn nhịp, đông vui, không gian nơi đây sẽ cho bạn một vé về với tuổi thơ êm đềm bên dòng sông quê với những phiên chợ sớm.

    6. Nha Trang

    Nha Trang thànhphố biển xinh đẹp luôn là điểm đến hấp dẫn và thú vị của nhiều người, đặc biệt là các bạn độc hành. Khi đến đây, bạn tìm nơi ở gần đường Trần Phú, để mỗi sớm mai bạn có thể thư thả chạy bộ ra bãi biển, tắm nắng, đón mặt trời lên và ngắm dòng người tấp nập đi làm. Nếu đã xác định độc hành cho toàn bộ chuyến đi thì bạn nên tự mình thuê xe máy, một mình khám phá viện hải dương học, viện Yersin, thăm Hòn Chồng và thưởng thức một ly cà phê đậm đà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Địa Điểm Nào Thích Hợp Du Lịch Một Mình Ở Việt Nam?
  • Những Nơi Bạn Nên Đến Khi Đi Du Lịch Một Mình Ở Việt Nam
  • Ở Sài Gòn Thất Tình Thì Mình Đi Đâu?
  • Nên Đi Du Lịch 1 Mình Ở Đâu Học Theo Tây Ba Lô Nhé
  • Những Địa Điểm Du Lịch Một Mình Quanh Hà Nội
  • Trường Quản Lý Khách Sạn Việt Úc

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiệp Vụ Bàn Chuyên Nghiệp
  • Top Trường Du Lịch Khách Sạn Tại Úc Có Mức Học Phí Vừa Phải Và Cơ Hội Phát Triển Nghề Nghiệp Cao
  • Cuộc Thi Video Clip Quảng Bá Du Lịch Việt Nam
  • Phát Động Cuộc Thi Video Clip Quảng Bá Du Lịch Việt Nam
  • Tour Du Lịch Eco Garden Thái Dương 1 Ngày Giá Rẻ
  • Khóa Học Trường Quản Lý Khách Sạn Việt Úc – VAAC

    Giới Thiệu Trường Quản Lý Khách Sạn Việt Úc – VAAC

    Bạn muốn tạo dựng một sự nghiệp vững chắc trong ngành kinh doanh quản lý khách sạn tầm cỡ thế giới bằng con đường học nghề?

    Mong muốn của chúng tôi ở VAAC là đào tạo ra những nhân viên toàn diện để đảm nhận các vị trí quản lý khách sạn trong ngành dịch vụ tầm cỡ Quốc tế. Các khóa học ở VAAC tập trung vào các kỹ năng kinh doanh quản lý khách sạn, quản lý nhà hàng, thực hành quản lý, cung cấp những kỹ năng cần thiết để bạn có thể tiếp tục phát triển trong môi trường kinh doanh Quốc tế luôn biến động. Các lớp học quy mô với trang thiết bị tối ưu. Các bài học thực hành cùng với phương pháp dạy học hướng tới mục tiêu nâng cao kỹ năng của học viên là những gì đáng chờ đợi bạn ở VAAC. Ở Trường dạy nghề VAAC, các bạn đã nắm chắc cơ hội tạo dựng về phát triển tương lai bởi rất nhiều học viên đã tốt nghiệp của chúng tôi hiện đang rất thà nh công trên con đường sự nghiệp.

    Cơ Sở Vật Chất Trường Quản Lý Khách Sạn Việt Úc – VAAC

    Với các vị trí chiến lược tại Quận 1 và Quận 3 cùng với các cơ sở Khách sạn – Nhà hàng thành viên. Trường Trung Cấp Nghề Quản Lý Khách Sạn Việt – Úc (VAAC) tự hào là mô hình đào tạo kết hợp sử dụng lao động qui mô và tầm cỡ Quốc Tế tại Việt Nam. Trường có cơ sở vật chất khá khang trang, tùy theo từng ngành học mà phòng học được trang bị các dụng cụ thiết bị phù hợp, nhà bếp rộng rãi, sạch sẽ phục vụ cho các khóa học nấu ăn, phòng Khách sạn thoáng mát được mô phỏng như khách sạn 5 sao phục vụ cho các ngành về khách sạn…

    Thông Tin Liên Hệ Trường Quản Lý Khách Sạn Việt Úc – VAAC

    Trường Quản Lý Khách Sạn Việt Úc (VAAC)

    Địa Chỉ: 44 Nguyễn Thị Minh Khai, P.Đa Kao, Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh

    Điện thoại:(84.8)38228324 – 38228417 – 38233219, Fax:(848)38237549

    Email: [email protected]

    Website: http://quanlykhachsan.edu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Tâm Singapore Ở Đâu?
  • Bác Sĩ Da Liễu Cảnh Báo Bệnh Về Da Rất Dễ Tái Phát Khi Trời Trở Lạnh, Dù Trẻ Hay Già Cũng Đều Khó Tránh!
  • Giá Vé Vào Cửa Khu Du Lịch Tre Việt
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Làng Nổi Tân Lập Kèm Giá Vé Chi Tiết
  • Tour Phú Yên 2 Ngày 3 Đêm
  • Du Lịch Xanh Ở Việt Nam: Cơ Hội Và Thách Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Chi Phí Du Lịch Thái Lan Cho 2 Người Khoảng Bao Nhiêu Là Đủ?
  • Du Lịch Cần Thơ
  • Khu Du Lịch Bình Quới: 1, 2, 3 Review, Giá Vé Buffet, Thủ Đức Năm 2022
  • Sỹ Quan Bộ Đội Đi Nước Ngoài Vì Việc Riêng Có Được Không ?
  • Du Lịch Kyoto Mùa Xuân Ngắm Hoa Anh Đào Tuyệt Đẹp
  • Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lê Quang Tùng nhận định, Việt Nam có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch xanh.

    Tham dự diễn đàn có các đồng chí: Lê Quang Tùng, Thứ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch; Hà Văn Siêu, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch; Vũ Thế Bình, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam; cùng đại sứ Vương quốc Tây Ban Nha, đại diện vụ Đông Nam Á – Ngân hàng phát triển châu Á; Hiệp hội Du lịch Việt Nam, Tập đoàn Flamingo, câu lạc bộ CTC…

    Phát biểu tại Diễn đàn, ông Lê Quang Tùng, Thứ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch cho biết, năm 2022, Việt Nam được UNWTO xếp hạng 6/10 quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng khách du lịch hàng đầu thế giới, được WTA bình chọn là điểm đến du lịch hàng đầu châu Á. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Lê Quang Tùng, Việt Nam đang chứng kiến nhiều bài học, kinh nghiệm cả trong môi trường tự nhiên và văn hóa, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển du lịch.

    Theo Thứ trưởng Lê Quang Tùng, hiện nay tại Việt Nam, các chính sách chiến lược, quy hoạch định hướng phát triển du lịch của Đảng, Nhà nước đều hướng đến mục tiêu phát triển theo hướng chuyên nghiệp, bền vững; phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.

    Ông Vũ Thế Bình, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam cam kết, Hiệp hội Du lịch sẽ tiếp tục đồng hành cùng cơ quan quản lý Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp du lịch, nhằm đẩy mạnh du lịch xanh tại Việt Nam.

    Với dẫn chứng đưa ra của GS, TS Nguyễn Văn Đính, thời gian qua, một số địa phương, công ty lữ hành, khách sạn đã có nhiều lưu ý trong việc phát triển du lịch xanh, như tại một số tỉnh Tây Bắc đã có du lịch cộng đồng; Thừa Thiên – Huế chú trọng vào du lịch nhà vườn; Nha Trang tập trung về du lịch biển, đảo; một số tỉnh Nam Bộ “tranh thủ” với mô hình miệt vườn để làm dịch vụ du lịch. Bên cạnh đó, nhiều công ty lữ hành xây dựng các tour du lịch xanh; khách sạn đạt chứng chỉ xanh…

    Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Nguyễn Anh Tuấn, bên cạnh những tiềm năng phát triển du lịch xanh, Việt Nam cũng có nhiều vấn đề và cần giải pháp để vượt qua khó khăn. Đầu tiên là ở Việt Nam, nhận thức vể việc phát triển du lịch xanh chưa đầy đủ và chưa thấy được tầm quan trọng của phát triển du lịch xanh đối với phát triển bền vững của đất nước. Thứ hai, Chính phủ Việt Nam còn thiếu cơ chế, chính sách và hướng dẫn cụ thể về phát triển du lịch xanh. Thứ ba là sự thiếu thốn trong vấn đề tài chính và đầu tư vào các giải pháp xanh. Thứ tư, nhận thức của khách du lịch và việc kiểm soát tiêu thụ năng lượng của doanh nghiệp cũng là một thách thức cần phải vượt qua nếu muốn hướng tới du lịch xanh…

    Hoạt động du lịch còn tồn tại một số vấn đề khiến du lịch xanh chưa được phát triển mạnh mẽ, cụ thể: Phát triển du lịch chưa gắn với khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, hiệu suất sử dụng tài nguyên thấp; chưa gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu… Việc phát triển quá nhanh đã gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường du lịch. Tại nhiều khu, điểm du lịch xuất hiện các chất thải rắn, nước thải chưa thu hồi, xử lý triệt để, việc phát triển du lịch làm gia tăng mức độ tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, thay đổi cảnh quan thiên nhiên. Đặc biệt, ngày càng có nhiều cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch xây dựng trên các đảo không theo quy hoạch, làm tăng nguy cơ xói mòn đường bờ biển, dịch vụ du lịch xả trực tiếp vào môi trường, làm tăng mức độ hữu cơ nước biển ven bờ; khiến môi trường xuống cấp, gây ảnh hưởng xấu tới hình ảnh và phát triển bền vững của du lịch Việt Nam.

    Ông Steven Schipani, đại diện Vụ Đông Nam Á, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) hỗ trợ đầu tư nhằm cải thiện du lịch Việt Nam.

    Chia sẻ về những hỗ trợ của các tổ chức quốc tế đối với ngành du lịch Việt Nam trong những năm qua, Trưởng Ban Quản lý dự án, Cơ quan Đại diện Thường trú của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, Steven Schipani cho biết, trong giai đoạn từ 2003 – 2022, ADB đã đầu tư bốn dự án công trình trị giá khoảng 114 triệu USD, nhằm cải thiện hạ tầng du lịch với các con đường mới, trung tâm thông tin du lịch, xây dựng năng lực quản lý điểm đến và thúc đẩy hợp tác trong vùng…

    Homestay A Chu ở bản Hua Tạt, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La – nơi lưu trú “xanh” thu hút khách du lịch đến nghỉ dưỡng.

    Nhận thấy hướng phát triển của du lịch của Mộc Châu, Vân Hồ, từ năm 2013, A Chu mới biết đến cái nghề gọi là “nghề làm dịch vụ du lịch”. Và nhờ có sự tư vấn, cầm tay chỉ việc của thầy Dương Minh Bình và Công ty CBT Travel, đến năm 2014, anh đã dần hoàn thiện kiến thức của mình về dịch vụ đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Nghĩ lại giai đoạn đầu khởi nghiệp, A Chu gặp nhiều khó khăn do nguồn vốn của tỉnh cấp còn ít, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, chưa có cầu bắc qua con suối lớn hay hệ thống nước thải cho bản và các hộ du lịch chưa hoàn thiện… nhưng chỉ hai năm sau, homestay của A Chu đã đón 1.300 lượt khách, năm 2022 đón 2.200 lượt, năm 2022 đạt 5.700 lượt khách, đạt 60%/năm. Homestay của A Chu mang lại cho gia đình anh vài trăm triệu đồng mỗi năm, tạo việc làm cho nhiều lao động. Cách làm của A Chu đã mở ra một hướng làm ăn mới cho bà con ở bản Hua Tạt. Đến nay, trong bản Hua Tạt đã có năm gia đình làm du lịch cộng đồng.

    Ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã có những biện pháp chuyển đổi theo hướng du lịch xanh như: Mô hình tiết kiệm điện năng, tiết kiệm nước tại các cơ sở lưu trú. Nhiều doanh nghiệp đã hướng dẫn khách du lịch bảo vệ môi trường khi tham gia tour đi rừng, leo núi; xây dựng sản phẩm du lịch đặc biệt về làm sạch môi trường…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Sapa 4 Ngày Từ Đà Nẵng Giá Rẻ
  • Liên Hệ Đường Dây Nóng Bãi Biển Sầm Sơn
  • Du Lịch Mũi Né Bằng Xe Máy
  • Du Lịch Bụi Mũi Né Bằng Xe Máy
  • Du Lịch Phú Quốc 3 Ngày Dịch Vụ Đẳng Cấp 5 Sao
  • Quản Lý Kinh Doanh Khách Sạn Căn Hộ Và Biệt Thự Du Lịch (Phần 1: Tổng Quan Về Condotel Và Thực Trạng Ở Việt Nam)

    --- Bài mới hơn ---

  • Villa Là Gì? Phân Biệt Villa Với Các Mô Hình Lưu Trú Khác
  • Villa Nha Trang Giá Rẻ Đặc Điểm Địa Lý Tác Động Phát Nhu Cầu Tự Doanh Villa Cho Thuê
  • Biểu Phí Bảo Hiểm Du Lịch Bảo Việt (Nội Địa Và Quốc Tế)
  • Biểu Phí Bảo Hiểm Du Lịch Bảo Minh (Nội Địa Và Quốc Tế)
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Quảng Ninh Tự Túc 2022
  • Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với thế giới nhưng thị trường condotel tại Việt Nam đang phát triển với tốc độ nhanh do nhu cầu đầu tư bất động sản của các nhà đầu tư cá nhân, nhu cầu nghỉ dưỡng tại condotel của chính những nhà đầu tư thứ cấp cũng như nhu cầu ngày càng tăng của khách du lịch trong và ngoài nước. Sự phát triển của hàng loạt dự án condotel tại các điểm du lịch nổi tiếng dọc bãi biển, sự mới mẻ của loại hình condotel đặt ra nhiều vấn đề đối với hoạt động quản lý nhà nước đa lĩnh vực trong đó có ngành Du lịch.

    1. Tổng quan về condotel

    1.1. Condotel là gì ?

    Condotel (viết tắt của hai từ condominimum và hotel) là thuật ngữ được dùng để chỉ dạng khách sạn căn hộ hoặc khách sạn mà toàn bộ hoặc một phần khách sạn được chuyển đổi hợp pháp sang căn hộ mà tại đó mỗi căn hộ có chủ sở hữu riêng. Chủ nhà không những sở hữu căn hộ mà còn được sở hữu diện tích và tiện ích chung như thang máy, hành lang, hồ bơi, sân chơi,… dựa trên hợp đồng thỏa thuận với chủ đầu tư. Chủ sở hữu căn hộ khách sạn hoặc phòng khách sạn có quyền ở, bán hoặc cho thuê tùy theo quyết định của họ. Để phục vụ việc cho thuê hoặc để ở của chủ sở hữu, khách sạn căn hộ có các dịch vụ đặt phòng, dịch vụ ăn uống, giặt là, các dịch vụ vui chơi giải trí… Thông thường, chủ đầu tư dự án thuê công ty quản lý chuyên nghiệp quản lý dịch vụ, xúc tiến cho thuê phòng và nhận được lợi nhuận dựa trên doanh thu.

    1.2. Nguồn gốc xuất xứ condotel

    Vào đầu những năm 1980, biệt thự du lịch hoặc khách sạn căn hộ (condotel) bắt đầu phát triển ở Mỹ khi một số chủ đầu tư chuyển đổi công năng các biệt thự du lịch hoặc khách sạn cũ sang mô hình condotel nhằm làm mới sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tăng cao về du lịch nghỉ dưỡng và nhu cầu sở hữu ngôi nhà thứ hai của dân Mỹ. Việc chuyển đổi cấu trúc, công năng của các cơ sở lưu trú du lịch này đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cả chủ đầu tư và các nhà đầu tư thứ cấp. Chủ đầu tư bán được nhiều căn hộ khách sạn, nhà đầu tư thứ cấp có cơ hội sở hữu căn hộ khách sạn làm nơi nghỉ dưỡng. Trong những ngày không sử dụng, căn hộ được đem cho khách du lịch thuê, nhờ đó lợi nhuận đầu tư tăng lên.

    Ngày nay, condotel trở thành một trong những phân khúc đầu tư hấp dẫn của thị trường bất động sản trên thế giới. Các thương hiệu lớn như Hilton, Hyatt, Starwood hoặc Trump đã xây những dự án condotel có vị trí đẹp tại các khu nghỉ dưỡng, điểm du lịch hoặc trong trung tâm thành phố. Kể từ đó, condotel đang trở thành kênh đầu tư tốt nhờ lợi nhuận cao thu được trong quá trình cho khách du lịch thuê hoặc bán lại. Tăng trưởng của condotel đã và đang gắn liền với sự phát triển của du lịch do khả năng sinh lợi từ khách thuê phòng.

    1.3. Đặc điểm của condotel

    Condotel có một số đặc điểm gần giống với loại hình chia sẻ kỳ nghỉ (timeshare) hoặc căn hộ cho khách du lịch thuê đang phổ biến trên thế giới. Sự khác biệt chính của condotel với hai loại hình trên đó là hình thức sở hữu và sự tiếp cận các dịch vụ trong tổ hợp. Đối với timeshare, chủ sở hữu thứ cấp bị giới hạn về quyền sử dụng căn hộ của họ vào một thời điểm nhất định trong năm. Dịch vụ của timeshare hạn chế hơn khách sạn căn hộ và khách lưu trú tại timeshare phần đa tự phục vụ. Bên cạnh đó lợi nhuận của timeshare thấp hơn khách sạn căn hộ do công ty quản lý cần nhiều nguồn lực hơn để sắp xếp, bán phòng vào từng thời điểm nhất định trong năm. Đối với căn hộ khách sạn, quy mô dịch vụ lớn hơn nhiều so với căn hộ du lịch và timeshare. Đặc điểm chính của condotel như sau:

    1) Về sở hữu: Condotel có nhà đầu tư ban đầu và nhà đầu tư thứ cấp. Một phòng hoặc một căn hộ condotel có thể được một hay nhiều nhà đầu tư thứ cấp mua và sử dụng. Do đặc tính sở hữu, các nhà đầu tư có thể mua bán căn hộ condotel trên thị trường bất động sản. Có thể có các quy định về quyền sở hữu khác nhau giữa các quốc gia, cũng như tuỳ dự án. Ở châu Á, quyền sở hữu cũng khác nhau đối với người mua trong nước và nước ngoài. Ví dụ ở Thái Lan, người nước ngoài chỉ có thể sở hữu tài sản nhà chung cư tối đa là 30 năm, có khả năng gia hạn, và tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong một dự án cũng bị hạn chế. Còn Hongkong, Singapore giao đất 99 năm cho loại hình condotel.

    2) Về chức năng và cách thức vận hành: Condotel là sự kết hợp giữa căn hộ và khách sạn, condotel có những đặc điểm giống và khác với khách sạn. Cụ thể, cách thức hoạt động condotel có chức năng của một khách sạn bởi condotel có hệ thống đặt phòng và các dịch vụ khách sạn khác như hồ bơi, câu lạc bộ sức khỏe, hộp đêm, nhà hàng, cửa hàng, dịch vụ thư tín và dịch vụ phòng 24/24. Điểm khác của condotel với khách sạn là condotel cho phép khách mua hoàn toàn quyền sở hữu căn hộ để nghỉ dưỡng và cho thuê. Ngoài ra, condotel có chức năng của một căn hộ vì được thiết kế với đầy đủ các tiện ích bếp, phòng khách, phòng ngủ… với đầy đủ dụng cụ nấu nướng và du khách/người sử dụng có thể đi chợ và trải nghiệm phong cách sống như tại chính ngôi nhà của mình. Tại Hoa Kỳ, quy định căn hộ condotel phải đảm bảo các tiêu chuẩn cho người sử dụng lưu trú dài ngày, phải có tiêu chuẩn diện tích trên đầu người giống như thiết kế căn hộ chung cư. Nếu có từ 02 phòng ngủ trở lên thì phải có ít nhất 01 phòng ngủ riêng biệt, tách biệt với khu vực sinh hoạt chung. Căn hộ condotel phải được thiết kế bao gồm các tiện nghi khép kín như một căn hộ như nhà bếp. Các phòng sinh hoạt đều phải đảm bảo các yêu cầu về tầm nhìn cảnh quan, thông gió và chiếu sáng tự nhiên như một căn hộ. Tuy nhiên, condotel khác căn hộ thông thường ở chỗ nó cần phải có một đơn vị đứng ra quản lý và điều hành các vấn đề về việc cho thuê lại và hoạt động hàng ngày của khách sạn.

    3) Condotel chủ yếu nằm trong phân khúc bất động sản nghỉ dưỡng, thường tọa lạc tại những thành phố du lịch sầm uất, sôi động, các khu nghỉ dưỡng ven biển. Condotel thường được xây dựng ở các vị trí có tầm nhìn và cảnh quan đẹp như hướng biển, hướng ra sân golf, cạnh các công viên, cạnh các khu trung tâm mua sắm lớn hay casino, hay các trung tâm mật độ cao của đô thị. Trong đó, khu vực dải ven biển tập trung đông nhất.

    4) Về đối tượng tiêu dùng condotel. Thống kê hiện nay cho thấy những khách hàng thường xuyên và có nhu cầu sở hữu căn hộ khách sạn thường là 2 nhóm chính: (i) Nhà đầu tư: Đây là nhóm khách hàng có nhu cầu mua căn hộ khách sạn với mục đích đầu tư vì lợi nhuận. Với họ, điểm hấp dẫn của condotel là các tính toán của nhà đầu tư đưa ra về khả năng thu hồi vốn nhanh. Việc bán sản phẩm condotel giống như bán một căn hộ là có thể mang lại lợi nhuận ngay lập tức hoặc cho thuê du lịch lâu dài để thu hồi vốn đầu tư. (ii) Doanh nhân thành đạt, người có mức thu nhập trung lưu thích nghỉ dưỡng, du lịch: Đây là nhóm khách hàng mua hoặc thuê condotel để hưởng thụ cuộc sống, muốn tận hưởng kỳ nghỉ dài cũng như muốn thể hiện đẳng cấp thượng lưu tại một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi với chi phí vừa phải.

    Condotel Panorama Nha Trang (Ảnh: condotelvietnam.com)

    6) Điểm khác biệt của condotel và khách sạn: (i) Condotel cho phép khách hàng mua hoàn toàn quyền sở hữu và sử dụng căn hộ, hoặc đăng ký chương trình cho thuê căn hộ với chủ đầu tư; (ii) Có đơn vị quản lý vận hành và bảo dưỡng chuyên nghiệp; (iii) Hoạt động theo mô hình timeshares chia sẻ lợi nhuận ưu đãi; (iv) Các căn hộ và dự án condotel thường ở phân khúc bất động sản nghỉ dưỡng và phát triển mạnh ở các thành phố có tiềm năng về du lịch; Kết hợp với các tiện ích chung của toàn hệ thống; (v) Luôn có yếu tố đầu tư sinh lời hấp dẫn với khả năng tăng giá cao.

    1.4. Các ưu điểm của condotel

    1) Condotel kế thừa tính ưu việt của mô hình khách sạn và căn hộ. Khách sử dụng được sử dụng các dịch vụ của khách sạn và lưu trú tại buồng có diện tích lớn của căn hộ.

    2) Chủ đầu tư dự án có cơ hội huy động được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư dự án có quy mô và chất lượng. Về nguyên tắc, condotel được rất nhiều nhà đầu tư thứ cấp góp vốn để sở hữu một hay nhiều căn hộ để cho thuê lại, trong khi căn hộ du lịch thường do một chủ đầu tư xây dựng, vận hành hoặc thuê công ty quản lý vận hành. Cụ thể, việc chủ đầu tư dự án dịch vụ du lịch thực hiện xây dựng các căn hộ du lịch để bán có hiệu quả tích cực giúp huy động vốn rộng rãi từ người dân để thực hiện dự án mà không phải vay ngân hàng và không phải trả lãi suất cao, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng tại các dự án sau khi được giao đất cho thuê đất; khuyến khích thu hút đầu tư vào việc thực hiện dự án kinh doanh dịch vụ du lịch.

    3) Quy mô lớn và đẳng cấp dịch vụ của condotel phù hợp với xu hướng phát triển chung của thị trường khách sạn thế giới và của Việt Nam. Hiện ngành du lịch đang thiếu những tổ hợp lưu trú tạo điểm nhấn cho các điểm đến. Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, công suất trung bình của các khách sạn hạng cao cấp hiện dao động trong khoảng từ 60-65%, đây là con số khá tốt để đầu tư khách sạn cao cấp trong bối cảnh Việt Nam đang thiếu những khách sạn căn hộ quy mô lớn hoặc tổ hợp lưu trú, giải trí đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Dự kiến mức tăng trưởng khách du lịch quốc tế ổn định trong thời gian tới cũng là điều kiện thuận lợi để đầu tư bất động sản du lịch. Hiên nay, các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính đã và đang đầu tư vào các dự án xây dựng khách sạn căn hộ có quy mô lớn, đẳng cấp và hiện đại tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Phú Quốc, Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Hạ Long.

    2. Xu hướng phát triển condotel

    Condotel không còn là thuật ngữ mới lạ ở Mỹ, châu Âu, vùng Ca-ri-bê hay Trung Đông mà nó đã lan sang các nước châu Á. Nhiều báo cáo, kết luận của các công ty tư vấn đầu tư condotel nhận định rằng, condotel sẽ tăng trưởng bùng nổ trên thế giới. Thứ nhất, nhu cầu sở hữu ngôi nhà thứ hai của tầng lớp trung lưu để nghỉ dưỡng tăng. Thứ hai, lợi nhuận do condotel mang lại lớn từ nguồn thu cho khách du lịch thuê. Thứ ba, do tính chất huy động vốn nên nhà đầu tư có cơ hội xây dựng và vận hành, tái đầu tư những condotel có quy mô lớn, đa dịch vụ và chất lượng cao đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ cao cấp của khách du lịch.

    Tại Việt Nam, hình thức căn hộ du lịch đã phát triển từ những năm 2000 và các dự án condotel phát triển mạnh trong thời gian gần đây dựa trên nền tảng mô hình căn hộ và xu hướng phát triển trên thế giới. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7798:2014 về căn hộ du lịch và xếp hạng định nghĩa căn hộ và căn hộ du lịch như sau. Thứ nhất, căn hộ (apartment) được hiểu là diện tích khép kín dành cho khách lưu trú bao gồm buồng ngủ, phòng vệ sinh, khu vực tiếp khách, khu chế biến món ăn và có thể có phòng đệm. Thứ hai, căn hộ du lịch (tourist apartment) là căn hộ nằm trong khu có tối thiểu từ 5 căn hộ trở lên, có trang thiết bị, tiện nghi cần thiết phục vụ khách du lịch. Khách có thể tự phục vụ trong thời gian lưu trú. Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, FraserSuites và Somerset được xem là những nhà đầu tư tiên phong và có uy tín trong việc quản lý, vận hành căn hộ du lịch. Trên trang web đặt phòng khách sạn chúng tôi hay chúng tôi rất dễ dàng để tìm ra rất nhiều căn hộ du lịch có chất lượng cao, quy mô nhỏ và vừa do các nhà đầu tư Việt Nam điều hành tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh.

    So sánh condotel và mô hình khách sạn căn hộ, căn hộ du lịch đang được Tổng cục Du lịch sử dụng để phân loại và xếp hạng tại tiêu chuẩn TCVN: 4391:2015 và TCVN 7798:2014, condotel là tổ hợp dịch vụ ưu việt hơn do có sự khác biệt về hình thức sở hữu và quy mô các dịch vụ. Theo báo cáo của CBRE Việt Nam, thị trường condotel đang là phân khúc bất động sản hấp dẫn, phát triển sôi động về số lượng dự án mới và số giao dịch. Các dự án condotel cao cấp chiếm khoảng 67% tổng cung. Số lượng giao dịch thành công tại các dự án cao cấp chiếm tỷ lệ cao hơn so với các dự án có quy mô và chất lượng trung bình. CBRE Việt Nam dự đoán condotel tiếp tục là phân khúc phát triển mạnh trong những năm tới do sức hút về lợi nhuận và xu hướng mới trong việc sở hữu nơi nghỉ ngơi của Việt Nam.

    3. Tình hình đầu tư và kinh doanh condotel tại Việt Nam

    3.1. Đầu tư condotel tại Việt Nam

    Theo Hiệp hội bất động sản thành phố Hồ Chí Minh, từ khoảng năm 2014 đến nay, trên phạm vi cả nước đã xuất hiện cơn sốt đầu tư phát triển một loại hình sản phẩm bất động sản du lịch mới ở nước ta, đó là các dự án căn hộ khách sạn, biệt thự, nhà phố trong các khu du lịch nghỉ dưỡng (sau đây gọi là condotel), tập trung phát triển tại các khu vực ven biển, hải đảo như Vân Đồn, Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Mũi Né, Vũng Tàu, Phú Quốc, và tại Lâm Đồng, Đồng Nai… Trong đó, Nha Trang, Đà Nẵng, Phú Quốc là 3 địa bàn đang phát triển nóng. Theo số liệu thống kê của 16 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì chỉ riêng các khu du lịch nghỉ dưỡng quy mô lớn(từ 50 ha trở lên) đã có 77 dự án, với tổng diện tích 18.019 ha; 16.537 phòng khách sạn, 12.056 căn hộ condotel, 11.174 biệt thự nghỉ dưỡng. Ngoài ra, còn có hơn 120 dự án khu du lịch nghỉ dưỡng quy mô vừa và nhỏ, có diện tích dưới 50 ha/khu. Số liệu từ Bộ Xây dựng cho thấy, trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến nay, một số địa phương, nhất là các địa phương ven biển đã cho phép một số doanh nghiệp đầu tư kinh doanh các dự án du lịch nghỉ dưỡng có công trình condotel. Tại một số đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương khác đã cho phép một số doanh nghiệp đầu tư kinh doanh loại hình công trình văn phòng làm việc kết hợp lưu trú (officetel). Theo đó, số lượng căn hộ condotel là khoảng 15.010 căn ( TP. Hà Nội là 4.414 căn; TP. HCM là 208 căn; TP. Đà Nẵng là 4.565 căn; các tỉnh khác là 5.823 căn). Số lượng căn hộ officetel 10.629 căn ( TP. Hà Nội là 3.726 căn, TP. HCM là 6.424 căn; các tỉnh khác là 479 căn). Ngoài ra, còn có hàng chục nghìn căn condotel do các địa phương thẩm định, cấp phép theo thẩm quyền.

    Hiện nay, tỷ lệ căn hộ condotel tại Việt Nam đang có xu hướng tăng mạnh, nên cần phải có giải pháp định hướng phát triển phù hợp, bền vững. Trong hai năm 2022, 2022, dự kiến trung bình mỗi năm sẽ có khoảng 20.000 căn hộ condotel được mở bán, với diện tích căn hộ khoảng trên dưới 45 m 2; Sự phát triển “bùng nổ” các dự án căn hộ condotel đã giúp gia tăng số phòng lưu trú, các dịch vụ, tiện ích phục vụ du khách, làm thay đổi diện mạo và hiệu quả hoạt động của ngành du lịch nhiều địa phương, trước hết là đã có sự tăng trưởng mạnh hệ thống các khách sạn, khu du lịch nghỉ dưỡng với nhiều dịch vụ và tiện ích, đáp ứng được một phần nhu cầu đa dạng của du khách trong nước và nước ngoài; Sản phẩm căn hộ condotel cũng đã thu hút được sự quan tâm đầu tư của rất nhiều nhà đầu tư trong thời gian qua.

    3.2. Kinh doanh condotel tại Việt Nam

    Tình hình kinh doanh đối với các dự án bất động sản nghỉ dưỡng có quy mô lớn: Ngoài số lượng phòng nghỉ khách sạn đã được xây dựng và đưa vào kinh doanh, hầu hết các biệt thự nghỉ dưỡng, các căn hộ khách sạn tại các dự án đều đã được chủ đầu tư chào bán ra thị trường và cam kết quản lý khai thác, cho thuê lại và chia sẻ lợi nhuận, số lượng biệt thự và căn hộ khách sạn đang chào bán khá nhiều, dự báo nguồn cung trong thời gian tới là rất lớn.

    Các dự án có loại hình condotel chủ yếu được bán theo thời hạn sử dụng đất thuê 50 năm, cá biệt có dự án được giao đất 70 năm. Thực tế làm việc với các địa phương cho thấy, các địa phương cấp phép xây dựng căn hộ khách sạn theo hình thức là căn hộ lưu trú, được ở nhưng không được hình thành đơn vị ở. Thậm chí có địa phương đã cấp sổ đỏ cho những căn hộ này. Phần lớn các căn hộ này được thiết kế dưới dạng phòng khách sạn có bếp, số lượng thang máy phục vụ và diện tích công cộng không theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng nhà ở, nếu sử dụng lưu trú dài hạn sẽ có thể gây quá tải về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.

    Tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, xuất hiện chủ yếu là dạng căn hộ văn phòng, không có nhiều condotel. Nhưng tại Quảng Ninh, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Kiên Giang, chủ đầu tư chủ yếu chỉ đầu tư phát triển loại condotel và các dự án đang được cấp phép theo 02 dạng: (1) Đối với các dự án, công trình condotel mà các căn hộ ngoài sử dụng để kinh doanh cho thuê lưu trú ngắn hạn còn có thể sử dụng vào mục đích ở ổn định, lâu dài và hình thành đơn vị ở thì phải đáp ứng quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội (trường học, sinh hoạt cộng đồng…) như đối với nhà ở chung cư; (2) Đối với các dự án, công trình condotel mà các căn hộ chỉ sử dụng để kinh doanh cho thuê lưu trú ngắn hạn và không hình thành đơn vị ở thì áp dụng quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn về hạ tầng chung như đối với công trình khách sạn.

    Do chưa có khái niệm và quy định cụ thể trong quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng hiện hành nên việc áp dụng, tính toán chi tiêu về quy hoạch, kiến trúc, kỹ thuật công trình (sảnh, thang máy, hành lang, đường thoát hiểm, chỗ để xe, cấp điện, cấp thoát nước…) khi thiết kế, phê duyệt dự án có căn hộ condotel hiện nay là chưa rõ ràng, phải áp dụng theo quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng của nhà ở hay của công trình khách sạn, văn phòng.

    TS. Đoàn Mạnh Cương

    Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Villa Là Gì? Gợi Ý Villa Đẹp Tại 10 Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Của Việt Nam
  • Villa Là Gì? 3 Loại Hình Villa Phổ Biến Nhất 2022
  • Có Nên Thuê Biệt Thự Khi Đi Du Lịch Không?
  • Boutique Hotel Là Gì? Biệt Thự Du Lịch Là Gì? 2022
  • Khái Niệm Biệt Thự Du Lịch Là Gì ? Khách Sạn Du Lịch Là Gì ?
  • Du Lịch Xanh Ở Việt Nam Cơ Hội Và Thách Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyệt Tác Kiến Trúc Nhà Thờ Xây Trên Máu Ở Xanh Petecbua, Nga
  • Đêm Trắng Ở Thành Phố Xanh Petecbua
  • Tìm Hướng Cho Du Lịch Xanh
  • Đẹp Bình Dị Kênh Xanh Phố Cổ Hội An
  • Tour Tham Quan Phố Cổ
  • Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lê Quang Tùng nhận định, Việt Nam có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch xanh.

    Tham dự diễn đàn có các đồng chí: Lê Quang Tùng, Thứ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch; Hà Văn Siêu, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch; Vũ Thế Bình, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam; cùng đại sứ Vương quốc Tây Ban Nha, đại diện vụ Đông Nam Á – Ngân hàng phát triển châu Á; Hiệp hội Du lịch Việt Nam, Tập đoàn Flamingo, câu lạc bộ CTC…

    Phát biểu tại Diễn đàn, ông Lê Quang Tùng, Thứ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch cho biết, năm 2022, Việt Nam được UNWTO xếp hạng 6/10 quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng khách du lịch hàng đầu thế giới, được WTA bình chọn là điểm đến du lịch hàng đầu châu Á. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Lê Quang Tùng, Việt Nam đang chứng kiến nhiều bài học, kinh nghiệm cả trong môi trường tự nhiên và văn hóa, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển du lịch.

    Theo Thứ trưởng Lê Quang Tùng, hiện nay tại Việt Nam, các chính sách chiến lược, quy hoạch định hướng phát triển du lịch của Đảng, Nhà nước đều hướng đến mục tiêu phát triển theo hướng chuyên nghiệp, bền vững; phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.

    Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Nguyễn Anh Tuấn, bên cạnh những tiềm năng phát triển du lịch xanh, Việt Nam cũng có nhiều vấn đề và cần giải pháp để vượt qua khó khăn. Đầu tiên là ở Việt Nam, nhận thức vể việc phát triển du lịch xanh chưa đầy đủ và chưa thấy được tầm quan trọng của phát triển du lịch xanh đối với phát triển bền vững của đất nước. Thứ hai, Chính phủ Việt Nam còn thiếu cơ chế, chính sách và hướng dẫn cụ thể về phát triển du lịch xanh. Thứ ba là sự thiếu thốn trong vấn đề tài chính và đầu tư vào các giải pháp xanh. Thứ tư, nhận thức của khách du lịch và việc kiểm soát tiêu thụ năng lượng của doanh nghiệp cũng là một thách thức cần phải vượt qua nếu muốn hướng tới du lịch xanh…

    Hoạt động du lịch còn tồn tại một số vấn đề khiến du lịch xanh chưa được phát triển mạnh mẽ, cụ thể: Phát triển du lịch chưa gắn với khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, hiệu suất sử dụng tài nguyên thấp; chưa gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu… Việc phát triển quá nhanh đã gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường du lịch. Tại nhiều khu, điểm du lịch xuất hiện các chất thải rắn, nước thải chưa thu hồi, xử lý triệt để, việc phát triển du lịch làm gia tăng mức độ tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, thay đổi cảnh quan thiên nhiên. Đặc biệt, ngày càng có nhiều cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch xây dựng trên các đảo không theo quy hoạch, làm tăng nguy cơ xói mòn đường bờ biển, dịch vụ du lịch xả trực tiếp vào môi trường, làm tăng mức độ hữu cơ nước biển ven bờ; khiến môi trường xuống cấp, gây ảnh hưởng xấu tới hình ảnh và phát triển bền vững của du lịch Việt Nam.

    Ông Steven Schipani, đại diện Vụ Đông Nam Á, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) hỗ trợ đầu tư nhằm cải thiện du lịch Việt Nam.

    Chia sẻ về những hỗ trợ của các tổ chức quốc tế đối với ngành du lịch Việt Nam trong những năm qua, Trưởng Ban Quản lý dự án, Cơ quan Đại diện Thường trú của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, Steven Schipani cho biết, trong giai đoạn từ 2003 – 2022, ADB đã đầu tư bốn dự án công trình trị giá khoảng 114 triệu USD, nhằm cải thiện hạ tầng du lịch với các con đường mới, trung tâm thông tin du lịch, xây dựng năng lực quản lý điểm đến và thúc đẩy hợp tác trong vùng…

    Homestay A Chu ở bản Hua Tạt, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La – nơi lưu trú “xanh” thu hút khách du lịch đến nghỉ dưỡng.

    Nhận thấy hướng phát triển của du lịch của Mộc Châu, Vân Hồ, từ năm 2013, A Chu mới biết đến cái nghề gọi là “nghề làm dịch vụ du lịch”. Và nhờ có sự tư vấn, cầm tay chỉ việc của thầy Dương Minh Bình và Công ty CBT Travel, đến năm 2014, anh đã dần hoàn thiện kiến thức của mình về dịch vụ đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Nghĩ lại giai đoạn đầu khởi nghiệp, A Chu gặp nhiều khó khăn do nguồn vốn của tỉnh cấp còn ít, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, chưa có cầu bắc qua con suối lớn hay hệ thống nước thải cho bản và các hộ du lịch chưa hoàn thiện… nhưng chỉ hai năm sau, homestay của A Chu đã đón 1.300 lượt khách, năm 2022 đón 2.200 lượt, năm 2022 đạt 5.700 lượt khách, đạt 60%/năm. Homestay của A Chu mang lại cho gia đình anh vài trăm triệu đồng mỗi năm, tạo việc làm cho nhiều lao động. Cách làm của A Chu đã mở ra một hướng làm ăn mới cho bà con ở bản Hua Tạt. Đến nay, trong bản Hua Tạt đã có năm gia đình làm du lịch cộng đồng.

    Ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã có những biện pháp chuyển đổi theo hướng du lịch xanh như: Mô hình tiết kiệm điện năng, tiết kiệm nước tại các cơ sở lưu trú. Nhiều doanh nghiệp đã hướng dẫn khách du lịch bảo vệ môi trường khi tham gia tour đi rừng, leo núi; xây dựng sản phẩm du lịch đặc biệt về làm sạch môi trường…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Ngày Ở Nông Trang Xanh Củ Chi, Sài Gòn (Green Noen)
  • Tphcm Và Thế Mạnh Du Lịch Xanh
  • Nghiên Cứu Trao Đổi Về Du Lịch Xanh Tại Việt Nam Hiện Nay: Bài Học Kinh Nghiệm Của Thái Lan Và Triển Vọng Trong Tương Lai
  • Lợi Ích Của Những ‘chuyến Đi Xanh’
  • Khách Sạn Xanh Vinh Nghệ An
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×