Các Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở An Giang

--- Bài mới hơn ---

  • Các Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Cần Thơ
  • Giá Vé Tham Quan Các Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Nhất Ở Huế
  • Sức Hấp Dẫn Kỳ Lạ Những Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Huế
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Mũi Né, Bình Thuận Nổi Tiếng Nhất
  • Các Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Việt Nam Phải Đến Một Lần
  • Nếu một ngày nào đó quý khách cảm thấy ngột ngạt với cuộc sống phố thị, hãy về với miền quê . Nơi đây có khí hậu mát mẻ, dễ chịu; núi non hùng vĩ, cảnh quan tươi xanh cùng người dân gần gũi, thân thiện. Khám phá vẻ đẹp thiên nhiên của An Giang qua các địa điểm du lịch nổi tiếng ở An Giang dưới …

    Rừng tràm Trà Sư thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Đây là khu rừng ngập nước tiêu biểu cho vùng Tây sông Hậu cũng là nơi sinh sống của nhiều loại chim nước, động vật quý hiếm có mặt trong Sách đỏ Việt Nam. Rừng tràm Trà Sư “mở cửa” quanh năm cho du khách tham quan. Vào mùa nước nổi (khoảng từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch), bèo trải đầy mặt nước trông như tấm thảm nhung xanh mướt, tạo nên không gian huyền bí mời gọi du khách.

    Đường đến rừng tràm Trà Sư khá dễ. Du khách từ Tp. Hồ Chí Minh có thể đi xe khách, ô tô hoặc xe máy tới đây. Nếu di chuyển bằng xe máy từ thị trấn Nhà Bàng, du khách đi theo đường tỉnh lộ 948 đến cầu Mương Tiền, rẽ trái khoảng 5km sẽ tới cổng Khu du lịch rừng tràm. Tới nơi, du khách thuê thuyền, tắc ráng để khám phá rừng tràm Trà Sư. Vé đi thuyền ở đây khoảng 45.000đồng đối với nhóm 10 khách trở lên. Nếu đi nhóm dưới 10 khách, giá vé khoảng 50.000đồng.

    Rừng tràm Trà Sư chính là điểm đến quan trọng và chủ yếu nhất của các Tour du lịch An Giang mùa nước nổi.

    Núi Sam là một trái núi trong vùng Bảy Núi, thuộc phường núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Để đến được núi Sam, du khách bắt đầu từ thành phố Long Xuyên đi theo tuyến quốc lộ 91 tầm 60km là đến thành phố Châu Đốc, đi thêm 6km sẽ tới khu du lịch núi Sam.

    Trên núi Sam và khu vực quanh núi có rất nhiều ngôi đền, chùa miếu; trong đó nổi bật nhất là miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Hang, lăng Thoại Ngọc Hầu… Đây là những hạng mục nằm trong khu di tích lịch sử – Văn hóa núi Sam đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam công nhận là di tích cấp quốc gia. Hàng năm, du khách từ khắp nơi đổ về núi Sam tham quan và viếng miếu Bà Chúa Xứ.

    Giá vé tham quan khu du lịch núi Sam hiện nay là 20.000đồng/khách. Tuy nhiên, thành phố Châu Đốc chỉ thu trong mùa lễ hội vía Bà và chỉ thu đối với du khách là người lớn đến khu du lịch Núi Sam bằng xe khách hoặc ô tô. Những du khách đi xe máy hoặc đi bộ không phải mua vé tham quan.

    Các Tour du lịch miền Tây có tham quan miếu bà Chúa Xứ thường được nhiều du khách ưa chuộng. Hằng năm, vào dịp lễ hội Vía Bà, du khách thập phương tìm về An Giang – Châu Đốc rất nhiều.

    Chợ Châu Đốc nằm ở phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây không chỉ là địa chỉ mua sắm quen thuộc của người dân miền Tây mà còn là điểm du lịch An Giang nổi tiếng. Chợ chia ra nhiều khu, mỗi khu bày bán những mặt hàng khác nhau, họp từ sáng tới tầm trưa.

    Đặc sản nổi tiếng ở chợ là mắm nên chợ mới có tên gọi khác là “vương quốc mắm”. Đến đây du khách có thể thoải mái lựa chọn các loại mắm từ mắm chốt, mắm sặc, mắm trèn, mắm thái, mắm rô… Ngoài mắm, chợ còn bày bán nhiều mặt hàng khác như rau củ, trái cây, quần áo, đồ gia dụng… Nếu có dịp đi du lịch miền Tây du khách đừng bỏ lỡ cơ hội tham quan chợ Châu Đốc.

    Văn hóa Óc Eo là tên gọi do nhà khảo cổ Luis Malleret người Pháp đề nghị đặt cho khu di chỉ Óc Eo thuộc vùng núi Sập – Ba Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Nơi đây đã từng tồn tại vương quốc Phù Nam, một quốc gia hùng mạnh ở vùng Đồng Nam Á tồn tại cách nay khoảng 2.000 năm.

    Ngày nay, di chỉ Óc Eo là điểm tham quan quen thuộc của du khách phương xa mỗi khi có dịp đến miền Tây. Nơi đây cũng thu hút các nhà khảo cổ, nhà khoa học Việt Nam và quốc tế đến khai quật, nghiên cứu. Với những giá trị lịch sử, văn hóa tiêu biểu; khu di tích Óc Eo – Ba Thê đã được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam công nhận là di tích Quốc gia đặc biệt.

    Núi Cấm hay còn gọi là Thiên Cấm Sơn tọa lạc tại xã An Hải, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Đây là ngọn núi cao nhất của vùng Thất Sơn với độ cao 710m so với mực nước biển. Trên đỉnh núi Cấm có nhiều công trình kiến trúc tôn giáo quy mô như chùa Vạn Linh, chùa Phật Lớn, tượng Phật Di Lặc v.v.. Ngoài ra, dọc theo những lối mòn từ chân lên tới đỉnh núi có nhiều điểm tham quan thú vị như khu du lịch Lâm Viên, suối Thanh Long, suối Tiên, điện Tam Thanh, hang Ông Thẻ, điện cây Quế…

    Theo các bài viết chia sẻ về kinh nghiệm du lịch An Giang, nếu đến tham quan Núi Cấm, du khách cần chú ý lái xe cẩn thận. Khi đi, du khách cũng nên ăn mặc kín đáo, lịch sự.

    • Giá vé áp dụng cho người lớn cao trên 1.3m trở lên
    • Giá vé áp dụng cho trẻ em cao từ 1 – 1.3m
    • Miễn phí bến bãi cho các phương tiện từ 4 chỗ trở lên

    Núi Ba Thê còn được gọi là núi Vọng Thê hay Hoa Thê Sơn, là tên gọi chung cho cụm núi gồm: Ba Thê, núi Nhỏ, núi Tượng, núi Trọi và núi Chóc. Trong đó, Ba Thê là ngọn núi cao nhất, lớn nhất trong vùng tứ giác Long Xuyên với độ cao hơn 200m. Cảnh quan ở đây đẹp như “chốn bồng lai tiên cảnh”. Nơi đây cũng gắn liền với nhiều sự tích và huyền thoại hấp dẫn. Du khách sẽ được nghe kể nhiều câu chuyện thú vị từ người dân An Giang khi đến đây.

    Khách du lịch nếu muốn lên núi Ba Thê sẽ đi theo con đường nhỏ quanh co đã tráng nhựa, dài khoảng 2km. Đường lên núi tuy vất vả nhưng bù lại du khách được ngắm cảnh đẹp suốt dọc đường. Trên núi quanh năm lộng gió, không khí mát mẻ, những tháng cuối năm tiết trời se lạnh, mây mờ lãng đãng khiến du khách ngỡ như đang ở Đà Lạt.

    Viet Fun Travel

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 5 Các Địa Điểm Du Lịch Ninh Bình Và Giá Vé Cực Hot Cho Mùa Hè
  • Khám Phá Các Địa Điểm Du Lịch Ninh Bình
  • # 15 Địa Điểm Du Lịch Ninh Bình Hot Nhất 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Ninh Bình Tự Túc 2022 Vùng Đất Cố Đô Hoa Lư
  • 5 Địa Điểm Du Lịch Nhật Bản Nổi Bật Về Đêm
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Bắc Giang (Cập Nhật 01/2021)

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 20 Địa Điểm Du Lịch Bắc Kinh Nổi Tiếng Nhất Định Phải Ghé Qua
  • Du Lịch Bắc Kinh Đừng Bỏ Qua Những Điểm Đến Thú Vị Dưới Đây
  • Cập Nhật Bản Đồ Du Lịch Thái Lan Đầy Đủ Từ A
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bắc Kinh Tất Tần Tật Từ A Đến Z
  • Cẩm Nang Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Bắc Kinh Tự Túc
  • Các địa điểm du lịch ở Bắc Giang

    Cùng Phượt – Bắc Giang là vùng đất cổ, có nhiều di tích lịch sử văn hoá gắn liền với đất và người vùng Kinh Bắc. Nơi đây từng ghi những dấu ấn đậm nét về các cuộc đấu tranh chống quân giặc xâm lược như chiến thắng Cần Trạm, Hố Cát, Xương Giang; cuộc khởi nghĩa Yên Thế…cùng với một số di tích tiêu biểu như: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, đình Lỗ Hạnh, Lăng Dinh Hương, Lăng Họ Ngọ…Hơn nữa còn có khá nhiều địa điểm du lịch ở Bắc Giang rất hấp dẫn như: Suối Mỡ, Suối Nước Vàng, Hồ Cấm Sơn… Với du lịch, đó thực sự là những điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực du lịch văn hoá, lịch sử và du lịch sinh thái.

    Khoảng hai năm trở lại đây, du khách biết nhiều đến điểm du lịch Đồng Cao, thuộc xã Thạch Sơn, huyện Sơn Động (Bắc Giang) qua các phương tiện thông tin đại chúng. Không ít người, đặc biệt là các bạn trẻ ưa thích du lịch khám phá theo hình thức “phượt” đã đặt chân đến đây.

    Điểm ấn tượng với du khách khi đến Đồng Cao là được tận hưởng bầu không khí mát mẻ, trong lành, thiên nhiên hoang sơ cộng thêm sự chất phác, thật thà và nhiều tập quán truyền thống của đồng bào vùng cao. Đây còn được ví như “” hay “Sapa” của Bắc Giang. Ngoài ra, sự mới lạ, mong muốn chinh phục những con đường gập ghềnh, khó đi cũng là lý do để không ít các nhóm trẻ hướng lên Đồng Cao.

    Yên Tử là dãy núi cao, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang. Đây là dãy núi chính của vòng cung Đông Triều (từ Quảng Ninh qua Hải Dương – Bắc Giang và dừng ở bờ tả sông Lục Nam).

    Yên Tử là khu rừng tự nhiên tập trung lớn nhất của tỉnh Bắc Giang và của vùng Đông Bắc, nằm trên diện tích của các xã An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận (huyện Sơn Động) và xã Lục Sơn (huyện Lục Nam). Đây là khu rừng phân bố ở độ cao từ 200m đến hơn 1.000m so với mặt biển và có địa hình cao dốc phức tạp.

    Rừng Yên Tử có vị trí vô cùng quan trọng đối với việc phòng hộ, môi trường và điều tiết khí hậu cho vùng Đông Bắc của tỉnh. Bên cạnh đó, rừng Yên Tử còn có nguồn tài nguyên rừng khá lớn, đủ điều kiện để xây dựng thành một khu dự trữ thiên nhiên với diện tích trên 17.000 ha và tổng trữ lượng gỗ gần 1.000.000 m3. Mặt khác, do nằm ở vị trí có địa hình cao dốc, hiểm trở nên rừng tự nhiên Yên Tử còn giữ được những khu vực tương đối nguyên vẹn với một quần thể sinh vật phong phú, đa dạng, đặc trưng tiêu biểu cho vùng Đông Bắc Việt Nam.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có nhiều nguồn gien động, thực vật rừng quý hiếm, đặc trưng cho vùng Đông Bắc Việt Nam mà nhiều khu bảo tồn thiên nhiên khác không có.

    Trên hệ thống núi Yên Tử có nhiều thắng tích nổi tiếng đã được sử sách xưa ghi nhận, đó là: khu thắng tích Am Vãi; khu thắng tích Suối Mỡ – Hồ Bấc; khu thắng tích Huyền Sơn; khu di tích Khám Lạng; khu di tích Hòn Tháp – Yên Mã… Các khu thắng tích này là một quần thể rộng gồm danh sơn và cổ tích hợp lại. Hầu hết, những khu di tích nằm trên sơn phận Yên Tử thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang là những khu di tích cổ, có từ thời Lý – Trần (thế kỷ XI đến thế kỷ XIV). Đó là những di tích có ý nghĩa lịch sử, văn hóa mang đậm màu sắc Phật giáo thuộc thiền phái Trúc Lâm do vua là Trần Nhân Tông sáng lập.

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông thuộc tuyến du lịch Tây Yên Tử – một tuyến du lịch trọng điểm đang được tỉnh Bắc Giang tập trung quy hoạch và xây dựng. Khu du lịch Đồng Thông cũng là nơi bảo tồn nhiều loài động vật quý hiếm, ngoài ra, đây còn là điểm dừng chân cho bạn trước khi chinh phục đỉnh Phù Vân Yên Tử từ phía Tây.

    Khu rừng nguyên sinh thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động có diện tích 7.153ha trong đó có 5.092ha là rừng tự nhiên. Khu rừng có 236 loài thực vật, cây lấy gỗ, 255 loài liệu dược quý. Trong khu rừng còn có 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, đặc biệt có 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm. Đây là cánh rừng nguyên sinh tiêu biểu của khu vực Đông Bắc Việt Namnằm gọn trong hai khe suối khe Rỗ và khe Din. Phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn, phía Nam và Đông Nam giáp với huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc và Tây Bắc thuộc địa phận của xã An Lạc. Sống xung quang khu bảo tồn rừng nguyên sinh là dân cư của hai bản dân tộc Dao: Pác Duốc và Khe Din.

    Hiện nay rừng nguyên sinh Khe Rỗ nói riêng và toàn bộ khu rừng Tây Yên Tử nói chung còn giữ được vẻ nguyên sơ rất thích hợp cho các tour du lịch sinh thái, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu các hệ động thực vật rừng nhiệt đới của du khách.

    Thổ Hà là tên gọi một làng nghề thuộc xã Vân Hà huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang. Đó là một ngôi làng cổ với phong cảnh hữu tình, cây đa, bến nước, sân đình, những nếp nhà cổ san sát nằm sâu trong các ngõ hẻm cổ kính. Khác với các làng ở đồng bằng Bắc Bộ dân Thổ Hà hoàn toàn không có ruộng, bao đời sống bằng gạo chợ nước sông, thu nhập từ nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Trước 1960 làng nổi tiếng về nghề làm gốm, từ 1990 lại đây nổi tiếng về nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo.

    Thổ Hà ba mặt là sông như một hòn đảo, ra khỏi làng là phải đi đò. Làng có hai bến đò: bến Chùa ở trước cửa đình, bến đò dưới nằm ở xóm Ba. Trước kia đò do người chèo trông rất thơ mộng, nhưng ngày nay đều được gắn máy nên đò chở khách nhanh hơn. Dọc bờ sông của làng là thuyền bè của dân vạn chài sinh sống.

    Làng có một trục đường chính chạy theo bờ Bắc dòng sông Cầu, theo chiều dòng chảy lần lượt là Xóm 1, Xóm 2, Xóm 3 và Xóm 4. Vuông góc với trục đường chính là các ngõ xóm sâu và hẹp. Cách đây vài chục năm dấu tích của nghề gốm vang bóng một thời là những bức tường ngõ cổ và bức tường nhà xây toàn bằng những mảnh gốm vỡ hay tiểu sành phế phẩm mà không dùng chút vôi vữa nào, chỉ dùng bùn của sông Cầu để kết dính. Khi dân làng giàu lên các bức tường này đã xây lại bằng gạch và xi măng, hiện nay chỉ còn rất ít đoạn tường cổ. Có hai đường vào làng: đường thủy qua bến đò từ phía Nam, đường bộ qua cổng làng từ phía Bắc làng, bến đò và cổng làng chỉ cách nhau 100 mét.

    Kiến trúc cổ của Thổ Hà gồm: ba di tích lịch sử văn hóa được nhà nước công nhận là Đình, Chùa, Văn Chỉ, trong đó có gần hai chục tấm bia đá ghi chữ nho ở cả hai mặt; Cổng làng, bốn ngôi Điếm của bốn xóm, các ngôi nhà cổ. Cổng làng Thổ Hà có kiến trúc đẹp, bề thế và cổ kính, là một trong những chiếc cổng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu. Quanh khu vực cổng làng, đình và chùa có rất nhiều cây đa đều hàng trăm năm tuổi. Trong làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà cổ xây dựng cách đây trên 100 năm, tiêu biểu cho các ngôi nhà cổ thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

    Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc. Đình thờ Thân Cảnh Phúc,là Tướng nhà Lý, có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống, dân tộc Tày, tù trưởng châu Quang Lang (Châu Ôn-Lạng Sơn), được vua Lý gả công chúa và phong chức tri châu. Đó là một công trình kiến trúc quy mô trên một khu đất rộng 3.000 m², một nghệ thuật điêu khắc độc đáo. Đình đã từng được chính quyền Pháp xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương. Đình được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa năm 1960. Đình xây dựng năm 1685 thời vua Lê Chính – Hòa năm thứ 7. Đến năm 1807 (Gia Long năm thứ 5) xây dựng tiền tế và hai nhà tả vu, hữu vu. Thời kỳ kháng chiến chông Pháp, đình bị rỡ ngói, phá sàn và chấn song. Mặt khác hàng năm thường bị lụt, có năm nước ngập đến mái ngói, nên đình bị xuống cấp nhiều.

    Trong suốt thời gian từ lúc được xây dựng tới bây giờ, ngôi đình đã được sửa sang và nâng cấp rất nhiều lần. Năm 1977 – 1979 nhà nước đã đầu tư kinh phí và cử cán bộ về trùng tu, nâng ngôi đình cao thêm 1,8m, nhưng ngôi tiền tế vẫn chưa nâng. Năm 1988 dân Thổ Hà với tinh thần tự lực cánh sinh đã tôn tạo ngôi tiền tế và nâng cao bằng ngôi đình.

    Đình được dựng theo kiểu chữ công, toà bái đường dài 27m, rộng 16m, dựng trên nền cao 0,5m xung quanh bó đá tảng xanh chia làm ba cấp, mái đình lợp ngói mũi hài to bản, bốn góc là những đầu đao cong vút. Đầu bờ nóc uốn quanh hình lưỡi liềm, góc mái có gắn nghê, thú nhỏ bằng sành nung già lửa đỏ tía. Có tất cả 22 đầu bẩy lực lưỡng, chạm rồng, mây, nghê, thú rất trau chuốt. Bái đường chia làm 7 gian, 48 cột lim, bộ khung mái chạm trổ tinh vi, nhiều cảnh trí sinh động. Đặc biệt có khá nhiều hình thiếu nữ mặc váy dài, yếm, tóc búi hoặc chít khăn với nét mặt rạng rỡ trong tư thế cưỡi phượng, đè rồng, hoặc đang nhảy múa giữa các lớp mây bồng bềnh. Lòng bái đường lát đá xanh nhẵn bóng. Bức cửa võng thếp vàng chạm trổ lộng lẫy làm cho bái đường càng thêm trang nghiêm cổ kính.

    Trong đình có ba tấm bia to: Thủy tạo đình miếu bi nói về việc xây dựng đình, Cung sao sự tích thánh (Lão Tử) nói về sự tích thành hoàng Thái thượng lão quân, Bia sao sắc phong sao các đạo sắc của các triều đại trước phong tặng. Ngoài ra còn có các bia khác quy tập tại đình nói về những điều lệ trong dân đã quy định.

    Năm 2006 được sự trợ giúp kinh phí của Vương quốc Bỉ đình Thổ Hà lại được dỡ hết để làm lại, dự định cuối 2009 sẽ xây dựng xong. Trong lần trùng tu này đình được phục chế theo các ảnh chụp còn lưu trữ bên Pháp. Sau khi làm xong đình thì Chùa Thổ Hà và Văn chỉ cũng sẽ xây dựng lại.

    Xương Giang là một thành cổ hiện chỉ còn lại tàn tích tại tỉnh Bắc Giang, đây là một trong những nơi đã diễn ra trận chiến giữa quân của Lê Lợi và quân Minh.

    Thành Xương Giang do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ 15, năm 1407, trong thời gian nhà Minh đô hộ Việt Nam. Thành được xây bằng đất, các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông – Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc – Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây.

    Thành Xương Giang xưa tuy đặt ở vùng bằng phẳng nhưng lợi thế ở chỗ hiểm yếu. Thành này án ngữ con đường “Thiên Lý Bắc – Nam” xưa. Xung quanh thành địa hình cũ có hệ thống sông con, đầm lầy, rộc trũng bao quanh rất khó tấn công. Năm 1407, giặc Minh cho đắp thành này, trấn giữ ở đó được 20 năm thì bị Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn vây đánh vào năm 1427. Do địa thế hiểm yếu, nghĩa quân Lam Sơn phải 9 tháng mới hạ được thành, trong khi đó các thành Thị Cầu, Chi Lăng, Đoàn Thành nghĩa quân triệt hạ nhanh chóng.

    Suối Mỡ là tên một con suối chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh – Yên Tử, tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Cảnh đẹp nhất nơi đây là đoạn suối có năm bậc thác mẹ con từ đền Thượng xuống đền Trung. Theo các tài liệu, đền Suối Mỡ là nơi thờ Công chúa Quế Mỵ Nương thời Hùng Vương, người có công mở dòng Suối Mỡ, dạy nhân dân làm ruộng, làm nương.

    Tại khu vực Suối Mỡ, các công trình tạo thành một khu liên hoàn: đền Hạ, đền Trung, đền Thượng (có từ thời nhà Lê, thế kỷ XV – XVI). Với nhiều loại hình du lịch để du khách có thể lựa chọn như: Tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, tắm suối, cắm trại, leo núi, khám phá thiên nhiên hoặc mua sắm, ẩm thực… Du khách có thể lựa chọn điểm du lịch sinh thái tại thác Suối Mỡ; thác Thùm Thùm; vọng Ngắm Trăng; đỉnh Rông Khế; hồ Suối Mỡ hoặc du lịch tâm linh tại đền Suối Mỡ (đền Hạ, đền Trung, đền Thượng); đền Trần; đền Quan; đền Cô Bé Cây Xanh.

    Điểm đầu tiên trong chuỗi thắng cảnh là đền Hạ, ngôi đền nằm kề bên đường tỉnh 293. Đây là một trong 3 ngôi đền có quy mô và diện tích lớn nhất trong hệ thống đền Suối Mỡ. Đền tọa lạc trên thế đất “hoàng long”. Trước cửa đền có núi Tai Voi làm án có tác dụng ngăn không cho tà khí bay vào đền và giữ lại những tài lộc do long mạch bên trong thúc ra.

    Ngày nay, dưới bóng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm, đền Hạ vẫn giữ được nét uy nghi, rêu phong cổ kính. Đền Hạ hiện còn giữ được 3 pho tượng đồng quý hiếm, bên ngoài được phủ một lớp sơn bóng quang điện trông càng rực rỡ uy nghi.

    Nằm tách biệt với khu dân cư, từ xa nhìn lại, đền Trung tọa lạc trên mảnh đất có vị trí như một hòn đảo được bao bọc bởi suối và cây xanh tạo nên vẻ tĩnh mịch, huyền bí và linh thiêng cho ngôi đền. Với điểm tựa gối đầu là núi Bà Bô; án là rừng Thông và sườn Giông Khế, theo thuyết phong thủy đây là mảnh đất tụ linh và ngôi đền nằm trên thế đất “tựa Sơn đạp Thuỷ”. Lối đi duy nhất vào đền là cây cầu bán nguyệt được coi như nối cõi trần với nơi đất thánh. Trong đền thờ công chúa Quế Mỵ Nương – Thượng Ngàn Thánh Mẫu và một số bệ thờ theo tín ngưỡng thờ mẫu.

    Đền Trung có cả thảy 5 thác nước, trong những nét nguyên sơ của đá và nước, cùng cỏ cây xung quanh tạo nên nét kì bí và thú vị cho những du khách đến đây.

    Ngôi đền nằm giữa lưng chừng núi có kiến trúc khá đơn sơ, hầu như giữ nguyên kiểu dáng kiến trúc ban đầu từ thuở mới tạo dựng. Đền chỉ có một gian rộng lấy một tảng đá lớn bên trên làm mái, lấy vách đá xung quanh làm tường, ba bề trên dưới là đá, cả điện thờ cũng nguyên khối đá. Tại đền Thượng, bên dòng Suối Mỡ thơ mộng, còn được thưởng thức những điệu hát chầu văn mượt mà, say đắm lòng người.

    Nằm trong quần thể khu du lịch Suối Mỡ, thác Thùm Thùm, còn gọi là thác Chúa, từ đền Trần đến đây mất khoảng 30 phút. Thác Thùm Thùm mang một vẻ đẹp kì bí, Đây là thác cao nhất trong hệ thống thác Suối Mỡ. Thác được khoác trên mình một tấm áo choàng bằng nước từ trên cao đổ xuống tạo ra những bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Bây giờ, chúng tôi mới hiểu hết ý nghĩa tên thác bởi thác nước đổ xuống tạo nên những âm thanh thùng thình, ùm ùm, nghe như tiếng trống trận của quân sĩ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

    Công trình khởi công xây dựng năm 2009 gồm 4 hạng mục: Đập chính, tràn xả lũ, cống nước, kênh dẫn nước. Với diện tích mặt hồ hơn 30 ha, công trình hồ Suối Mỡ góp phần tạo cảnh quan môi trường sinh thái cho khu vực đồng thời giúp điều hòa khí hậu và thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch như: bơi thuyền, câu cá, nghỉ dưỡng và dịch vụ khách sạn, nhà hàng, công viên thú. Trong tương lai không xa, khi hoàn thiện, nơi đây sẽ tôn thêm vẻ đẹp của Suối Mỡ – miền đất thiêng.

    Khuôn Thần là một hồ nước rộng rộng 240 ha, bao quanh bởi những đồi vải, đồi thông bạt ngàn và xanh mướt. Đây là một khu du lịch còn nhiều tiềm năng của xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    Từ thành phố Bắc Giang theo quốc lộ 31 đi khoảng 40 km lên đến trung tâm ngã tư Đài Phát thanh -Truyền hình Lục Ngạn, sau đó rẽ trái 9 km, du khách sẽ tới khu du lịch Khuôn Thần. Nơi đây được thiên nhiên ban tặng vẻ đẹp nguyên sơ, thanh bình với hồ nước trong xanh, không khí thoáng đãng, bao quanh là những đồi vải, đồi thông ngút ngàn.

    Cách TP Bắc Giang hơn 15 km, trên núi Dành có nhiều thông, keo vi vu. Đây là địa danh từng được nhắc tới trong sách “Đại Nam nhất thống chí”, trong đó có đoạn: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra sâm Nam và cỏ Thi”. Quần thể khu du lịch này gồm nhiều công trình như: Đền Trình, đền Hạ, đền Thượng, chùa Không Bụt, đình Vường và hơn 30 ha rừng thông, keo, bạch đàn có độ tuổi trên chục năm, tạo thành một không gian văn hóa tâm linh, sinh thái thu hút đông đảo người dân đến hành hương, thưởng ngoạn.

    Bản Đá Húc cách trung tâm xã Bình Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang) khoảng 8 km. Từ con đường liên xã chạy qua bản nhìn lên là màu xanh thẫm của khu rừng nguyên sinh – rừng lim xanh. Ngay bìa rừng là ngôi đình cổ kính nhìn ra khu định cư của đồng bào Cao Lan.

    Không xa nữa khi tuyến đường tâm linh 293 sườn Tây Yên Tử hoàn thành, đường về bản Đá Húc sẽ rất thuận tiện. Khi đó rừng lim xanh và ngôi đình cổ sẽ là điểm tham quan du lịch sinh thái, tâm linh hấp dẫn du khách gần xa.

    Thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu

    Có một địa chỉ du lịch sinh thái lý thú khá quen thuộc với người dân bản địa nhưng lại mới mẻ và ít người nơi khác biết đến tại xã Tuấn Đạo (Sơn Động), đó là thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu. Những ngày hè dát bỏng, đây thực sự là điểm đến cuốn hút giải nhiệt của người dân.

    Dòng Cấm Sơn xuất phát từ huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, đến Lục Ngạn thì bị chặn lại thành hồ. Hồ Cấm Sơn là nguồn cung cấp nguồn nước tưới chính cho sản xuất nông nghiệp của hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang.

    Bình thường mặt hồ rộng 2.600 ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng đến 3.000 ha. Chiều dài của hồ gần 30 km, bề ngang nơi rộng nhất 7 km, chỗ hẹp nhất 200 m, lòng hồ nơi sâu nhất đến khoảng 47m, hồ có rất nhiều đảo. Điều đặc biệt bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng, bao bọc. Cư dân sống gần hồ là những bản làng người dân tộc Nùng, Tày và Kinh. Nhân dân vùng chung quanh hồ chủ yếu là dân tộc. Người dân ở đây đi lại chủ yếu bằng thuyền, và giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo tạo những cảnh quan sơn thủy hữu tình.

    Để đến được hồ Cấm Sơn du khách có khá nhiều đường khác nhau, song thuận lợi hơn cả là con đường từ thị trấn Chũ, ngược theo đường 297 qua đèo Váng, đến Tân Sơn đi theo con đường đất đỏ với những khúc cua tay áo liên tiếp, men theo những bản làng người Nùng, người Sán Chí, người Dao là đến Cấm Sơn, hoặc từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 1A qua huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn rồi rẽ phải khoảng gần 5km thì đến đập Cấm Sơn.

    Chùa Vĩnh Nghiêm ở làng Đức La xã Trí Yên huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, Việt Nam, còn được gọi là chùa Đức La, là một trung tâm Phật giáo, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước, nơi phát tích Tam Tổ phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, một viên ngọc sáng trong các chùa cổ Việt Nam.

    Trước kia, chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Lạng Giang, nay là thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nên còn gọi là chùa Đức La và lễ hội ở đây được gọi là lễ hội La. Chùa Vĩnh Nghiêm tọa lạc nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn). Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang – Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là núi non trong đó có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc.

    Văn bia chùa thời Trần viết: “Đức Tổ Điều Ngự Pháp Loa khi mở tùng lâm này, còn mở cái chợ Đức La. Các vị vương thân quốc thích và thập phương đàn Việt, phát tâm tậu ruộng đất ở tại bản xã và các hạt khác các nơi, để cúng hương dâng tam bảo muôn đời. Chùa này và chùa Sùng Nghiêm cả thảy 72 chốn tùng lâm, công đức sáng tạo, hợp khắc vào bia ở chùa Hoa Nghiêm núi Yên tử”. Một tấm bia chùa dựng khác viết: “Ðức tổ Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông) khi mở Tùng lâm này (tức chùa Vĩnh Nghiêm), mở cả chợ chùa. Các vị vương thân quốc thích và khách thập phương đã phát tâm tậu nhiều ruộng cúng cho chùa, gồm cả ruộng trong xã và ruộng ở các hạt khác nữa”.

    Tương truyền chùa Vĩnh Nghiêm có từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028), tên chữ là Vĩnh Nghiêm Tự (永嚴寺). Thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) đều có các vị cao tăng tu hành nên được tu tạo nguy nga, tráng lệ. Khi vua Trần Nhân Tông (陳仁宗; 1258-1308), từ bỏ ngôi vua thành người tu hành đến chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Ngoạ Vân (Yên Tử) thụ giới, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập lên phái Thiền tông của Phật giáo Việt Nam. Hương Vân cùng hai đệ tử Pháp Loa (法螺), Huyền Quang (玄光) sáng lập, hoàn chỉnh phái Thiền tông Việt Nam gọi là Tam tổ.

    Chùa Bổ Đà có tên chính xác là chùa Quán Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự, gọi tắt là chùa Bổ, còn có các tên gọi khác là chùa Quán Âm, Tứ Ân Tự , là một trong những ngôi chùa độc đáo nhất miền đất Kinh Bắc, là Trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.

    Chùa toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ Đà sơn), phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh xưa). Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ.

    Chùa có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam, nhiều cổ vật có giá trị và kho tàng di sản Hán – Nôm phong phú. Đây cũng là nơi sơn thủy giao hòa, nhìn sông tựa núi, cảnh sắc, không gian nhuốm màu huyền thoại, xung quanh là đồi núi xóm làng bao bọc. Chùa thờ Tam giáo, trong đó có Quán Thế Âm Bồ Tát, Trúc Lâm Tam tổ (gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), Khổng Tử… Quần thể chùa Bổ Đà là một tập hợp di tích gồm: chùa cổ có tên là Bổ Đà Sơn (gọi tắt là chùa Bổ Đà, chùa Bổ; còn gọi là chùa Quán Âm), chùa chính Tứ Ân Tự, Am Tam Đức (xây dựng sau, vào thời Hậu Lê). Ngoài ra trên núi Bổ Đà còn có đền thờ Đức Thánh Hóa (tức Thạch Tướng Đại Vương – có công giúp vua Hùng thứ 16 chống giặc ngoại xâm).

    Lăng Dinh Hương thuộc làng Dinh Hương, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là một quần thể kiến trúc điêu khắc đá hoành tráng, độc đáo thời Hậu Lê, được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ 1965. Lăng Dinh Hương xây dựng từ năm 1727 (xuất hiện trước tất cả các lăng mộ vua Nguyễn ở Cố đô Huế). Trong lăng lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, tên húy là La Đoan Trực.

    Lăng nằm trên một quả đồi hình tròn rộng khoảng một ha có tường gạch bao quanh (ngày xưa là tường đá ong bao quanh). Vào cổng là hai tượng quan hầu cầm dùi đồng. Quần thể lăng đá Dinh Hương chia làm ba phần chính: phần mộ táng ở giữa, phần thờ tự ở bên trái, phần bia ở bên phải. Tượng người và vật tại lăng làm bằng đá xanh được chạm khắc rất sống động, tượng có kích thước lớn, hình khối mập, chắc và được tỉa công phu.

    Phần mộ rộng khoảng 100 mét vuông có tường đá ong dày bao quanh là nơi lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, có hai võ quan dắt ngựa đứng canh. Cặp tượng quan hầu dắt ngựa được xem là những kiệt tác của nghệ thuật chạm khắc đá, tượng chú trọng vào cách tạo khối trên thân, khiến con vật trở nên đậm chất hiện thực. Một số mảng chạm tỷ mỷ và mang tính cách điệu cao như phần yên cương, bờm con ngựa. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên phải có mặt to, hàm rộng. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên trái có râu dài, mặt nhỏ.

    Khu thờ tự gồm hai voi nằm chầu, bàn thờ có hai con nghê to há mồm ngồi chầu, tiếp theo là ngai thờ làm từ hai khối đá lớn cùng hai quan hầu nữ và hai con nghê nhỏ trạm khắc tinh tế, sinh động. Quan hầu nữ bên trái bưng chiếc tráp khối hộp chữ nhật ngang bụng, bàn tay trái đỡ dưới hộp tráp, tay phải giữ ngang đầu hộp, để hở nửa bàn tay với những ngón thon dài. Quan hầu nữ bên phải ngai thờ tay cầm quạt, đầu đội mũ ni có chóp nhọn như một chiếc nón nhỏ, nửa phía sau mũ có bốn lớp vải trùm kín chân tóc, phủ xuống kín tai và gáy.

    Tìm trên Google

    • các địa điểm du lịch ở bắc giang
    • chơi gì khi đến Bắc Giang
    • phượt Bắc Giang có gì
    • cảnh đẹp Bắc Giang
    • danh lam thắng cảnh Bắc Giang
    • địa điểm du lịch tâm linh Bắc Giang
    • đến Bắc Giang nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Bắc Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Đồ Bắc Giang Mới Và Chi Tiết Nhất
  • Yên Thế Trên Bản Đồ Du Lịch Bắc Giang
  • Bản Đồ Du Lịch Và Hành Chính Tỉnh Bắc Giang Được Nhiều Người Xem Nhất 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bà Nà Hills Tự Túc 2022 Đường Lên Tiên Cảnh
  • Bản Đồ Bà Nà Hills 2022, Địa Điểm Nào Đẹp Nhất Nên Đến?
  • Các Điểm Du Lịch Ở Hà Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Địa Điểm Du Lịch Hà Giang Đẹp Và Thu Hút Nhất
  • 26 Địa Điểm Du Lịch Ở Hà Giang Đã Níu Giữ Hồn Du Khách Như Thế Nào?
  • 89+ Địa Điểm Du Lịch Ở Hà Giang, ½ Trong Số Đó Ít Người Biết Đến Nhưng Cực Kỳ Đẹp
  • 7 Điểm Du Lịch Ở Hải Phòng Đáng Đến Nhất Trong Mùa Hè Này
  • Những Điểm Đến Đẹp Khi Du Lịch Mộc Châu
  • Các điểm du lịch ở Hà Giang luôn là mối quan tâm số một của các bạn trẻ khi muốn khám phá mảnh đất nơi địa đầu Tổ quốc này. Ngoài Cao nguyên đá Đồng Văn, Dinh thự họ Vương, Cột cờ Lũng Cú, còn những điểm hùng quan nào khác nữa? Bạn có biết hay không?

    Các điểm du lịch ở Hà Giang luôn có một sức hút lạ lùng mà không đâu có được. Hà Giang, với vẻ đẹp hùng vĩ của mảnh đất án ngữ nơi địa đầu Tổ quốc, đã trở thành niềm khao khát chinh phục của biết bao thế hệ người Việt. Du lịch Hà Giang vẫn được biết đến với mùa hoa tam giác mạch hồng rực cao nguyên đá, nhưng phải ai đã đi mới biết – Hà Giang mùa nào cũng đẹp, mùa nào cũng đáng để chinh phục.

    1. Cao nguyên đá Đồng Văn – Huyền bí một màu đá xám

    Hà Giang, mảnh đất xa xôi “chim bay hai lần gãy cánh” mới đến nơi, án ngữ nơi cực Bắc của Tổ quốc. Hà Giang cũng lại là một vùng đất đá cổ xưa vào bậc nhất của Trái Đất, để Cao nguyên đá Đồng Văn trở thành Công viên địa chất toàn cầu được UNESCO công nhận vào tháng 12 năm 2010.

    2. Dinh họ Vương – Viên ngọc xanh giữa lòng cao nguyên

    Kỳ quan thứ hai là viên ngọc xanh giữa lòng cao nguyên đá – Dinh thự họ Vương. Dinh thự xinh đẹp hình chữ Vương được bao quanh bởi hàng cây sa mộc, vẫn được bảo tồn một cách nguyên vẹn sau bao thăng trầm lịch sử, mưa gió dập vùi, mang theo nó là một câu chuyện lịch sử vô cùng hấp dẫn.

    3. Cột cờ Lũng Cú – “Nơi bắt đầu nét vẽ đầu tiên của bản đồ Tổ quốc”

    Kỳ quan thứ ba là Cột cờ Lũng Cú – “nơi bắt đầu nét vẽ đầu tiên của bản đồ Tổ quốc”. Nói cách khác, nơi đây chính là điểm du lịch ở Hà Giang nơi mà bất kỳ ai là con lạc cháu hồng đều muốn được chinh phục một lần điểm cực Bắc thiêng liêng.

    Hướng về Tổ quốc từ “Mỏm tột Bắc” Cột cờ Lũng Cú – “nơi bắt đầu nét vẽ đầu tiên của bản đồ Tổ quốc” (Ảnh – PYS Travel)

    Quãng đường 1,5 cây số lên cột cờ Lũng Cú, vượt qua 389 bậc thang đá và leo thêm 140 bậc thang xoắn ốc ngay trong lòng cột cờ, ta sẽ đặt chân được tới đỉnh cột cờ Lũng Cú, Hà Giang – điểm cực bắc của Tổ quốc. Nơi có lá cờ đỏ sao vàng có diện tích 54m2, ẩn dụ của 54 dân tộc anh em, phần phật tung bay trong gió.

    4. Con đường Hạnh phúc – 50 năm con đường của máu và hoa

    Những con đường ngoằn ngoèo, những khúc cua tay áo tạo thêm vẻ hiểm trở,hấp dẫn cho các địa điểm du lịch ở Hà Giang. Ảnh: Cao Anh Tuấn

    Kỳ quan thứ tư là Con đường Hạnh phúc – con đường của máu và hoa. Con đường dài khoảng 200 km này được hàng vạn thanh niên xung phong thuộc 16 dân tộc của 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam làm trong 6 năm (1959 – 1965) với trên 2 triệu lượt ngày công lao động, trong đó riêng đoạn đèo vượt Mã Pì Lèng được các thanh niên trong đội cảm tử treo mình trên vách núi lấn từng centimet để làm trong 11 tháng. Mã Pì Lèng được du khách gọi một cách không chính thống là một trong “tứ đại đỉnh đèo” tại vùng núi phía Bắc Việt Nam, bên cạnh Đèo Ô Quy Hồ, Đèo Khau Phạ và Đèo Pha Đin. Con đường Hạnh phúc là cầu nối mang lại ánh sáng cho rẻo cao, không chỉ nhuốm công sức mà cả máu và mạng sống của bao thanh niên xung phong một thời. Năm nay cũng là kỷ niệm 50 năm ngày hoàn thành Con đường Hạnh phúc Hà Giang – Đồng Văn.

    5. Đèo Mã Pì Lèng – “Bất đáo Pì Lèng phi phượt thủ”

    Lẽ ra, đèo Mã Pì Lèng cũng có thể xếp vào hàng “tứ đại kỳ quan” của Hà Giang, tuy nhiên, rất tiếc là đèo đã bị “bê tông hóa”. Và dù khung cảnh xung quanh vẫn rất hùng vĩ, nhưng chính bản thân những mỏm đá lởm chởm, bản sắc của đèo đã không còn được như xưa. Tuy vậy, đây vẫn là một trong các điểm du lịch ở Hà Giang rất đáng để chiêm ngưỡng cho hành trình khám phá nơi địa đầu Tổ Quốc này.

    6. Phố cổ Đồng Văn – Nét kinh kỳ giữa lòng cao nguyên đá

    Thị trấn Đồng Văn nằm lọt thỏm giữa thung lũng với bốn bề núi đá bao bọc. Khu phố cổ có vẻn vẹn 40 nóc nhà, nằm xếp vào nhau dưới núi đá. Buổi sớm, bức tranh phố cổ là sự pha trộn đến tài tình hai tông màu: màu vàng rực của nắng và màu xám của những ngôi nhà cổ.

    7. Núi Đôi Quản Bạ – “Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”

    Núi đôi Quản Bạ theo truyền thuyết là đôi bầu sữa của một nàng tiên để lại nuôi con. Ảnh sưu tầm

    Núi Đôi Quản Bạ có hình dáng tròn trịa, đầy quyến rũ, trông giống như bộ ngực căng tròn của nàng tiên đang say giấc nồng. Giữa những núi đá trùng điệp và ruộng bậc thang nổi lên hai trái núi có hình dáng, thế đứng ngồ ngộ khiến du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kỳ vĩ của tạo hoá.

    8. Làng văn hóa Lũng Cẩm – Bối cảnh trong phim “Chuyện của Pao”

    Ngôi nhà được lấy làm bối cảnh trong phim “Chuyện của Pao” ở Làng văn hóa Lũng Cẩm. Ảnh: PYS Travel

    9. Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì – Kỳ công lao động rực rỡ mùa vàng

    Những nấc thang vàng rực của ruộng bậc thang Hoàng Su Phì mùa lúa chín. Ảnh sưu tầm

    Không ai biết đồng bào các dân tộc ở Hoàng Su Phì mất bao nhiêu lâu để biến những ngọn núi đất thành những thửa ruộng bậc thang tuyệt đẹp. Chỉ biết rằng, ruộng bậc thang đã được đồng bào khai thác từ hàng trăm năm nay, thay thế cho việc làm nương làm rẫy, hết đời này qua đời khác, con người nơi đây lấy ruộng bậc thang làm kế sinh nhai. Ruộng bậc thang cũng đánh dấu quá trình định canh định cư, đem lại cuộc sống ấm no hơn cho các hộ gia đình.

    10. Thung lũng Sủng Là – “Nơi đá nở hoa”

    Từ hướng Yên Minh lên thị trấn Đồng Văn, đến ngã ba Phó Bảng, nơi con đèo xinh đẹp ôm trọn một thung lũng xanh, đó chính là Thung lũng Sủng Là – “đóa hoa hồng” của cao nguyên đá.

    Sủng Là như một bức tranh thiên nhiên thanh bình, xinh đẹp; nằm giữa những dãy núi đá tai mèo nhấp nhô, thâm sẫm một màu, những ngôi nhà vững chãi với mái đã phai màu thời gian.

    Người Mông ở Sủng Là trồng tam giác mạch và hoa cải trên đồi đất cao; trồng ngô, lúa ở vùng đất bằng nơi đáy thung lũng. Màu xanh non của ngô, lúa chen lẫn với màu hồng của hoa tam giác mạch; màu vàng của nắng; cùng màu xanh đậm của rừng sa-mu sừng sững giữa đất trời.

    Làng dệt thổ cẩm Lùng Tám – điểm hùng quan cuối trong danh sách các điểm du lịch ở Hà Giang. Từ cổng trời nhìn xuống, Lùng Tám là một xã nằm nép mình giữa những đỉnh núi đá mù sương, bốn mùa mây phủ. Đây là nơi cư trú của đồng bào dân tộc Mông nổi tiếng với nghề dệt lanh, nhuộm chàm và vẽ sáp ong, cũng là nơi mà: “Chỉ có mặc vải lanh, mình mới không bị lạc tổ tiên…”

    “Thổ cẩm là báu vật của Lùng Tám. Khắp vùng cao Hà Giang, chỗ nào người Mông sinh sống, ở đó có thổ cẩm; nhưng để sản phẩm thổ cẩm được gìn giữ, phát huy và tỏa sáng thì hiện chỉ duy nhất ở Lùng Tám làm được”, trích lời ông Hạng Dương Thành, Chủ tịch UBND xã Lùng Tám.

    Xuân Lang *Mọi sự trích dẫn và sao chép xin vui lòng ghi rõ nguồn chúng tôi

    Hà Giang đẹp là thế mà cũng hiểm trở là thế! Có đóa hồng nào lại không có gai, có vẻ đẹp tuyệt mỹ nào lại dễ dàng chinh phục được, vẻ đẹp hiếm có của các điểm du lịch ở Hà Giang có thể đứng hàng đầu trên dải đất hình chữ S này! Hãy một lần đến đây, tự mình khám phá 11 hùng quan – các điểm du lịch ở Hà Giang nổi tiếng bốn phương, để rồi ngỡ ngàng trước vẻ mỹ lệ của thiên nhiên nơi địa đầu Tổ quốc ấy.

    Book tour, đặt ngày, du lịch Hà Giang ngay hôm nay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Địa Điểm Du Lịch Hà Giang (Cập Nhật 01/2021)
  • Tổng Hợp 100 Địa Điểm Du Lịch Đà Lạt Hấp Dẫn Năm 2022
  • Tổng Hợp #79 Địa Điểm Du Lịch Đà Lạt 2022 Gây ” Mê Đắm”
  • “hot” Top Những Địa Điểm Du Lịch Đà Lạt Mới Lạ Năm 2022
  • Những Điểm Du Lịch Cần Thơ Siêu Đẹp Nhất Định Phải Đi
  • Các Điểm Du Lịch Ở Bắc Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Trải Nghiệm Du Lịch Cộng Đồng Tại Bắc Giang
  • Những Địa Điểm Tham Quan Du Lịch Không Thể Bỏ Xót Ở An Giang Phần 1
  • “top” 5 Địa Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Nhất Ở Hậu Giang
  • 6 Điểm Đến Du Lịch Sáng Giá Ở Hậu Giang
  • Danh Sách 15 Địa Điểm Du Lịch Hậu Giang Cho Chuyến Đi Đầy Kỷ Niệm
  • CÁC ĐIỂM DU LỊCH Ở BẮC GIANG

    BẮC GIANG

    Diện tích: 3.827,4 km²

    Dân số: 1.594,3 nghìn người (năm 2006)

    Tỉnh lỵ: Thành phố Bắc Giang

    Các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Yên Dũng, Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hoà.

    Dân tộc: Việt (Kinh), Nùng, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, Tày…

    Điều kiện tự nhiên

    Bắc Giang là tỉnh ở miền trung du và giáp với châu thổ đồng bằng Bắc bộ. Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây và tây bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía nam và đông nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh. Địa hình gồm có đồng bằng, trung du, miền núi.

    Khí hậu: chia làm 2 mùa: mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3; mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9. Nhiệt độ trung bình năm 24ºC.

    Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

    Bắc Giang là một vùng có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử như rừng cấm nguyên sinh Khe Rỗ, khu di tích Suối Mỡ, di tích thành Xương Giang… Nhiều hồ chứa nước lớn tạo nên phong cảnh kỳ vĩ, phát triển được tiềm năng du lịch như hồ Cấm Sơn, Khuôn Thần.

    Bắc Giang là một tỉnh vừa có truyền thống lễ hội văn hoá của đất Kinh Bắc, vừa có hội xuân của các dân tộc ít người.

    Giao thông

    Giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy đều tương đối thuận tiện.

    Đường sắt: Từ Bắc Giang có thể về thủ đô Hà Nội, lên Lạng Sơn, sang Thái Nguyên và vùng công nghiệp mỏ Quảng Ninh.

    Đường bộ: Thành phố Bắc Giang cách trung tâm Hà Nội 51km. Hệ thống đường bộ thuận lợi có quốc lộ 1A chạy qua. Nhiều tuyến tỉnh lộ và huyện lỵ.

    Đường thuỷ: Tỉnh Bắc Giang có nhiều sông lớn (sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam) chảy qua tỉnh, thuận tiện cho vận tải đường sông, góp phần tưới tiêu nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, du lịch.

    THÀNH CỔ XƯƠNG GIANG

    Vị trí: Thành cổ Xương Giang nằm ở xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Xương Giang là tên ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ 15.

    Các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông – Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc – Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây. Đây là nơi diễn ra trận công thành của nghĩa quân Lam Sơn ngày 28/9/1427 và trận diệt viện oanh liệt ngày 3/11/1427 mà Lê Quý Đôn đánh giá:Từ triều Trần bắt được Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi cho đến lúc ấy, nước Nam thắng giặc phương Bắc chưa có trận nào lớn như vậy (theo Đại Việt thông sử).

    Để kỷ niệm lịch sử chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn tại thành Xương Giang, hàng năm tỉnh Bắc Giang tổ chức lễ hội kéo dài trong 2 ngày mùng 6 và mùng 7 tháng giêng.

    RỪNG NGUYÊN SINH KHE RỖ

    Vị trí: Khu rừng cấm thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Rừng cấm nguyên sinh Khe Rỗ có diện tích 7.153ha với hệ thống động thực vật phong phú.

    Khu rừng có 236 loài thực vật, cây lấy gỗ, 255 loài dược liệu quý, 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, đặc biệt có 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm. Có nhiều dòng suối nước trong vắt, chảy quanh co uốn khúc qua rừng. Đây là một khu rừng cấm nguyên sinh còn giữ được vẻ hoang sơ rất thích hợp cho du khách tham quan và nghiên cứu.

    ĐÌNH THỔ HÀ

    Vị trí: Đình Thổ Hà thuộc làng Thổ Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Đây là ngôi đình cổ được dựng vào đời Lê Hy Tông trên khu đất rộng 3.000m2 có nhiều cây cổ thụ xung quanh.

    Đình được dựng theo kiểu chữ công, toà bái đường dài 27m, rộng 16m, dựng trên nền cao 0,5m xung quanh bó đá tảng xanh chia làm ba cấp, mái đình lợp ngói mũi hài to bản, bốn góc là những đầu đao cong vút. Đầu bờ nóc uốn quanh hình lưỡi liềm, góc mái có gắn nghê, thú nhỏ bằng sành nung già lửa đỏ tía. Có tất cả 22 đầu bẩy lực lưỡng, chạm rồng, mây, nghê, thú rất trau chuốt. Bái đường chia làm 7 gian, 48 cột lim, bộ khung mái chạm trổ tinh vi, nhiều cảnh trí sinh động.

    Đặc biệt có khá nhiều hình thiếu nữ mặc váy dài, yếm, tóc búi hoặc chít khăn với nét mặt rạng rỡ trong tư thế cưỡi phượng, đè rồng, hoặc đang nhảy múa giữa các lớp mây bồng bềnh. Lòng bái đường lát đá xanh nhẵn bóng. Bức cửa võng thếp vàng chạm trổ lộng lẫy làm cho bái đường càng thêm trang nghiêm cổ kính. Theo tấm bia cổ để lại, đình Thổ Hà là kết quả công sức đóng góp của toàn thể dân làng Thổ Hà. Ngôi đình là công trình thể hiện niềm tự hào của các thế hệ người dân Thổ Hà.

    CHÙA ĐỨC LA

    Vị trí: Chùa Đức La nằm trên một quả đồi thấp, sau lưng là dãy núi Cô Tiên, thuộc xã Trí Yên huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Chùa Đức La còn có tên gọi là chùa Vĩnh Nghiêm, đây là một trung tâm Phật giáo từ thời Trần thuộc thiền phái Trúc Lâm, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước.

    Kiến trúc chính của chùa nằm trên một trục dọc, hướng đông nam gồm 4 khối lớn.

    Khối thứ nhất gồm 3 nếp chùa hộ, thiêu hương và chùa Phật liên kết với nhau trong một khối kiến trúc kiểu chữ công với thiết kế khang trang to lớn kiểu tàu đao lá mái với 4 đao cong, có 8 vì kèo, kiểu chồng rường, thượng tam hạ tứ, nghệ thuật đơn giản.

    Khối kiến trúc thứ hai cũng làm theo kiểu chữ công nhưng thấp và nhỏ hơn gọi là nhà tổ đệ nhất có kiến trúc đơn giản nhưng vẫn còn dấu vết của trang trí thời Lê.

    Khối thứ ba là gác chuông cao 2 tầng mái và khối thứ tư là nhà tổ đệ nhị, kết cấu kiểu chuôi vồ.

    Hơn 7 thế kỷ trôi qua, chùa Đức La vẫn là một trung tâm Phật giáo lớn, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước. Nhiều kệ ván in kinh vẫn còn, là hiện vật minh chứng cho vai trò quan trọng của chùa, từng thống lãnh 72 chốn tùng lâm.

    ĐỀN SUỐI MỠ

    Vị trí: Đền Suối Mỡ thuộc khu di tích suối Mỡ, xã Nghĩa Phương, huyện LụcNam, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Đền Suối Mỡ gồm 3 ngôi đền Hạ, Trung và Thượng kế tiếp nhau qua đoạn suối dài, thờ chung Thượng Ngàn Thánh Mẫu (Công chúa Quế Mỵ Nương đời vua Hùng thứ16).

    Tương truyền Quế Mỵ Nương là người đã có công mở thác Vực Mỡ đưa nước về cho dân khai hoang trồng trọt, lập làng xóm. Đền Thượng nằm ở lưng chừng núi Vực Mỡ, đối diện có núi Hang rất cao, cây cối um tùm xanh mát quanh năm. Từ đây trở xuống suối Mỡ rộng dần, có nhiều thác lớn nhỏ. Đền Trung nằm ở hữu ngạn dòng suối này, trong không gian rộng rãi thoáng mát. Cạnh đó là dòng nước suối trong lành róc rách chảy suốt tháng ngày đổ ra cửa đền Hạ. Đây là ngôi đền có quy mô lớn, thu hút nhiều khách thập phương về lễ đền. Đặc biệt khi đến đây, du khách sẽ không thể quên hình ảnh 5 ngọn thác luôn đổ nước trắng xóa. Theo truyền thuyết, đó chính là 5 ngón tay của Công chúa Quế Mỵ Nương khi ấn nhẹ sẽ tuôn ra dòng nước mát tưới cho đồng ruộng tốt tươi.

    KHU DU LỊCH KHUÔN THẦN

    Vị trí: Từ Bắc Giang đi ngược lên vùng Đông Bắc 40km (phốChũ) rồi rẽ trái 10km là tới khu du lịch Khuôn Thần thuộc địa phận huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Diện tích hồ Khuôn Thần rộng 240ha, xung quanh là dãy núi được phủ xanh, chủ yếu là thông.

    Lòng hồ có 5 đảo nhỏ được trồng thông xanh có tuổi từ 15-20 năm. Diện tích rừng Khuôn Thần khoảng 700ha, trong đó rừng tự nhiên là 300ha, rừng thông 400ha. Xung quanh khu du lịch Khuôn Thần là vườn cây đặc sản: vải Thái Lan, vải thiều, hồng, na… Tại đây còn có đền Từ Mã thờ danh tướng thời Trần đã được nhà nước xếp hạng di tích văn hóa.

    Du khách đến đây có thể cắm trại, dạo chơi trên hồ bằng thuyền đạp chân hoặc thuyền máy, thưởng thức những sản phẩm địa phương như mật ong, rượu tắc kè, hạt dẻ…và tham dự các buổi sinh hoạt văn hóa với dân địa phương.

    HỒ CẤM SƠN

    Vị trí: Hồ Cấm Sơn thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Hồ Cấm Sơn là nơi tham quan nghỉ mát hấp dẫn.

    Bình thường mặt hồ rộng 2.600ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng tới 3.000ha. Chiều dài hồ gần 30km, bề ngang nơi rộng nhất 7km, chỗ hẹp nhất 200m.

    Xung quanh hồ là những dãy núi cao bao bọc, hay nói một cách khác, bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng và cây cao bóng cả.

    Với những dự án quy hoạch xây dựng xung quanh khu vực hồ Cấm Sơn, không bao lâu nữa, Cấm Sơn sẽ trở thành nơi tham quan nghỉ mát hấp dẫn với nhiều loại hình du lịch: bơi thuyền, leo núi, câu cá, đi bộ vào các làng xóm của đồng bào dân tộc, hay đi chơi rừng…

    KHU DI TÍCH SUỐI MỠ

    Vị trí: Khu di tích suối Mỡ thuộc xã Nghĩa Phương, huyện LụcNam, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Khu du lịch với phong cảnh thiên nhiên kỳ thú. Nơi đây có đền Suối Mỡ – nơi thờ bà chúa Thượng Ngàn (công chúa Quế Mỵ Nương đời vua Hùng thứ 16).

    Suối Mỡ từ lâu đã trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách. Đến đây, du khách không chỉ ngắm nhìn những con suối chảy róc rách mà còn khám phá khung cảnh thiên nhiên kỳ thú được bao bọc bởi những dãy núi trải dài trùng điệp.

    Nếu như cái nắng nóng của đoạn đường đi đến suối Mỡ khiến du khách cảm thấy mệt mỏi thì không khí thoáng đãng của núi rừng ngay khi đặt chân đến đây sẽ xua tan mệt mỏi để thay vào cảm giác thư thái, dễ chịu. Men theo con đường uốn lượn dẫn vào suối, du khách có thể chiêm ngưỡng cả một dãy núi non hùng vĩ. Trên những dãy núi này, những loại cây như tùng, bách, thông được trồng xen kẽ tạo thành một thảm cỏ xanh. Đường đến suối Mỡ được lát bê tông phẳng phiu tạo thành những bậc thang rất dễ đi. Song song với con đường này, một lối đi khác được tạo ra bởi nhiều vách đá sẽ thích hợp với những du khách ưa mạo hiểm. Vào mùa mưa, những vách đá này thường rất trơn nên ít du khách chọn lối đi này. Đa phần du khách chọn lối đi bách bộ men theo sườn núi.

    Trên những sườn núi xuất hiện những mái nhà lá được xây dựng rất đơn sơ nhưng là điểm dừng chân thú vị. Tại đây, du khách sẽ được uống những ngụm nước vối thơm mát, được thưởng thức những loại hoa quả đặc sản nơi đây như mít, vải, dưa hấu… Và điều đặc biệt là được ngắm nhìn vạn vật từ trên cao, được bao quát toàn bộ núi rừng của suối Mỡ. Vượt qua hết những dãy núi, tiếp bước du khách sẽ là những con suối rất trong và mát càng khiến du khách quên đi cái nắng nóng gay gắt của những ngày hè oi ả. Nguồn nước suối ở đây từ bao đời nay đã góp phần không nhỏ trong cuộc sống sinh hoạt của người dân địa phương.

    Ngoài việc thưởng ngoạn phong cảnh do thiên nhiên ban tặng, đến tham quan suối Mỡ du khách còn như lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh với những ngôi đền, chùa nằm tĩnh tại trên những mỏm núi.

    Đền Suối Mỡ bao gồm đền Hạ, Trung, Thượng, nằm dọc theo dòng suối Mỡ. Từ đền Hạ đến đền Thượng đi bộ khoảng 1 giờ, đi theo suối phải mất 2 giờ. Phong cảnh hữu tình, dòng nước tung bọt trắng xoá càng hấp dẫn du khách.

    Nguồn: Tổng cục du lịch ViệtNam

    Võ Nhật Trường @ 14:43 07/01/2015

    Số lượt xem: 647

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Tỉnh An Giang
  • Du Lịch Đảo Hải Tặc (Kiên Giang): Kinh Nghiệm Đi 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đảo Hải Tặc Ở Kiên Giang
  • Tour Du Lịch Đảo Bà Lụa 2 Ngày 2 Đêm Giá Rẻ
  • Tổ Chức Du Lịch Team Building Tại Quần Đảo Bà Lụa Kiên Giang,tổ Chức Tour Du Lịch Team Building Tại Quần Đảo Bà Lụa Kiên Giang
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Bắc Giang (Cập Nhật 11/2020)

    --- Bài mới hơn ---

  • Khu Du Lịch Bãi Bầu Quy Nhơn
  • Bãi Biển Sầm Sơn (Thanh Hóa)
  • Bãi Bụt Đà Nẵng Địa Điểm Giải Nhiệt Mùa Hè
  • Khu Du Lịch Bãi Cát Vàng Đà Nẵng
  • Khu Du Lịch Bãi Cháy Quảng Ninh, Hè 2022 Bạn Hãy Tới Đây Nhé!
  • Các địa điểm du lịch ở Bắc Giang

    Cùng Phượt – Bắc Giang là vùng đất cổ, có nhiều di tích lịch sử văn hoá gắn liền với đất và người vùng Kinh Bắc. Nơi đây từng ghi những dấu ấn đậm nét về các cuộc đấu tranh chống quân giặc xâm lược như chiến thắng Cần Trạm, Hố Cát, Xương Giang; cuộc khởi nghĩa Yên Thế…cùng với một số di tích tiêu biểu như: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, đình Lỗ Hạnh, Lăng Dinh Hương, Lăng Họ Ngọ…Hơn nữa còn có khá nhiều địa điểm du lịch ở Bắc Giang rất hấp dẫn như: Suối Mỡ, Suối Nước Vàng, Hồ Cấm Sơn… Với du lịch, đó thực sự là những điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực du lịch văn hoá, lịch sử và du lịch sinh thái.

    Khoảng hai năm trở lại đây, du khách biết nhiều đến điểm du lịch Đồng Cao, thuộc xã Thạch Sơn, huyện Sơn Động (Bắc Giang) qua các phương tiện thông tin đại chúng. Không ít người, đặc biệt là các bạn trẻ ưa thích du lịch khám phá theo hình thức “phượt” đã đặt chân đến đây.

    Điểm ấn tượng với du khách khi đến Đồng Cao là được tận hưởng bầu không khí mát mẻ, trong lành, thiên nhiên hoang sơ cộng thêm sự chất phác, thật thà và nhiều tập quán truyền thống của đồng bào vùng cao. Đây còn được ví như “” hay “Sapa” của Bắc Giang. Ngoài ra, sự mới lạ, mong muốn chinh phục những con đường gập ghềnh, khó đi cũng là lý do để không ít các nhóm trẻ hướng lên Đồng Cao.

    Yên Tử là dãy núi cao, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang. Đây là dãy núi chính của vòng cung Đông Triều (từ Quảng Ninh qua Hải Dương – Bắc Giang và dừng ở bờ tả sông Lục Nam).

    Yên Tử là khu rừng tự nhiên tập trung lớn nhất của tỉnh Bắc Giang và của vùng Đông Bắc, nằm trên diện tích của các xã An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận (huyện Sơn Động) và xã Lục Sơn (huyện Lục Nam). Đây là khu rừng phân bố ở độ cao từ 200m đến hơn 1.000m so với mặt biển và có địa hình cao dốc phức tạp.

    Rừng Yên Tử có vị trí vô cùng quan trọng đối với việc phòng hộ, môi trường và điều tiết khí hậu cho vùng Đông Bắc của tỉnh. Bên cạnh đó, rừng Yên Tử còn có nguồn tài nguyên rừng khá lớn, đủ điều kiện để xây dựng thành một khu dự trữ thiên nhiên với diện tích trên 17.000 ha và tổng trữ lượng gỗ gần 1.000.000 m3. Mặt khác, do nằm ở vị trí có địa hình cao dốc, hiểm trở nên rừng tự nhiên Yên Tử còn giữ được những khu vực tương đối nguyên vẹn với một quần thể sinh vật phong phú, đa dạng, đặc trưng tiêu biểu cho vùng Đông Bắc Việt Nam.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có nhiều nguồn gien động, thực vật rừng quý hiếm, đặc trưng cho vùng Đông Bắc Việt Nam mà nhiều khu bảo tồn thiên nhiên khác không có.

    Trên hệ thống núi Yên Tử có nhiều thắng tích nổi tiếng đã được sử sách xưa ghi nhận, đó là: khu thắng tích Am Vãi; khu thắng tích Suối Mỡ – Hồ Bấc; khu thắng tích Huyền Sơn; khu di tích Khám Lạng; khu di tích Hòn Tháp – Yên Mã… Các khu thắng tích này là một quần thể rộng gồm danh sơn và cổ tích hợp lại. Hầu hết, những khu di tích nằm trên sơn phận Yên Tử thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang là những khu di tích cổ, có từ thời Lý – Trần (thế kỷ XI đến thế kỷ XIV). Đó là những di tích có ý nghĩa lịch sử, văn hóa mang đậm màu sắc Phật giáo thuộc thiền phái Trúc Lâm do vua là Trần Nhân Tông sáng lập.

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông thuộc tuyến du lịch Tây Yên Tử – một tuyến du lịch trọng điểm đang được tỉnh Bắc Giang tập trung quy hoạch và xây dựng. Khu du lịch Đồng Thông cũng là nơi bảo tồn nhiều loài động vật quý hiếm, ngoài ra, đây còn là điểm dừng chân cho bạn trước khi chinh phục đỉnh Phù Vân Yên Tử từ phía Tây.

    Khu rừng nguyên sinh thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động có diện tích 7.153ha trong đó có 5.092ha là rừng tự nhiên. Khu rừng có 236 loài thực vật, cây lấy gỗ, 255 loài liệu dược quý. Trong khu rừng còn có 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, đặc biệt có 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm. Đây là cánh rừng nguyên sinh tiêu biểu của khu vực Đông Bắc Việt Namnằm gọn trong hai khe suối khe Rỗ và khe Din. Phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn, phía Nam và Đông Nam giáp với huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc và Tây Bắc thuộc địa phận của xã An Lạc. Sống xung quang khu bảo tồn rừng nguyên sinh là dân cư của hai bản dân tộc Dao: Pác Duốc và Khe Din.

    Hiện nay rừng nguyên sinh Khe Rỗ nói riêng và toàn bộ khu rừng Tây Yên Tử nói chung còn giữ được vẻ nguyên sơ rất thích hợp cho các tour du lịch sinh thái, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu các hệ động thực vật rừng nhiệt đới của du khách.

    Thổ Hà là tên gọi một làng nghề thuộc xã Vân Hà huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang. Đó là một ngôi làng cổ với phong cảnh hữu tình, cây đa, bến nước, sân đình, những nếp nhà cổ san sát nằm sâu trong các ngõ hẻm cổ kính. Khác với các làng ở đồng bằng Bắc Bộ dân Thổ Hà hoàn toàn không có ruộng, bao đời sống bằng gạo chợ nước sông, thu nhập từ nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Trước 1960 làng nổi tiếng về nghề làm gốm, từ 1990 lại đây nổi tiếng về nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo.

    Thổ Hà ba mặt là sông như một hòn đảo, ra khỏi làng là phải đi đò. Làng có hai bến đò: bến Chùa ở trước cửa đình, bến đò dưới nằm ở xóm Ba. Trước kia đò do người chèo trông rất thơ mộng, nhưng ngày nay đều được gắn máy nên đò chở khách nhanh hơn. Dọc bờ sông của làng là thuyền bè của dân vạn chài sinh sống.

    Làng có một trục đường chính chạy theo bờ Bắc dòng sông Cầu, theo chiều dòng chảy lần lượt là Xóm 1, Xóm 2, Xóm 3 và Xóm 4. Vuông góc với trục đường chính là các ngõ xóm sâu và hẹp. Cách đây vài chục năm dấu tích của nghề gốm vang bóng một thời là những bức tường ngõ cổ và bức tường nhà xây toàn bằng những mảnh gốm vỡ hay tiểu sành phế phẩm mà không dùng chút vôi vữa nào, chỉ dùng bùn của sông Cầu để kết dính. Khi dân làng giàu lên các bức tường này đã xây lại bằng gạch và xi măng, hiện nay chỉ còn rất ít đoạn tường cổ. Có hai đường vào làng: đường thủy qua bến đò từ phía Nam, đường bộ qua cổng làng từ phía Bắc làng, bến đò và cổng làng chỉ cách nhau 100 mét.

    Kiến trúc cổ của Thổ Hà gồm: ba di tích lịch sử văn hóa được nhà nước công nhận là Đình, Chùa, Văn Chỉ, trong đó có gần hai chục tấm bia đá ghi chữ nho ở cả hai mặt; Cổng làng, bốn ngôi Điếm của bốn xóm, các ngôi nhà cổ. Cổng làng Thổ Hà có kiến trúc đẹp, bề thế và cổ kính, là một trong những chiếc cổng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu. Quanh khu vực cổng làng, đình và chùa có rất nhiều cây đa đều hàng trăm năm tuổi. Trong làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà cổ xây dựng cách đây trên 100 năm, tiêu biểu cho các ngôi nhà cổ thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

    Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc. Đình thờ Thân Cảnh Phúc,là Tướng nhà Lý, có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống, dân tộc Tày, tù trưởng châu Quang Lang (Châu Ôn-Lạng Sơn), được vua Lý gả công chúa và phong chức tri châu. Đó là một công trình kiến trúc quy mô trên một khu đất rộng 3.000 m², một nghệ thuật điêu khắc độc đáo. Đình đã từng được chính quyền Pháp xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương. Đình được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa năm 1960. Đình xây dựng năm 1685 thời vua Lê Chính – Hòa năm thứ 7. Đến năm 1807 (Gia Long năm thứ 5) xây dựng tiền tế và hai nhà tả vu, hữu vu. Thời kỳ kháng chiến chông Pháp, đình bị rỡ ngói, phá sàn và chấn song. Mặt khác hàng năm thường bị lụt, có năm nước ngập đến mái ngói, nên đình bị xuống cấp nhiều.

    Trong suốt thời gian từ lúc được xây dựng tới bây giờ, ngôi đình đã được sửa sang và nâng cấp rất nhiều lần. Năm 1977 – 1979 nhà nước đã đầu tư kinh phí và cử cán bộ về trùng tu, nâng ngôi đình cao thêm 1,8m, nhưng ngôi tiền tế vẫn chưa nâng. Năm 1988 dân Thổ Hà với tinh thần tự lực cánh sinh đã tôn tạo ngôi tiền tế và nâng cao bằng ngôi đình.

    Đình được dựng theo kiểu chữ công, toà bái đường dài 27m, rộng 16m, dựng trên nền cao 0,5m xung quanh bó đá tảng xanh chia làm ba cấp, mái đình lợp ngói mũi hài to bản, bốn góc là những đầu đao cong vút. Đầu bờ nóc uốn quanh hình lưỡi liềm, góc mái có gắn nghê, thú nhỏ bằng sành nung già lửa đỏ tía. Có tất cả 22 đầu bẩy lực lưỡng, chạm rồng, mây, nghê, thú rất trau chuốt. Bái đường chia làm 7 gian, 48 cột lim, bộ khung mái chạm trổ tinh vi, nhiều cảnh trí sinh động. Đặc biệt có khá nhiều hình thiếu nữ mặc váy dài, yếm, tóc búi hoặc chít khăn với nét mặt rạng rỡ trong tư thế cưỡi phượng, đè rồng, hoặc đang nhảy múa giữa các lớp mây bồng bềnh. Lòng bái đường lát đá xanh nhẵn bóng. Bức cửa võng thếp vàng chạm trổ lộng lẫy làm cho bái đường càng thêm trang nghiêm cổ kính.

    Trong đình có ba tấm bia to: Thủy tạo đình miếu bi nói về việc xây dựng đình, Cung sao sự tích thánh (Lão Tử) nói về sự tích thành hoàng Thái thượng lão quân, Bia sao sắc phong sao các đạo sắc của các triều đại trước phong tặng. Ngoài ra còn có các bia khác quy tập tại đình nói về những điều lệ trong dân đã quy định.

    Năm 2006 được sự trợ giúp kinh phí của Vương quốc Bỉ đình Thổ Hà lại được dỡ hết để làm lại, dự định cuối 2009 sẽ xây dựng xong. Trong lần trùng tu này đình được phục chế theo các ảnh chụp còn lưu trữ bên Pháp. Sau khi làm xong đình thì Chùa Thổ Hà và Văn chỉ cũng sẽ xây dựng lại.

    Xương Giang là một thành cổ hiện chỉ còn lại tàn tích tại tỉnh Bắc Giang, đây là một trong những nơi đã diễn ra trận chiến giữa quân của Lê Lợi và quân Minh.

    Thành Xương Giang do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ 15, năm 1407, trong thời gian nhà Minh đô hộ Việt Nam. Thành được xây bằng đất, các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông – Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc – Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây.

    Thành Xương Giang xưa tuy đặt ở vùng bằng phẳng nhưng lợi thế ở chỗ hiểm yếu. Thành này án ngữ con đường “Thiên Lý Bắc – Nam” xưa. Xung quanh thành địa hình cũ có hệ thống sông con, đầm lầy, rộc trũng bao quanh rất khó tấn công. Năm 1407, giặc Minh cho đắp thành này, trấn giữ ở đó được 20 năm thì bị Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn vây đánh vào năm 1427. Do địa thế hiểm yếu, nghĩa quân Lam Sơn phải 9 tháng mới hạ được thành, trong khi đó các thành Thị Cầu, Chi Lăng, Đoàn Thành nghĩa quân triệt hạ nhanh chóng.

    Suối Mỡ là tên một con suối chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh – Yên Tử, tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Cảnh đẹp nhất nơi đây là đoạn suối có năm bậc thác mẹ con từ đền Thượng xuống đền Trung. Theo các tài liệu, đền Suối Mỡ là nơi thờ Công chúa Quế Mỵ Nương thời Hùng Vương, người có công mở dòng Suối Mỡ, dạy nhân dân làm ruộng, làm nương.

    Tại khu vực Suối Mỡ, các công trình tạo thành một khu liên hoàn: đền Hạ, đền Trung, đền Thượng (có từ thời nhà Lê, thế kỷ XV – XVI). Với nhiều loại hình du lịch để du khách có thể lựa chọn như: Tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, tắm suối, cắm trại, leo núi, khám phá thiên nhiên hoặc mua sắm, ẩm thực… Du khách có thể lựa chọn điểm du lịch sinh thái tại thác Suối Mỡ; thác Thùm Thùm; vọng Ngắm Trăng; đỉnh Rông Khế; hồ Suối Mỡ hoặc du lịch tâm linh tại đền Suối Mỡ (đền Hạ, đền Trung, đền Thượng); đền Trần; đền Quan; đền Cô Bé Cây Xanh.

    Điểm đầu tiên trong chuỗi thắng cảnh là đền Hạ, ngôi đền nằm kề bên đường tỉnh 293. Đây là một trong 3 ngôi đền có quy mô và diện tích lớn nhất trong hệ thống đền Suối Mỡ. Đền tọa lạc trên thế đất “hoàng long”. Trước cửa đền có núi Tai Voi làm án có tác dụng ngăn không cho tà khí bay vào đền và giữ lại những tài lộc do long mạch bên trong thúc ra.

    Ngày nay, dưới bóng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm, đền Hạ vẫn giữ được nét uy nghi, rêu phong cổ kính. Đền Hạ hiện còn giữ được 3 pho tượng đồng quý hiếm, bên ngoài được phủ một lớp sơn bóng quang điện trông càng rực rỡ uy nghi.

    Nằm tách biệt với khu dân cư, từ xa nhìn lại, đền Trung tọa lạc trên mảnh đất có vị trí như một hòn đảo được bao bọc bởi suối và cây xanh tạo nên vẻ tĩnh mịch, huyền bí và linh thiêng cho ngôi đền. Với điểm tựa gối đầu là núi Bà Bô; án là rừng Thông và sườn Giông Khế, theo thuyết phong thủy đây là mảnh đất tụ linh và ngôi đền nằm trên thế đất “tựa Sơn đạp Thuỷ”. Lối đi duy nhất vào đền là cây cầu bán nguyệt được coi như nối cõi trần với nơi đất thánh. Trong đền thờ công chúa Quế Mỵ Nương – Thượng Ngàn Thánh Mẫu và một số bệ thờ theo tín ngưỡng thờ mẫu.

    Đền Trung có cả thảy 5 thác nước, trong những nét nguyên sơ của đá và nước, cùng cỏ cây xung quanh tạo nên nét kì bí và thú vị cho những du khách đến đây.

    Ngôi đền nằm giữa lưng chừng núi có kiến trúc khá đơn sơ, hầu như giữ nguyên kiểu dáng kiến trúc ban đầu từ thuở mới tạo dựng. Đền chỉ có một gian rộng lấy một tảng đá lớn bên trên làm mái, lấy vách đá xung quanh làm tường, ba bề trên dưới là đá, cả điện thờ cũng nguyên khối đá. Tại đền Thượng, bên dòng Suối Mỡ thơ mộng, còn được thưởng thức những điệu hát chầu văn mượt mà, say đắm lòng người.

    Nằm trong quần thể khu du lịch Suối Mỡ, thác Thùm Thùm, còn gọi là thác Chúa, từ đền Trần đến đây mất khoảng 30 phút. Thác Thùm Thùm mang một vẻ đẹp kì bí, Đây là thác cao nhất trong hệ thống thác Suối Mỡ. Thác được khoác trên mình một tấm áo choàng bằng nước từ trên cao đổ xuống tạo ra những bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Bây giờ, chúng tôi mới hiểu hết ý nghĩa tên thác bởi thác nước đổ xuống tạo nên những âm thanh thùng thình, ùm ùm, nghe như tiếng trống trận của quân sĩ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

    Công trình khởi công xây dựng năm 2009 gồm 4 hạng mục: Đập chính, tràn xả lũ, cống nước, kênh dẫn nước. Với diện tích mặt hồ hơn 30 ha, công trình hồ Suối Mỡ góp phần tạo cảnh quan môi trường sinh thái cho khu vực đồng thời giúp điều hòa khí hậu và thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch như: bơi thuyền, câu cá, nghỉ dưỡng và dịch vụ khách sạn, nhà hàng, công viên thú. Trong tương lai không xa, khi hoàn thiện, nơi đây sẽ tôn thêm vẻ đẹp của Suối Mỡ – miền đất thiêng.

    Khuôn Thần là một hồ nước rộng rộng 240 ha, bao quanh bởi những đồi vải, đồi thông bạt ngàn và xanh mướt. Đây là một khu du lịch còn nhiều tiềm năng của xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    Từ thành phố Bắc Giang theo quốc lộ 31 đi khoảng 40 km lên đến trung tâm ngã tư Đài Phát thanh -Truyền hình Lục Ngạn, sau đó rẽ trái 9 km, du khách sẽ tới khu du lịch Khuôn Thần. Nơi đây được thiên nhiên ban tặng vẻ đẹp nguyên sơ, thanh bình với hồ nước trong xanh, không khí thoáng đãng, bao quanh là những đồi vải, đồi thông ngút ngàn.

    Cách TP Bắc Giang hơn 15 km, trên núi Dành có nhiều thông, keo vi vu. Đây là địa danh từng được nhắc tới trong sách “Đại Nam nhất thống chí”, trong đó có đoạn: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra sâm Nam và cỏ Thi”. Quần thể khu du lịch này gồm nhiều công trình như: Đền Trình, đền Hạ, đền Thượng, chùa Không Bụt, đình Vường và hơn 30 ha rừng thông, keo, bạch đàn có độ tuổi trên chục năm, tạo thành một không gian văn hóa tâm linh, sinh thái thu hút đông đảo người dân đến hành hương, thưởng ngoạn.

    Bản Đá Húc cách trung tâm xã Bình Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang) khoảng 8 km. Từ con đường liên xã chạy qua bản nhìn lên là màu xanh thẫm của khu rừng nguyên sinh – rừng lim xanh. Ngay bìa rừng là ngôi đình cổ kính nhìn ra khu định cư của đồng bào Cao Lan.

    Không xa nữa khi tuyến đường tâm linh 293 sườn Tây Yên Tử hoàn thành, đường về bản Đá Húc sẽ rất thuận tiện. Khi đó rừng lim xanh và ngôi đình cổ sẽ là điểm tham quan du lịch sinh thái, tâm linh hấp dẫn du khách gần xa.

    Thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu

    Có một địa chỉ du lịch sinh thái lý thú khá quen thuộc với người dân bản địa nhưng lại mới mẻ và ít người nơi khác biết đến tại xã Tuấn Đạo (Sơn Động), đó là thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu. Những ngày hè dát bỏng, đây thực sự là điểm đến cuốn hút giải nhiệt của người dân.

    Dòng Cấm Sơn xuất phát từ huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, đến Lục Ngạn thì bị chặn lại thành hồ. Hồ Cấm Sơn là nguồn cung cấp nguồn nước tưới chính cho sản xuất nông nghiệp của hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang.

    Bình thường mặt hồ rộng 2.600 ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng đến 3.000 ha. Chiều dài của hồ gần 30 km, bề ngang nơi rộng nhất 7 km, chỗ hẹp nhất 200 m, lòng hồ nơi sâu nhất đến khoảng 47m, hồ có rất nhiều đảo. Điều đặc biệt bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng, bao bọc. Cư dân sống gần hồ là những bản làng người dân tộc Nùng, Tày và Kinh. Nhân dân vùng chung quanh hồ chủ yếu là dân tộc. Người dân ở đây đi lại chủ yếu bằng thuyền, và giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo tạo những cảnh quan sơn thủy hữu tình.

    Để đến được hồ Cấm Sơn du khách có khá nhiều đường khác nhau, song thuận lợi hơn cả là con đường từ thị trấn Chũ, ngược theo đường 297 qua đèo Váng, đến Tân Sơn đi theo con đường đất đỏ với những khúc cua tay áo liên tiếp, men theo những bản làng người Nùng, người Sán Chí, người Dao là đến Cấm Sơn, hoặc từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 1A qua huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn rồi rẽ phải khoảng gần 5km thì đến đập Cấm Sơn.

    Chùa Vĩnh Nghiêm ở làng Đức La xã Trí Yên huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, Việt Nam, còn được gọi là chùa Đức La, là một trung tâm Phật giáo, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước, nơi phát tích Tam Tổ phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, một viên ngọc sáng trong các chùa cổ Việt Nam.

    Trước kia, chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Lạng Giang, nay là thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nên còn gọi là chùa Đức La và lễ hội ở đây được gọi là lễ hội La. Chùa Vĩnh Nghiêm tọa lạc nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn). Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang – Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là núi non trong đó có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc.

    Văn bia chùa thời Trần viết: “Đức Tổ Điều Ngự Pháp Loa khi mở tùng lâm này, còn mở cái chợ Đức La. Các vị vương thân quốc thích và thập phương đàn Việt, phát tâm tậu ruộng đất ở tại bản xã và các hạt khác các nơi, để cúng hương dâng tam bảo muôn đời. Chùa này và chùa Sùng Nghiêm cả thảy 72 chốn tùng lâm, công đức sáng tạo, hợp khắc vào bia ở chùa Hoa Nghiêm núi Yên tử”. Một tấm bia chùa dựng khác viết: “Ðức tổ Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông) khi mở Tùng lâm này (tức chùa Vĩnh Nghiêm), mở cả chợ chùa. Các vị vương thân quốc thích và khách thập phương đã phát tâm tậu nhiều ruộng cúng cho chùa, gồm cả ruộng trong xã và ruộng ở các hạt khác nữa”.

    Tương truyền chùa Vĩnh Nghiêm có từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028), tên chữ là Vĩnh Nghiêm Tự (永嚴寺). Thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) đều có các vị cao tăng tu hành nên được tu tạo nguy nga, tráng lệ. Khi vua Trần Nhân Tông (陳仁宗; 1258-1308), từ bỏ ngôi vua thành người tu hành đến chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Ngoạ Vân (Yên Tử) thụ giới, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập lên phái Thiền tông của Phật giáo Việt Nam. Hương Vân cùng hai đệ tử Pháp Loa (法螺), Huyền Quang (玄光) sáng lập, hoàn chỉnh phái Thiền tông Việt Nam gọi là Tam tổ.

    Chùa Bổ Đà có tên chính xác là chùa Quán Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự, gọi tắt là chùa Bổ, còn có các tên gọi khác là chùa Quán Âm, Tứ Ân Tự , là một trong những ngôi chùa độc đáo nhất miền đất Kinh Bắc, là Trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.

    Chùa toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ Đà sơn), phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh xưa). Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ.

    Chùa có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam, nhiều cổ vật có giá trị và kho tàng di sản Hán – Nôm phong phú. Đây cũng là nơi sơn thủy giao hòa, nhìn sông tựa núi, cảnh sắc, không gian nhuốm màu huyền thoại, xung quanh là đồi núi xóm làng bao bọc. Chùa thờ Tam giáo, trong đó có Quán Thế Âm Bồ Tát, Trúc Lâm Tam tổ (gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), Khổng Tử… Quần thể chùa Bổ Đà là một tập hợp di tích gồm: chùa cổ có tên là Bổ Đà Sơn (gọi tắt là chùa Bổ Đà, chùa Bổ; còn gọi là chùa Quán Âm), chùa chính Tứ Ân Tự, Am Tam Đức (xây dựng sau, vào thời Hậu Lê). Ngoài ra trên núi Bổ Đà còn có đền thờ Đức Thánh Hóa (tức Thạch Tướng Đại Vương – có công giúp vua Hùng thứ 16 chống giặc ngoại xâm).

    Lăng Dinh Hương thuộc làng Dinh Hương, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là một quần thể kiến trúc điêu khắc đá hoành tráng, độc đáo thời Hậu Lê, được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ 1965. Lăng Dinh Hương xây dựng từ năm 1727 (xuất hiện trước tất cả các lăng mộ vua Nguyễn ở Cố đô Huế). Trong lăng lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, tên húy là La Đoan Trực.

    Lăng nằm trên một quả đồi hình tròn rộng khoảng một ha có tường gạch bao quanh (ngày xưa là tường đá ong bao quanh). Vào cổng là hai tượng quan hầu cầm dùi đồng. Quần thể lăng đá Dinh Hương chia làm ba phần chính: phần mộ táng ở giữa, phần thờ tự ở bên trái, phần bia ở bên phải. Tượng người và vật tại lăng làm bằng đá xanh được chạm khắc rất sống động, tượng có kích thước lớn, hình khối mập, chắc và được tỉa công phu.

    Phần mộ rộng khoảng 100 mét vuông có tường đá ong dày bao quanh là nơi lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, có hai võ quan dắt ngựa đứng canh. Cặp tượng quan hầu dắt ngựa được xem là những kiệt tác của nghệ thuật chạm khắc đá, tượng chú trọng vào cách tạo khối trên thân, khiến con vật trở nên đậm chất hiện thực. Một số mảng chạm tỷ mỷ và mang tính cách điệu cao như phần yên cương, bờm con ngựa. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên phải có mặt to, hàm rộng. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên trái có râu dài, mặt nhỏ.

    Khu thờ tự gồm hai voi nằm chầu, bàn thờ có hai con nghê to há mồm ngồi chầu, tiếp theo là ngai thờ làm từ hai khối đá lớn cùng hai quan hầu nữ và hai con nghê nhỏ trạm khắc tinh tế, sinh động. Quan hầu nữ bên trái bưng chiếc tráp khối hộp chữ nhật ngang bụng, bàn tay trái đỡ dưới hộp tráp, tay phải giữ ngang đầu hộp, để hở nửa bàn tay với những ngón thon dài. Quan hầu nữ bên phải ngai thờ tay cầm quạt, đầu đội mũ ni có chóp nhọn như một chiếc nón nhỏ, nửa phía sau mũ có bốn lớp vải trùm kín chân tóc, phủ xuống kín tai và gáy.

    Tìm trên Google

    • các địa điểm du lịch ở bắc giang
    • chơi gì khi đến Bắc Giang
    • phượt Bắc Giang có gì
    • cảnh đẹp Bắc Giang
    • danh lam thắng cảnh Bắc Giang
    • địa điểm du lịch tâm linh Bắc Giang
    • đến Bắc Giang nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Bắc Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Bà Rá Thác Mơ Điểm Đến Hấp Dẫn Của Bình Phước
  • Tham Quan Khu Du Lịch Núi Bà Rá
  • Khám Phá Khu Du Lịch Sinh Thái Bà Rá Thác Mơ
  • Khu Du Lịch Bà Nà Hill Tuyển Dụng Nhiều Vị Trí (30/11/2015)
  • 1. Tham Quan Khu Du Lịch Bà Nà
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Bắc Giang (Cập Nhật 09/2020)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Cuồng Với 9 Địa Điểm Du Lịch Ở Bắc Giang
  • Tour Du Lịch Nha Trang Vinpearland Hè 2022
  • Top 4 Máy Ảnh Du Lịch Dưới 5 Triệu Đồng Đẹp Mê Mẩn
  • Du Lịch Campuchia 2 Ngày 1 Đêm Giá Rẻ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Campuchia 2 Ngày 1 Đêm Giá Rẻ Tphcm
  • Các địa điểm du lịch ở Bắc Giang

    Cùng Phượt – Bắc Giang là vùng đất cổ, có nhiều di tích lịch sử văn hoá gắn liền với đất và người vùng Kinh Bắc. Nơi đây từng ghi những dấu ấn đậm nét về các cuộc đấu tranh chống quân giặc xâm lược như chiến thắng Cần Trạm, Hố Cát, Xương Giang; cuộc khởi nghĩa Yên Thế…cùng với một số di tích tiêu biểu như: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, đình Lỗ Hạnh, Lăng Dinh Hương, Lăng Họ Ngọ…Hơn nữa còn có khá nhiều địa điểm du lịch ở Bắc Giang rất hấp dẫn như: Suối Mỡ, Suối Nước Vàng, Hồ Cấm Sơn… Với du lịch, đó thực sự là những điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực du lịch văn hoá, lịch sử và du lịch sinh thái.

    Khoảng hai năm trở lại đây, du khách biết nhiều đến điểm du lịch Đồng Cao, thuộc xã Thạch Sơn, huyện Sơn Động (Bắc Giang) qua các phương tiện thông tin đại chúng. Không ít người, đặc biệt là các bạn trẻ ưa thích du lịch khám phá theo hình thức “phượt” đã đặt chân đến đây.

    Điểm ấn tượng với du khách khi đến Đồng Cao là được tận hưởng bầu không khí mát mẻ, trong lành, thiên nhiên hoang sơ cộng thêm sự chất phác, thật thà và nhiều tập quán truyền thống của đồng bào vùng cao. Đây còn được ví như “” hay “Sapa” của Bắc Giang. Ngoài ra, sự mới lạ, mong muốn chinh phục những con đường gập ghềnh, khó đi cũng là lý do để không ít các nhóm trẻ hướng lên Đồng Cao.

    Yên Tử là dãy núi cao, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang. Đây là dãy núi chính của vòng cung Đông Triều (từ Quảng Ninh qua Hải Dương – Bắc Giang và dừng ở bờ tả sông Lục Nam).

    Yên Tử là khu rừng tự nhiên tập trung lớn nhất của tỉnh Bắc Giang và của vùng Đông Bắc, nằm trên diện tích của các xã An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận (huyện Sơn Động) và xã Lục Sơn (huyện Lục Nam). Đây là khu rừng phân bố ở độ cao từ 200m đến hơn 1.000m so với mặt biển và có địa hình cao dốc phức tạp.

    Rừng Yên Tử có vị trí vô cùng quan trọng đối với việc phòng hộ, môi trường và điều tiết khí hậu cho vùng Đông Bắc của tỉnh. Bên cạnh đó, rừng Yên Tử còn có nguồn tài nguyên rừng khá lớn, đủ điều kiện để xây dựng thành một khu dự trữ thiên nhiên với diện tích trên 17.000 ha và tổng trữ lượng gỗ gần 1.000.000 m3. Mặt khác, do nằm ở vị trí có địa hình cao dốc, hiểm trở nên rừng tự nhiên Yên Tử còn giữ được những khu vực tương đối nguyên vẹn với một quần thể sinh vật phong phú, đa dạng, đặc trưng tiêu biểu cho vùng Đông Bắc Việt Nam.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có nhiều nguồn gien động, thực vật rừng quý hiếm, đặc trưng cho vùng Đông Bắc Việt Nam mà nhiều khu bảo tồn thiên nhiên khác không có.

    Trên hệ thống núi Yên Tử có nhiều thắng tích nổi tiếng đã được sử sách xưa ghi nhận, đó là: khu thắng tích Am Vãi; khu thắng tích Suối Mỡ – Hồ Bấc; khu thắng tích Huyền Sơn; khu di tích Khám Lạng; khu di tích Hòn Tháp – Yên Mã… Các khu thắng tích này là một quần thể rộng gồm danh sơn và cổ tích hợp lại. Hầu hết, những khu di tích nằm trên sơn phận Yên Tử thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang là những khu di tích cổ, có từ thời Lý – Trần (thế kỷ XI đến thế kỷ XIV). Đó là những di tích có ý nghĩa lịch sử, văn hóa mang đậm màu sắc Phật giáo thuộc thiền phái Trúc Lâm do vua là Trần Nhân Tông sáng lập.

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông thuộc tuyến du lịch Tây Yên Tử – một tuyến du lịch trọng điểm đang được tỉnh Bắc Giang tập trung quy hoạch và xây dựng. Khu du lịch Đồng Thông cũng là nơi bảo tồn nhiều loài động vật quý hiếm, ngoài ra, đây còn là điểm dừng chân cho bạn trước khi chinh phục đỉnh Phù Vân Yên Tử từ phía Tây.

    Khu rừng nguyên sinh thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động có diện tích 7.153ha trong đó có 5.092ha là rừng tự nhiên. Khu rừng có 236 loài thực vật, cây lấy gỗ, 255 loài liệu dược quý. Trong khu rừng còn có 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, đặc biệt có 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm. Đây là cánh rừng nguyên sinh tiêu biểu của khu vực Đông Bắc Việt Namnằm gọn trong hai khe suối khe Rỗ và khe Din. Phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn, phía Nam và Đông Nam giáp với huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc và Tây Bắc thuộc địa phận của xã An Lạc. Sống xung quang khu bảo tồn rừng nguyên sinh là dân cư của hai bản dân tộc Dao: Pác Duốc và Khe Din.

    Hiện nay rừng nguyên sinh Khe Rỗ nói riêng và toàn bộ khu rừng Tây Yên Tử nói chung còn giữ được vẻ nguyên sơ rất thích hợp cho các tour du lịch sinh thái, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu các hệ động thực vật rừng nhiệt đới của du khách.

    Thổ Hà là tên gọi một làng nghề thuộc xã Vân Hà huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang. Đó là một ngôi làng cổ với phong cảnh hữu tình, cây đa, bến nước, sân đình, những nếp nhà cổ san sát nằm sâu trong các ngõ hẻm cổ kính. Khác với các làng ở đồng bằng Bắc Bộ dân Thổ Hà hoàn toàn không có ruộng, bao đời sống bằng gạo chợ nước sông, thu nhập từ nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Trước 1960 làng nổi tiếng về nghề làm gốm, từ 1990 lại đây nổi tiếng về nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo.

    Thổ Hà ba mặt là sông như một hòn đảo, ra khỏi làng là phải đi đò. Làng có hai bến đò: bến Chùa ở trước cửa đình, bến đò dưới nằm ở xóm Ba. Trước kia đò do người chèo trông rất thơ mộng, nhưng ngày nay đều được gắn máy nên đò chở khách nhanh hơn. Dọc bờ sông của làng là thuyền bè của dân vạn chài sinh sống.

    Làng có một trục đường chính chạy theo bờ Bắc dòng sông Cầu, theo chiều dòng chảy lần lượt là Xóm 1, Xóm 2, Xóm 3 và Xóm 4. Vuông góc với trục đường chính là các ngõ xóm sâu và hẹp. Cách đây vài chục năm dấu tích của nghề gốm vang bóng một thời là những bức tường ngõ cổ và bức tường nhà xây toàn bằng những mảnh gốm vỡ hay tiểu sành phế phẩm mà không dùng chút vôi vữa nào, chỉ dùng bùn của sông Cầu để kết dính. Khi dân làng giàu lên các bức tường này đã xây lại bằng gạch và xi măng, hiện nay chỉ còn rất ít đoạn tường cổ. Có hai đường vào làng: đường thủy qua bến đò từ phía Nam, đường bộ qua cổng làng từ phía Bắc làng, bến đò và cổng làng chỉ cách nhau 100 mét.

    Kiến trúc cổ của Thổ Hà gồm: ba di tích lịch sử văn hóa được nhà nước công nhận là Đình, Chùa, Văn Chỉ, trong đó có gần hai chục tấm bia đá ghi chữ nho ở cả hai mặt; Cổng làng, bốn ngôi Điếm của bốn xóm, các ngôi nhà cổ. Cổng làng Thổ Hà có kiến trúc đẹp, bề thế và cổ kính, là một trong những chiếc cổng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu. Quanh khu vực cổng làng, đình và chùa có rất nhiều cây đa đều hàng trăm năm tuổi. Trong làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà cổ xây dựng cách đây trên 100 năm, tiêu biểu cho các ngôi nhà cổ thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

    Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc. Đình thờ Thân Cảnh Phúc,là Tướng nhà Lý, có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống, dân tộc Tày, tù trưởng châu Quang Lang (Châu Ôn-Lạng Sơn), được vua Lý gả công chúa và phong chức tri châu. Đó là một công trình kiến trúc quy mô trên một khu đất rộng 3.000 m², một nghệ thuật điêu khắc độc đáo. Đình đã từng được chính quyền Pháp xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương. Đình được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa năm 1960. Đình xây dựng năm 1685 thời vua Lê Chính – Hòa năm thứ 7. Đến năm 1807 (Gia Long năm thứ 5) xây dựng tiền tế và hai nhà tả vu, hữu vu. Thời kỳ kháng chiến chông Pháp, đình bị rỡ ngói, phá sàn và chấn song. Mặt khác hàng năm thường bị lụt, có năm nước ngập đến mái ngói, nên đình bị xuống cấp nhiều.

    Trong suốt thời gian từ lúc được xây dựng tới bây giờ, ngôi đình đã được sửa sang và nâng cấp rất nhiều lần. Năm 1977 – 1979 nhà nước đã đầu tư kinh phí và cử cán bộ về trùng tu, nâng ngôi đình cao thêm 1,8m, nhưng ngôi tiền tế vẫn chưa nâng. Năm 1988 dân Thổ Hà với tinh thần tự lực cánh sinh đã tôn tạo ngôi tiền tế và nâng cao bằng ngôi đình.

    Đình được dựng theo kiểu chữ công, toà bái đường dài 27m, rộng 16m, dựng trên nền cao 0,5m xung quanh bó đá tảng xanh chia làm ba cấp, mái đình lợp ngói mũi hài to bản, bốn góc là những đầu đao cong vút. Đầu bờ nóc uốn quanh hình lưỡi liềm, góc mái có gắn nghê, thú nhỏ bằng sành nung già lửa đỏ tía. Có tất cả 22 đầu bẩy lực lưỡng, chạm rồng, mây, nghê, thú rất trau chuốt. Bái đường chia làm 7 gian, 48 cột lim, bộ khung mái chạm trổ tinh vi, nhiều cảnh trí sinh động. Đặc biệt có khá nhiều hình thiếu nữ mặc váy dài, yếm, tóc búi hoặc chít khăn với nét mặt rạng rỡ trong tư thế cưỡi phượng, đè rồng, hoặc đang nhảy múa giữa các lớp mây bồng bềnh. Lòng bái đường lát đá xanh nhẵn bóng. Bức cửa võng thếp vàng chạm trổ lộng lẫy làm cho bái đường càng thêm trang nghiêm cổ kính.

    Trong đình có ba tấm bia to: Thủy tạo đình miếu bi nói về việc xây dựng đình, Cung sao sự tích thánh (Lão Tử) nói về sự tích thành hoàng Thái thượng lão quân, Bia sao sắc phong sao các đạo sắc của các triều đại trước phong tặng. Ngoài ra còn có các bia khác quy tập tại đình nói về những điều lệ trong dân đã quy định.

    Năm 2006 được sự trợ giúp kinh phí của Vương quốc Bỉ đình Thổ Hà lại được dỡ hết để làm lại, dự định cuối 2009 sẽ xây dựng xong. Trong lần trùng tu này đình được phục chế theo các ảnh chụp còn lưu trữ bên Pháp. Sau khi làm xong đình thì Chùa Thổ Hà và Văn chỉ cũng sẽ xây dựng lại.

    Xương Giang là một thành cổ hiện chỉ còn lại tàn tích tại tỉnh Bắc Giang, đây là một trong những nơi đã diễn ra trận chiến giữa quân của Lê Lợi và quân Minh.

    Thành Xương Giang do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ 15, năm 1407, trong thời gian nhà Minh đô hộ Việt Nam. Thành được xây bằng đất, các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông – Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc – Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây.

    Thành Xương Giang xưa tuy đặt ở vùng bằng phẳng nhưng lợi thế ở chỗ hiểm yếu. Thành này án ngữ con đường “Thiên Lý Bắc – Nam” xưa. Xung quanh thành địa hình cũ có hệ thống sông con, đầm lầy, rộc trũng bao quanh rất khó tấn công. Năm 1407, giặc Minh cho đắp thành này, trấn giữ ở đó được 20 năm thì bị Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn vây đánh vào năm 1427. Do địa thế hiểm yếu, nghĩa quân Lam Sơn phải 9 tháng mới hạ được thành, trong khi đó các thành Thị Cầu, Chi Lăng, Đoàn Thành nghĩa quân triệt hạ nhanh chóng.

    Suối Mỡ là tên một con suối chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh – Yên Tử, tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Cảnh đẹp nhất nơi đây là đoạn suối có năm bậc thác mẹ con từ đền Thượng xuống đền Trung. Theo các tài liệu, đền Suối Mỡ là nơi thờ Công chúa Quế Mỵ Nương thời Hùng Vương, người có công mở dòng Suối Mỡ, dạy nhân dân làm ruộng, làm nương.

    Tại khu vực Suối Mỡ, các công trình tạo thành một khu liên hoàn: đền Hạ, đền Trung, đền Thượng (có từ thời nhà Lê, thế kỷ XV – XVI). Với nhiều loại hình du lịch để du khách có thể lựa chọn như: Tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, tắm suối, cắm trại, leo núi, khám phá thiên nhiên hoặc mua sắm, ẩm thực… Du khách có thể lựa chọn điểm du lịch sinh thái tại thác Suối Mỡ; thác Thùm Thùm; vọng Ngắm Trăng; đỉnh Rông Khế; hồ Suối Mỡ hoặc du lịch tâm linh tại đền Suối Mỡ (đền Hạ, đền Trung, đền Thượng); đền Trần; đền Quan; đền Cô Bé Cây Xanh.

    Điểm đầu tiên trong chuỗi thắng cảnh là đền Hạ, ngôi đền nằm kề bên đường tỉnh 293. Đây là một trong 3 ngôi đền có quy mô và diện tích lớn nhất trong hệ thống đền Suối Mỡ. Đền tọa lạc trên thế đất “hoàng long”. Trước cửa đền có núi Tai Voi làm án có tác dụng ngăn không cho tà khí bay vào đền và giữ lại những tài lộc do long mạch bên trong thúc ra.

    Ngày nay, dưới bóng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm, đền Hạ vẫn giữ được nét uy nghi, rêu phong cổ kính. Đền Hạ hiện còn giữ được 3 pho tượng đồng quý hiếm, bên ngoài được phủ một lớp sơn bóng quang điện trông càng rực rỡ uy nghi.

    Nằm tách biệt với khu dân cư, từ xa nhìn lại, đền Trung tọa lạc trên mảnh đất có vị trí như một hòn đảo được bao bọc bởi suối và cây xanh tạo nên vẻ tĩnh mịch, huyền bí và linh thiêng cho ngôi đền. Với điểm tựa gối đầu là núi Bà Bô; án là rừng Thông và sườn Giông Khế, theo thuyết phong thủy đây là mảnh đất tụ linh và ngôi đền nằm trên thế đất “tựa Sơn đạp Thuỷ”. Lối đi duy nhất vào đền là cây cầu bán nguyệt được coi như nối cõi trần với nơi đất thánh. Trong đền thờ công chúa Quế Mỵ Nương – Thượng Ngàn Thánh Mẫu và một số bệ thờ theo tín ngưỡng thờ mẫu.

    Đền Trung có cả thảy 5 thác nước, trong những nét nguyên sơ của đá và nước, cùng cỏ cây xung quanh tạo nên nét kì bí và thú vị cho những du khách đến đây.

    Ngôi đền nằm giữa lưng chừng núi có kiến trúc khá đơn sơ, hầu như giữ nguyên kiểu dáng kiến trúc ban đầu từ thuở mới tạo dựng. Đền chỉ có một gian rộng lấy một tảng đá lớn bên trên làm mái, lấy vách đá xung quanh làm tường, ba bề trên dưới là đá, cả điện thờ cũng nguyên khối đá. Tại đền Thượng, bên dòng Suối Mỡ thơ mộng, còn được thưởng thức những điệu hát chầu văn mượt mà, say đắm lòng người.

    Nằm trong quần thể khu du lịch Suối Mỡ, thác Thùm Thùm, còn gọi là thác Chúa, từ đền Trần đến đây mất khoảng 30 phút. Thác Thùm Thùm mang một vẻ đẹp kì bí, Đây là thác cao nhất trong hệ thống thác Suối Mỡ. Thác được khoác trên mình một tấm áo choàng bằng nước từ trên cao đổ xuống tạo ra những bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Bây giờ, chúng tôi mới hiểu hết ý nghĩa tên thác bởi thác nước đổ xuống tạo nên những âm thanh thùng thình, ùm ùm, nghe như tiếng trống trận của quân sĩ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

    Công trình khởi công xây dựng năm 2009 gồm 4 hạng mục: Đập chính, tràn xả lũ, cống nước, kênh dẫn nước. Với diện tích mặt hồ hơn 30 ha, công trình hồ Suối Mỡ góp phần tạo cảnh quan môi trường sinh thái cho khu vực đồng thời giúp điều hòa khí hậu và thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch như: bơi thuyền, câu cá, nghỉ dưỡng và dịch vụ khách sạn, nhà hàng, công viên thú. Trong tương lai không xa, khi hoàn thiện, nơi đây sẽ tôn thêm vẻ đẹp của Suối Mỡ – miền đất thiêng.

    Khuôn Thần là một hồ nước rộng rộng 240 ha, bao quanh bởi những đồi vải, đồi thông bạt ngàn và xanh mướt. Đây là một khu du lịch còn nhiều tiềm năng của xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    Từ thành phố Bắc Giang theo quốc lộ 31 đi khoảng 40 km lên đến trung tâm ngã tư Đài Phát thanh -Truyền hình Lục Ngạn, sau đó rẽ trái 9 km, du khách sẽ tới khu du lịch Khuôn Thần. Nơi đây được thiên nhiên ban tặng vẻ đẹp nguyên sơ, thanh bình với hồ nước trong xanh, không khí thoáng đãng, bao quanh là những đồi vải, đồi thông ngút ngàn.

    Cách TP Bắc Giang hơn 15 km, trên núi Dành có nhiều thông, keo vi vu. Đây là địa danh từng được nhắc tới trong sách “Đại Nam nhất thống chí”, trong đó có đoạn: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra sâm Nam và cỏ Thi”. Quần thể khu du lịch này gồm nhiều công trình như: Đền Trình, đền Hạ, đền Thượng, chùa Không Bụt, đình Vường và hơn 30 ha rừng thông, keo, bạch đàn có độ tuổi trên chục năm, tạo thành một không gian văn hóa tâm linh, sinh thái thu hút đông đảo người dân đến hành hương, thưởng ngoạn.

    Bản Đá Húc cách trung tâm xã Bình Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang) khoảng 8 km. Từ con đường liên xã chạy qua bản nhìn lên là màu xanh thẫm của khu rừng nguyên sinh – rừng lim xanh. Ngay bìa rừng là ngôi đình cổ kính nhìn ra khu định cư của đồng bào Cao Lan.

    Không xa nữa khi tuyến đường tâm linh 293 sườn Tây Yên Tử hoàn thành, đường về bản Đá Húc sẽ rất thuận tiện. Khi đó rừng lim xanh và ngôi đình cổ sẽ là điểm tham quan du lịch sinh thái, tâm linh hấp dẫn du khách gần xa.

    Thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu

    Có một địa chỉ du lịch sinh thái lý thú khá quen thuộc với người dân bản địa nhưng lại mới mẻ và ít người nơi khác biết đến tại xã Tuấn Đạo (Sơn Động), đó là thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu. Những ngày hè dát bỏng, đây thực sự là điểm đến cuốn hút giải nhiệt của người dân.

    Dòng Cấm Sơn xuất phát từ huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, đến Lục Ngạn thì bị chặn lại thành hồ. Hồ Cấm Sơn là nguồn cung cấp nguồn nước tưới chính cho sản xuất nông nghiệp của hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang.

    Bình thường mặt hồ rộng 2.600 ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng đến 3.000 ha. Chiều dài của hồ gần 30 km, bề ngang nơi rộng nhất 7 km, chỗ hẹp nhất 200 m, lòng hồ nơi sâu nhất đến khoảng 47m, hồ có rất nhiều đảo. Điều đặc biệt bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng, bao bọc. Cư dân sống gần hồ là những bản làng người dân tộc Nùng, Tày và Kinh. Nhân dân vùng chung quanh hồ chủ yếu là dân tộc. Người dân ở đây đi lại chủ yếu bằng thuyền, và giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo tạo những cảnh quan sơn thủy hữu tình.

    Để đến được hồ Cấm Sơn du khách có khá nhiều đường khác nhau, song thuận lợi hơn cả là con đường từ thị trấn Chũ, ngược theo đường 297 qua đèo Váng, đến Tân Sơn đi theo con đường đất đỏ với những khúc cua tay áo liên tiếp, men theo những bản làng người Nùng, người Sán Chí, người Dao là đến Cấm Sơn, hoặc từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 1A qua huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn rồi rẽ phải khoảng gần 5km thì đến đập Cấm Sơn.

    Chùa Vĩnh Nghiêm ở làng Đức La xã Trí Yên huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, Việt Nam, còn được gọi là chùa Đức La, là một trung tâm Phật giáo, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước, nơi phát tích Tam Tổ phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, một viên ngọc sáng trong các chùa cổ Việt Nam.

    Trước kia, chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Lạng Giang, nay là thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nên còn gọi là chùa Đức La và lễ hội ở đây được gọi là lễ hội La. Chùa Vĩnh Nghiêm tọa lạc nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn). Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang – Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là núi non trong đó có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc.

    Văn bia chùa thời Trần viết: “Đức Tổ Điều Ngự Pháp Loa khi mở tùng lâm này, còn mở cái chợ Đức La. Các vị vương thân quốc thích và thập phương đàn Việt, phát tâm tậu ruộng đất ở tại bản xã và các hạt khác các nơi, để cúng hương dâng tam bảo muôn đời. Chùa này và chùa Sùng Nghiêm cả thảy 72 chốn tùng lâm, công đức sáng tạo, hợp khắc vào bia ở chùa Hoa Nghiêm núi Yên tử”. Một tấm bia chùa dựng khác viết: “Ðức tổ Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông) khi mở Tùng lâm này (tức chùa Vĩnh Nghiêm), mở cả chợ chùa. Các vị vương thân quốc thích và khách thập phương đã phát tâm tậu nhiều ruộng cúng cho chùa, gồm cả ruộng trong xã và ruộng ở các hạt khác nữa”.

    Tương truyền chùa Vĩnh Nghiêm có từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028), tên chữ là Vĩnh Nghiêm Tự (永嚴寺). Thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) đều có các vị cao tăng tu hành nên được tu tạo nguy nga, tráng lệ. Khi vua Trần Nhân Tông (陳仁宗; 1258-1308), từ bỏ ngôi vua thành người tu hành đến chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Ngoạ Vân (Yên Tử) thụ giới, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập lên phái Thiền tông của Phật giáo Việt Nam. Hương Vân cùng hai đệ tử Pháp Loa (法螺), Huyền Quang (玄光) sáng lập, hoàn chỉnh phái Thiền tông Việt Nam gọi là Tam tổ.

    Chùa Bổ Đà có tên chính xác là chùa Quán Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự, gọi tắt là chùa Bổ, còn có các tên gọi khác là chùa Quán Âm, Tứ Ân Tự , là một trong những ngôi chùa độc đáo nhất miền đất Kinh Bắc, là Trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.

    Chùa toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ Đà sơn), phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh xưa). Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ.

    Chùa có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam, nhiều cổ vật có giá trị và kho tàng di sản Hán – Nôm phong phú. Đây cũng là nơi sơn thủy giao hòa, nhìn sông tựa núi, cảnh sắc, không gian nhuốm màu huyền thoại, xung quanh là đồi núi xóm làng bao bọc. Chùa thờ Tam giáo, trong đó có Quán Thế Âm Bồ Tát, Trúc Lâm Tam tổ (gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), Khổng Tử… Quần thể chùa Bổ Đà là một tập hợp di tích gồm: chùa cổ có tên là Bổ Đà Sơn (gọi tắt là chùa Bổ Đà, chùa Bổ; còn gọi là chùa Quán Âm), chùa chính Tứ Ân Tự, Am Tam Đức (xây dựng sau, vào thời Hậu Lê). Ngoài ra trên núi Bổ Đà còn có đền thờ Đức Thánh Hóa (tức Thạch Tướng Đại Vương – có công giúp vua Hùng thứ 16 chống giặc ngoại xâm).

    Lăng Dinh Hương thuộc làng Dinh Hương, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là một quần thể kiến trúc điêu khắc đá hoành tráng, độc đáo thời Hậu Lê, được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ 1965. Lăng Dinh Hương xây dựng từ năm 1727 (xuất hiện trước tất cả các lăng mộ vua Nguyễn ở Cố đô Huế). Trong lăng lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, tên húy là La Đoan Trực.

    Lăng nằm trên một quả đồi hình tròn rộng khoảng một ha có tường gạch bao quanh (ngày xưa là tường đá ong bao quanh). Vào cổng là hai tượng quan hầu cầm dùi đồng. Quần thể lăng đá Dinh Hương chia làm ba phần chính: phần mộ táng ở giữa, phần thờ tự ở bên trái, phần bia ở bên phải. Tượng người và vật tại lăng làm bằng đá xanh được chạm khắc rất sống động, tượng có kích thước lớn, hình khối mập, chắc và được tỉa công phu.

    Phần mộ rộng khoảng 100 mét vuông có tường đá ong dày bao quanh là nơi lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, có hai võ quan dắt ngựa đứng canh. Cặp tượng quan hầu dắt ngựa được xem là những kiệt tác của nghệ thuật chạm khắc đá, tượng chú trọng vào cách tạo khối trên thân, khiến con vật trở nên đậm chất hiện thực. Một số mảng chạm tỷ mỷ và mang tính cách điệu cao như phần yên cương, bờm con ngựa. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên phải có mặt to, hàm rộng. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên trái có râu dài, mặt nhỏ.

    Khu thờ tự gồm hai voi nằm chầu, bàn thờ có hai con nghê to há mồm ngồi chầu, tiếp theo là ngai thờ làm từ hai khối đá lớn cùng hai quan hầu nữ và hai con nghê nhỏ trạm khắc tinh tế, sinh động. Quan hầu nữ bên trái bưng chiếc tráp khối hộp chữ nhật ngang bụng, bàn tay trái đỡ dưới hộp tráp, tay phải giữ ngang đầu hộp, để hở nửa bàn tay với những ngón thon dài. Quan hầu nữ bên phải ngai thờ tay cầm quạt, đầu đội mũ ni có chóp nhọn như một chiếc nón nhỏ, nửa phía sau mũ có bốn lớp vải trùm kín chân tóc, phủ xuống kín tai và gáy.

    Tìm trên Google

    • các địa điểm du lịch ở bắc giang
    • chơi gì khi đến Bắc Giang
    • phượt Bắc Giang có gì
    • cảnh đẹp Bắc Giang
    • danh lam thắng cảnh Bắc Giang
    • địa điểm du lịch tâm linh Bắc Giang
    • đến Bắc Giang nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Bắc Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Du Lịch Quảng Ninh, Yên Tử Từ A Đến Z
  • Khu Du Lịch Suối Mơ Đà Nẵng
  • Du Lịch Xanh Quảng Bình, Tour Du Lịch Quảng Bình, Du Lịch Hè Quảng Bình
  • An Giang: Phát Triển Tiềm Năng Du Lịch Nông Thôn
  • Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Chùa Hương
  • Các Địa Điểm Du Lịch Tại Châu Đốc An Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 5 Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Tại An Giang
  • Các Địa Điểm Du Lịch Tại Anh
  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Tại Bạc Liêu
  • Note Ngay Những Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Tại Bạc Liêu Này Vào Bạn Nhé
  • Top Những Địa Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Nhất Tại Bali
  • Các địa điểm du lịch tại Châu Đốc An Giang:

    Núi Sam còn có tên gọi khác là Vĩnh Tế Sơn hay Ngọc Lãnh Sơn. Đây là một ngọn núi nằm trong vùng Bảy Núi nổi tiếng của tỉnh An Giang. Núi có độ cao 284m nằm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đường mòn lên núi dốc thoai thoải, có nhiều bóng cây. Du khách có thể vừa tản bộ lên núi vừa ngắm cảnh đẹp hai bên triền núi. Núi Sam được bao bọc bởi hệ thống kênh rạch chằng chịt cùng với các ngọn núi khác trong vùng Bảy Núi tạo nên cảnh quan tự nhiên rất thơ mộng ở miền Tây Nam Bộ. Khu cực núi Sam có đến 200 ngôi đền, chùa, am, miếu nằm rải rác ở chân núi, sườn núi và cả trên đỉnh. Trong đó nổi tiếng có chùa Tây An, Miếu Bà Chúa Xứ, chùa Hang… Không chỉ thế, núi Sam còn là nơi có nhiều thắng cảnh đẹp như đồi Bạch Vân, vườn Tao Ngộ…

    Núi Sam – ngọn núi nổi tiếng của vùng Châu Đốc, An Giang

    Miếu Bà Chúa Xứ

    Điểm tham quan đáng chú ý trong hành trình du lịch Châu Đốc là miếu Bà Chúa Xứ. Hàng năm, miếu Bà Chúa Xứ đón đông đảo lượt khách du lịch đến hành hương, cầu phúc lộc và chiêm ngưỡng. Miếu Bà Chúa Xứ thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một di tích lịch sử, kiến trúc và tâm linh quan trọng của tỉnh An Giang. Ngôi miếu này đã được Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích cấp Quốc gia. Cùng với đó, lễ hội Bà Chúa Xứ (còn gọi là lễ Vía Bà) cũng đã được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt nam công nhận là lễ hội cấp Quốc gia. Lễ Vía Bà được tổ chức hàng năm bắt đầu từ đêm 23/4 đến 27/4 âm lịch. Du khách đến Châu Đốc đúng dịp lễ Vía Bà sẽ có cơ hội tham gia các phần lễ như Lễ tắm Bà, Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà, Lễ Túc Yến… Ngoài ra, du khách còn được hòa mình vào không khí lễ hội qua các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian được biểu diễn như múa lân, múa mâm thao, múa đĩa chén, v.v…

    Chùa Tây An là ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Châu Đốc, An Giang

    Làng nổi Châu Đốc

    Du khách đến Châu Đốc, An Giang mà không đi thăm làng nổi cá bè quả là một điều thiếu sót. Đây là một làng nghề độc đáo với nhiều hộ nuôi cá và sinh sống ngay trên sông. Du lịch đến đây du khách sẽ được trải nghiệm và chứng kiến quy trình nuôi cá bè độc đáo của cư dân miền sông nước. Mỗi chiếc bè ở đây như một căn hộ kết nhau trải dài dọc hai bên bờ sông Hậu. Xuồng, ghe là những phương tiện chủ yếu của mỗi cư dân ở những làng nổi này. Riêng du khách, có thể sử dụng tắc ráng (tên một loại thuyền máy hoặc xuồng, ghe nhỏ và dài hình thoi, thường làm bằng gỗ và gắn thêm máy, được sử dụng phổ biến ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ) để tham quan làng nổi. Du khách ngồi trên bè, hứng những luồng gió mang hơi nước mát lạnh từ ngoài sông thổi vào, dường như đã xua tan hết những mệt mỏi khi cả ngày rong ruổi dạo chơi.

    Lăng Thoại Ngọc Hầu

    Lăng Thoại Ngọc Hầu ở núi Sam, An Giang

    Chùa Hang (chùa Phước Điền)

    Chùa Hang, tên chữ là Phước Điền Tự, tọa lạc nơi triền núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một danh lam, thắng cảnh của tỉnh An Giang và là một di tích lịch sử cấp quốc gia tại Việt Nam. Chùa Hang ban đầu có kiến trúc đơn giản mộc mạc với nền lát gạch, mái ngói và cột dôc căm xe… Qua thời gian và các đời Hòa thượng trụ trì tiếp quản chùa, ngoài việc trùng tu chùa còn được mở rộng và xây dựng thêm nhiều công trình phụ để có diện mại như hiện nay. Từ cổng chính dẫn vào, du khách theo nhiều bậc thang lên cao khoảng 300m là đến chùa. Trong chùa có nhiều hoành phi, câu đối chạm khắc tinh xảo. Dưới thềm chùa là hai tượng sư tử bằng xi-măng khá sinh động. Xung quanh chùa còn có nhiều cây cảnh tạo nên phong cảnh nên thơ hữu tình. Đứng trên chùa Hang, du khách có thể ngắm nhìn cảnh sắc thơ mộng khu vực quanh núi và hít thở bầu không khí trong lành.

    Làng Chăm Châu Giang

    Một thánh đường Hồi giáo ở làng Chăm Châu Giang

    Làng Chăm Châu Giang hay còn gọi là làng Chăm Hồi Giáo là một trong những điểm đến thú vị thu hút nhiều du khách. Sở dĩ có tên gọi là Làng Chăm Hồi Giáo là vì đa số người Chăm ở đây theo đạo Hồi. Du khách đến Làng Chăm này sẽ được tham quan, tìm hiểu về đời sống sinh hoạt của người Chăm, tham quan nhà ở, thánh đường Hồi giáo… Ngoài ra, du khách còn có thể mua thể những món quà lưu niệm đặc biệt do chính người dân nơi đây làm ra.

    Với các địa điểm du lịch An Giang – Châu Đốc do Viet Fun Travel chia sẻ trên đã gợi ý thêm về thông tin và giúp du khách dễ dàng lựa chọn điểm tham quan phù hợp khi đến đây. Nhân đây, Viet Fun Travel cũng xin chúc quý khách có một chuyến du lịch Châu Đốc đầy thú vị và nhiều niềm vui.

    Viet Fun Travel

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Nhất Định Phải Đến Ở Sơn La
  • Điểm Danh Các Địa Điểm Du Lịch Sơn La Nhất Định Phải Đến
  • Du Lịch Sơn La Có Gì ? Các Địa Điểm Du Lịch Sơn La Không Nên Bỏ Qua
  • Sơn La: Những Địa Điểm Du Lịch Không Thể Bỏ Qua Khi Đến Sơn La
  • Các Địa Điểm Du Lịch Sóc Trăng Nổi Tiếng Thu Hút Du Khách
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Jeju

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Các Điểm Du Lịch Jeju Hàn Quốc
  • Những Điểm Đến Du Lịch Jeju Hàn Quốc Không Thể Bỏ Qua
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Đảo Jeju Không Thể Bỏ Qua
  • Đi Đảo Jeju (Hàn Quốc) Có Cần Visa Không?
  • Điều Kiện Để Đi Du Lịch Jeju Không Cần Visa 2022
  • Đảo Jeju là một trong những hòn đảo nổi tiếng ở Hàn Quốc, không chỉ bởi những nét đẹp hoang dã, quyến rũ và những cảnh sắc thiên nhiên vô vàn điều mới lạ và thú vị cho các du khách tới khám phá và tham quan hòn đảo Jeju của Hàn Quốc này.

    Nếu các bạn là fan của phim Hàn chắc hẳn cai tên đảo Jeju này không còn quá xa lạ với các bạn nửa nhưng đề có thể trài nghiệm thực tế và chiêm ngắm cành sắc thực tế bằng mắt các bạn hãy một lần tới hòn đảo này, các bạn sẽ không thấy hối hận cho hành trình du ngoạn của mình, hòn đảo này được coi là một trong 7 kì quan thế giới thu hút rất nhiều khách du lịch hàng năm đến với hòn đảo này. Hòn đảo xinh đẹp này có những địa điểm khá thú vị dành cho hành trình khám phá của các bạn như

    1. Ngọn núi lửa ở đỉnh Seongsan

    Trước đây đỉnh núi Seongsan là một ngọn núi lửa với đường kính miệng núi lửa có hình lòng chảo với đường kính khoảng 600m, bao xung quanh bời các tảng đá nhọn. Khi tới đây các du khách có cơ hội chiêm ngắm cảnh bình minh, mặt trời mọc khá đẹp cho ngày mới của các bạn, vì thế nên ngọn núi này còn có tê gọi khác là đỉnh Nhật Xuất.

    2. Ngọn núi Hallasan

    Đây là ngọn núi cao nhất cùa Hàn Quốc, đây là một ngọn núi lửa không hoạt động có độ cao 1.950m so với mựa nước biển. Khi đi du ngoạn tại ngọn núi này các du khách có thể trải nghiệm 1 ngày cùng hành trình leo núi ngắm cảnh sắc thiên nhiên và cùng chinh phục đỉnh núi này trong hành trình du lịch và đặt dấu ấn của mình tại đỉnh núi Hallasan này. Hành trình leo núi của các bạn nên tránh mùa hè các cơn mưa bất chợt gây ảnh hưởng tới hành trình của các bạn, tốt nhất các bạn nên chọn hành trình khám phá đỉnh núi này vào mùa xuân và mùa thu, các bạn sẽ có nhiều bất ngờ rất ngạc nhiên cho hành trình của các bạn tại nơi này.

    3. Bãi biển

    4. Đường đi bộ Olle

    Đường đi bộ Olle được thiết kế và là những con đường nhỏ, hẹp, quanh co bao quanh bãi biển của hòn đảo, là những con đường dành cho các du khách muốn tản bộ, thư giãn và dạo quanh bãi biển của hỏn đảo, đây là con đường đi bộ thú vị dành cho các du khách muốn thong dong cùng cành sắc thiên nhiên xinh đẹp của hòn đảo.

    5. Công viên tình yêu

    Tags: các địa điểm du lịch ở jeju, cac dia diem du lich o JeJu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đi Đảo Jeju Có Cần Visa Không?
  • Đi Du Lịch Đảo Jeju Có Cần Xin Visa Hàn Quốc Không?
  • Du Lịch Hàn Quốc Tự Túc: Những Món Ăn Phải Thử Khi Đi Đảo Jeju
  • Top 7 Hoạt Động Giải Trí Nhất Định Phải Thử Khi Đến Với Đảo Jeju
  • Những Món Ăn Ngon Khách Du Lịch Thích Nhất Tại Đảo Jeju
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Huế

    --- Bài mới hơn ---

  • “top” 15 Điểm Du Lịch Thiên Đường Ở Phú Quốc Thu Hút
  • Tranh Thủ Vi Vu 5 Thiên Đường Biển Việt Nam Vào Dịp Đầu Năm Mới
  • 19 Đảo Ở Nha Trang, Nên Hay Không Nên Đi Đảo Nào?
  • Các Đảo Du Lịch Ở Nha Trang
  • 20 Hòn Đảo Đẹp Việt Nam Đẹp “làn Nước Trong Xanh” Nhất Định Đi
  • 1. Trải nghiệm những gì khi đi du lịch Huế

    Thành phố là một trong những trung tâm văn hóa, tôn giáo và giáo dục chính của Việt Nam. Ngày nay, Huế vẫn là một thành phố vẫn lưu giữ được các giá trị lịch sử lâu đời. Nhiều điểm tham quan của Huế dọc theo bờ sông Hương thơ mộng với chiều dài 11km.

    Đến Huế bạn sẽ có một cơ hội du thuyền trên sông Hương, thăm Đại Nội và các ngôi mộ nổi tiếng dưới triều đại Nguyễn bao gồm lăng Minh Mạng, lăng Khải Định, lăng Tự Đức. Bên cạnh những nơi này, du lịch thành phố Huế bạn cũng có thể khám phá ngôi chùa cổ nhất là chùa Thiên Mụ, thăm làng hương và làm nón. Tìm hiểu cuộc sống hàng ngày của người dân địa phương tại chợ Đông Ba, nơi nhộn nhịp nhất cũng là chợ lâu đời nhất ở thành phố Huế.

    Chưa hết, bạn còn được ngắm nhìn vẻ đẹp hùng vĩ của đèo Hải Vân từ vịnh Lăng Cô xinh đẹp và chụp lại những bức hình xịn sò.

    2. Thời điểm nào tốt nhất để du lịch đến Huế

    Huế là một trong những thành phố lớn nhất dọc theo bờ biển miền trung Việt Nam. Thành phố Huế ảnh hưởng bởi khí hậu gió mùa, do đó có hai thời gian đặc biệt: mùa mưa và mùa khô. Dãy núi Trường Sơn chạy quanh thành phố và giữ độ ẩm trong mùa mưa, nhưng ngăn không cho hơi nóng thoát ra trong những tháng mùa khô. Trong vòng một ngày, có thể có một buổi sáng rực rỡ đến tận trưa và một cơn mưa không ngớt cho đến nửa đêm.

    Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3. Trong thời gian này, thời tiết mát mẻ một chút, lạnh nhưng vẫn ẩm. Bạn nên tránh mùa bão từ tháng 9 đến tháng 12. Sẽ có rất nhiều mưa và lũ kéo dài hàng giờ hoặc thậm chí nhiều ngày, vì vậy bạn nên xem dự báo thời tiết cẩn thận trước khi đến Huế trong những tháng này.

    Các tháng từ tháng 5 đến tháng 8 là mùa cao điểm chỉ vì thời điểm đó trong năm thuận tiện nhất cho du khách, đó là kỳ nghỉ hè. Một điều bất lợi là thời gian này rất đông khách du lịch đến Huế nên bạn sẽ khó trong việc đặt phòng khách sạn, cũng như các điểm tham quan đông người.

    Tuy nhiên thời gian tốt nhất để du lịch đến thành phố Huế mộng mơ là tháng 1 đến tháng 4, thời điểm lý tưởng khi những cơn mưa không còn dữ dội nữa và thời tiết ôn hòa. Với nhiệt độ nằm trong khoảng từ 20˚C đến 24˚C. Nhiệt độ có thể xuống tới 8˚C trong những đêm mùa đông từ tháng 1 đến tháng 3. Nó không quá nóng và ẩm cũng không quá lạnh và ẩm ướt vào ban ngày, đó là điều tuyệt vời để khám phá thành phố.

    3. Các địa điểm du lịch ở Huế

    Du lịch cố đô Huế nhất định bạn phải ghé các địa điểm nổi tiếng sau đây:

    Hoàng thành Huế

    Hoàng thành đã từng là thủ đô của Việt Nam. Năm 1804, Hoàng đế Gia Long đã tham khảo các nhà địa chất để quyết định vị trí tốt nhất cho tòa thành có tường dài 10 km, cuối cùng được đặt về phía đông nam để đối mặt với sông Hương.

    Hoàng Thành Huế có chu vi gần 10.000m, diện tích 520 ha. Thành cao 6,6m, 10 cửa ra vào, trên thành có 24 pháo đài, ngoài thành có hệ thống hào và sông đào bảo vệ. Về phía Ðông bắc còn có một thành phụ gọi là Trấn Bình Ðài hay còn gọi là Mang Cá. Bên trong và bên ngoài kinh thành là hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ, chính phụ khác nhau.

    Hoàng thành là điểm thu hút quan trọng nhất của Huế. Hoàng Thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Bên trong khuôn viên hoàng thành gồm có 5 khu vực

    • Khu vực Tử Cấm Thành
    • Khu vực cử hành đại lễ
    • Khu vực miếu thờ
    • Cung Diên Thọ, Cung Trường Sanh
    • Khu vực vườn Cơ hạ, điện Khâm Văn

    Cung điện Thái Hòa

    Tại sao cung điện lại có tên là “Thái Hòa”? Đó là vì công trình mang rất nhiều ý nghĩa sâu sắc. Chữ “Thái” với ý nghĩa là sự to rộng, lớn lao, chữ “Hòa” ý chỉ hòa hợp, hài hòa, giữa cương và nhu, giữa âm và dương, giữa người với người,…

    Cung điện Thái Hòa nằm ở trung tâm Thành cổ Huế, ngay sau khi qua cổng Ngọ Môn. Bạn sẽ thấy một hồ sen và lối đi dài, rộng như một sự chào đón ấn tượng đến cung điện.

    Gian chính của cung điện là một hội trường lớn với mái bằng gỗ, cột gỗ và mọi thứ ở đây đều được dát vàng rất bắt mắt. Một ngai vàng được đặt trên ba tầng bệ gỗ, phía trên là phần bửu tán bằng pháp lam ngũ sắc với chín hình rồng được trang trí. Ban đầu nơi này diễn ra các nghi lễ và sự kiện hoàng gia. Đó cũng là nơi đăng quang của Hoàng đế Gia Long và là nơi ông tiếp khách.

    Điện Hòn Chén

    Không khó để thấy được điện Hòn Chén nằm bên dòng sông Hương huyền thoại, giữa không gian xanh mát của một rừng cây trải dài từ chân đến đỉnh núi Ngọc Trản. Điện Hòn Chén là một danh thắng nổi tiếng thuộc quần thể di tích cố đô Huế.

    Điện Hòn Chén là một cụm di tích gồm khoảng 10 công trình kiến trúc to nhỏ khác nhau đều nằm lưng chừng sườn núi Ngọc Trản, hướng mặt ra sông Hương. Công trình kiến trúc chính là Minh Kính Đài tọa lạc ở giữa, bên phải là nhà Quan Cư, Trinh Cát Viện, Chùa Thánh; bên trái là dinh Ngũ Hành, bàn thờ các quan, động thờ ông Hổ, am Ngoại Cảnh. Sát bờ sông còn có am Thủy Phủ. Ngoài ra, trong phạm vi ấy còn có nhiều bệ thờ, nhiều am nhỏ nằm rải rác đó đây.

    Điện Hòn Chén không chỉ là một di tích lịch sử và tôn giáo mà còn là một thắng cảnh, một điểm tham quan văn hóa độc đáo thu hút hàng ngàn khách du lịch. Nhất là vào dịp lễ hội tháng 3 và tháng 7 âm lịch hàng năm.

    Lăng Khải Định

    Nằm ngay bên ngoài Huế, trên ngọn núi Châu Chữ dốc đứng, lăng mộ được xây dựng cho Hoàng đế thứ 12 của triều Nguyễn, người qua đời năm 1925. Lăng khởi công ngày 4/9/1920 và kéo dài trong 11 năm mới hoàn thành.

    Tổng thể của Lăng là một khối nổi hình chữ nhật vươn cao tới 127 bậc. Núi đồi, khe suối của một vùng rộng lớn quanh Lăng được dùng làm các yếu tố phong thủy. Tạo cho lăng Khải Định một ngoại cảnh thiên nhiên hùng vĩ.

    Giá trị nghệ thuật cao nhất của Lăng là phần trang trí nội thất cung Thiên Định. Ba gian giữa trong cung đều được trang trí phù điêu ghép bằng sánh sứ và thủy tinh màu. Đặc biệt chiếc Bửu tán trên pho tượng đồng, nặng 1 tấn với những đường lượn mềm mại, thanh thoát khiến người xem có cảm giác làm bằng nhung lụa rất nhẹ nhàng. Bên dưới Bửu tán là pho tượng đồng Khải Định được đúc tại Pháp năm 1922 theo yêu cầu của nhà vua.

    Chùa Thiên Mụ

    Nằm bên cạnh dòng sông Hương đẹp như tranh vẽ. Chùa Thiên Mụ, với kiến ​​trúc cổ kính, làm tăng thêm nét quyến rũ của nó cho khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp này. Tiếng chuông Thiên Mụ giống như linh hồn của Huế, từng vang dội trên dòng sông Hương chảy dọc theo Thành cổ ra biển, vang vọng trong trái tim và tâm trí của người dân và của du khách đến Huế.

    Chùa Thiên Mụ được bao quanh bởi một vườn hoa và cây cỏ được chăm sóc cẩn thận mỗi ngày. Được xếp hạng một trong hai mươi phong cảnh đẹp nhất ở Huế với bài thơ Thiên Mụ chung thanh, được sáng tác bởi hoàng đế Thiệu Trị, khắc trên tấm bia đá đặt gần cổng chùa.

    Điện Đại Hùng là ngôi nhà chính điện trong chùa, kiến trúc kiểu Trùng thiền điệp ốc. Nằm sau lưng điện Đại Hùng, qua một khoảng sân rộng nhiều cây cảnh là điện Địa Tang và điện Quan Âm.

    Ngoài ra chùa còn có tháp Phước Duyên một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ. Tháp hình bát giáp cao 7 tầng dưới lớn trên nhỏ. Số 7 là con số linh của đạo Phật.

    Cầu Tràng Tiền

    Cầu Tràng Tiền Huế

    Dòng sông Hương chảy trước kinh thành Phú Xuân, và bây giờ là chảy trong lòng thành phố Huế, hơn 100 năm qua đã soi bóng một cây cầu. Cho dù bây giờ và sau này ở Huế đã và sẽ có nhiều cây cầu bắc qua dòng sông Hương, cây cầu ấy vẫn giữ vai trò quan trọng về mặt giao thông. Hơn thế – cây cầu ấy mãi là biểu tượng của đất Cố đô, là gạch nối của lịch sử từ quá khứ tới hiện tại và tương lai. Cây cầu đó mang tên Trường Tiền.

    “Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp

    Em theo không kịp, tội lắm em anh ơi!

    Bấy lâu mang tiếng chịu lời

    Anh có xa em đi nữa, cũng tại ông Trời nên xa”

    Đây cũng là một trong những cây cầu đầu tiên được xây dựng ở Đông Dương vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX theo kỹ thuật và vật liệu mới của phương Tây với kết cấu thép. Trước đó những cây cầu được xây dựng đều là công trình ngắn, bằng vật liệu tre, gỗ… không bền vững.

    Thủa ban đầu, tên chính thức của cây cầu thép bắc qua sông Hương là Thành Thái, rồi Clémenceau, Nguyễn Hoàng… Nhưng vì ngày trước đối diện phía tả ngạn của cầu có một xưởng đúc tiền của Triều Nguyễn, nên người dân nơi đây quen gọi là cầu Trường Tiền.

    Năm Thành Thái thứ 9 (1897), cầu Trường Tiền được khâm sứ Trung Kỳ Levécque giao cho hãng Eiffel của nước Pháp (nổi danh với công trình Tháp Eiffel ở Paris) thiết kế. Cầu được khởi công xây dựng sau đó và đến năm Thành Thái thứ 11 (1899) thì hoàn thành. Như vậy, cầu Trường Tiền có tuổi nhiều hơn cầu Long Biên ở Hà Nội (1899-1902) – cây cầu thép nổi tiếng về quy mô, lớn nhất Đông Dương và châu Á thời bây giờ.

    Khi hoàn thành, cầu Trường Tiền có cấu trúc 6 vài 12 nhịp, chiều dài cầu 401m, bề ngang lòng cầu 6m20, mặt cầu lúc đó chỉ mới lát bằng ván gỗ lim. Các vòm nhịp cầu có hình bán nguyệt rất điệu đà duyên dáng, hình dáng đó về cơ bản được giữ nguyên cho tới ngày nay. Chi phí xây cầu hết khoảng 400 triệu đồng, là một số tiền rất lớn thời bấy giờ.

    Sông Hương

    Dòng sông Hương yên ả, êm ái mang đến sự tương phản rõ rệt với sự hối hả và nhộn nhịp của cuộc sống thành phố. Sông Hương uốn lượn qua Kinh thành, Hoàng thành, Tử cấm thành và qua Đại Nội, càng làm tô điểm thêm nét đẹp tự nhiên của một kinh đô phong kiến độc đáo này.

    Sông Hương có chiều dài tới tận 80km, riêng đoạn từ Bằng Lãng đến cửa Thuận An dài 30km. Vẻ đẹp thăng trầm của sông Hương quanh co giữa núi đồi. Dòng sông xanh vắt lung linh như ngọc bích trong ánh nắng mặt trời ban ngày. Bạn có thể ngồi thuyền xuôi theo dòng ngắm nhìn cảnh đẹp của xứ Huế.

    Đêm đến cũng là lúc các điệu hò xứ Huế và ca trù vang lên, bạn không những được thưởng thức các làn điệu đặc trưng này, mà còn được thả đèn hoa đăng – một trải nghiệm khá thú vị nơi đây.

    Chợ Đông Ba Huế

    Chợ Đông Ba là một trung tâm thương mại lớn của thành phố Huế phục vụ thương mại cho dân cư trên đia bàn thành phố và du khách thập phương. Tọa lạc trên diện tích 22.742 m2, hơn 2.700 lô hàng lớn nhỏ đã tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động phục vụ cho hoạt động kinh doanh và dịch vụ tại chợ, với 85 ngành hàng, từ mặt hàng cao cấp, xa xỉ đến mặt hàng bình dân. Mỗi ngày lượng du khách và người mua bán đến chợ lên tới trên 5.000-7.000 người.

    Nếu tính từ đầu triều Gia Long (1802-1820) chợ Đông Ba có tên là Quí Giả được lập ở cửa Chính Đông, thì đến nay chợ Đông Ba đã xấp xỉ 200 tuổi. Nếu tính từ thời vua Thành Thái cho xây dựng lại chợ ở khu đất gần Sông Hương thì chợ Đông Ba cũng đến cái tuổi 112. Chợ Đông Ba vào thời Thành Thái được gọi là được gọi là thời kì đem ra ngoài giại, quy mô gồm 4 dãy quán trước, sau, phải , trái. Mặt trước dãy 8 gian, mặt sau dãy 12 gian, mặt tay phải dãy 13 gian…Giữa chợ Đông Ba có một tòa lầu vuông 3 tầng. Tầng dưới có 4 bức tường , mỗi bức có 2 cửa. Tầng trên cũng có 4 mặt đều có đồng hồ điểm chuông.

    Chợ Đông Ba đa dạng và phong phú về mặt hàng. Ta tìm thấy những đặc sản xứ Huế như mè xửng, chè tím, hoa sen…các món ăn đặc sản như: bún bò Huế, cơm hến, bánh nậm, bánh lọc, chè hạt sen…các sản vật trái cây như quýt Hương Cần, thanh trà Thanh Bằng, chè Truồi, măng cụt Kim Long…đến những sản phẩm thủ công như đồ hoàn kim Kế Môn, đồ đồng Phường Đúc, đồ rèn Hiền Lương, nón lá Phú Cam.

    Một số địa chỉ đáng tin cậy khi mua đặc sản Huế ở chợ Đông Ba:

    • Sạp Đăng Khoa: nằm tại khu C chợ Đông Ba, chuyên bán mè xửng, tôm chua, trà cung đình, hạt sen Tịnh Tâm….
    • Sạp Ny Na: lô số 7, hành lang lầu chuông chợ Đông Ba. Chuyên các loại đặc sản Huế, đặc biệt trà bắc thái, rượu Huế, hạt sen
    • Sạp Thanh Hà: hành lang lầu chuông, chợ Đông Ba. Chuyên bán mè xửng, kẹo gương, mắm ruốc, tôm chua, dầu tràm, hạt sen..
    • Sạp Thu Mai: hành lang lầu chuông, chợ Đông Ba. Chuyên bán mè xửng, tôm chua, tôm, mực khô, hạt sen khô
    • Quầy hàng tôm mực dì Lợi: cổng số 2 chợ Đông Ba, chuyên tôm khô, mực khô, cá bò khô, mực tẩm gia vị

    Chợ Đông Ba Xưa

    Bãi biển Thuận An

    Cách thành phố Huế 14km, bãi biển Thuận An là một trong những bãi biển đẹp nhất miền Trung. Cùng với bãi Lăng Cô , đầm Tam Giang , bãi Thuận An đều là những kiệt tác của Huế thu hút rất nhiều khách du lịch. Bãi biển Thuận An nằm gần cửa Thuận An, nơi sông Hương chạy đến đầm Tam Giang rồi đổ ra biển.

    Trên đường đến bãi biển, bạn cũng có thể chiêm ngưỡng đầm Tam Giang mênh mông , là một trong những đầm lớn nhất và đẹp nhất ở Huế. Bạn cũng có thể thấy rất nhiều thuyền nhỏ, thuyền nhỏ trôi dạt trên dòng sông bên trái của tuyến đường, và nhiều ngôi nhà, đền, chùa, cánh đồng lúa, và những khu vườn nối tiếp nhau ở bên phải.

    Bãi biển Thuận An nước trong xanh, cát trắng mịn là một điểm dừng chân thú vị cho bạn sau khi tham quan cung điện, lăng mộ, chùa, phong cảnh của Huế.

    Vịnh Lăng Cô

    Nằm về phía Bắc 70km của thành phố Huế, vịnh Lăng Cô được công nhận là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới năm 2009. Nó nằm trong số 3 khu bảo tồn di sản văn hóa thế giới: Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn.

    Thời gian tốt nhất để bạn đến vịnh Lăng Cô là từ tháng 4 – tháng 7. Vịnh Lăng Cô có chiều dài 42,5km nằm dưới chân đèo Hải Vân, với bãi tắm phẳng lì, nước xanh ngắt bao la tuyệt đẹp với hệ sinh thái rất đa dạng, phong phú. Vịnh Lăng Cô có lẽ là một trong các địa điểm đẹp nhất ở Huế.

    Ngoài khung cảnh tuyệt mỹ, bạn có cơ hội thưởng thức các món ngon đầm phá địa phương nổi tiếng của xứ Huế. Các khu nghỉ dưỡng với đầy đủ dịch vụ, tiện nghi gần đó, chắc chắn làm bạn hài lòng khi du lịch Huế.

    4. Một số lễ hội diễn ra trên các địa điểm du lịch ở Huế

    – Hội An Truyền: 16/7 âm lịch

    – Lễ hội điện Hòn Chén: 3/3 âm lịch và tháng 7 âm lịch

    – Lễ tế Phong Sơn Huế: 7/1 âm lịch

    – Hội làng Cổ Bi: 23/5 âm lịch

    – Hội Minh Hương Huế: 14 – 16/7 âm lịch

    – Lễ hội Cầu Ngư ở Thái Dương Hạ: 12/1 âm lịch

    – Hội làng Chí Long: 12 – 13/6 âm lịch. Chính hội 13/6 âm lịch

    Thành phố Huế nổi tiếng không chỉ là một thành phố độc đáo giàu lịch sử, văn hóa, kiến ​​trúc, nghệ thuật, mà các địa điểm du lịch ở Huế còn chứa đựng nhiều giá trị tinh thần phi vật thể mà không nơi nào có được. Ngoài ra, Huế còn có vô số món ngon đặc sản tha hồ để bạn thưởng thức. Còn chần chừ gì nữa mà không tham gia ngay một tour du lịch Huế trong thời gian sắp tới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 17 Địa Điểm Du Lịch Huế Hấp Dẫn Nhất Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Hé Lộ 20+ Địa Điểm Du Lịch “không Thể Bỏ Qua” Ở Đà Nẵng
  • Bảng Giá Cho Thuê Xe Du Lịch Tại Cần Thơ
  • Cập Nhật Bảng Giá Vé Các Dịch Vụ Du Lịch Ở Nha Trang
  • Dịch Vụ Du Lịch Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò Của Dịch Vụ Du Lịch
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Okinawa

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lý Do Khiến Bạn Phải Đến Okinawa Một Lần Trong Đời
  • Ngất Ngây Với Đảo Nổi Okinawa, Thiên Đường Có Thật Của Nhật Bản
  • Du Lịch Okinawa Khám Phá Thiên Đường Biển Xanh, Cát Trắng
  • Du Lịch Dubai 7N6D: Abu Dhabi
  • Chiêm Ngưỡng Cảnh Đẹp Quốc Gia Vùng Vịnh Oman
  • Các địa điểm du lịch ở Okinawa

    Okinawa, hòn đảo tuyệt đẹp tọa lạc ở điểm cực nam giới Japan. vùng đất được biết tới là 1 điểm du lịch nổi danh của Japan với khí hậu ôn đới cận nhiệt, với bờ biển mát mẻ thăng bình, nền văn hóa truyền thống đặc trưng độc đáo và khác biệt cộng bãi biển và bầu trời tuyệt đẹp. tuy nhiên không chỉ có tạm dừng ở đó hòn đảo này còn rất nhiều địa điểm đẹp nhất để du khách chiêm ngưỡng trong những ngày tới thăm du lịch Okinawa

    Công viên trung tâm Nago

    Khoảng thời gian tuyệt vời để chiêm ngưỡng vẻ đẹp lung linh của không ít bãi biển đặc biệt ở Okinawa là ngày xuân (từ tháng 3-tháng 5) và ngày thu (từ tháng 9-tháng 12). ngoài ra, nếu bạn có nhu cầu ngăm nhìn sắc đẹp ngọt ngào và lắng đọng của các bông hoa anh đào đầu mùa thì chuyến đi của bạn phải rơi vào khoảng từ tháng một đến tháng 2. Vừa được dạo đại dương vừa được ngắm loài hoa thương mến thì còn gì khác tuyệt hơn.

    Tại Okinawa, muốn ngắm hoa anh đào đẹp thì các điểm đến sau dây là những vùng đất khác nước ngoài phải cân nhắc đến: Lâu đài Nakijin, công viên Yogi hay công viên trung tâm Nago – khu vực sở hữu diện tích trồng hoa anh đào rộng nhất ở Okinawa.

    Đây là một trong những điểm đến khiến chuyến trải nghiệm du lịch Okinawa nhật bản trở thành thiên đàng mặt đất, chính thành ra đây là 1 trong địa điểm đắt chi phí, rất cần được check-in đầu tiên tại hòn đảo dễ thương này.

    hình dạng kỳ lạ của không ít phiến đá cũng chính là một ưu đãi đặc biệt mà thiên nhiên tặng thưởng cho vùng Okinawa. lúc tự sướng nơi đây khác nước ngoài tầm thường lựa chọn chụp ngược sáng sủa vào thời điểm hoàng hôn buông xuống nhuộm đỏ 1 vùng trời nơi đây.

    Tín đồ ta tin rằng “Lâu đài Shuri” (Shurijou) đã được xây ngừng từ thế kỷ 14 bời nhà vua Satto, người trị vì nơi đây vào thời kì đó. kế tiếp được trùng tu và sử dụng như là lâu đài của các vị vua trị vì Kyushu trong suốt nhiều năm sau đó. Lâu đài mang diện tích khôn cùng lớn, trải dài 410m từ Đông lịch sự Tây và 270m từ Bắc xuống nam giới, chính vì diện tích bát ngát của chính bản thân mình mà lâu đài này còn có đến 8 cổng sở hữu đậm phong cách Trung Hoa cổ.

    Tuy đã biết thành chiến tranh hủy hoại đa dạng, nhưng lâu đài Shuri đã được trùng tu vào năm 1992 có mục tiêu đáp ứng chuyển động du lịch, cách tân và phát triển du lịch nhật bản. bên trên trang web của UNESCO, lâu đài là khu vực ở trước kia của hoàng gia Anh ở quần đảo Ryukyu.

    Tới sở hữu lâu đài, khác nước ngoài nhớ cảm nhận âm nhạc truyền thống lịch sử, trình diễn nghệ thuật trong những lễ hội hay uống thử rượu gạo lên men – đặc sản của riêng vùng Okinawa.

    Công viên giải trí Okinawa World

    Công viên này được chia khiến 3 vùng đất chính: Habu Park, Ryukyu Kingdom Village và hang động Gyokusendo.

    Gyokusendō Cave là hệ thống hang động lớn trang bị hai Japan. các thiết kế địa chất đến đây được hình thành thời kì 300.000 năm.

    Còn tại Habu Park, khách đi tour du lịch tham quan nước ngoài có thể hướng đến về các loài rắn khác biệt và cả các vật dụng ảnh hưởng đến rắn.

    Mashiki là cửa hàng hoàn hảo để trải nghiệm những ẩm thực truyền thống của Okinawa. khu chợ nức tiếng này không thật to, toàn cửa hàng cũng chỉ bao gồm một tòa nhà 2 tầng nằm ngay bên trên cung đường Kokusai nức danh của vùng Naha.

    Tại khu chợ tối này du khách hoàn toàn có thể chọn tất cả những dòng sản phẩm đều tươi sống, từ giết cá, rau hay hải sản. ngoài ra, thuộc những hành khách giá bèo thì còn có thể mua đồ và nhờ chính bạn bán chế biến theo thị hiếu hay theo đặc biệt quan trọng món ăn của vùng Okinawa nói riêng hay ẩm thực nhật bản nói chung và thưởng thức ngay tại chỗ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7+ Địa Điểm Du Lịch Tại Okinawa Tuyệt Đẹp Bước Ra Từ Cổ Tích
  • Danh Sách Các Điểm Tham Quan Hấp Dẫn Ở Okinawa
  • Kinh Nghiệm Cho Lần Đầu Du Lịch Okinawa Từ Tokyo
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Okinawa: Khám Phá Thiên Đường Của Biển Khơi
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Okinawa 4 Ngày 3 Đêm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100