Các Điểm Du Lịch Ở Bắc Giang

--- Bài mới hơn ---

  • Trải Nghiệm Du Lịch Cộng Đồng Tại Bắc Giang
  • Những Địa Điểm Tham Quan Du Lịch Không Thể Bỏ Xót Ở An Giang Phần 1
  • “top” 5 Địa Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Nhất Ở Hậu Giang
  • 6 Điểm Đến Du Lịch Sáng Giá Ở Hậu Giang
  • Danh Sách 15 Địa Điểm Du Lịch Hậu Giang Cho Chuyến Đi Đầy Kỷ Niệm
  • CÁC ĐIỂM DU LỊCH Ở BẮC GIANG

    BẮC GIANG

    Diện tích: 3.827,4 km²

    Dân số: 1.594,3 nghìn người (năm 2006)

    Tỉnh lỵ: Thành phố Bắc Giang

    Các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Yên Dũng, Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hoà.

    Dân tộc: Việt (Kinh), Nùng, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, Tày…

    Điều kiện tự nhiên

    Bắc Giang là tỉnh ở miền trung du và giáp với châu thổ đồng bằng Bắc bộ. Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây và tây bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía nam và đông nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh. Địa hình gồm có đồng bằng, trung du, miền núi.

    Khí hậu: chia làm 2 mùa: mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3; mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9. Nhiệt độ trung bình năm 24ºC.

    Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch

    Bắc Giang là một vùng có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử như rừng cấm nguyên sinh Khe Rỗ, khu di tích Suối Mỡ, di tích thành Xương Giang… Nhiều hồ chứa nước lớn tạo nên phong cảnh kỳ vĩ, phát triển được tiềm năng du lịch như hồ Cấm Sơn, Khuôn Thần.

    Bắc Giang là một tỉnh vừa có truyền thống lễ hội văn hoá của đất Kinh Bắc, vừa có hội xuân của các dân tộc ít người.

    Giao thông

    Giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy đều tương đối thuận tiện.

    Đường sắt: Từ Bắc Giang có thể về thủ đô Hà Nội, lên Lạng Sơn, sang Thái Nguyên và vùng công nghiệp mỏ Quảng Ninh.

    Đường bộ: Thành phố Bắc Giang cách trung tâm Hà Nội 51km. Hệ thống đường bộ thuận lợi có quốc lộ 1A chạy qua. Nhiều tuyến tỉnh lộ và huyện lỵ.

    Đường thuỷ: Tỉnh Bắc Giang có nhiều sông lớn (sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam) chảy qua tỉnh, thuận tiện cho vận tải đường sông, góp phần tưới tiêu nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, du lịch.

    THÀNH CỔ XƯƠNG GIANG

    Vị trí: Thành cổ Xương Giang nằm ở xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Xương Giang là tên ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ 15.

    Các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông – Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc – Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây. Đây là nơi diễn ra trận công thành của nghĩa quân Lam Sơn ngày 28/9/1427 và trận diệt viện oanh liệt ngày 3/11/1427 mà Lê Quý Đôn đánh giá:Từ triều Trần bắt được Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi cho đến lúc ấy, nước Nam thắng giặc phương Bắc chưa có trận nào lớn như vậy (theo Đại Việt thông sử).

    Để kỷ niệm lịch sử chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn tại thành Xương Giang, hàng năm tỉnh Bắc Giang tổ chức lễ hội kéo dài trong 2 ngày mùng 6 và mùng 7 tháng giêng.

    RỪNG NGUYÊN SINH KHE RỖ

    Vị trí: Khu rừng cấm thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Rừng cấm nguyên sinh Khe Rỗ có diện tích 7.153ha với hệ thống động thực vật phong phú.

    Khu rừng có 236 loài thực vật, cây lấy gỗ, 255 loài dược liệu quý, 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, đặc biệt có 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm. Có nhiều dòng suối nước trong vắt, chảy quanh co uốn khúc qua rừng. Đây là một khu rừng cấm nguyên sinh còn giữ được vẻ hoang sơ rất thích hợp cho du khách tham quan và nghiên cứu.

    ĐÌNH THỔ HÀ

    Vị trí: Đình Thổ Hà thuộc làng Thổ Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Đây là ngôi đình cổ được dựng vào đời Lê Hy Tông trên khu đất rộng 3.000m2 có nhiều cây cổ thụ xung quanh.

    Đình được dựng theo kiểu chữ công, toà bái đường dài 27m, rộng 16m, dựng trên nền cao 0,5m xung quanh bó đá tảng xanh chia làm ba cấp, mái đình lợp ngói mũi hài to bản, bốn góc là những đầu đao cong vút. Đầu bờ nóc uốn quanh hình lưỡi liềm, góc mái có gắn nghê, thú nhỏ bằng sành nung già lửa đỏ tía. Có tất cả 22 đầu bẩy lực lưỡng, chạm rồng, mây, nghê, thú rất trau chuốt. Bái đường chia làm 7 gian, 48 cột lim, bộ khung mái chạm trổ tinh vi, nhiều cảnh trí sinh động.

    Đặc biệt có khá nhiều hình thiếu nữ mặc váy dài, yếm, tóc búi hoặc chít khăn với nét mặt rạng rỡ trong tư thế cưỡi phượng, đè rồng, hoặc đang nhảy múa giữa các lớp mây bồng bềnh. Lòng bái đường lát đá xanh nhẵn bóng. Bức cửa võng thếp vàng chạm trổ lộng lẫy làm cho bái đường càng thêm trang nghiêm cổ kính. Theo tấm bia cổ để lại, đình Thổ Hà là kết quả công sức đóng góp của toàn thể dân làng Thổ Hà. Ngôi đình là công trình thể hiện niềm tự hào của các thế hệ người dân Thổ Hà.

    CHÙA ĐỨC LA

    Vị trí: Chùa Đức La nằm trên một quả đồi thấp, sau lưng là dãy núi Cô Tiên, thuộc xã Trí Yên huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Chùa Đức La còn có tên gọi là chùa Vĩnh Nghiêm, đây là một trung tâm Phật giáo từ thời Trần thuộc thiền phái Trúc Lâm, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước.

    Kiến trúc chính của chùa nằm trên một trục dọc, hướng đông nam gồm 4 khối lớn.

    Khối thứ nhất gồm 3 nếp chùa hộ, thiêu hương và chùa Phật liên kết với nhau trong một khối kiến trúc kiểu chữ công với thiết kế khang trang to lớn kiểu tàu đao lá mái với 4 đao cong, có 8 vì kèo, kiểu chồng rường, thượng tam hạ tứ, nghệ thuật đơn giản.

    Khối kiến trúc thứ hai cũng làm theo kiểu chữ công nhưng thấp và nhỏ hơn gọi là nhà tổ đệ nhất có kiến trúc đơn giản nhưng vẫn còn dấu vết của trang trí thời Lê.

    Khối thứ ba là gác chuông cao 2 tầng mái và khối thứ tư là nhà tổ đệ nhị, kết cấu kiểu chuôi vồ.

    Hơn 7 thế kỷ trôi qua, chùa Đức La vẫn là một trung tâm Phật giáo lớn, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước. Nhiều kệ ván in kinh vẫn còn, là hiện vật minh chứng cho vai trò quan trọng của chùa, từng thống lãnh 72 chốn tùng lâm.

    ĐỀN SUỐI MỠ

    Vị trí: Đền Suối Mỡ thuộc khu di tích suối Mỡ, xã Nghĩa Phương, huyện LụcNam, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Đền Suối Mỡ gồm 3 ngôi đền Hạ, Trung và Thượng kế tiếp nhau qua đoạn suối dài, thờ chung Thượng Ngàn Thánh Mẫu (Công chúa Quế Mỵ Nương đời vua Hùng thứ16).

    Tương truyền Quế Mỵ Nương là người đã có công mở thác Vực Mỡ đưa nước về cho dân khai hoang trồng trọt, lập làng xóm. Đền Thượng nằm ở lưng chừng núi Vực Mỡ, đối diện có núi Hang rất cao, cây cối um tùm xanh mát quanh năm. Từ đây trở xuống suối Mỡ rộng dần, có nhiều thác lớn nhỏ. Đền Trung nằm ở hữu ngạn dòng suối này, trong không gian rộng rãi thoáng mát. Cạnh đó là dòng nước suối trong lành róc rách chảy suốt tháng ngày đổ ra cửa đền Hạ. Đây là ngôi đền có quy mô lớn, thu hút nhiều khách thập phương về lễ đền. Đặc biệt khi đến đây, du khách sẽ không thể quên hình ảnh 5 ngọn thác luôn đổ nước trắng xóa. Theo truyền thuyết, đó chính là 5 ngón tay của Công chúa Quế Mỵ Nương khi ấn nhẹ sẽ tuôn ra dòng nước mát tưới cho đồng ruộng tốt tươi.

    KHU DU LỊCH KHUÔN THẦN

    Vị trí: Từ Bắc Giang đi ngược lên vùng Đông Bắc 40km (phốChũ) rồi rẽ trái 10km là tới khu du lịch Khuôn Thần thuộc địa phận huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Diện tích hồ Khuôn Thần rộng 240ha, xung quanh là dãy núi được phủ xanh, chủ yếu là thông.

    Lòng hồ có 5 đảo nhỏ được trồng thông xanh có tuổi từ 15-20 năm. Diện tích rừng Khuôn Thần khoảng 700ha, trong đó rừng tự nhiên là 300ha, rừng thông 400ha. Xung quanh khu du lịch Khuôn Thần là vườn cây đặc sản: vải Thái Lan, vải thiều, hồng, na… Tại đây còn có đền Từ Mã thờ danh tướng thời Trần đã được nhà nước xếp hạng di tích văn hóa.

    Du khách đến đây có thể cắm trại, dạo chơi trên hồ bằng thuyền đạp chân hoặc thuyền máy, thưởng thức những sản phẩm địa phương như mật ong, rượu tắc kè, hạt dẻ…và tham dự các buổi sinh hoạt văn hóa với dân địa phương.

    HỒ CẤM SƠN

    Vị trí: Hồ Cấm Sơn thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Hồ Cấm Sơn là nơi tham quan nghỉ mát hấp dẫn.

    Bình thường mặt hồ rộng 2.600ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng tới 3.000ha. Chiều dài hồ gần 30km, bề ngang nơi rộng nhất 7km, chỗ hẹp nhất 200m.

    Xung quanh hồ là những dãy núi cao bao bọc, hay nói một cách khác, bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng và cây cao bóng cả.

    Với những dự án quy hoạch xây dựng xung quanh khu vực hồ Cấm Sơn, không bao lâu nữa, Cấm Sơn sẽ trở thành nơi tham quan nghỉ mát hấp dẫn với nhiều loại hình du lịch: bơi thuyền, leo núi, câu cá, đi bộ vào các làng xóm của đồng bào dân tộc, hay đi chơi rừng…

    KHU DI TÍCH SUỐI MỠ

    Vị trí: Khu di tích suối Mỡ thuộc xã Nghĩa Phương, huyện LụcNam, tỉnh Bắc Giang.

    Đặc điểm: Khu du lịch với phong cảnh thiên nhiên kỳ thú. Nơi đây có đền Suối Mỡ – nơi thờ bà chúa Thượng Ngàn (công chúa Quế Mỵ Nương đời vua Hùng thứ 16).

    Suối Mỡ từ lâu đã trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách. Đến đây, du khách không chỉ ngắm nhìn những con suối chảy róc rách mà còn khám phá khung cảnh thiên nhiên kỳ thú được bao bọc bởi những dãy núi trải dài trùng điệp.

    Nếu như cái nắng nóng của đoạn đường đi đến suối Mỡ khiến du khách cảm thấy mệt mỏi thì không khí thoáng đãng của núi rừng ngay khi đặt chân đến đây sẽ xua tan mệt mỏi để thay vào cảm giác thư thái, dễ chịu. Men theo con đường uốn lượn dẫn vào suối, du khách có thể chiêm ngưỡng cả một dãy núi non hùng vĩ. Trên những dãy núi này, những loại cây như tùng, bách, thông được trồng xen kẽ tạo thành một thảm cỏ xanh. Đường đến suối Mỡ được lát bê tông phẳng phiu tạo thành những bậc thang rất dễ đi. Song song với con đường này, một lối đi khác được tạo ra bởi nhiều vách đá sẽ thích hợp với những du khách ưa mạo hiểm. Vào mùa mưa, những vách đá này thường rất trơn nên ít du khách chọn lối đi này. Đa phần du khách chọn lối đi bách bộ men theo sườn núi.

    Trên những sườn núi xuất hiện những mái nhà lá được xây dựng rất đơn sơ nhưng là điểm dừng chân thú vị. Tại đây, du khách sẽ được uống những ngụm nước vối thơm mát, được thưởng thức những loại hoa quả đặc sản nơi đây như mít, vải, dưa hấu… Và điều đặc biệt là được ngắm nhìn vạn vật từ trên cao, được bao quát toàn bộ núi rừng của suối Mỡ. Vượt qua hết những dãy núi, tiếp bước du khách sẽ là những con suối rất trong và mát càng khiến du khách quên đi cái nắng nóng gay gắt của những ngày hè oi ả. Nguồn nước suối ở đây từ bao đời nay đã góp phần không nhỏ trong cuộc sống sinh hoạt của người dân địa phương.

    Ngoài việc thưởng ngoạn phong cảnh do thiên nhiên ban tặng, đến tham quan suối Mỡ du khách còn như lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh với những ngôi đền, chùa nằm tĩnh tại trên những mỏm núi.

    Đền Suối Mỡ bao gồm đền Hạ, Trung, Thượng, nằm dọc theo dòng suối Mỡ. Từ đền Hạ đến đền Thượng đi bộ khoảng 1 giờ, đi theo suối phải mất 2 giờ. Phong cảnh hữu tình, dòng nước tung bọt trắng xoá càng hấp dẫn du khách.

    Nguồn: Tổng cục du lịch ViệtNam

    Võ Nhật Trường @ 14:43 07/01/2015

    Số lượt xem: 647

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Tỉnh An Giang
  • Du Lịch Đảo Hải Tặc (Kiên Giang): Kinh Nghiệm Đi 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đảo Hải Tặc Ở Kiên Giang
  • Tour Du Lịch Đảo Bà Lụa 2 Ngày 2 Đêm Giá Rẻ
  • Tổ Chức Du Lịch Team Building Tại Quần Đảo Bà Lụa Kiên Giang,tổ Chức Tour Du Lịch Team Building Tại Quần Đảo Bà Lụa Kiên Giang
  • Các Điểm Du Lịch, Khu Vui Chơi Ở Bắc Giang Thu Hút Nhiều Du Khách

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Đoàn Him Lam Muốn Xây Khu Đô Thị Du Lịch “thiên Đường Mắc Ca” Ở Bảo Lộc
  • 7 Địa Điểm Các Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Bình Dương Cần Biết
  • Thiên Nhiên Xanh Mát Đầy Khác Biệt Tại Khu Du Lịch Cần Giờ Resort
  • Điểm Lại Các Khu Du Lịch Sinh Thái Ở Cần Thơ
  • Tổng Hợp Địa Chỉ Ăn Uống Ngon, Bổ, Rẻ Ở Cao Bằng Cực Đông
  • (BGĐT) – Trong ba ngày nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, các khu, điểm du lịch và vui chơi giải trí, dịch vụ ăn uống trên địa bàn tỉnh thu hút đông du khách. Trong đó tiêu biểu như Khu du lịch tâm linh- sinh thái Tây Yên Tử, đền Thần Nông mỗi nơi đón hơn 1 nghìn lượt người.

    Siêu thị Big C đông khách gấp nhiều lần ngày thường.

    Dịp này, trên địa bàn TP diễn ra vòng sơ khảo Hội thi Tiếng hát sông Thương năm 2022 tại Hội trường UBND TP với sự tham gia của 100 thí sinh. Ban tổ chức chọn 10 thí sinh ở các phong cách: Thính phòng, Nhạc nhẹ, Dân gian vào vòng chung kết diễn ra ngày 27-4.

    Nhiều nhóm bạn trẻ tham quan Tây Yên Tử.

    Năm nay, do hạ tầng giao thông, du lịch tại các huyện: Sơn Động, Yên Thế, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Dũng, TP Bắc Giang được củng cố nên nhiều du khách đến các khu, điểm du lịch trong tỉnh. Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử (Sơn Động) thu hút khoảng 1,5 nghìn lượt khách/ngày. Ban Quản lý Khu du lịch huy động nhân lực làm nhiệm vụ bán vé cáp treo, đưa đón khách bằng xe điện từ khu quảng trường lên chùa Hạ và ga cáp treo; bố trí nhân công dọn nhà vệ sinh, rác thải quanh khu vực. Một số điểm như: Đồng Cao, Khe Rỗ, thác Ba Tia (Sơn Động)… thu hút từ 500-600 lượt người/ngày.

    Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ đón nhiều đoàn khách từ Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam…

    Đặc biệt, Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ (Lục Nam) đón hơn 3 nghìn lượt người/ngày. Nhiều đoànđến từ các tỉnh, TP như: Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam đi theo tour: Chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) – Suối Mỡ (Lục Nam) – Tây Yên Tử (Sơn Động). Ban Quản lý Khu du lịch đã sắp xếp nơi đỗ xe tạo thuận lợi cho các đoàn tham quan. Hàng hóa được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp hơn với nhiều mặt hàng nông sản địa phương. Dọc suối vừa được lắp đặt ghế đá để du khách nghỉ ngơi trong hành trình khám phá Khu du lịch.

    Ông Thân Nhân Khuyến, Chủ tịch UBND xã Xuân Lương (Yên Thế) cho biết, hai ngày nghỉ (14 và 15-4) các điểm du lịch trên địa bàn như: Thác Ngà, bản Ven, cây Lim xanh đón khoảng 400 lượt du khách đi theo hình thức gia đình, nhóm.

    Tuyết Mai – Lệ Thanh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Ở Ba Vì
  • Hình Ảnh Các Khu Du Lịch Ở Ba Vì
  • Top 5 Resort Ba Vì Từ Đẳng Cấp 5 Sao Châu Âu Đến Giá Bình Dân
  • Các Khu, Điểm Du Lịch Ở An Giang Đã Đón Khách Trở Lại
  • Du Lịch Sinh Thái Là Gì? Các Khu Du Lịch Sinh Thái Đẹp Việt Nam
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Bắc Giang (Cập Nhật 01/2021)

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 20 Địa Điểm Du Lịch Bắc Kinh Nổi Tiếng Nhất Định Phải Ghé Qua
  • Du Lịch Bắc Kinh Đừng Bỏ Qua Những Điểm Đến Thú Vị Dưới Đây
  • Cập Nhật Bản Đồ Du Lịch Thái Lan Đầy Đủ Từ A
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bắc Kinh Tất Tần Tật Từ A Đến Z
  • Cẩm Nang Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Bắc Kinh Tự Túc
  • Các địa điểm du lịch ở Bắc Giang

    Cùng Phượt – Bắc Giang là vùng đất cổ, có nhiều di tích lịch sử văn hoá gắn liền với đất và người vùng Kinh Bắc. Nơi đây từng ghi những dấu ấn đậm nét về các cuộc đấu tranh chống quân giặc xâm lược như chiến thắng Cần Trạm, Hố Cát, Xương Giang; cuộc khởi nghĩa Yên Thế…cùng với một số di tích tiêu biểu như: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, đình Lỗ Hạnh, Lăng Dinh Hương, Lăng Họ Ngọ…Hơn nữa còn có khá nhiều địa điểm du lịch ở Bắc Giang rất hấp dẫn như: Suối Mỡ, Suối Nước Vàng, Hồ Cấm Sơn… Với du lịch, đó thực sự là những điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực du lịch văn hoá, lịch sử và du lịch sinh thái.

    Khoảng hai năm trở lại đây, du khách biết nhiều đến điểm du lịch Đồng Cao, thuộc xã Thạch Sơn, huyện Sơn Động (Bắc Giang) qua các phương tiện thông tin đại chúng. Không ít người, đặc biệt là các bạn trẻ ưa thích du lịch khám phá theo hình thức “phượt” đã đặt chân đến đây.

    Điểm ấn tượng với du khách khi đến Đồng Cao là được tận hưởng bầu không khí mát mẻ, trong lành, thiên nhiên hoang sơ cộng thêm sự chất phác, thật thà và nhiều tập quán truyền thống của đồng bào vùng cao. Đây còn được ví như “” hay “Sapa” của Bắc Giang. Ngoài ra, sự mới lạ, mong muốn chinh phục những con đường gập ghềnh, khó đi cũng là lý do để không ít các nhóm trẻ hướng lên Đồng Cao.

    Yên Tử là dãy núi cao, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang. Đây là dãy núi chính của vòng cung Đông Triều (từ Quảng Ninh qua Hải Dương – Bắc Giang và dừng ở bờ tả sông Lục Nam).

    Yên Tử là khu rừng tự nhiên tập trung lớn nhất của tỉnh Bắc Giang và của vùng Đông Bắc, nằm trên diện tích của các xã An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận (huyện Sơn Động) và xã Lục Sơn (huyện Lục Nam). Đây là khu rừng phân bố ở độ cao từ 200m đến hơn 1.000m so với mặt biển và có địa hình cao dốc phức tạp.

    Rừng Yên Tử có vị trí vô cùng quan trọng đối với việc phòng hộ, môi trường và điều tiết khí hậu cho vùng Đông Bắc của tỉnh. Bên cạnh đó, rừng Yên Tử còn có nguồn tài nguyên rừng khá lớn, đủ điều kiện để xây dựng thành một khu dự trữ thiên nhiên với diện tích trên 17.000 ha và tổng trữ lượng gỗ gần 1.000.000 m3. Mặt khác, do nằm ở vị trí có địa hình cao dốc, hiểm trở nên rừng tự nhiên Yên Tử còn giữ được những khu vực tương đối nguyên vẹn với một quần thể sinh vật phong phú, đa dạng, đặc trưng tiêu biểu cho vùng Đông Bắc Việt Nam.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có nhiều nguồn gien động, thực vật rừng quý hiếm, đặc trưng cho vùng Đông Bắc Việt Nam mà nhiều khu bảo tồn thiên nhiên khác không có.

    Trên hệ thống núi Yên Tử có nhiều thắng tích nổi tiếng đã được sử sách xưa ghi nhận, đó là: khu thắng tích Am Vãi; khu thắng tích Suối Mỡ – Hồ Bấc; khu thắng tích Huyền Sơn; khu di tích Khám Lạng; khu di tích Hòn Tháp – Yên Mã… Các khu thắng tích này là một quần thể rộng gồm danh sơn và cổ tích hợp lại. Hầu hết, những khu di tích nằm trên sơn phận Yên Tử thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang là những khu di tích cổ, có từ thời Lý – Trần (thế kỷ XI đến thế kỷ XIV). Đó là những di tích có ý nghĩa lịch sử, văn hóa mang đậm màu sắc Phật giáo thuộc thiền phái Trúc Lâm do vua là Trần Nhân Tông sáng lập.

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông thuộc tuyến du lịch Tây Yên Tử – một tuyến du lịch trọng điểm đang được tỉnh Bắc Giang tập trung quy hoạch và xây dựng. Khu du lịch Đồng Thông cũng là nơi bảo tồn nhiều loài động vật quý hiếm, ngoài ra, đây còn là điểm dừng chân cho bạn trước khi chinh phục đỉnh Phù Vân Yên Tử từ phía Tây.

    Khu rừng nguyên sinh thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động có diện tích 7.153ha trong đó có 5.092ha là rừng tự nhiên. Khu rừng có 236 loài thực vật, cây lấy gỗ, 255 loài liệu dược quý. Trong khu rừng còn có 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, đặc biệt có 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm. Đây là cánh rừng nguyên sinh tiêu biểu của khu vực Đông Bắc Việt Namnằm gọn trong hai khe suối khe Rỗ và khe Din. Phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn, phía Nam và Đông Nam giáp với huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc và Tây Bắc thuộc địa phận của xã An Lạc. Sống xung quang khu bảo tồn rừng nguyên sinh là dân cư của hai bản dân tộc Dao: Pác Duốc và Khe Din.

    Hiện nay rừng nguyên sinh Khe Rỗ nói riêng và toàn bộ khu rừng Tây Yên Tử nói chung còn giữ được vẻ nguyên sơ rất thích hợp cho các tour du lịch sinh thái, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu các hệ động thực vật rừng nhiệt đới của du khách.

    Thổ Hà là tên gọi một làng nghề thuộc xã Vân Hà huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang. Đó là một ngôi làng cổ với phong cảnh hữu tình, cây đa, bến nước, sân đình, những nếp nhà cổ san sát nằm sâu trong các ngõ hẻm cổ kính. Khác với các làng ở đồng bằng Bắc Bộ dân Thổ Hà hoàn toàn không có ruộng, bao đời sống bằng gạo chợ nước sông, thu nhập từ nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Trước 1960 làng nổi tiếng về nghề làm gốm, từ 1990 lại đây nổi tiếng về nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo.

    Thổ Hà ba mặt là sông như một hòn đảo, ra khỏi làng là phải đi đò. Làng có hai bến đò: bến Chùa ở trước cửa đình, bến đò dưới nằm ở xóm Ba. Trước kia đò do người chèo trông rất thơ mộng, nhưng ngày nay đều được gắn máy nên đò chở khách nhanh hơn. Dọc bờ sông của làng là thuyền bè của dân vạn chài sinh sống.

    Làng có một trục đường chính chạy theo bờ Bắc dòng sông Cầu, theo chiều dòng chảy lần lượt là Xóm 1, Xóm 2, Xóm 3 và Xóm 4. Vuông góc với trục đường chính là các ngõ xóm sâu và hẹp. Cách đây vài chục năm dấu tích của nghề gốm vang bóng một thời là những bức tường ngõ cổ và bức tường nhà xây toàn bằng những mảnh gốm vỡ hay tiểu sành phế phẩm mà không dùng chút vôi vữa nào, chỉ dùng bùn của sông Cầu để kết dính. Khi dân làng giàu lên các bức tường này đã xây lại bằng gạch và xi măng, hiện nay chỉ còn rất ít đoạn tường cổ. Có hai đường vào làng: đường thủy qua bến đò từ phía Nam, đường bộ qua cổng làng từ phía Bắc làng, bến đò và cổng làng chỉ cách nhau 100 mét.

    Kiến trúc cổ của Thổ Hà gồm: ba di tích lịch sử văn hóa được nhà nước công nhận là Đình, Chùa, Văn Chỉ, trong đó có gần hai chục tấm bia đá ghi chữ nho ở cả hai mặt; Cổng làng, bốn ngôi Điếm của bốn xóm, các ngôi nhà cổ. Cổng làng Thổ Hà có kiến trúc đẹp, bề thế và cổ kính, là một trong những chiếc cổng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu. Quanh khu vực cổng làng, đình và chùa có rất nhiều cây đa đều hàng trăm năm tuổi. Trong làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà cổ xây dựng cách đây trên 100 năm, tiêu biểu cho các ngôi nhà cổ thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

    Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc. Đình thờ Thân Cảnh Phúc,là Tướng nhà Lý, có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống, dân tộc Tày, tù trưởng châu Quang Lang (Châu Ôn-Lạng Sơn), được vua Lý gả công chúa và phong chức tri châu. Đó là một công trình kiến trúc quy mô trên một khu đất rộng 3.000 m², một nghệ thuật điêu khắc độc đáo. Đình đã từng được chính quyền Pháp xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương. Đình được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa năm 1960. Đình xây dựng năm 1685 thời vua Lê Chính – Hòa năm thứ 7. Đến năm 1807 (Gia Long năm thứ 5) xây dựng tiền tế và hai nhà tả vu, hữu vu. Thời kỳ kháng chiến chông Pháp, đình bị rỡ ngói, phá sàn và chấn song. Mặt khác hàng năm thường bị lụt, có năm nước ngập đến mái ngói, nên đình bị xuống cấp nhiều.

    Trong suốt thời gian từ lúc được xây dựng tới bây giờ, ngôi đình đã được sửa sang và nâng cấp rất nhiều lần. Năm 1977 – 1979 nhà nước đã đầu tư kinh phí và cử cán bộ về trùng tu, nâng ngôi đình cao thêm 1,8m, nhưng ngôi tiền tế vẫn chưa nâng. Năm 1988 dân Thổ Hà với tinh thần tự lực cánh sinh đã tôn tạo ngôi tiền tế và nâng cao bằng ngôi đình.

    Đình được dựng theo kiểu chữ công, toà bái đường dài 27m, rộng 16m, dựng trên nền cao 0,5m xung quanh bó đá tảng xanh chia làm ba cấp, mái đình lợp ngói mũi hài to bản, bốn góc là những đầu đao cong vút. Đầu bờ nóc uốn quanh hình lưỡi liềm, góc mái có gắn nghê, thú nhỏ bằng sành nung già lửa đỏ tía. Có tất cả 22 đầu bẩy lực lưỡng, chạm rồng, mây, nghê, thú rất trau chuốt. Bái đường chia làm 7 gian, 48 cột lim, bộ khung mái chạm trổ tinh vi, nhiều cảnh trí sinh động. Đặc biệt có khá nhiều hình thiếu nữ mặc váy dài, yếm, tóc búi hoặc chít khăn với nét mặt rạng rỡ trong tư thế cưỡi phượng, đè rồng, hoặc đang nhảy múa giữa các lớp mây bồng bềnh. Lòng bái đường lát đá xanh nhẵn bóng. Bức cửa võng thếp vàng chạm trổ lộng lẫy làm cho bái đường càng thêm trang nghiêm cổ kính.

    Trong đình có ba tấm bia to: Thủy tạo đình miếu bi nói về việc xây dựng đình, Cung sao sự tích thánh (Lão Tử) nói về sự tích thành hoàng Thái thượng lão quân, Bia sao sắc phong sao các đạo sắc của các triều đại trước phong tặng. Ngoài ra còn có các bia khác quy tập tại đình nói về những điều lệ trong dân đã quy định.

    Năm 2006 được sự trợ giúp kinh phí của Vương quốc Bỉ đình Thổ Hà lại được dỡ hết để làm lại, dự định cuối 2009 sẽ xây dựng xong. Trong lần trùng tu này đình được phục chế theo các ảnh chụp còn lưu trữ bên Pháp. Sau khi làm xong đình thì Chùa Thổ Hà và Văn chỉ cũng sẽ xây dựng lại.

    Xương Giang là một thành cổ hiện chỉ còn lại tàn tích tại tỉnh Bắc Giang, đây là một trong những nơi đã diễn ra trận chiến giữa quân của Lê Lợi và quân Minh.

    Thành Xương Giang do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ 15, năm 1407, trong thời gian nhà Minh đô hộ Việt Nam. Thành được xây bằng đất, các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông – Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc – Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây.

    Thành Xương Giang xưa tuy đặt ở vùng bằng phẳng nhưng lợi thế ở chỗ hiểm yếu. Thành này án ngữ con đường “Thiên Lý Bắc – Nam” xưa. Xung quanh thành địa hình cũ có hệ thống sông con, đầm lầy, rộc trũng bao quanh rất khó tấn công. Năm 1407, giặc Minh cho đắp thành này, trấn giữ ở đó được 20 năm thì bị Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn vây đánh vào năm 1427. Do địa thế hiểm yếu, nghĩa quân Lam Sơn phải 9 tháng mới hạ được thành, trong khi đó các thành Thị Cầu, Chi Lăng, Đoàn Thành nghĩa quân triệt hạ nhanh chóng.

    Suối Mỡ là tên một con suối chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh – Yên Tử, tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Cảnh đẹp nhất nơi đây là đoạn suối có năm bậc thác mẹ con từ đền Thượng xuống đền Trung. Theo các tài liệu, đền Suối Mỡ là nơi thờ Công chúa Quế Mỵ Nương thời Hùng Vương, người có công mở dòng Suối Mỡ, dạy nhân dân làm ruộng, làm nương.

    Tại khu vực Suối Mỡ, các công trình tạo thành một khu liên hoàn: đền Hạ, đền Trung, đền Thượng (có từ thời nhà Lê, thế kỷ XV – XVI). Với nhiều loại hình du lịch để du khách có thể lựa chọn như: Tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, tắm suối, cắm trại, leo núi, khám phá thiên nhiên hoặc mua sắm, ẩm thực… Du khách có thể lựa chọn điểm du lịch sinh thái tại thác Suối Mỡ; thác Thùm Thùm; vọng Ngắm Trăng; đỉnh Rông Khế; hồ Suối Mỡ hoặc du lịch tâm linh tại đền Suối Mỡ (đền Hạ, đền Trung, đền Thượng); đền Trần; đền Quan; đền Cô Bé Cây Xanh.

    Điểm đầu tiên trong chuỗi thắng cảnh là đền Hạ, ngôi đền nằm kề bên đường tỉnh 293. Đây là một trong 3 ngôi đền có quy mô và diện tích lớn nhất trong hệ thống đền Suối Mỡ. Đền tọa lạc trên thế đất “hoàng long”. Trước cửa đền có núi Tai Voi làm án có tác dụng ngăn không cho tà khí bay vào đền và giữ lại những tài lộc do long mạch bên trong thúc ra.

    Ngày nay, dưới bóng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm, đền Hạ vẫn giữ được nét uy nghi, rêu phong cổ kính. Đền Hạ hiện còn giữ được 3 pho tượng đồng quý hiếm, bên ngoài được phủ một lớp sơn bóng quang điện trông càng rực rỡ uy nghi.

    Nằm tách biệt với khu dân cư, từ xa nhìn lại, đền Trung tọa lạc trên mảnh đất có vị trí như một hòn đảo được bao bọc bởi suối và cây xanh tạo nên vẻ tĩnh mịch, huyền bí và linh thiêng cho ngôi đền. Với điểm tựa gối đầu là núi Bà Bô; án là rừng Thông và sườn Giông Khế, theo thuyết phong thủy đây là mảnh đất tụ linh và ngôi đền nằm trên thế đất “tựa Sơn đạp Thuỷ”. Lối đi duy nhất vào đền là cây cầu bán nguyệt được coi như nối cõi trần với nơi đất thánh. Trong đền thờ công chúa Quế Mỵ Nương – Thượng Ngàn Thánh Mẫu và một số bệ thờ theo tín ngưỡng thờ mẫu.

    Đền Trung có cả thảy 5 thác nước, trong những nét nguyên sơ của đá và nước, cùng cỏ cây xung quanh tạo nên nét kì bí và thú vị cho những du khách đến đây.

    Ngôi đền nằm giữa lưng chừng núi có kiến trúc khá đơn sơ, hầu như giữ nguyên kiểu dáng kiến trúc ban đầu từ thuở mới tạo dựng. Đền chỉ có một gian rộng lấy một tảng đá lớn bên trên làm mái, lấy vách đá xung quanh làm tường, ba bề trên dưới là đá, cả điện thờ cũng nguyên khối đá. Tại đền Thượng, bên dòng Suối Mỡ thơ mộng, còn được thưởng thức những điệu hát chầu văn mượt mà, say đắm lòng người.

    Nằm trong quần thể khu du lịch Suối Mỡ, thác Thùm Thùm, còn gọi là thác Chúa, từ đền Trần đến đây mất khoảng 30 phút. Thác Thùm Thùm mang một vẻ đẹp kì bí, Đây là thác cao nhất trong hệ thống thác Suối Mỡ. Thác được khoác trên mình một tấm áo choàng bằng nước từ trên cao đổ xuống tạo ra những bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Bây giờ, chúng tôi mới hiểu hết ý nghĩa tên thác bởi thác nước đổ xuống tạo nên những âm thanh thùng thình, ùm ùm, nghe như tiếng trống trận của quân sĩ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

    Công trình khởi công xây dựng năm 2009 gồm 4 hạng mục: Đập chính, tràn xả lũ, cống nước, kênh dẫn nước. Với diện tích mặt hồ hơn 30 ha, công trình hồ Suối Mỡ góp phần tạo cảnh quan môi trường sinh thái cho khu vực đồng thời giúp điều hòa khí hậu và thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch như: bơi thuyền, câu cá, nghỉ dưỡng và dịch vụ khách sạn, nhà hàng, công viên thú. Trong tương lai không xa, khi hoàn thiện, nơi đây sẽ tôn thêm vẻ đẹp của Suối Mỡ – miền đất thiêng.

    Khuôn Thần là một hồ nước rộng rộng 240 ha, bao quanh bởi những đồi vải, đồi thông bạt ngàn và xanh mướt. Đây là một khu du lịch còn nhiều tiềm năng của xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    Từ thành phố Bắc Giang theo quốc lộ 31 đi khoảng 40 km lên đến trung tâm ngã tư Đài Phát thanh -Truyền hình Lục Ngạn, sau đó rẽ trái 9 km, du khách sẽ tới khu du lịch Khuôn Thần. Nơi đây được thiên nhiên ban tặng vẻ đẹp nguyên sơ, thanh bình với hồ nước trong xanh, không khí thoáng đãng, bao quanh là những đồi vải, đồi thông ngút ngàn.

    Cách TP Bắc Giang hơn 15 km, trên núi Dành có nhiều thông, keo vi vu. Đây là địa danh từng được nhắc tới trong sách “Đại Nam nhất thống chí”, trong đó có đoạn: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra sâm Nam và cỏ Thi”. Quần thể khu du lịch này gồm nhiều công trình như: Đền Trình, đền Hạ, đền Thượng, chùa Không Bụt, đình Vường và hơn 30 ha rừng thông, keo, bạch đàn có độ tuổi trên chục năm, tạo thành một không gian văn hóa tâm linh, sinh thái thu hút đông đảo người dân đến hành hương, thưởng ngoạn.

    Bản Đá Húc cách trung tâm xã Bình Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang) khoảng 8 km. Từ con đường liên xã chạy qua bản nhìn lên là màu xanh thẫm của khu rừng nguyên sinh – rừng lim xanh. Ngay bìa rừng là ngôi đình cổ kính nhìn ra khu định cư của đồng bào Cao Lan.

    Không xa nữa khi tuyến đường tâm linh 293 sườn Tây Yên Tử hoàn thành, đường về bản Đá Húc sẽ rất thuận tiện. Khi đó rừng lim xanh và ngôi đình cổ sẽ là điểm tham quan du lịch sinh thái, tâm linh hấp dẫn du khách gần xa.

    Thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu

    Có một địa chỉ du lịch sinh thái lý thú khá quen thuộc với người dân bản địa nhưng lại mới mẻ và ít người nơi khác biết đến tại xã Tuấn Đạo (Sơn Động), đó là thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu. Những ngày hè dát bỏng, đây thực sự là điểm đến cuốn hút giải nhiệt của người dân.

    Dòng Cấm Sơn xuất phát từ huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, đến Lục Ngạn thì bị chặn lại thành hồ. Hồ Cấm Sơn là nguồn cung cấp nguồn nước tưới chính cho sản xuất nông nghiệp của hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang.

    Bình thường mặt hồ rộng 2.600 ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng đến 3.000 ha. Chiều dài của hồ gần 30 km, bề ngang nơi rộng nhất 7 km, chỗ hẹp nhất 200 m, lòng hồ nơi sâu nhất đến khoảng 47m, hồ có rất nhiều đảo. Điều đặc biệt bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng, bao bọc. Cư dân sống gần hồ là những bản làng người dân tộc Nùng, Tày và Kinh. Nhân dân vùng chung quanh hồ chủ yếu là dân tộc. Người dân ở đây đi lại chủ yếu bằng thuyền, và giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo tạo những cảnh quan sơn thủy hữu tình.

    Để đến được hồ Cấm Sơn du khách có khá nhiều đường khác nhau, song thuận lợi hơn cả là con đường từ thị trấn Chũ, ngược theo đường 297 qua đèo Váng, đến Tân Sơn đi theo con đường đất đỏ với những khúc cua tay áo liên tiếp, men theo những bản làng người Nùng, người Sán Chí, người Dao là đến Cấm Sơn, hoặc từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 1A qua huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn rồi rẽ phải khoảng gần 5km thì đến đập Cấm Sơn.

    Chùa Vĩnh Nghiêm ở làng Đức La xã Trí Yên huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, Việt Nam, còn được gọi là chùa Đức La, là một trung tâm Phật giáo, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước, nơi phát tích Tam Tổ phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, một viên ngọc sáng trong các chùa cổ Việt Nam.

    Trước kia, chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Lạng Giang, nay là thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nên còn gọi là chùa Đức La và lễ hội ở đây được gọi là lễ hội La. Chùa Vĩnh Nghiêm tọa lạc nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn). Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang – Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là núi non trong đó có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc.

    Văn bia chùa thời Trần viết: “Đức Tổ Điều Ngự Pháp Loa khi mở tùng lâm này, còn mở cái chợ Đức La. Các vị vương thân quốc thích và thập phương đàn Việt, phát tâm tậu ruộng đất ở tại bản xã và các hạt khác các nơi, để cúng hương dâng tam bảo muôn đời. Chùa này và chùa Sùng Nghiêm cả thảy 72 chốn tùng lâm, công đức sáng tạo, hợp khắc vào bia ở chùa Hoa Nghiêm núi Yên tử”. Một tấm bia chùa dựng khác viết: “Ðức tổ Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông) khi mở Tùng lâm này (tức chùa Vĩnh Nghiêm), mở cả chợ chùa. Các vị vương thân quốc thích và khách thập phương đã phát tâm tậu nhiều ruộng cúng cho chùa, gồm cả ruộng trong xã và ruộng ở các hạt khác nữa”.

    Tương truyền chùa Vĩnh Nghiêm có từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028), tên chữ là Vĩnh Nghiêm Tự (永嚴寺). Thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) đều có các vị cao tăng tu hành nên được tu tạo nguy nga, tráng lệ. Khi vua Trần Nhân Tông (陳仁宗; 1258-1308), từ bỏ ngôi vua thành người tu hành đến chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Ngoạ Vân (Yên Tử) thụ giới, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập lên phái Thiền tông của Phật giáo Việt Nam. Hương Vân cùng hai đệ tử Pháp Loa (法螺), Huyền Quang (玄光) sáng lập, hoàn chỉnh phái Thiền tông Việt Nam gọi là Tam tổ.

    Chùa Bổ Đà có tên chính xác là chùa Quán Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự, gọi tắt là chùa Bổ, còn có các tên gọi khác là chùa Quán Âm, Tứ Ân Tự , là một trong những ngôi chùa độc đáo nhất miền đất Kinh Bắc, là Trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.

    Chùa toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ Đà sơn), phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh xưa). Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ.

    Chùa có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam, nhiều cổ vật có giá trị và kho tàng di sản Hán – Nôm phong phú. Đây cũng là nơi sơn thủy giao hòa, nhìn sông tựa núi, cảnh sắc, không gian nhuốm màu huyền thoại, xung quanh là đồi núi xóm làng bao bọc. Chùa thờ Tam giáo, trong đó có Quán Thế Âm Bồ Tát, Trúc Lâm Tam tổ (gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), Khổng Tử… Quần thể chùa Bổ Đà là một tập hợp di tích gồm: chùa cổ có tên là Bổ Đà Sơn (gọi tắt là chùa Bổ Đà, chùa Bổ; còn gọi là chùa Quán Âm), chùa chính Tứ Ân Tự, Am Tam Đức (xây dựng sau, vào thời Hậu Lê). Ngoài ra trên núi Bổ Đà còn có đền thờ Đức Thánh Hóa (tức Thạch Tướng Đại Vương – có công giúp vua Hùng thứ 16 chống giặc ngoại xâm).

    Lăng Dinh Hương thuộc làng Dinh Hương, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là một quần thể kiến trúc điêu khắc đá hoành tráng, độc đáo thời Hậu Lê, được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ 1965. Lăng Dinh Hương xây dựng từ năm 1727 (xuất hiện trước tất cả các lăng mộ vua Nguyễn ở Cố đô Huế). Trong lăng lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, tên húy là La Đoan Trực.

    Lăng nằm trên một quả đồi hình tròn rộng khoảng một ha có tường gạch bao quanh (ngày xưa là tường đá ong bao quanh). Vào cổng là hai tượng quan hầu cầm dùi đồng. Quần thể lăng đá Dinh Hương chia làm ba phần chính: phần mộ táng ở giữa, phần thờ tự ở bên trái, phần bia ở bên phải. Tượng người và vật tại lăng làm bằng đá xanh được chạm khắc rất sống động, tượng có kích thước lớn, hình khối mập, chắc và được tỉa công phu.

    Phần mộ rộng khoảng 100 mét vuông có tường đá ong dày bao quanh là nơi lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, có hai võ quan dắt ngựa đứng canh. Cặp tượng quan hầu dắt ngựa được xem là những kiệt tác của nghệ thuật chạm khắc đá, tượng chú trọng vào cách tạo khối trên thân, khiến con vật trở nên đậm chất hiện thực. Một số mảng chạm tỷ mỷ và mang tính cách điệu cao như phần yên cương, bờm con ngựa. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên phải có mặt to, hàm rộng. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên trái có râu dài, mặt nhỏ.

    Khu thờ tự gồm hai voi nằm chầu, bàn thờ có hai con nghê to há mồm ngồi chầu, tiếp theo là ngai thờ làm từ hai khối đá lớn cùng hai quan hầu nữ và hai con nghê nhỏ trạm khắc tinh tế, sinh động. Quan hầu nữ bên trái bưng chiếc tráp khối hộp chữ nhật ngang bụng, bàn tay trái đỡ dưới hộp tráp, tay phải giữ ngang đầu hộp, để hở nửa bàn tay với những ngón thon dài. Quan hầu nữ bên phải ngai thờ tay cầm quạt, đầu đội mũ ni có chóp nhọn như một chiếc nón nhỏ, nửa phía sau mũ có bốn lớp vải trùm kín chân tóc, phủ xuống kín tai và gáy.

    Tìm trên Google

    • các địa điểm du lịch ở bắc giang
    • chơi gì khi đến Bắc Giang
    • phượt Bắc Giang có gì
    • cảnh đẹp Bắc Giang
    • danh lam thắng cảnh Bắc Giang
    • địa điểm du lịch tâm linh Bắc Giang
    • đến Bắc Giang nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Bắc Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Đồ Bắc Giang Mới Và Chi Tiết Nhất
  • Yên Thế Trên Bản Đồ Du Lịch Bắc Giang
  • Bản Đồ Du Lịch Và Hành Chính Tỉnh Bắc Giang Được Nhiều Người Xem Nhất 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bà Nà Hills Tự Túc 2022 Đường Lên Tiên Cảnh
  • Bản Đồ Bà Nà Hills 2022, Địa Điểm Nào Đẹp Nhất Nên Đến?
  • Khu Du Lịch Suối Mỡ Điểm Đến Mới Ở Bắc Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Điểm Đặc Biệt Của Khu Du Lịch Suối Mơ
  • Du Lịch Hàng Ngày: Du Lịch Suối Ngọc
  • Kinh Nghiệm Đi Khu Du Lịch Thủy Châu
  • Suối Nhân Tạo Bình Dương Chia Sẻ10 Khu Du Lịch Suối Nhân Tạo Thủy Châu
  • Suối Nước Khoáng Kim Bôi
  • Suối Mỡ là tên một con suối chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh – Yên Tử, tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Cảnh đẹp nhất nơi đây là đoạn suối có năm bậc thác mẹ con từ đền Thượng xuống đền Trung.

    Khu du lịch suối Mỡ nằm trên địa phận xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Bắc Giang 30 km về phía đông. Suối Mỡ nằm cách thủ đô Hà Nội 80 km theo quốc lộ 31 và đường tỉnh lộ 293. Suối Mỡ nằm trong thung lũng núi Huyền Đinh- Yên Tử. Nó được đặt tên theo tên một con suối với nhiều thác nước lớn, nhỏ và nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú trỉa dọc theo dòng chảy. Đặt chân đến Suối Mỡ, cảnh tượng đầu tiên thu hút du khách là dòng nước trong trẻo uốn mình như một dải lụa từ trong núi chảy ra. Hai bên bờ suối chảy róc rách là những cánh rừng đại ngàn xanh tươi. Trên những dãy núi trùng điệp, nhiều loại cây như Tùng, Bách, Thông được trồng xen kẽ tạo thành một tấm thảm xanh khổng lồ, bất tận. Tất cả như hoà quyện với nhau làm cho thiên nhiên, đất trời nơi đây trở nên rất trong lành và thoáng đãng. Phong cảnh Suối Mỡ rất huyền ảo, những con suối tung bọt nước lên những phiến đá tạo nên nơi đây một bức tranh sơn thuỷ hữu tình mang vẻ đẹp rất tự nhiên.

    Tại khu vực Suối Mỡ, các công trình tạo thành một khu liên hoàn: đền Hạ, đền Trung, đền Thượng (có từ thời nhà Lê, thế kỷ XV – XVI).

    Lịch sử kể lại rằng, con gái thứ IX của vua Hùng, công chúa Quế Mị Nương là người thích du ngoạn cùng sơn thủy hữu tình, hòa mình cùng cỏ cây hoa lá và trời đất bao la. Khi đến vùng đất nay, Mị Nương thấy dân tình nơi đây sống thật khốn khổ, đói rách vì hạn hán, đất đai thì cằn cỗi, công chúa rất buồn lòng. Vào ngày đầu xuân, Mị Nương lên núi Huyền Đinh dạo chơi, bất chợtt một cơn gió mạnh đã cuốn Nàng bay đi và đưa Nàng tới khúc Suối Mỡ ngày nay. Khi hạ giá xuống đây (thác Vực Mỡ), Mị Nương đã dùng 5 đầu ngón chân ấn xuống tảng đá và từ những vết chân này một dòng nước mát ào ào chảy tạo ra thành một con suối. Đó chính là Suối Mỡ ngày nay. Con suối đưa nước tưới đồng ruộng, nhân dân nơi đây có nước canh tác, sinh sống, quanh năm mưa thuận gió hòa, đồng ruộng tốt tươi, cuộc sống ấm no, hạn phúc hẳn lên. Để đời đời ghi công ơn ấy, nhân dân đã lập ba ngôi đền thờ và suy tôn bà là Thánh mẫu Thượng ngàn. Hội đền được tổ chức hàng năm vào ngày 30 tháng 3 và 1 tháng 4 (âm lịch) với phần lễ trang trọng và phần hội đông vui, nhộn nhịp.

    Cũng từ đây người ta gọi con suối này là Suối Mẫu, và chỗ in dấu 5 đầu ngón tay của Mị Nương có tên là Vực Mẫu. Lịch sử Suối Mỡ còn gắn liền với cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông ta. Tương truyền, trong thời gian chống quân Nguyên Mông từ phương Bắc, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã lập đại bản doanh ở nơi đây để chặn đứng mũi tiến quân của bọn xâm lược từ ải Chi Lăng. Hưng Ðạo Vương từng đến vùng đỉnh thác xem xét địa hình, sắp đặt việc binh, tìm kế đánh lui kẻ thù xâm lược. Để ghi nhớ mốc son lịch sử này, người ta đã lập nơi đây ngôi đền có tên là Đền Trần, ngay bên thác.

    Du lịch Bắc Giang về Suối Mỡ, du khách không chỉ tham quan các điểm du lịch mà còn được tham gia các hoạt động cắm trại, leo núi, bơi thuyền, câu cá, đua ngựa, săn bắn….của khách du lịch.

    Trong không khí tĩnh mịch, u huyền của hương khói, quý khách sẽ cảm thấy lòng mình thanh thản, nhẹ nhõm và như được trút hết bụi trần. Đặc biệt, vào dịp này, du khách sẽ được tham dự Lễ hội đền Suối Mỡ được mở rất lớn từ ngày 30 tháng 3 đến mùng 2 tháng 4 âm lịch hàng năm. Tại đây, sẽ diễn ra Lễ rước kiệu nàng công chúa Quế Mỵ Nương – người đã có công khai mở Vực mỡ. Vào ngày hội chính, dân làng Dùm rước kiệu Thánh về đền Hạ tế lễ bái vọng lên đền Thượng, dân làng Quỷnh rước kiệu Thánh về đền Trung tế lễ. Trong ngày hội, dân làng mở đấu vật, đánh đu, chọi gà, bắn cung, võ dân tộc, hát chầu văn, hầu bóng thâu đêm suốt sáng…

    Vào mùa hạ và mùa thu, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ, hoang sơ của chốn đại ngàn nơi sông Lục, núi Huyền. Dòng Suối Mỡ chảy quanh co, uốn lượn như dải lụa trong thung lũng núi Huyền Đinh, Yên Tử – nơi có nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên. Suối bắt nguồn từ khu vực Đá Vách và Hố Chuối rồi xuôi dòng. Dòng suối lớn dần, chảy len lỏi theo khe núi. Do sự kiến tạo của địa chất tự nhiên, những phiến đá lớn xếp chồng lên nhau theo nhiều dạng, nhiều cấp độ đã làm cho lòng suối thay đổi độ dốc đột ngột tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ khác nhau.

    Men theo con đường uốn lượn dẫn lên suối, du khách sẽ bắt gặp những thắng tích như đấu Đong Quân, chùa Hòn Trứng, chùa Hồ Bấc, đỉnh Tròi Xoan, bãi Quần Ngựa, thác Thùm Thùm…

    Thác Thùm Thùm là con thác cao nhất trong hệ thống suối thác được khoác trên mình một tấm áo choàng bằng nước như từ trên trời đổ xuống. Đứng trên đỉnh thác phóng tầm mắt ra thật xa du khách sẽ bao quát được toàn bộ quần thể thắng cảnh nơi đây. Một không gian vừa hùng vĩ, vừa nên thơ sẽ đem đến cho du khách cảm giác thư thái đến bất ngờ. Và thật sảng khoái, sau một hồi chiêm ngưỡng phong cảnh núi non nguyên sơ, hùng vĩ, du khách sẽ được đắm mình trong làn nước trong xanh, mát lành của thiên nhiên ban tặng dưới những dòng thác hay trong những bồn tắm tự nhiên.

    Theo kinh nghiệm du lịch Bắc Giang, khu du lịch Suối Mỡ với nhiều loại hình du lịch để du khách có thể lựa chọn như: Tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, tắm suối, cắm trại, leo núi, khám phá thiên nhiên hoặc mua sắm, ẩm thực… Du khách có thể lựa chọn điểm du lịch sinh thái tại thác Suối Mỡ; thác Thùm Thùm; vọng Ngắm Trăng; đỉnh Rông Khế; hồ Suối Mỡ hoặc du lịch tâm linh tại đền Suối Mỡ (đền Hạ, đền Trung, đền Thượng); đền Trần; đền Quan; đền Cô Bé Cây Xanh.

    Hiện nay, Suối Mỡ là khu du lịch đã được quy hoạch và đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng. Cùng với những dấu ấn lịch sử, những đền thờ dọc bên dòng suối, những cánh rừng nguyên sinh cùng mặt hồ nước mêng mông gợn sóng sẽ là điểm đến lý tưởng cho du khách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Đi Khu Du Lịch Suối Mơ, Đồng Nai Cho Cả Gia Đình
  • Khu Du Lịch Suối Mơ Đồng Nai Điểm Đến Lý Tưởng Ngày Hè
  • Khám Phá Vẻ Đẹp Khó Cưỡng Của Khu Du Lịch Suối Mơ
  • Khu Du Lịch Suối Mơ Đà Nẵng Hot Nhất Mùa Hè Năm Nay
  • Hoang Tàn Khu Du Lịch Sinh Thái Suối Mơ
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Bắc Giang (Cập Nhật 11/2020)

    --- Bài mới hơn ---

  • Khu Du Lịch Bãi Bầu Quy Nhơn
  • Bãi Biển Sầm Sơn (Thanh Hóa)
  • Bãi Bụt Đà Nẵng Địa Điểm Giải Nhiệt Mùa Hè
  • Khu Du Lịch Bãi Cát Vàng Đà Nẵng
  • Khu Du Lịch Bãi Cháy Quảng Ninh, Hè 2022 Bạn Hãy Tới Đây Nhé!
  • Các địa điểm du lịch ở Bắc Giang

    Cùng Phượt – Bắc Giang là vùng đất cổ, có nhiều di tích lịch sử văn hoá gắn liền với đất và người vùng Kinh Bắc. Nơi đây từng ghi những dấu ấn đậm nét về các cuộc đấu tranh chống quân giặc xâm lược như chiến thắng Cần Trạm, Hố Cát, Xương Giang; cuộc khởi nghĩa Yên Thế…cùng với một số di tích tiêu biểu như: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, đình Lỗ Hạnh, Lăng Dinh Hương, Lăng Họ Ngọ…Hơn nữa còn có khá nhiều địa điểm du lịch ở Bắc Giang rất hấp dẫn như: Suối Mỡ, Suối Nước Vàng, Hồ Cấm Sơn… Với du lịch, đó thực sự là những điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực du lịch văn hoá, lịch sử và du lịch sinh thái.

    Khoảng hai năm trở lại đây, du khách biết nhiều đến điểm du lịch Đồng Cao, thuộc xã Thạch Sơn, huyện Sơn Động (Bắc Giang) qua các phương tiện thông tin đại chúng. Không ít người, đặc biệt là các bạn trẻ ưa thích du lịch khám phá theo hình thức “phượt” đã đặt chân đến đây.

    Điểm ấn tượng với du khách khi đến Đồng Cao là được tận hưởng bầu không khí mát mẻ, trong lành, thiên nhiên hoang sơ cộng thêm sự chất phác, thật thà và nhiều tập quán truyền thống của đồng bào vùng cao. Đây còn được ví như “” hay “Sapa” của Bắc Giang. Ngoài ra, sự mới lạ, mong muốn chinh phục những con đường gập ghềnh, khó đi cũng là lý do để không ít các nhóm trẻ hướng lên Đồng Cao.

    Yên Tử là dãy núi cao, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang. Đây là dãy núi chính của vòng cung Đông Triều (từ Quảng Ninh qua Hải Dương – Bắc Giang và dừng ở bờ tả sông Lục Nam).

    Yên Tử là khu rừng tự nhiên tập trung lớn nhất của tỉnh Bắc Giang và của vùng Đông Bắc, nằm trên diện tích của các xã An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận (huyện Sơn Động) và xã Lục Sơn (huyện Lục Nam). Đây là khu rừng phân bố ở độ cao từ 200m đến hơn 1.000m so với mặt biển và có địa hình cao dốc phức tạp.

    Rừng Yên Tử có vị trí vô cùng quan trọng đối với việc phòng hộ, môi trường và điều tiết khí hậu cho vùng Đông Bắc của tỉnh. Bên cạnh đó, rừng Yên Tử còn có nguồn tài nguyên rừng khá lớn, đủ điều kiện để xây dựng thành một khu dự trữ thiên nhiên với diện tích trên 17.000 ha và tổng trữ lượng gỗ gần 1.000.000 m3. Mặt khác, do nằm ở vị trí có địa hình cao dốc, hiểm trở nên rừng tự nhiên Yên Tử còn giữ được những khu vực tương đối nguyên vẹn với một quần thể sinh vật phong phú, đa dạng, đặc trưng tiêu biểu cho vùng Đông Bắc Việt Nam.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có nhiều nguồn gien động, thực vật rừng quý hiếm, đặc trưng cho vùng Đông Bắc Việt Nam mà nhiều khu bảo tồn thiên nhiên khác không có.

    Trên hệ thống núi Yên Tử có nhiều thắng tích nổi tiếng đã được sử sách xưa ghi nhận, đó là: khu thắng tích Am Vãi; khu thắng tích Suối Mỡ – Hồ Bấc; khu thắng tích Huyền Sơn; khu di tích Khám Lạng; khu di tích Hòn Tháp – Yên Mã… Các khu thắng tích này là một quần thể rộng gồm danh sơn và cổ tích hợp lại. Hầu hết, những khu di tích nằm trên sơn phận Yên Tử thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang là những khu di tích cổ, có từ thời Lý – Trần (thế kỷ XI đến thế kỷ XIV). Đó là những di tích có ý nghĩa lịch sử, văn hóa mang đậm màu sắc Phật giáo thuộc thiền phái Trúc Lâm do vua là Trần Nhân Tông sáng lập.

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông thuộc tuyến du lịch Tây Yên Tử – một tuyến du lịch trọng điểm đang được tỉnh Bắc Giang tập trung quy hoạch và xây dựng. Khu du lịch Đồng Thông cũng là nơi bảo tồn nhiều loài động vật quý hiếm, ngoài ra, đây còn là điểm dừng chân cho bạn trước khi chinh phục đỉnh Phù Vân Yên Tử từ phía Tây.

    Khu rừng nguyên sinh thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động có diện tích 7.153ha trong đó có 5.092ha là rừng tự nhiên. Khu rừng có 236 loài thực vật, cây lấy gỗ, 255 loài liệu dược quý. Trong khu rừng còn có 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, đặc biệt có 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm. Đây là cánh rừng nguyên sinh tiêu biểu của khu vực Đông Bắc Việt Namnằm gọn trong hai khe suối khe Rỗ và khe Din. Phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn, phía Nam và Đông Nam giáp với huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc và Tây Bắc thuộc địa phận của xã An Lạc. Sống xung quang khu bảo tồn rừng nguyên sinh là dân cư của hai bản dân tộc Dao: Pác Duốc và Khe Din.

    Hiện nay rừng nguyên sinh Khe Rỗ nói riêng và toàn bộ khu rừng Tây Yên Tử nói chung còn giữ được vẻ nguyên sơ rất thích hợp cho các tour du lịch sinh thái, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu các hệ động thực vật rừng nhiệt đới của du khách.

    Thổ Hà là tên gọi một làng nghề thuộc xã Vân Hà huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang. Đó là một ngôi làng cổ với phong cảnh hữu tình, cây đa, bến nước, sân đình, những nếp nhà cổ san sát nằm sâu trong các ngõ hẻm cổ kính. Khác với các làng ở đồng bằng Bắc Bộ dân Thổ Hà hoàn toàn không có ruộng, bao đời sống bằng gạo chợ nước sông, thu nhập từ nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Trước 1960 làng nổi tiếng về nghề làm gốm, từ 1990 lại đây nổi tiếng về nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo.

    Thổ Hà ba mặt là sông như một hòn đảo, ra khỏi làng là phải đi đò. Làng có hai bến đò: bến Chùa ở trước cửa đình, bến đò dưới nằm ở xóm Ba. Trước kia đò do người chèo trông rất thơ mộng, nhưng ngày nay đều được gắn máy nên đò chở khách nhanh hơn. Dọc bờ sông của làng là thuyền bè của dân vạn chài sinh sống.

    Làng có một trục đường chính chạy theo bờ Bắc dòng sông Cầu, theo chiều dòng chảy lần lượt là Xóm 1, Xóm 2, Xóm 3 và Xóm 4. Vuông góc với trục đường chính là các ngõ xóm sâu và hẹp. Cách đây vài chục năm dấu tích của nghề gốm vang bóng một thời là những bức tường ngõ cổ và bức tường nhà xây toàn bằng những mảnh gốm vỡ hay tiểu sành phế phẩm mà không dùng chút vôi vữa nào, chỉ dùng bùn của sông Cầu để kết dính. Khi dân làng giàu lên các bức tường này đã xây lại bằng gạch và xi măng, hiện nay chỉ còn rất ít đoạn tường cổ. Có hai đường vào làng: đường thủy qua bến đò từ phía Nam, đường bộ qua cổng làng từ phía Bắc làng, bến đò và cổng làng chỉ cách nhau 100 mét.

    Kiến trúc cổ của Thổ Hà gồm: ba di tích lịch sử văn hóa được nhà nước công nhận là Đình, Chùa, Văn Chỉ, trong đó có gần hai chục tấm bia đá ghi chữ nho ở cả hai mặt; Cổng làng, bốn ngôi Điếm của bốn xóm, các ngôi nhà cổ. Cổng làng Thổ Hà có kiến trúc đẹp, bề thế và cổ kính, là một trong những chiếc cổng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu. Quanh khu vực cổng làng, đình và chùa có rất nhiều cây đa đều hàng trăm năm tuổi. Trong làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà cổ xây dựng cách đây trên 100 năm, tiêu biểu cho các ngôi nhà cổ thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

    Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc. Đình thờ Thân Cảnh Phúc,là Tướng nhà Lý, có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống, dân tộc Tày, tù trưởng châu Quang Lang (Châu Ôn-Lạng Sơn), được vua Lý gả công chúa và phong chức tri châu. Đó là một công trình kiến trúc quy mô trên một khu đất rộng 3.000 m², một nghệ thuật điêu khắc độc đáo. Đình đã từng được chính quyền Pháp xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương. Đình được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa năm 1960. Đình xây dựng năm 1685 thời vua Lê Chính – Hòa năm thứ 7. Đến năm 1807 (Gia Long năm thứ 5) xây dựng tiền tế và hai nhà tả vu, hữu vu. Thời kỳ kháng chiến chông Pháp, đình bị rỡ ngói, phá sàn và chấn song. Mặt khác hàng năm thường bị lụt, có năm nước ngập đến mái ngói, nên đình bị xuống cấp nhiều.

    Trong suốt thời gian từ lúc được xây dựng tới bây giờ, ngôi đình đã được sửa sang và nâng cấp rất nhiều lần. Năm 1977 – 1979 nhà nước đã đầu tư kinh phí và cử cán bộ về trùng tu, nâng ngôi đình cao thêm 1,8m, nhưng ngôi tiền tế vẫn chưa nâng. Năm 1988 dân Thổ Hà với tinh thần tự lực cánh sinh đã tôn tạo ngôi tiền tế và nâng cao bằng ngôi đình.

    Đình được dựng theo kiểu chữ công, toà bái đường dài 27m, rộng 16m, dựng trên nền cao 0,5m xung quanh bó đá tảng xanh chia làm ba cấp, mái đình lợp ngói mũi hài to bản, bốn góc là những đầu đao cong vút. Đầu bờ nóc uốn quanh hình lưỡi liềm, góc mái có gắn nghê, thú nhỏ bằng sành nung già lửa đỏ tía. Có tất cả 22 đầu bẩy lực lưỡng, chạm rồng, mây, nghê, thú rất trau chuốt. Bái đường chia làm 7 gian, 48 cột lim, bộ khung mái chạm trổ tinh vi, nhiều cảnh trí sinh động. Đặc biệt có khá nhiều hình thiếu nữ mặc váy dài, yếm, tóc búi hoặc chít khăn với nét mặt rạng rỡ trong tư thế cưỡi phượng, đè rồng, hoặc đang nhảy múa giữa các lớp mây bồng bềnh. Lòng bái đường lát đá xanh nhẵn bóng. Bức cửa võng thếp vàng chạm trổ lộng lẫy làm cho bái đường càng thêm trang nghiêm cổ kính.

    Trong đình có ba tấm bia to: Thủy tạo đình miếu bi nói về việc xây dựng đình, Cung sao sự tích thánh (Lão Tử) nói về sự tích thành hoàng Thái thượng lão quân, Bia sao sắc phong sao các đạo sắc của các triều đại trước phong tặng. Ngoài ra còn có các bia khác quy tập tại đình nói về những điều lệ trong dân đã quy định.

    Năm 2006 được sự trợ giúp kinh phí của Vương quốc Bỉ đình Thổ Hà lại được dỡ hết để làm lại, dự định cuối 2009 sẽ xây dựng xong. Trong lần trùng tu này đình được phục chế theo các ảnh chụp còn lưu trữ bên Pháp. Sau khi làm xong đình thì Chùa Thổ Hà và Văn chỉ cũng sẽ xây dựng lại.

    Xương Giang là một thành cổ hiện chỉ còn lại tàn tích tại tỉnh Bắc Giang, đây là một trong những nơi đã diễn ra trận chiến giữa quân của Lê Lợi và quân Minh.

    Thành Xương Giang do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ 15, năm 1407, trong thời gian nhà Minh đô hộ Việt Nam. Thành được xây bằng đất, các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông – Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc – Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây.

    Thành Xương Giang xưa tuy đặt ở vùng bằng phẳng nhưng lợi thế ở chỗ hiểm yếu. Thành này án ngữ con đường “Thiên Lý Bắc – Nam” xưa. Xung quanh thành địa hình cũ có hệ thống sông con, đầm lầy, rộc trũng bao quanh rất khó tấn công. Năm 1407, giặc Minh cho đắp thành này, trấn giữ ở đó được 20 năm thì bị Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn vây đánh vào năm 1427. Do địa thế hiểm yếu, nghĩa quân Lam Sơn phải 9 tháng mới hạ được thành, trong khi đó các thành Thị Cầu, Chi Lăng, Đoàn Thành nghĩa quân triệt hạ nhanh chóng.

    Suối Mỡ là tên một con suối chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh – Yên Tử, tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Cảnh đẹp nhất nơi đây là đoạn suối có năm bậc thác mẹ con từ đền Thượng xuống đền Trung. Theo các tài liệu, đền Suối Mỡ là nơi thờ Công chúa Quế Mỵ Nương thời Hùng Vương, người có công mở dòng Suối Mỡ, dạy nhân dân làm ruộng, làm nương.

    Tại khu vực Suối Mỡ, các công trình tạo thành một khu liên hoàn: đền Hạ, đền Trung, đền Thượng (có từ thời nhà Lê, thế kỷ XV – XVI). Với nhiều loại hình du lịch để du khách có thể lựa chọn như: Tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, tắm suối, cắm trại, leo núi, khám phá thiên nhiên hoặc mua sắm, ẩm thực… Du khách có thể lựa chọn điểm du lịch sinh thái tại thác Suối Mỡ; thác Thùm Thùm; vọng Ngắm Trăng; đỉnh Rông Khế; hồ Suối Mỡ hoặc du lịch tâm linh tại đền Suối Mỡ (đền Hạ, đền Trung, đền Thượng); đền Trần; đền Quan; đền Cô Bé Cây Xanh.

    Điểm đầu tiên trong chuỗi thắng cảnh là đền Hạ, ngôi đền nằm kề bên đường tỉnh 293. Đây là một trong 3 ngôi đền có quy mô và diện tích lớn nhất trong hệ thống đền Suối Mỡ. Đền tọa lạc trên thế đất “hoàng long”. Trước cửa đền có núi Tai Voi làm án có tác dụng ngăn không cho tà khí bay vào đền và giữ lại những tài lộc do long mạch bên trong thúc ra.

    Ngày nay, dưới bóng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm, đền Hạ vẫn giữ được nét uy nghi, rêu phong cổ kính. Đền Hạ hiện còn giữ được 3 pho tượng đồng quý hiếm, bên ngoài được phủ một lớp sơn bóng quang điện trông càng rực rỡ uy nghi.

    Nằm tách biệt với khu dân cư, từ xa nhìn lại, đền Trung tọa lạc trên mảnh đất có vị trí như một hòn đảo được bao bọc bởi suối và cây xanh tạo nên vẻ tĩnh mịch, huyền bí và linh thiêng cho ngôi đền. Với điểm tựa gối đầu là núi Bà Bô; án là rừng Thông và sườn Giông Khế, theo thuyết phong thủy đây là mảnh đất tụ linh và ngôi đền nằm trên thế đất “tựa Sơn đạp Thuỷ”. Lối đi duy nhất vào đền là cây cầu bán nguyệt được coi như nối cõi trần với nơi đất thánh. Trong đền thờ công chúa Quế Mỵ Nương – Thượng Ngàn Thánh Mẫu và một số bệ thờ theo tín ngưỡng thờ mẫu.

    Đền Trung có cả thảy 5 thác nước, trong những nét nguyên sơ của đá và nước, cùng cỏ cây xung quanh tạo nên nét kì bí và thú vị cho những du khách đến đây.

    Ngôi đền nằm giữa lưng chừng núi có kiến trúc khá đơn sơ, hầu như giữ nguyên kiểu dáng kiến trúc ban đầu từ thuở mới tạo dựng. Đền chỉ có một gian rộng lấy một tảng đá lớn bên trên làm mái, lấy vách đá xung quanh làm tường, ba bề trên dưới là đá, cả điện thờ cũng nguyên khối đá. Tại đền Thượng, bên dòng Suối Mỡ thơ mộng, còn được thưởng thức những điệu hát chầu văn mượt mà, say đắm lòng người.

    Nằm trong quần thể khu du lịch Suối Mỡ, thác Thùm Thùm, còn gọi là thác Chúa, từ đền Trần đến đây mất khoảng 30 phút. Thác Thùm Thùm mang một vẻ đẹp kì bí, Đây là thác cao nhất trong hệ thống thác Suối Mỡ. Thác được khoác trên mình một tấm áo choàng bằng nước từ trên cao đổ xuống tạo ra những bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Bây giờ, chúng tôi mới hiểu hết ý nghĩa tên thác bởi thác nước đổ xuống tạo nên những âm thanh thùng thình, ùm ùm, nghe như tiếng trống trận của quân sĩ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

    Công trình khởi công xây dựng năm 2009 gồm 4 hạng mục: Đập chính, tràn xả lũ, cống nước, kênh dẫn nước. Với diện tích mặt hồ hơn 30 ha, công trình hồ Suối Mỡ góp phần tạo cảnh quan môi trường sinh thái cho khu vực đồng thời giúp điều hòa khí hậu và thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch như: bơi thuyền, câu cá, nghỉ dưỡng và dịch vụ khách sạn, nhà hàng, công viên thú. Trong tương lai không xa, khi hoàn thiện, nơi đây sẽ tôn thêm vẻ đẹp của Suối Mỡ – miền đất thiêng.

    Khuôn Thần là một hồ nước rộng rộng 240 ha, bao quanh bởi những đồi vải, đồi thông bạt ngàn và xanh mướt. Đây là một khu du lịch còn nhiều tiềm năng của xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    Từ thành phố Bắc Giang theo quốc lộ 31 đi khoảng 40 km lên đến trung tâm ngã tư Đài Phát thanh -Truyền hình Lục Ngạn, sau đó rẽ trái 9 km, du khách sẽ tới khu du lịch Khuôn Thần. Nơi đây được thiên nhiên ban tặng vẻ đẹp nguyên sơ, thanh bình với hồ nước trong xanh, không khí thoáng đãng, bao quanh là những đồi vải, đồi thông ngút ngàn.

    Cách TP Bắc Giang hơn 15 km, trên núi Dành có nhiều thông, keo vi vu. Đây là địa danh từng được nhắc tới trong sách “Đại Nam nhất thống chí”, trong đó có đoạn: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra sâm Nam và cỏ Thi”. Quần thể khu du lịch này gồm nhiều công trình như: Đền Trình, đền Hạ, đền Thượng, chùa Không Bụt, đình Vường và hơn 30 ha rừng thông, keo, bạch đàn có độ tuổi trên chục năm, tạo thành một không gian văn hóa tâm linh, sinh thái thu hút đông đảo người dân đến hành hương, thưởng ngoạn.

    Bản Đá Húc cách trung tâm xã Bình Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang) khoảng 8 km. Từ con đường liên xã chạy qua bản nhìn lên là màu xanh thẫm của khu rừng nguyên sinh – rừng lim xanh. Ngay bìa rừng là ngôi đình cổ kính nhìn ra khu định cư của đồng bào Cao Lan.

    Không xa nữa khi tuyến đường tâm linh 293 sườn Tây Yên Tử hoàn thành, đường về bản Đá Húc sẽ rất thuận tiện. Khi đó rừng lim xanh và ngôi đình cổ sẽ là điểm tham quan du lịch sinh thái, tâm linh hấp dẫn du khách gần xa.

    Thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu

    Có một địa chỉ du lịch sinh thái lý thú khá quen thuộc với người dân bản địa nhưng lại mới mẻ và ít người nơi khác biết đến tại xã Tuấn Đạo (Sơn Động), đó là thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu. Những ngày hè dát bỏng, đây thực sự là điểm đến cuốn hút giải nhiệt của người dân.

    Dòng Cấm Sơn xuất phát từ huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, đến Lục Ngạn thì bị chặn lại thành hồ. Hồ Cấm Sơn là nguồn cung cấp nguồn nước tưới chính cho sản xuất nông nghiệp của hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang.

    Bình thường mặt hồ rộng 2.600 ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng đến 3.000 ha. Chiều dài của hồ gần 30 km, bề ngang nơi rộng nhất 7 km, chỗ hẹp nhất 200 m, lòng hồ nơi sâu nhất đến khoảng 47m, hồ có rất nhiều đảo. Điều đặc biệt bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng, bao bọc. Cư dân sống gần hồ là những bản làng người dân tộc Nùng, Tày và Kinh. Nhân dân vùng chung quanh hồ chủ yếu là dân tộc. Người dân ở đây đi lại chủ yếu bằng thuyền, và giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo tạo những cảnh quan sơn thủy hữu tình.

    Để đến được hồ Cấm Sơn du khách có khá nhiều đường khác nhau, song thuận lợi hơn cả là con đường từ thị trấn Chũ, ngược theo đường 297 qua đèo Váng, đến Tân Sơn đi theo con đường đất đỏ với những khúc cua tay áo liên tiếp, men theo những bản làng người Nùng, người Sán Chí, người Dao là đến Cấm Sơn, hoặc từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 1A qua huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn rồi rẽ phải khoảng gần 5km thì đến đập Cấm Sơn.

    Chùa Vĩnh Nghiêm ở làng Đức La xã Trí Yên huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, Việt Nam, còn được gọi là chùa Đức La, là một trung tâm Phật giáo, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước, nơi phát tích Tam Tổ phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, một viên ngọc sáng trong các chùa cổ Việt Nam.

    Trước kia, chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Lạng Giang, nay là thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nên còn gọi là chùa Đức La và lễ hội ở đây được gọi là lễ hội La. Chùa Vĩnh Nghiêm tọa lạc nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn). Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang – Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là núi non trong đó có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc.

    Văn bia chùa thời Trần viết: “Đức Tổ Điều Ngự Pháp Loa khi mở tùng lâm này, còn mở cái chợ Đức La. Các vị vương thân quốc thích và thập phương đàn Việt, phát tâm tậu ruộng đất ở tại bản xã và các hạt khác các nơi, để cúng hương dâng tam bảo muôn đời. Chùa này và chùa Sùng Nghiêm cả thảy 72 chốn tùng lâm, công đức sáng tạo, hợp khắc vào bia ở chùa Hoa Nghiêm núi Yên tử”. Một tấm bia chùa dựng khác viết: “Ðức tổ Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông) khi mở Tùng lâm này (tức chùa Vĩnh Nghiêm), mở cả chợ chùa. Các vị vương thân quốc thích và khách thập phương đã phát tâm tậu nhiều ruộng cúng cho chùa, gồm cả ruộng trong xã và ruộng ở các hạt khác nữa”.

    Tương truyền chùa Vĩnh Nghiêm có từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028), tên chữ là Vĩnh Nghiêm Tự (永嚴寺). Thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) đều có các vị cao tăng tu hành nên được tu tạo nguy nga, tráng lệ. Khi vua Trần Nhân Tông (陳仁宗; 1258-1308), từ bỏ ngôi vua thành người tu hành đến chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Ngoạ Vân (Yên Tử) thụ giới, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập lên phái Thiền tông của Phật giáo Việt Nam. Hương Vân cùng hai đệ tử Pháp Loa (法螺), Huyền Quang (玄光) sáng lập, hoàn chỉnh phái Thiền tông Việt Nam gọi là Tam tổ.

    Chùa Bổ Đà có tên chính xác là chùa Quán Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự, gọi tắt là chùa Bổ, còn có các tên gọi khác là chùa Quán Âm, Tứ Ân Tự , là một trong những ngôi chùa độc đáo nhất miền đất Kinh Bắc, là Trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.

    Chùa toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ Đà sơn), phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh xưa). Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ.

    Chùa có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam, nhiều cổ vật có giá trị và kho tàng di sản Hán – Nôm phong phú. Đây cũng là nơi sơn thủy giao hòa, nhìn sông tựa núi, cảnh sắc, không gian nhuốm màu huyền thoại, xung quanh là đồi núi xóm làng bao bọc. Chùa thờ Tam giáo, trong đó có Quán Thế Âm Bồ Tát, Trúc Lâm Tam tổ (gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), Khổng Tử… Quần thể chùa Bổ Đà là một tập hợp di tích gồm: chùa cổ có tên là Bổ Đà Sơn (gọi tắt là chùa Bổ Đà, chùa Bổ; còn gọi là chùa Quán Âm), chùa chính Tứ Ân Tự, Am Tam Đức (xây dựng sau, vào thời Hậu Lê). Ngoài ra trên núi Bổ Đà còn có đền thờ Đức Thánh Hóa (tức Thạch Tướng Đại Vương – có công giúp vua Hùng thứ 16 chống giặc ngoại xâm).

    Lăng Dinh Hương thuộc làng Dinh Hương, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là một quần thể kiến trúc điêu khắc đá hoành tráng, độc đáo thời Hậu Lê, được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ 1965. Lăng Dinh Hương xây dựng từ năm 1727 (xuất hiện trước tất cả các lăng mộ vua Nguyễn ở Cố đô Huế). Trong lăng lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, tên húy là La Đoan Trực.

    Lăng nằm trên một quả đồi hình tròn rộng khoảng một ha có tường gạch bao quanh (ngày xưa là tường đá ong bao quanh). Vào cổng là hai tượng quan hầu cầm dùi đồng. Quần thể lăng đá Dinh Hương chia làm ba phần chính: phần mộ táng ở giữa, phần thờ tự ở bên trái, phần bia ở bên phải. Tượng người và vật tại lăng làm bằng đá xanh được chạm khắc rất sống động, tượng có kích thước lớn, hình khối mập, chắc và được tỉa công phu.

    Phần mộ rộng khoảng 100 mét vuông có tường đá ong dày bao quanh là nơi lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, có hai võ quan dắt ngựa đứng canh. Cặp tượng quan hầu dắt ngựa được xem là những kiệt tác của nghệ thuật chạm khắc đá, tượng chú trọng vào cách tạo khối trên thân, khiến con vật trở nên đậm chất hiện thực. Một số mảng chạm tỷ mỷ và mang tính cách điệu cao như phần yên cương, bờm con ngựa. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên phải có mặt to, hàm rộng. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên trái có râu dài, mặt nhỏ.

    Khu thờ tự gồm hai voi nằm chầu, bàn thờ có hai con nghê to há mồm ngồi chầu, tiếp theo là ngai thờ làm từ hai khối đá lớn cùng hai quan hầu nữ và hai con nghê nhỏ trạm khắc tinh tế, sinh động. Quan hầu nữ bên trái bưng chiếc tráp khối hộp chữ nhật ngang bụng, bàn tay trái đỡ dưới hộp tráp, tay phải giữ ngang đầu hộp, để hở nửa bàn tay với những ngón thon dài. Quan hầu nữ bên phải ngai thờ tay cầm quạt, đầu đội mũ ni có chóp nhọn như một chiếc nón nhỏ, nửa phía sau mũ có bốn lớp vải trùm kín chân tóc, phủ xuống kín tai và gáy.

    Tìm trên Google

    • các địa điểm du lịch ở bắc giang
    • chơi gì khi đến Bắc Giang
    • phượt Bắc Giang có gì
    • cảnh đẹp Bắc Giang
    • danh lam thắng cảnh Bắc Giang
    • địa điểm du lịch tâm linh Bắc Giang
    • đến Bắc Giang nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Bắc Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Bà Rá Thác Mơ Điểm Đến Hấp Dẫn Của Bình Phước
  • Tham Quan Khu Du Lịch Núi Bà Rá
  • Khám Phá Khu Du Lịch Sinh Thái Bà Rá Thác Mơ
  • Khu Du Lịch Bà Nà Hill Tuyển Dụng Nhiều Vị Trí (30/11/2015)
  • 1. Tham Quan Khu Du Lịch Bà Nà
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Bắc Giang (Cập Nhật 09/2020)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Cuồng Với 9 Địa Điểm Du Lịch Ở Bắc Giang
  • Tour Du Lịch Nha Trang Vinpearland Hè 2022
  • Top 4 Máy Ảnh Du Lịch Dưới 5 Triệu Đồng Đẹp Mê Mẩn
  • Du Lịch Campuchia 2 Ngày 1 Đêm Giá Rẻ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Campuchia 2 Ngày 1 Đêm Giá Rẻ Tphcm
  • Các địa điểm du lịch ở Bắc Giang

    Cùng Phượt – Bắc Giang là vùng đất cổ, có nhiều di tích lịch sử văn hoá gắn liền với đất và người vùng Kinh Bắc. Nơi đây từng ghi những dấu ấn đậm nét về các cuộc đấu tranh chống quân giặc xâm lược như chiến thắng Cần Trạm, Hố Cát, Xương Giang; cuộc khởi nghĩa Yên Thế…cùng với một số di tích tiêu biểu như: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, đình Lỗ Hạnh, Lăng Dinh Hương, Lăng Họ Ngọ…Hơn nữa còn có khá nhiều địa điểm du lịch ở Bắc Giang rất hấp dẫn như: Suối Mỡ, Suối Nước Vàng, Hồ Cấm Sơn… Với du lịch, đó thực sự là những điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực du lịch văn hoá, lịch sử và du lịch sinh thái.

    Khoảng hai năm trở lại đây, du khách biết nhiều đến điểm du lịch Đồng Cao, thuộc xã Thạch Sơn, huyện Sơn Động (Bắc Giang) qua các phương tiện thông tin đại chúng. Không ít người, đặc biệt là các bạn trẻ ưa thích du lịch khám phá theo hình thức “phượt” đã đặt chân đến đây.

    Điểm ấn tượng với du khách khi đến Đồng Cao là được tận hưởng bầu không khí mát mẻ, trong lành, thiên nhiên hoang sơ cộng thêm sự chất phác, thật thà và nhiều tập quán truyền thống của đồng bào vùng cao. Đây còn được ví như “” hay “Sapa” của Bắc Giang. Ngoài ra, sự mới lạ, mong muốn chinh phục những con đường gập ghềnh, khó đi cũng là lý do để không ít các nhóm trẻ hướng lên Đồng Cao.

    Yên Tử là dãy núi cao, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang. Đây là dãy núi chính của vòng cung Đông Triều (từ Quảng Ninh qua Hải Dương – Bắc Giang và dừng ở bờ tả sông Lục Nam).

    Yên Tử là khu rừng tự nhiên tập trung lớn nhất của tỉnh Bắc Giang và của vùng Đông Bắc, nằm trên diện tích của các xã An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận (huyện Sơn Động) và xã Lục Sơn (huyện Lục Nam). Đây là khu rừng phân bố ở độ cao từ 200m đến hơn 1.000m so với mặt biển và có địa hình cao dốc phức tạp.

    Rừng Yên Tử có vị trí vô cùng quan trọng đối với việc phòng hộ, môi trường và điều tiết khí hậu cho vùng Đông Bắc của tỉnh. Bên cạnh đó, rừng Yên Tử còn có nguồn tài nguyên rừng khá lớn, đủ điều kiện để xây dựng thành một khu dự trữ thiên nhiên với diện tích trên 17.000 ha và tổng trữ lượng gỗ gần 1.000.000 m3. Mặt khác, do nằm ở vị trí có địa hình cao dốc, hiểm trở nên rừng tự nhiên Yên Tử còn giữ được những khu vực tương đối nguyên vẹn với một quần thể sinh vật phong phú, đa dạng, đặc trưng tiêu biểu cho vùng Đông Bắc Việt Nam.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có nhiều nguồn gien động, thực vật rừng quý hiếm, đặc trưng cho vùng Đông Bắc Việt Nam mà nhiều khu bảo tồn thiên nhiên khác không có.

    Trên hệ thống núi Yên Tử có nhiều thắng tích nổi tiếng đã được sử sách xưa ghi nhận, đó là: khu thắng tích Am Vãi; khu thắng tích Suối Mỡ – Hồ Bấc; khu thắng tích Huyền Sơn; khu di tích Khám Lạng; khu di tích Hòn Tháp – Yên Mã… Các khu thắng tích này là một quần thể rộng gồm danh sơn và cổ tích hợp lại. Hầu hết, những khu di tích nằm trên sơn phận Yên Tử thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang là những khu di tích cổ, có từ thời Lý – Trần (thế kỷ XI đến thế kỷ XIV). Đó là những di tích có ý nghĩa lịch sử, văn hóa mang đậm màu sắc Phật giáo thuộc thiền phái Trúc Lâm do vua là Trần Nhân Tông sáng lập.

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông

    Khu du lịch sinh thái Đồng Thông thuộc tuyến du lịch Tây Yên Tử – một tuyến du lịch trọng điểm đang được tỉnh Bắc Giang tập trung quy hoạch và xây dựng. Khu du lịch Đồng Thông cũng là nơi bảo tồn nhiều loài động vật quý hiếm, ngoài ra, đây còn là điểm dừng chân cho bạn trước khi chinh phục đỉnh Phù Vân Yên Tử từ phía Tây.

    Khu rừng nguyên sinh thuộc xã An Lạc, huyện Sơn Động có diện tích 7.153ha trong đó có 5.092ha là rừng tự nhiên. Khu rừng có 236 loài thực vật, cây lấy gỗ, 255 loài liệu dược quý. Trong khu rừng còn có 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, đặc biệt có 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm. Đây là cánh rừng nguyên sinh tiêu biểu của khu vực Đông Bắc Việt Namnằm gọn trong hai khe suối khe Rỗ và khe Din. Phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn, phía Nam và Đông Nam giáp với huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc và Tây Bắc thuộc địa phận của xã An Lạc. Sống xung quang khu bảo tồn rừng nguyên sinh là dân cư của hai bản dân tộc Dao: Pác Duốc và Khe Din.

    Hiện nay rừng nguyên sinh Khe Rỗ nói riêng và toàn bộ khu rừng Tây Yên Tử nói chung còn giữ được vẻ nguyên sơ rất thích hợp cho các tour du lịch sinh thái, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu các hệ động thực vật rừng nhiệt đới của du khách.

    Thổ Hà là tên gọi một làng nghề thuộc xã Vân Hà huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang. Đó là một ngôi làng cổ với phong cảnh hữu tình, cây đa, bến nước, sân đình, những nếp nhà cổ san sát nằm sâu trong các ngõ hẻm cổ kính. Khác với các làng ở đồng bằng Bắc Bộ dân Thổ Hà hoàn toàn không có ruộng, bao đời sống bằng gạo chợ nước sông, thu nhập từ nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Trước 1960 làng nổi tiếng về nghề làm gốm, từ 1990 lại đây nổi tiếng về nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo.

    Thổ Hà ba mặt là sông như một hòn đảo, ra khỏi làng là phải đi đò. Làng có hai bến đò: bến Chùa ở trước cửa đình, bến đò dưới nằm ở xóm Ba. Trước kia đò do người chèo trông rất thơ mộng, nhưng ngày nay đều được gắn máy nên đò chở khách nhanh hơn. Dọc bờ sông của làng là thuyền bè của dân vạn chài sinh sống.

    Làng có một trục đường chính chạy theo bờ Bắc dòng sông Cầu, theo chiều dòng chảy lần lượt là Xóm 1, Xóm 2, Xóm 3 và Xóm 4. Vuông góc với trục đường chính là các ngõ xóm sâu và hẹp. Cách đây vài chục năm dấu tích của nghề gốm vang bóng một thời là những bức tường ngõ cổ và bức tường nhà xây toàn bằng những mảnh gốm vỡ hay tiểu sành phế phẩm mà không dùng chút vôi vữa nào, chỉ dùng bùn của sông Cầu để kết dính. Khi dân làng giàu lên các bức tường này đã xây lại bằng gạch và xi măng, hiện nay chỉ còn rất ít đoạn tường cổ. Có hai đường vào làng: đường thủy qua bến đò từ phía Nam, đường bộ qua cổng làng từ phía Bắc làng, bến đò và cổng làng chỉ cách nhau 100 mét.

    Kiến trúc cổ của Thổ Hà gồm: ba di tích lịch sử văn hóa được nhà nước công nhận là Đình, Chùa, Văn Chỉ, trong đó có gần hai chục tấm bia đá ghi chữ nho ở cả hai mặt; Cổng làng, bốn ngôi Điếm của bốn xóm, các ngôi nhà cổ. Cổng làng Thổ Hà có kiến trúc đẹp, bề thế và cổ kính, là một trong những chiếc cổng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu. Quanh khu vực cổng làng, đình và chùa có rất nhiều cây đa đều hàng trăm năm tuổi. Trong làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà cổ xây dựng cách đây trên 100 năm, tiêu biểu cho các ngôi nhà cổ thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

    Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc. Đình thờ Thân Cảnh Phúc,là Tướng nhà Lý, có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống, dân tộc Tày, tù trưởng châu Quang Lang (Châu Ôn-Lạng Sơn), được vua Lý gả công chúa và phong chức tri châu. Đó là một công trình kiến trúc quy mô trên một khu đất rộng 3.000 m², một nghệ thuật điêu khắc độc đáo. Đình đã từng được chính quyền Pháp xếp hạng trong Viện bảo tàng Bác Cổ Đông Dương. Đình được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa năm 1960. Đình xây dựng năm 1685 thời vua Lê Chính – Hòa năm thứ 7. Đến năm 1807 (Gia Long năm thứ 5) xây dựng tiền tế và hai nhà tả vu, hữu vu. Thời kỳ kháng chiến chông Pháp, đình bị rỡ ngói, phá sàn và chấn song. Mặt khác hàng năm thường bị lụt, có năm nước ngập đến mái ngói, nên đình bị xuống cấp nhiều.

    Trong suốt thời gian từ lúc được xây dựng tới bây giờ, ngôi đình đã được sửa sang và nâng cấp rất nhiều lần. Năm 1977 – 1979 nhà nước đã đầu tư kinh phí và cử cán bộ về trùng tu, nâng ngôi đình cao thêm 1,8m, nhưng ngôi tiền tế vẫn chưa nâng. Năm 1988 dân Thổ Hà với tinh thần tự lực cánh sinh đã tôn tạo ngôi tiền tế và nâng cao bằng ngôi đình.

    Đình được dựng theo kiểu chữ công, toà bái đường dài 27m, rộng 16m, dựng trên nền cao 0,5m xung quanh bó đá tảng xanh chia làm ba cấp, mái đình lợp ngói mũi hài to bản, bốn góc là những đầu đao cong vút. Đầu bờ nóc uốn quanh hình lưỡi liềm, góc mái có gắn nghê, thú nhỏ bằng sành nung già lửa đỏ tía. Có tất cả 22 đầu bẩy lực lưỡng, chạm rồng, mây, nghê, thú rất trau chuốt. Bái đường chia làm 7 gian, 48 cột lim, bộ khung mái chạm trổ tinh vi, nhiều cảnh trí sinh động. Đặc biệt có khá nhiều hình thiếu nữ mặc váy dài, yếm, tóc búi hoặc chít khăn với nét mặt rạng rỡ trong tư thế cưỡi phượng, đè rồng, hoặc đang nhảy múa giữa các lớp mây bồng bềnh. Lòng bái đường lát đá xanh nhẵn bóng. Bức cửa võng thếp vàng chạm trổ lộng lẫy làm cho bái đường càng thêm trang nghiêm cổ kính.

    Trong đình có ba tấm bia to: Thủy tạo đình miếu bi nói về việc xây dựng đình, Cung sao sự tích thánh (Lão Tử) nói về sự tích thành hoàng Thái thượng lão quân, Bia sao sắc phong sao các đạo sắc của các triều đại trước phong tặng. Ngoài ra còn có các bia khác quy tập tại đình nói về những điều lệ trong dân đã quy định.

    Năm 2006 được sự trợ giúp kinh phí của Vương quốc Bỉ đình Thổ Hà lại được dỡ hết để làm lại, dự định cuối 2009 sẽ xây dựng xong. Trong lần trùng tu này đình được phục chế theo các ảnh chụp còn lưu trữ bên Pháp. Sau khi làm xong đình thì Chùa Thổ Hà và Văn chỉ cũng sẽ xây dựng lại.

    Xương Giang là một thành cổ hiện chỉ còn lại tàn tích tại tỉnh Bắc Giang, đây là một trong những nơi đã diễn ra trận chiến giữa quân của Lê Lợi và quân Minh.

    Thành Xương Giang do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ 15, năm 1407, trong thời gian nhà Minh đô hộ Việt Nam. Thành được xây bằng đất, các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông – Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc – Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây.

    Thành Xương Giang xưa tuy đặt ở vùng bằng phẳng nhưng lợi thế ở chỗ hiểm yếu. Thành này án ngữ con đường “Thiên Lý Bắc – Nam” xưa. Xung quanh thành địa hình cũ có hệ thống sông con, đầm lầy, rộc trũng bao quanh rất khó tấn công. Năm 1407, giặc Minh cho đắp thành này, trấn giữ ở đó được 20 năm thì bị Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn vây đánh vào năm 1427. Do địa thế hiểm yếu, nghĩa quân Lam Sơn phải 9 tháng mới hạ được thành, trong khi đó các thành Thị Cầu, Chi Lăng, Đoàn Thành nghĩa quân triệt hạ nhanh chóng.

    Suối Mỡ là tên một con suối chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh – Yên Tử, tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Cảnh đẹp nhất nơi đây là đoạn suối có năm bậc thác mẹ con từ đền Thượng xuống đền Trung. Theo các tài liệu, đền Suối Mỡ là nơi thờ Công chúa Quế Mỵ Nương thời Hùng Vương, người có công mở dòng Suối Mỡ, dạy nhân dân làm ruộng, làm nương.

    Tại khu vực Suối Mỡ, các công trình tạo thành một khu liên hoàn: đền Hạ, đền Trung, đền Thượng (có từ thời nhà Lê, thế kỷ XV – XVI). Với nhiều loại hình du lịch để du khách có thể lựa chọn như: Tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, tắm suối, cắm trại, leo núi, khám phá thiên nhiên hoặc mua sắm, ẩm thực… Du khách có thể lựa chọn điểm du lịch sinh thái tại thác Suối Mỡ; thác Thùm Thùm; vọng Ngắm Trăng; đỉnh Rông Khế; hồ Suối Mỡ hoặc du lịch tâm linh tại đền Suối Mỡ (đền Hạ, đền Trung, đền Thượng); đền Trần; đền Quan; đền Cô Bé Cây Xanh.

    Điểm đầu tiên trong chuỗi thắng cảnh là đền Hạ, ngôi đền nằm kề bên đường tỉnh 293. Đây là một trong 3 ngôi đền có quy mô và diện tích lớn nhất trong hệ thống đền Suối Mỡ. Đền tọa lạc trên thế đất “hoàng long”. Trước cửa đền có núi Tai Voi làm án có tác dụng ngăn không cho tà khí bay vào đền và giữ lại những tài lộc do long mạch bên trong thúc ra.

    Ngày nay, dưới bóng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm, đền Hạ vẫn giữ được nét uy nghi, rêu phong cổ kính. Đền Hạ hiện còn giữ được 3 pho tượng đồng quý hiếm, bên ngoài được phủ một lớp sơn bóng quang điện trông càng rực rỡ uy nghi.

    Nằm tách biệt với khu dân cư, từ xa nhìn lại, đền Trung tọa lạc trên mảnh đất có vị trí như một hòn đảo được bao bọc bởi suối và cây xanh tạo nên vẻ tĩnh mịch, huyền bí và linh thiêng cho ngôi đền. Với điểm tựa gối đầu là núi Bà Bô; án là rừng Thông và sườn Giông Khế, theo thuyết phong thủy đây là mảnh đất tụ linh và ngôi đền nằm trên thế đất “tựa Sơn đạp Thuỷ”. Lối đi duy nhất vào đền là cây cầu bán nguyệt được coi như nối cõi trần với nơi đất thánh. Trong đền thờ công chúa Quế Mỵ Nương – Thượng Ngàn Thánh Mẫu và một số bệ thờ theo tín ngưỡng thờ mẫu.

    Đền Trung có cả thảy 5 thác nước, trong những nét nguyên sơ của đá và nước, cùng cỏ cây xung quanh tạo nên nét kì bí và thú vị cho những du khách đến đây.

    Ngôi đền nằm giữa lưng chừng núi có kiến trúc khá đơn sơ, hầu như giữ nguyên kiểu dáng kiến trúc ban đầu từ thuở mới tạo dựng. Đền chỉ có một gian rộng lấy một tảng đá lớn bên trên làm mái, lấy vách đá xung quanh làm tường, ba bề trên dưới là đá, cả điện thờ cũng nguyên khối đá. Tại đền Thượng, bên dòng Suối Mỡ thơ mộng, còn được thưởng thức những điệu hát chầu văn mượt mà, say đắm lòng người.

    Nằm trong quần thể khu du lịch Suối Mỡ, thác Thùm Thùm, còn gọi là thác Chúa, từ đền Trần đến đây mất khoảng 30 phút. Thác Thùm Thùm mang một vẻ đẹp kì bí, Đây là thác cao nhất trong hệ thống thác Suối Mỡ. Thác được khoác trên mình một tấm áo choàng bằng nước từ trên cao đổ xuống tạo ra những bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Bây giờ, chúng tôi mới hiểu hết ý nghĩa tên thác bởi thác nước đổ xuống tạo nên những âm thanh thùng thình, ùm ùm, nghe như tiếng trống trận của quân sĩ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

    Công trình khởi công xây dựng năm 2009 gồm 4 hạng mục: Đập chính, tràn xả lũ, cống nước, kênh dẫn nước. Với diện tích mặt hồ hơn 30 ha, công trình hồ Suối Mỡ góp phần tạo cảnh quan môi trường sinh thái cho khu vực đồng thời giúp điều hòa khí hậu và thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch như: bơi thuyền, câu cá, nghỉ dưỡng và dịch vụ khách sạn, nhà hàng, công viên thú. Trong tương lai không xa, khi hoàn thiện, nơi đây sẽ tôn thêm vẻ đẹp của Suối Mỡ – miền đất thiêng.

    Khuôn Thần là một hồ nước rộng rộng 240 ha, bao quanh bởi những đồi vải, đồi thông bạt ngàn và xanh mướt. Đây là một khu du lịch còn nhiều tiềm năng của xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

    Từ thành phố Bắc Giang theo quốc lộ 31 đi khoảng 40 km lên đến trung tâm ngã tư Đài Phát thanh -Truyền hình Lục Ngạn, sau đó rẽ trái 9 km, du khách sẽ tới khu du lịch Khuôn Thần. Nơi đây được thiên nhiên ban tặng vẻ đẹp nguyên sơ, thanh bình với hồ nước trong xanh, không khí thoáng đãng, bao quanh là những đồi vải, đồi thông ngút ngàn.

    Cách TP Bắc Giang hơn 15 km, trên núi Dành có nhiều thông, keo vi vu. Đây là địa danh từng được nhắc tới trong sách “Đại Nam nhất thống chí”, trong đó có đoạn: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra sâm Nam và cỏ Thi”. Quần thể khu du lịch này gồm nhiều công trình như: Đền Trình, đền Hạ, đền Thượng, chùa Không Bụt, đình Vường và hơn 30 ha rừng thông, keo, bạch đàn có độ tuổi trên chục năm, tạo thành một không gian văn hóa tâm linh, sinh thái thu hút đông đảo người dân đến hành hương, thưởng ngoạn.

    Bản Đá Húc cách trung tâm xã Bình Sơn, huyện Lục Nam (Bắc Giang) khoảng 8 km. Từ con đường liên xã chạy qua bản nhìn lên là màu xanh thẫm của khu rừng nguyên sinh – rừng lim xanh. Ngay bìa rừng là ngôi đình cổ kính nhìn ra khu định cư của đồng bào Cao Lan.

    Không xa nữa khi tuyến đường tâm linh 293 sườn Tây Yên Tử hoàn thành, đường về bản Đá Húc sẽ rất thuận tiện. Khi đó rừng lim xanh và ngôi đình cổ sẽ là điểm tham quan du lịch sinh thái, tâm linh hấp dẫn du khách gần xa.

    Thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu

    Có một địa chỉ du lịch sinh thái lý thú khá quen thuộc với người dân bản địa nhưng lại mới mẻ và ít người nơi khác biết đến tại xã Tuấn Đạo (Sơn Động), đó là thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu. Những ngày hè dát bỏng, đây thực sự là điểm đến cuốn hút giải nhiệt của người dân.

    Dòng Cấm Sơn xuất phát từ huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, đến Lục Ngạn thì bị chặn lại thành hồ. Hồ Cấm Sơn là nguồn cung cấp nguồn nước tưới chính cho sản xuất nông nghiệp của hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang.

    Bình thường mặt hồ rộng 2.600 ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng đến 3.000 ha. Chiều dài của hồ gần 30 km, bề ngang nơi rộng nhất 7 km, chỗ hẹp nhất 200 m, lòng hồ nơi sâu nhất đến khoảng 47m, hồ có rất nhiều đảo. Điều đặc biệt bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng, bao bọc. Cư dân sống gần hồ là những bản làng người dân tộc Nùng, Tày và Kinh. Nhân dân vùng chung quanh hồ chủ yếu là dân tộc. Người dân ở đây đi lại chủ yếu bằng thuyền, và giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo tạo những cảnh quan sơn thủy hữu tình.

    Để đến được hồ Cấm Sơn du khách có khá nhiều đường khác nhau, song thuận lợi hơn cả là con đường từ thị trấn Chũ, ngược theo đường 297 qua đèo Váng, đến Tân Sơn đi theo con đường đất đỏ với những khúc cua tay áo liên tiếp, men theo những bản làng người Nùng, người Sán Chí, người Dao là đến Cấm Sơn, hoặc từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 1A qua huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn rồi rẽ phải khoảng gần 5km thì đến đập Cấm Sơn.

    Chùa Vĩnh Nghiêm ở làng Đức La xã Trí Yên huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, Việt Nam, còn được gọi là chùa Đức La, là một trung tâm Phật giáo, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước, nơi phát tích Tam Tổ phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam, một viên ngọc sáng trong các chùa cổ Việt Nam.

    Trước kia, chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Lạng Giang, nay là thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nên còn gọi là chùa Đức La và lễ hội ở đây được gọi là lễ hội La. Chùa Vĩnh Nghiêm tọa lạc nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn). Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang – Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là núi non trong đó có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc.

    Văn bia chùa thời Trần viết: “Đức Tổ Điều Ngự Pháp Loa khi mở tùng lâm này, còn mở cái chợ Đức La. Các vị vương thân quốc thích và thập phương đàn Việt, phát tâm tậu ruộng đất ở tại bản xã và các hạt khác các nơi, để cúng hương dâng tam bảo muôn đời. Chùa này và chùa Sùng Nghiêm cả thảy 72 chốn tùng lâm, công đức sáng tạo, hợp khắc vào bia ở chùa Hoa Nghiêm núi Yên tử”. Một tấm bia chùa dựng khác viết: “Ðức tổ Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông) khi mở Tùng lâm này (tức chùa Vĩnh Nghiêm), mở cả chợ chùa. Các vị vương thân quốc thích và khách thập phương đã phát tâm tậu nhiều ruộng cúng cho chùa, gồm cả ruộng trong xã và ruộng ở các hạt khác nữa”.

    Tương truyền chùa Vĩnh Nghiêm có từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028), tên chữ là Vĩnh Nghiêm Tự (永嚴寺). Thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) đều có các vị cao tăng tu hành nên được tu tạo nguy nga, tráng lệ. Khi vua Trần Nhân Tông (陳仁宗; 1258-1308), từ bỏ ngôi vua thành người tu hành đến chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Ngoạ Vân (Yên Tử) thụ giới, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập lên phái Thiền tông của Phật giáo Việt Nam. Hương Vân cùng hai đệ tử Pháp Loa (法螺), Huyền Quang (玄光) sáng lập, hoàn chỉnh phái Thiền tông Việt Nam gọi là Tam tổ.

    Chùa Bổ Đà có tên chính xác là chùa Quán Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự, gọi tắt là chùa Bổ, còn có các tên gọi khác là chùa Quán Âm, Tứ Ân Tự , là một trong những ngôi chùa độc đáo nhất miền đất Kinh Bắc, là Trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.

    Chùa toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ Đà sơn), phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh xưa). Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ.

    Chùa có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam, nhiều cổ vật có giá trị và kho tàng di sản Hán – Nôm phong phú. Đây cũng là nơi sơn thủy giao hòa, nhìn sông tựa núi, cảnh sắc, không gian nhuốm màu huyền thoại, xung quanh là đồi núi xóm làng bao bọc. Chùa thờ Tam giáo, trong đó có Quán Thế Âm Bồ Tát, Trúc Lâm Tam tổ (gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), Khổng Tử… Quần thể chùa Bổ Đà là một tập hợp di tích gồm: chùa cổ có tên là Bổ Đà Sơn (gọi tắt là chùa Bổ Đà, chùa Bổ; còn gọi là chùa Quán Âm), chùa chính Tứ Ân Tự, Am Tam Đức (xây dựng sau, vào thời Hậu Lê). Ngoài ra trên núi Bổ Đà còn có đền thờ Đức Thánh Hóa (tức Thạch Tướng Đại Vương – có công giúp vua Hùng thứ 16 chống giặc ngoại xâm).

    Lăng Dinh Hương thuộc làng Dinh Hương, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là một quần thể kiến trúc điêu khắc đá hoành tráng, độc đáo thời Hậu Lê, được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ 1965. Lăng Dinh Hương xây dựng từ năm 1727 (xuất hiện trước tất cả các lăng mộ vua Nguyễn ở Cố đô Huế). Trong lăng lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, tên húy là La Đoan Trực.

    Lăng nằm trên một quả đồi hình tròn rộng khoảng một ha có tường gạch bao quanh (ngày xưa là tường đá ong bao quanh). Vào cổng là hai tượng quan hầu cầm dùi đồng. Quần thể lăng đá Dinh Hương chia làm ba phần chính: phần mộ táng ở giữa, phần thờ tự ở bên trái, phần bia ở bên phải. Tượng người và vật tại lăng làm bằng đá xanh được chạm khắc rất sống động, tượng có kích thước lớn, hình khối mập, chắc và được tỉa công phu.

    Phần mộ rộng khoảng 100 mét vuông có tường đá ong dày bao quanh là nơi lưu giữ thi hài Quận công La Quý Hầu, có hai võ quan dắt ngựa đứng canh. Cặp tượng quan hầu dắt ngựa được xem là những kiệt tác của nghệ thuật chạm khắc đá, tượng chú trọng vào cách tạo khối trên thân, khiến con vật trở nên đậm chất hiện thực. Một số mảng chạm tỷ mỷ và mang tính cách điệu cao như phần yên cương, bờm con ngựa. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên phải có mặt to, hàm rộng. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên trái có râu dài, mặt nhỏ.

    Khu thờ tự gồm hai voi nằm chầu, bàn thờ có hai con nghê to há mồm ngồi chầu, tiếp theo là ngai thờ làm từ hai khối đá lớn cùng hai quan hầu nữ và hai con nghê nhỏ trạm khắc tinh tế, sinh động. Quan hầu nữ bên trái bưng chiếc tráp khối hộp chữ nhật ngang bụng, bàn tay trái đỡ dưới hộp tráp, tay phải giữ ngang đầu hộp, để hở nửa bàn tay với những ngón thon dài. Quan hầu nữ bên phải ngai thờ tay cầm quạt, đầu đội mũ ni có chóp nhọn như một chiếc nón nhỏ, nửa phía sau mũ có bốn lớp vải trùm kín chân tóc, phủ xuống kín tai và gáy.

    Tìm trên Google

    • các địa điểm du lịch ở bắc giang
    • chơi gì khi đến Bắc Giang
    • phượt Bắc Giang có gì
    • cảnh đẹp Bắc Giang
    • danh lam thắng cảnh Bắc Giang
    • địa điểm du lịch tâm linh Bắc Giang
    • đến Bắc Giang nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Bắc Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Du Lịch Quảng Ninh, Yên Tử Từ A Đến Z
  • Khu Du Lịch Suối Mơ Đà Nẵng
  • Du Lịch Xanh Quảng Bình, Tour Du Lịch Quảng Bình, Du Lịch Hè Quảng Bình
  • An Giang: Phát Triển Tiềm Năng Du Lịch Nông Thôn
  • Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Chùa Hương
  • Các Điểm Du Lịch Tâm Linh Ở Bắc Giang Thu Hút Du Khách

    --- Bài mới hơn ---

  • Tp Bắc Giang Chú Trọng Phát Triển Du Lịch Tâm Linh, Nghỉ Dưỡng
  • Những Điểm Du Lịch Tâm Linh Tại Cần Thơ Lý Tưởng Cho Người Sùng Đạo
  • Tour Du Lịch Tâm Linh Cần Thơ
  • Tour Du Lịch Tâm Linh Côn Đảo 2 Ngày 1 Đêm
  • Tour Du Lịch Tâm Linh Côn Đảo 3 Ngày Từ Hồ Chí Minh
  • Ngay từ sáng sớm các ngày nghỉ Tết Nguyên đán, tại chùa Vĩnh Nghiêm – di tích quốc gia đặc biệt, rất nhiều du khách đến lễ Phật, vãn cảnh chùa. Càng về trưa, lượng du khách càng đông hơn. Tọa lạc tại xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, chùa Vĩnh Nghiêm được coi là chốn tổ của Thiền phái Trúc Lâm. Nơi đây lưu giữ bộ Mộc bản đã được UNESCO vinh danh là di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

    Cùng đoàn du khách từ Hà Nội về lễ Phật, vãn cảnh chùa, chị An Thị Loan (Hà Nội) chia sẻ: “Quê ở Bắc Giang nhưng năm nay tôi cùng gia đình mới có dịp về thăm chùa Vĩnh Nghiêm. Ngôi chùa có cảnh quan rất đẹp. Đầu năm mới đi chùa vừa để cho lòng thanh tịnh và cầu bình an cho cả gia đình”.

    Đại đức Thích Thanh Vịnh, Phó Thường trực trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm cho biết, trong những ngày nghỉ Tết, mỗi ngày chốn tổ Vĩnh Nghiêm đón khoảng 3 nghìn lượt Phật tử, du khách, đông gấp đôi so với dịp Tết Nguyên đán năm trước. Nhà chùa cùng chính quyền địa phương đã bố trí các điểm trông giữ xe, cử người hướng dẫn du khách lễ Phật, vãn cảnh, đảm bảo an ninh trật tự.

    Nằm trên phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, đền Xương Giang – nơi ghi dấu chiến thắng quân Minh cũng là một điểm đến thu hút đông đảo du khách đến tham quan. Nhằm vinh danh những vị hiền thần đã có công trong chiến thắng Chi Lăng- Xương Giang (1427), năm 2022 tỉnh Bắc Giang đã đầu tư xây dựng Khu di tích lịch sử chiến thắng Xương Giang trên tổng diện tích 10 ha, gồm 3 tòa: Tiền bái, Thiêu hương và Chính cung. Đây là công trình kiến trúc đặc sắc, có sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc thời Hậu Lê với những chi tiết độc đáo thời hiện đại.

    Đi một vòng tham quan các công trình, kiến trúc của ngôi đền, ông Đồng Ngọc Dương (đến từ quận Thanh Xuân, Hà Nội) cho biết, ông rất bất ngờ trước sự bề thế, uy nghi và kiến trúc độc đáo của ngôi đền. Quả thật không hổ danh là nơi ghi dấu chiến công oanh liệt của ông cha. Khuôn viên của đền rộng rãi, thoáng đãng với cây xanh rợp bóng mát…

    Theo ông Nguyễn Ngọc Hải, Trưởng Ban Quản lý đền Xương Giang: Từ khi hoàn thành vào năm 2022, đền Xương Giang đã thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Mỗi ngày đền Xương Giang đón hàng chục đoàn du khách trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm bái.

    Tại Bắc Giang, một điểm du lịch tâm linh sinh thái mới được hoàn thành cũng đã thu hút nhiều du khách là Khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử (thôn Đồng Thông, xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động). Cách thành phố Bắc Giang khoảng 100 km, Khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử bao gồm 4 cụm chùa độc lập gồm: Chùa Trình, chùa Hạ (chùa Phật Quang), chùa Trung, chùa Thượng (chùa Kim Quy). Đặc biệt từ Tây Yên Tử, du khách có thể đi cáp treo để lên chùa Đồng, Yên Tử.

    Những ngày đầu xuân năm mới, bãi đỗ xe tại khu du lịch này luôn kín ô tô, xe máy. Trung bình mỗi ngày Khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử đón hàng nghìn lượt du khách. Chị Thu Hoài (đến từ Lạng Giang, Bắc Giang) cho biết: Mọi năm cứ đầu Xuân là gia đình chị lại tổ chức chuyến xe đi lễ Yên Tử từ phía Uông Bí, Quảng Ninh. Năm nay, gia đình chị đi theo đường Tây Yên Tử (Bắc Giang) gần hơn rất nhiều, lại không mất phí.

    Bắc Giang là vùng đất cổ có bề dày lịch sử văn hóa lâu đời với trên 2.200 di tích lịch sử- văn hóa trải khắp trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó 711 di tích được xếp hạng, gồm 3 di tích và cụm di tích quốc gia đặc biệt, 101 di tích cấp quốc gia và 583 di tích cấp tỉnh.

    Những năm gần đây, tỉnh Bắc Giang quan tâm đầu tư, tạo điều kiện cho ngành du lịch nhất là du lịch tâm linh, sinh thái phát triển. Năm 2022, Bắc Giang phấn đấu đón 2 triệu lượt du khách, trong đó khách quốc tế đạt khoảng 20 nghìn lượt.

    Để đạt được mục tiêu này, cùng với việc bảo tồn, tôn tạo các điểm di tích, phát triển hệ thống giao thông, Bắc Giang ưu tiên đầu tư xây dựng các điểm du lịch trọng điểm như Tây Yên Tử, chùa Bổ Đà, chùa Vĩnh Nghiêm, làng cổ Thổ Hà…; đồng thời xây dựng các tour, tuyến du lịch phù hợp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Tam Kỳ Quảng Nam: Những Địa Điểm Du Khách Không Thể Bỏ Qua
  • Khu Du Lịch Tam Hải Quảng Nam
  • Chỉ Với 500K Bạn Có Thể Đi Du Lịch Tam Đảo Trong 2 Ngày
  • Du Lịch Tam Đảo Tự Túc
  • Cho Thuê Xe Đi Tam Đảo Từ Hà Nội Giá Rẻ Có Lái
  • Khám Phá Khu Du Lịch Suối Mỡ Tuyệt Đẹp Ở Bắc Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Ghé Khu Du Lịch Thác Mơ Huế: Con Suối Mát Rượi Tránh Cái Nắng Oi Nồng Xứ Huế
  • Khu Du Lịch Suối Mơ Có Gì Chơi Vui?
  • Đường Đi Suối Mơ Đồng Nai Và Tất Tần Tật Những Liên Quan
  • Tour Du Lịch Suối Mơ 2 Ngày 1 Đêm
  • Du Lịch Suối Mơ Đà Nẵng 2022 Khám Phá Nét Đẹp Của Thiên Nhiên
  • Đến với Suối Mỡ du khách sẽ được nghe những truyền thuyết còn lưu truyền trong nhân dân địa phương. Tương truyền rằng, vua Hùng Định Vương thứ IX có nàng công chúa Quế Mỵ Nương, hiền thục, nết na, nhân hậu. Nàng được nhiều vương tôn, công tử đến cầu hôn nhưng đều từ chối bởi nàng đam mê du ngoạn, đặc biệt là đến thung lũng Huyền Đinh – Yên Tử.

    Vẻ đẹp kỳ vĩ của khu du lịch Suối Mỡ

    Một lần, trong chuyến du ngoạn đến đất Nghĩa Phương, chứng kiến nơi này đất đai khô nẻ, dân tình đói rách công chúa đã rất đau lòng. Vào một ngày đầu xuân, khi đặt chân xuống thung lũng, nàng đã dùng năm đầu ngón tay ấn xuống từng phiến đá và lạ thay, một dòng nước mát ào ạt chảy ra thành suối, đưa nước tưới cho đồng ruộng. Từ đó, đất đai vùng này trở nên màu mỡ, trù phú, đời sống người dân cũng trở nên no đủ hơn xưa. Ghi nhớ công ơn của công chúa Quế Mỵ Nuơng, dân làng đặt tên con suối ấy là Suối Mỡ hay còn gọi là Suối Mẫu, lập ba ngôi đền thờ kế tiếp nhau dọc theo bờ suối là đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và suy tôn nàng là Thánh mẫu thượng ngàn. Cũng chính từ Suối Mỡ, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã cùng các tướng lĩnh thân tín lập đại bản doanh để chặn đứng mũi tiến quân của bọn xâm lược Nguyên Mông từ Ải Chi Lăng, kéo về đánh chiếm Vạn Kiếp nhằm tiến về kinh thành Thăng Long. Để ghi nhớ chiến công hiển hách này, người dân đã lập đền Trần. Tại đây còn khu di tích Ba Dinh Bẩy Nền, Bãi Quần Ngựa, Thao Trường Luyện Kiếm….

    Dòng nước chảy ra thừ một phiến đá lớn mang theo một sự thích thú vị

    Hằng năm vào ngày 30 tháng 3 và mồng 1, mồng 2 tháng 4 Âm lịch nhân dân địa phương lại tổ chức Lễ hội nhằm cầu mong mùa màng được tốt tươi và cũng là dịp để mọi người tỏ lòng biết ơn với công chúa Quế Mỵ Nương.

    Nếu đến với Suối Mỡ vào dịp này du khách sẽ được sống trong không khí lễ hội mang đầy màu sắc truyền thống văn hoá, được tham gia các trò chơi dân gian như bơi thuyền, thi bắn Cung, Vật, Cờ bỏi, Đu, chọi Gà, Võ dân tộc…đồng thời được thưởng thức các món ăn dân dã, các loại hoa quả đặc sản của xứ Lục như mít, vải, dưa hấu… Cùng với những điều lí thú đó, Suối Mỡ còn là một nơi có khung cảnh thiên nhiên kỳ thú, một nơi nghỉ ngơi lý tưởng cho du khách.

    Không khí trong lành, thoáng mát, không gian cảnh sắc thiên nhiên hài hòa

    Suối Mỡ chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh, Yên Tử – nơi có nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên. Suối bắt nguồn từ khu vực Đá Vách và Hố Chuối rồi xuôi dòng. Dòng suối lớn dần, chảy len lỏi theo khe núi. Do sự kiến tạo của địa chất tự nhiên, những phiến đá lớn xếp chồng lên nhau theo nhiều dạng, nhiều cấp độ đã làm cho lòng suối thay đổi độ dốc đột xuất tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ khác nhau.

    Vào mùa lễ hội, khách du lịch từ khắp cả nước về đây thăm qua và dâng lễ

    Đặt chân đến Suối Mỡ, cảnh tượng đầu tiên tràn vào mắt du khách là dòng nước trong trẻo uốn mình như một dải lụa từ trong núi chảy ra. Hai bên bờ suối chảy róc rách là rừng cây bạt ngàn xanh tươi. Trên những dãy núi này, nhiều loại cây như Tùng, Bách, Thông được trồng xen kẽ tạo thành một thảm cỏ xanh. Tất cả như hoà quyện với nhau làm cho không khí ở đây trở nên rất trong lành và thoáng đãng.

    Một khung cảnh non nước hữu tình, say đắm lòng người

    Men theo con đường uốn lượn dẫn lên suối, du khách sẽ bắt gặp những thắng tích như Đấu Đong Quân, chùa Hòn Trứng, chùa Hồ Bấc, đỉnh Tròi Xoan, bãi Quần Ngựa, thác Thùm Thùm…

    Thác Thùm Thùm là con thác cao nhất trong hệ thống suối thác được khoác trên mình một tấm áo choàng bằng nước như từ trên trời đổ xuống. Đứng trên đỉnh thác phóng tầm mắt ra thật xa du khách sẽ bao quát được toàn bộ quần thể thắng cảnh nơi đây. Một không gian vừa hùng vĩ vừa nên thơ sẽ đem đến cho du khách cảm giác dễ chịu, thư thái.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Suối Mơ Park
  • Điểm Danh 5 Suối Nước Nóng Ở Miền Bắc ‘tắm’ Là ‘khỏe’
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Suối Khoáng Nóng Kim Bôi: Giá Vé, Ăn Chơi
  • Du Lịch Suối Khoáng Nóng Kim Bôi, Hòa Bình.
  • Kinh Nghiệm Nghỉ Dưỡng Tại Khu Du Lịch Suối Khoáng Kim Bôi
  • Các Khu, Điểm Du Lịch Ở An Giang Đã Đón Khách Trở Lại

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 5 Resort Ba Vì Từ Đẳng Cấp 5 Sao Châu Âu Đến Giá Bình Dân
  • Hình Ảnh Các Khu Du Lịch Ở Ba Vì
  • Những Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Ở Ba Vì
  • Các Điểm Du Lịch, Khu Vui Chơi Ở Bắc Giang Thu Hút Nhiều Du Khách
  • Tập Đoàn Him Lam Muốn Xây Khu Đô Thị Du Lịch “thiên Đường Mắc Ca” Ở Bảo Lộc
  • Từ ngày 28/4, tất các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh An Giang sẽ chính thức mở cửa đón khách trở lại.

    Theo Sở VHTT&DL tỉnh An Giang, sau thời gian tạm dừng đón khách để phòng, chống dịch Covid-19, bắt đầu từ hôm nay 28/4, tất các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh An Giang sẽ chính thức mở cửa đón khách trở lại. Tuy nhiên, việc mở của trở lại vẫn phải thực theo Chỉ thị 19 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới.

    Để đảm bảo an ninh trật tự và đảm bảo an toàn cho du khách đến An Giang, Sở VHTT&DL đã chỉ đạo Ban quản lý các điểm, khu du lịch, trong quá trình đón khách trở lại, phải đảm bảo các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 theo quy định. Dịch bệnh Covid-19 bùng phát trên toàn thế giới, đã ảnh hưởng rất lớn đến ngành du lịch của tỉnh. Dó đó, ngoài việc tiếp tục thực hiện việc phòng chống dịch, Sở VHTT&DL còn tổ chức các chương trình xúc tiến, quảng bá du lịch, tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ tại các khu, điểm du lịch của tỉnh theo hướng an toàn, thân thiện, hướng đến mục tiêu đón 10 triệu lượt khách vào năm 2025.

    Ông Nguyễn Khánh Hiệp, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang cho biết, mặc dù tình hình dịch COVID-19 đã được khống chế, tuy nhiên không thể chủ quan: “Mặc dù đã mở lại các khu, điểm du lịch, các khu di tích… nhưng mình vẫn phải kiểm soát thật tốt. Tiếp tục tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch như: vệ sinh môi trường, tăng cường khuyến cáo người dân nâng cao ý thức về phòng chống dịch. Các Ban quản lý vẫn phải tổ chức kiểm soát, cụ thể như Miếu Bà Chúa Xứ… khách rất đông, do vậy phải kiểm soát để đưa khách vào Miếu Bà phải theo thứ tự, lần lượt, không quá số lượng quy định, đảm bảo khoảng cách”./.

    Nguồn: https://vov.vn/du-lich/cac-khu-diem-du-lich-o-an-giang-da-don-khach-tro-lai-1042872.vov

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sinh Thái Là Gì? Các Khu Du Lịch Sinh Thái Đẹp Việt Nam
  • Cực Hấp Dẫn Các Hoạt Động Du Lịch Nổi Tiếng Ở Thái Lan
  • 9+ Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Sài Gòn Hot Nhất
  • Top 22 Khu Du Lịch Ở Sài Gòn Được Yêu Thích Nhất
  • Top 10 Khu Du Lịch Ở Sài Gòn Nổi Tiếng Nhất Hiện Nay 2022
  • Teambuilding Khu Du Lịch Khuôn Thần Bắc Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Phan Thiết Khuyến Mãi Giá Rẻ
  • Mua Vali Kéo Du Lịch Khuyến Mãi Giá Rẻ Cực Tốt
  • Vé Máy Bay Giá Rẻ Nhất, Nhiều Khuyến Mãi Hấp Dẫn 2022
  • Bật Mí Cho Bạn Kinh Nghiệm Du Lịch Kiên Giang
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Kiên Giang Khám Phá Những Hòn Đảo Thơ Mộng
  • Teambuilding Khu Du Lịch Khuôn Thần Bắc Giang nằm tại địa phận huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang là một trong những điểm du lịch đẹp của Bắc Giang, hấp dẫn nhiều du khách trong nước và quốc tế.

    Khu du lịch Khuôn thần gồm 2 điểm nhấn là hồ và rừng Khuôn Thần. Nơi đây được nhiều người lựa chọn làm địa điểm cắm trại mỗi dịp cuối tuần, lễ Tết.

    Hồ Khuôn Thần được khởi công xây dựng vào đầu những năm 60 của thế kỷ 20. Hồ có diện tích 140ha, có 5 đảo được trồng thông. Xung quanh hồ là một vùng núi thấp bao bọc, với diện tích 2.283ha, rừng tự nhiên chiếm 300ha.

    Khu du lịch sinh thái hồ Khuôn Thần được biết đến là một khoảng rừng đẹp, là nơi dừng chân nghỉ ngơi, thư giãn và học tập bổ ích cho du khách. Nơi đây, được coi là lá phổi xanh của xã Kiên Lao và của huyện miền núi Lục Ngạn.

    Địa chỉ: hồ Khuôn Thần xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

    Khuôn Thần là một hồ nước rộng rộng 240 ha ở Bắc Giang. Hồ được bao quanh bởi những đồi vải, đồi thông bạt ngàn và xanh mướt. Cảnh sắc bên bờ hồ rất yên bình và hoàn toàn hoang sơ.

    Đây là một khu du lịch còn nhiều tiềm năng của xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xung quanh khu du lịch Khuôn Thần là các vườn cây đặc sản như vải Thái Lan, vải thiều, hồng, na…

    Rời xa những ồn ào, náo nhiệt của thị thành, ta lui về một nơi trong xanh. Nơi mà ta có thể hòa mình với thiên nhiên để lắng nghe tiếng lòng mình.

    Giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng nói “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ người khôn người đến chốn lao xao”. Dại mà khôn, khôn mà dại.

    Hồ Khuôn Thần hiện có 5 hòn đảo thông xanh tốt được ví như những lá phổi của mảnh đất vải thiều Lục Ngạn.

    Lên thuyền ngắm khung cảnh lòng hồ, ngắm những hàng thông trên bờ sẽ làm con người ta có cảm giác hoài niệm, tĩnh tâm.

    Ngắm nhìn những dòng nước trắng xóa từ đỉnh đập Khuôn Thần đổ xuống hồ.

    Hồ tọa trên lưng chừng các dãy núi xen lẫn những đồi vải, đồi thông bạt ngàn. Không gian như một bức tranh muôn màu muôn sắc. Một bức tranh được thêu dệt bởi màu xanh của những cánh rừng thông vi vu, pha lẫn mầu đỏ rực rỡ của những đồi vải đang vào mùa thu hoạch.

    Đến với hồ Khuôn Thần, bạn sẽ được trải lòng mình ngắm nhìn những rặng liễu nghiêng mình tỏa bóng xuống mặt hồ xanh biếc.

    Một ưu điểm mà nhiều người rất thích khi đến hồ Khuôn Thần đó là không gian yên tĩnh nơi đây. Với ưu điểm cách xa khu dân cư nên không gian ở hồ phẳng lặng, bình yên.

    Để rồi khi chiều buông, ngồi trên những con thuyền độc mộc ấy ngắm nhìn làn khói lam chiều xa xa bên kia sông. Nhịp sống ở đây chẳng hề vội vã, ồn ào, tấp nập. Mà ngược lại, đó là một nhịp sống chậm rãi, từ tốn.

    Đâu phải chỉ đến đây du lịch mà đến đây còn là để trải lòng mình với núi rừng thiên nhiên. Trải lòng mình để lắng nghe tiếng nói từ đáy lòng của mình. Để thêm yêu thiên nhiên và cuộc sống con người nơi đây.

    Ngoài ra, với không gian tĩnh lặng, bình yên, trữ tình ở trên đảo này rất thích hợp cho những câu chuyện tâm tình, dưới những hàng thông vi vu trong gió mát.

    Những khi mệt mỏi, chúng ta có thể du võng đung đưa dưới những hàng cây mát rượi.

    Thưởng thức hương vị ngọt đậm đà của những trái vải thiều chín mọng. Và có lẽ, vui nhất ở hồ Khuôn Thần đó là vào đêm.

    Đêm đến dưới ảnh lửa bập bùng, bạn sẽ có cơ hội tham gia giao lưu với người dân bản địa.

    Bạn sẽ trực tiếp tiếp xúc với nền văn hóa truyền thống của người dân, được đắm mình trải nghiệm không gian văn hóa truyền thống hết sức độc đáo. Đó là những điệu hát sloong hao, si, lượn, then… của người dân Sán Chí, Cao Lan, Tày, Nùng…

    Ngoài ra, đến với hồ Khuôn Thần bạn còn có cơ hội tham quan đền Từ Mã. Đây là ngôi đền cổ thờ danh tướng đời Trần đã được nhà nước xếp hạng di tích văn hóa lịch sử.

    Kinh nghiệm ăn uống các món ngon đặc sản ở hồ Khuôn Thần

    Thêm một gợi ý cho những bạn muốn khám phá sâu khu vực xung quanh hồ Khuôn Thần.

    Đó là xung quanh khu vực hồ có những vườn trái cây ăn quả xanh mướt rất rộng.Khuôn Thần không chỉ có ngắm cảnh mà đây còn có một vườn trái cây ăn trái xanh tươi rộng ngút tầm mắt.

    Đến với những khu vườn trái cây này, bạn sẽ có cơ hội thưởng thức hương vị ngọt ngào của những đặc sản Bắc Giang như: mật ong, rượu tắc kè, hạt dẻ, vải thiều, hồng, na, chuối bưởi, nhãn…( đa số các vườn trái cây này đều có vé vào cổng).

    Nhưng sẽ thật thiếu xót nếu như đã đến Bắc Giang mà bạn chưa từng thử qua vải thiều Lục Ngạn. Đây là món ăn nổi tiếng trứ danh ở Lục Ngạn nói riêng và Bắc Giang nói chung.

    Không chỉ vải, đến với hồ Khuôn Thần bạn còn được trải nghiệm và thưởng thức Đến với Khuôn Thần du khách sẽ được thưởng thức những món ăn đã trở thành thương hiệu như cá nướng, gà đồi leo cây, gà chạy bộ nướng, cá bống nấu măng chua, xôi trứng kiến…

    Bên cạnh đó, bạn cũng có thể đi thuyền và thưởng thức những món cá sông nướng, hấp… Nhâm nhi chén rượu đậm tình quê hướng cùng người dân bản xứ.

    Đa phần người dân bản địa ở đây đều là dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chí… Nhưng họ rất mến khách và nhiệt tình.

    Nên đến hồ Khuôn Thần vào mùa nào?

    Kinh nghiệm cho những bạn lần đầu tiên đến với hồ Khuôn Thần đó là nên đi vào tháng 8 trở đi.

    Vì vào những dịp thu, đông, tiết trời của Bắc Giang bắc đầu se lạnh, không khí mát mẻ, trong lành. Và là dịp giao mùa nên khung cảnh rất nên thơ, hữu tình.

    Vào những ngày Thu, Đông, du khách có thể thả mình trên chiếc thuyền nhỏ.

    Thẩn thơ thả hồn ngắm nhìn từng làn nước, thư giãn bồng bềnh trên lòng hồ, hoà mình cùng thiên nhiên, lắng nghe chim hót, ngắm những khóm hoa rừng khoe sắc, được nghe những làn điệu dân ca mượt mà, đằm thắm,cùng thưởng thức những vật phẩm mà mình thu hoạch được từ tự nhiên và ngắm mặt nước tĩnh lặng.

    Du khách sẽ cảm thấy thú vị, lâng lâng như lạc vào cõi hư vô, huyền ảo. Để rồi từng đợt gió heo may phảng phất, len lỏi vào từng tế bào cơ thể. Cảm nhận sự khoan khoái những đợt gió heo may…

    Hồ Khuôn Thần- nơi lý tưởng cho những chuyến đi Teambuilding.

    Lịch trình đặc sắc Teambuilding Khu Du Lịch Khuôn Thần Bắc Giang tại Travel SGCC:

    Buổi sáng:

    ✔️ Xe khởi hành và đón quý khách tại điểm hẹn. Quý khách sẽ có mặt tại Teambuilding Khu Du Lịch Khuôn Thần Bắc Giang

    ✔️ Tới điểm tham quan, quý khách sẽ tập trung lại và lập thành đội để tham gia buổi Teambuilding thi đấu cùng nhau ở Hồ Khuôn thoáng mát mà Travel SGCC chúng tôi đã lên kế hoạch.

    ✔️ Sau khi lập đồng đội, chúng ta sẽ tiến ra khu vực sông nước đầy cam go để cùng nhau tham gia các trò chơi thú vị, hấp dẫn mang đậm chất dân dã, cùng nhau thể hiện tinh thần đồng đội và sự khéo léo để gắn kết mọi người.

    Buổi trưa:

    ✔️ Sau khi kết thúc chương trình Teambuilding chúng ta sẽ đi thay đồ.

    ✔️ Sau đó chúng ta sẽ cùng nhau làm nên những món ăn đậm đà tinh thân đoàn kết giữa các thành viên với nhau và cũng kêu đồng thời những món đặc sản nơi đây để thưởng thức.

    ✔️Sau bữa trưa quý khách tham gia chương trình Gala liên hoan đầy hấp dẫn, chọn ra team xuất sắc nhất để nhận giải được tổ chức riêng cho quý công ty.

    ✔️ Sau khi kết thúc chương trình gala quý khách tự do nghỉ ngơi và khám phá trong Teambuilding Khu Du Lịch Khuôn Thần Bắc Giang

    Buổi chiều:

    ✔️ Sau khi dẫn quý khách đi mua quà lưu niệm và chụp ảnh kỉ niệm thì xe sẽ khởi hành về lại điểm hẹn ban đầu.

    ✔️ Kết thúc chương trình Teambuilding kết hợp du lịch Teambuilding Khu Du Lịch Khuôn Thần Bắc Giang tại Travel SGCC!

    Ngoài ra, chúng tôi còn cung cấp các tour du lịch khác:

    Teambuilding Khu Du Lịch Trăm Trứng Nha Trang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Không Thể Thiếu Khi Đi Du Lịch Hồ Khuôn Thần
  • Khu Du Lịch Khuôn Thần
  • Tổng Kết Chương Trình Hợp Tác Du Lịch 8 Tỉnh Tây Bắc
  • Phố Cổ Hà Nội Nằm Ở Đường Nào
  • Hệ Thống Chỉ Dẫn Du Lịch Tại Khu Phố Cổ Hà Nội
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×