Các Địa Điểm Du Lịch Ở Yên Bái (Cập Nhật 11/2020)

--- Bài mới hơn ---

  • Cổng Điện Tử Tỉnh Yên Bái
  • Du Lịch Thành Phố Biển Tìm Đến Bãi Tắm Paradise Vũng Tàu
  • Khu Du Lịch Phố Cổ Hội An
  • Trải Nghiệm Không Gian Miệt Vườn Tại Khu Du Lịch Phong Điền, Cần Thơ
  • “vui Chơi Hết Mình” Tại Khu Du Lịch Phú An Khang
  • Các địa điểm du lịch ở Yên Bái

    Cùng Phượt – Với nhiều người dường như du lịch Yên Bái chỉ có Mù Cang Chải, tuy nhiên các bạn có biết Yên Bái nơi cửa ngõ miền Tây Bắc là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ với trên 30 dân tộc anh em cùng chung sống, nơi đây có nền văn minh sông Hồng, sông Chảy, là trung điểm giao lưu giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc của tổ quốc. Nơi đây, với nhiều tiềm năng du lịch hấp dẫn, các địa điểm du lịch ở Yên Bái đa dạng với các di tích lịch sử cách mạng, hệ thống các đình, đền, chùa gắn liền với lịch sử dựng nước. Yên Bái cũng là địa điểm mà du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái phát triển khá mạnh ở khu vực Nghĩa Lộ và Hồ Thác Bà.

    Mù Cang Chải là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây của tỉnh Yên Bái, giáp với Thị xã Nghĩa Lộ, Mường La và Than Uyên của Lai Châu. Từ Hà Nội để đến với Mù Cang Chải bạn có thể lựa chọn đi theo hướng Quốc lộ 32 để cùng với đó khám phá đèo Khau Phạ, một trong tứ đại đỉnh đèo của Tây Bắc. Mù Cang Chải nổi tiếng nhất với khách du lịch bởi “đặc sản” ruộng bậc thang. Với hơn 700ha ruộng trong đó 50% tập trung ở 3 xã là La Pán Tẩn, Chế Cu Nha và Dế Xu Phình trải dài suốt đoạn đường từ đèo Khau Phạ về đến trung tâm thị trấn bạn sẽ không thể cưỡng lại được sự quyến rũ mê người từ màu vàng óng của những dãy núi trồng toàn lúa. Năm 2007 ruộng bậc thang Mù Cang Chải đã được xếp hạng là di tích danh thắng cấp quốc gia.

    Du lịch Nghĩa Lộ từ đã được nhiều người biết đến với những điểm du lịch hấp dẫn bởi nét đặc sắc trong văn hóa cũng như truyền thống cách mạng của các dân tộc sinh sống trên địa bàn như: Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu di tích lịch sử cách mạng Căng và Đồn Nghĩa Lộ, chợ Mường Lò, du lịch sinh thái ở xã Nghĩa Lợi, Nghĩa An…

    Nằm tại Thị xã Nghĩa Lộ, Sà Rèn là một bản làng nằm dọc ven bờ suối Thia, quanh năm róc rách bởi dòng Nậm Thia xanh mát, các bạn chỉ mất khoảng 2 tiếng đi xe ô tô là có thể đến tham quan, trải nghiệm điểm du lịch cộng đồng bản Sà Rèn, một nơi hoàn toàn chỉ có người Thái đen sinh sống và vẫn còn giữ được những nét văn hóa truyền thống vô cùng độc đáo.

    Bản Sà Rèn được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến bởi nơi đây vẫn nguyên vẹn vẻ đẹp thiên nhiên nguyên sơ, những khóm tre gắn bó sâu sắc với cuộc sống của người Thái đen được giữ gìn dọc ven bờ suối, những nếp nhà sàn cổ bên trong vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của người Thái, những con người miền sơn cước đôn hậu, thân thiện, mến khách.

    Chao Hạ là một bản người Thái của xã Nghĩa Lợi, Thị xã Nghĩa Lộ. Từ năm 2012, dưới sự đi đầu tiên phong của một vài người dân, Chao Hạ đã chuyển mình nghiêng theo hướng làm du lịch cộng đồng. Đến nay, bản đã là một trong những địa điểm đặc biệt yêu thích của khách du lịch nước ngoài. Đến bản Chao Hạ để du xuân ngắm cảnh núi rừng, trải nghiệm cuộc sống kiểu mới, thấy được hòa mình với thiên nhiên, với cộng đồng dân cư và thưởng thức những “món lạ” nơi đây

    Bản Đêu, xã Nghĩa An hiện đang lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống giàu bản sắc. Khách du lịch đến đây có thể hòa mình vào với đời sống của người địa phương. Khách ở dài ngày thì có thể đạp xe lên suối Nậm Đông để tắm hay đạp xe 30km lên Trạm Tấu để tìm hiểu đời sống sinh hoạt của người Mông hoặc có thể tham gia lao động cùng với gia đình. Mọi hoạt động đó đều được chính chủ nhà làm hướng dẫn viên.

    Quốc lộ 32 uốn lượn giữa miền núi non Tây Bắc “thanh sơn, bích thủy”. Núi cao, vực sâu, bạt ngàn cây rừng, lau lách. Rồi như một phép màu, con đường quốc lộ bỗng lọt vào một cánh đồng bằng phẳng biêng biếc sóng lúa Mường Lò. Ngỡ ngàng trước những mượt mà óng ả trong nắng trải tới chân núi xa, quả đúng như câu ca “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” nổi tiếng từ lâu.

    Cách thành phố Yên Bái 80 km về phía tây, Mường Lò nằm gọn trong lòng thị xã nghĩa Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn. Mường Lò là cánh đồng lớn thứ hai ở miền núi phía Bắc, chỉ sau Mường Thanh – Điện Biên (còn hai cánh đồng nhỏ hơn là Mường Than – Than Uyên và Mường Tấc – Phù Yên). Người Thái đen đã định cư lâu đời ở nơi đây. Theo câu chuyện sử thi của người Thái kể rằng: Hai anh em Tạo Xuông và Tạo Ngần tìm nơi lập nghiệp. Tạo Xuông đã dừng chân dựng bản làng ở Mường Lò, xây dựng nên vùng đất tổ tiên của người Thái đen ở khắp vùng Tây Bắc vì thấy ở đây đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào.

    Câu tục ngữ: “Thái theo nước, Xá theo lửa” nói về tập quán canh tác của người Thái trồng lúa nước, người Xá (Khơ Mú) đốt nương làm rẫy. Còn ông Tạo Ngần lên Mường Then (Mường Thanh ngày nay) xây dựng bản làng người Thái trắng cũng trồng lúa nước là chủ yếu. Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò đã thành danh từ lâu. Hương thơm của hạt gạo nơi này đã bay xa, vượt núi non đến nhiều nơi được rất đông người biết đến.

    Xuôi theo quốc lộ 32 với những miên man suy nghĩ về Mường Lò, Yên Bái. Để rồi ngỡ ngàng khi chứng kiến vẻ đẹp của những cánh đồng lúa chín vàng, thoai thoải bậc thang tiến về phía núi. Con suối Nậm Thia vắt ngang qua thung lũng như vẽ một dải lụa mềm uốn lượn giữa sóng lúa vàng. Tôi giật mình trước vẻ đẹp Mường Lò với một bóng người con gái Thái gánh lúa trên vai đang rẽ ngang con suối để rồi sẽ chẳng bao giờ lòng có thể quên.

    “Ngày xưa, nơi ấy có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng. Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối Nậm Thia, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát. Những sóng vàng của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi.

    Chỉ có người Thái đen ở Mường Lò mới có tục hát mời rượu và cũng chỉ có ở đây thì du khách mới có thể được nâng chén cùng lời ca mời rượu, cùng điệu Xòe Thái dập dìu bên bếp lửa nhà sàn. Tiếng hát người con gái Thái bên mâm rượu đã từng làm say bao du khách khi đến bản Mường. Tiếng hát như hơi rượu ngấm vào lòng người không thể nào quên.

    Di tích Căng Đồn Nghĩa Lộ

    Khi nhắc tới lịch sử của Căng và Đồn Nghĩa Lộ là nhắc tới địa danh Văn Chấn (nay thuộc Thị xã Nghĩa Lộ) và nhắc tới lịch sử nơi này thời kỳ kháng chiến chống Pháp những năm 40 của thế kỷ XX. Với ý đồ dập tắt phong trào cách mạng, Thực dân Pháp lập các trại “lao động đặc biệt” tập trung những người yêu nước. Sau khi Căng Bá Vân (Thái Nguyên) bị giải thể, Thực dân Pháp đã đưa những người yêu nước bị giam về Nghĩa Lộ. Mùa hè năm 1944 chi phủ Văn Chấn đã huy động các tổng, xã bắt phu nộp vật liệu để xây dựng Căng. Thực dân Pháp còn cử tên Đinh Văn Dung và tên Lăm – Be sở mật thám huyện đến kiểm tra đôn đốc khẩn trương ngày đêm. Tháng 1/1945 thì việc xây dựng hoàn thành. Nhìn toàn cảnh lúc này Căng Nghĩa Lộ như một cái tủ dựng đứng có 3 dãy nhà dài “hai dãy là nơi giam giữ chính phạm nam giới, phía trong giam chính trị phạm nữ giới, phía ngoài là nơi thường trực và bên cạnh là trạm gác của lính khố xanh”. Bao bọc toàn bộ khu Căng Đồn là hàng rào dây thép gai, phía ngoài hàng rào là hầm sâu có cắm chông, bồn góc Căng có chòi cao sừng sững ngày đêm canh giữ cẩn mật…

    Xã Suối Giàng nằm ở Văn Chấn trên độ cao 1.371m so với mực nước biển, nằm sâu trên dãy núi Fansipang hùng vĩ. Đây là quê hương của loại chè Shan Tuyết cổ thụ với hơn 300 hộ đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Khí hậu ở Suối Giàng bốn mùa se lạnh, tựa như Sapa, Đà Lạt. Chỉ mất chút ít thời gian thả hồn cùng những dải lúa cong cong theo vạt núi, từng nương ngô, nương cải xanh non trong sương bay bảng lảng là thấy mình như đứng trên mây.

    Từ trên cao nhìn xuống là biển lúa rộng mênh mông vàng óng Mường Lò, vựa lúa lớn thứ hai của khu vực Tây Bắc và thị xã Nghĩa Lộ thanh bình cùng nhịp sống của 13 dân tộc anh em. Tại đây, du khách có thể lên những cây chè cổ thụ trên trăm tuổi, hái những búp chè xanh non cùng thiếu nữ Hmông mến khách, hay đi dạo dưới rừng Pơ mu hoặc phiêu du cùng thác Tập Lang rì rầm nước chảy

    Suối Giàng nổi tiếng với những cây chè tuyết Shan cổ thụ hàng trăm năm tuổi, đường kính lên tới 100cm. Chè tuyết nơi đây phát triển tự nhiên trong tiểu vùng khí hậu quanh năm mát mẻ, chẳng cần phân bón mà vẫn đâm chồi nảy lộc xanh biếc. Lộc non sao lên, pha nước sôi, hương vị bốc lên thơm ngây ngất, uống vào thấy đượm vị ngọt lâu trên đầu lưỡi. Nhiều gia đình dân tộc Mông ở đây cũng nhờ những gốc chè này mà làm nên cơ nghiệp, cải thiện sinh hoạt trong cuộc sống. Họ coi đó là cây chè của đất trời ban tặng cho người Mông của xứ sở này.

    Đèo Lũng Lô nằm trên quốc lộ 37 (đường 379 cũ, nối quốc lộ 32 với quốc lộ 32B)) tại ranh giới hai huyện Văn Chấn (Yên Bái) và Phù Yên (Sơn La), đông bắc thị trấn Phù Yên 33 km. Đèo dài 15 km từ km349 đến km364, độ dốc 10%. Trong kháng chiến chống Pháp, một trong những con đường tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3-7/5/1954) qua đèo này. Trong bài thơ “Hoan Hô Chiến Sỹ Điện Biên” ra đời sau khi miền Bắc được giải phóng, Tố Hữu đã viết: Dốc Pha đin, chị gánh, anh thồ, Đèo Lũng lô, anh hò, chị hát. Gần đỉnh con đèo là điểm giáp ranh của cả 3 tính Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La.

    Cách Hà Nội gần 200km, Bản Hốc nằm ngay trung tâm của huyện Văn Chấn. Với gần 80% là dân tộc Thái, sống chủ yếu bằng làm nông nghiệp. Nơi đây còn lưu giữ khá nguyên vẹn những nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Thái.

    Nhà máy thủy điện Thác Bà

    Nhà máy thủy điện Thác Bà do Liên Xô giúp đỡ xây dựng là đứa con đầu lòng của nghành thủy điện Việt Nam, là nhà máy thủy điện được xây dựng đầu tiên ở miền Bắc nước ta. Nhà máy đã được xây dựng và lớn trong chiến tranh ác liệt khi nền kinh tế Miền Bắc còn non trẻ. Công tác khảo sát, thiết kế xây dựng được tiến hành từ năm 1959 đến năm 1961. Công trình được khởi công xây dựng ngày 19/8/1964. Sau hơn 10 năm xây dựng, ngày 5 tháng 10 năm 1971, nhà máy đã khởi động tổ máy số 1 và hòa vào lưới điện quốc gia, đây cũng là ngày được chọn là ngày thành lập Nhà máy thủy điện Thác Bà.

    Là một trong số ít những ngôi đền dọc bờ Sông Chảy còn giữ lại được cho đến tận ngày nay. Đền Thác Bà( hay Đền Mẫu Thác Bà) tọa lạc trên núi Hoàng Thi, từ lâu đã nổi tiếng là chốn linh thiêng với đông đảo du khách thập phương. Vượt qua 365 bậc đá, đến trước cửa sân đền, làn gió mát lành từ biển hồ đưa lên mang cảm giác nhẹ nhàng , thanh tịnh trốn cửa đền. Phóng tầm mắt ra xa, có thể bao quát toàn cảnh công trình thủy điện đầu tiên của cả nước và ngắm nhìn một vùng trời nước mênh mông, hữu tình. Hàng năm, Lễ hội Đền Thác Bà được tổ chức vào ngày 8 và 9 tháng Giêng âm lịch, hay còn gọi là lễ hội mùa xuân, lễ hội lớn nhất trong năm, với những nghi thức truyền thống trang trọng.

    – Ngoài đường thủy, du khách có thể đến Đền Thác Bà bằng đường bộ, theo tuyến đường: Trung tâm TPYên Bái – TT Yên Bình(9km) – Ngã ba Cát Lem (Đoan Hùng, Phú Thọ, 27km) – Đền Thác Bà( thị trấn Thác Bà 7km)

    Nằm ở phía Tây Bắc tổ quốc, hồ Thác Bà của tỉnh Yên Bái, nơi được ví như “Hạ Long trên núi” là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam hình thành khi xây dựng Nhà máy thuỷ điện Thác Bà.

    Nằm trong địa phận hai huyện Yên Bình và Lục Yên, Hồ Thác Bà rộng gần 23.500 ha với hơn 1.300 đảo xanh lớn nhỏ soi bóng dưới mặt nước cùng hệ thống hang động đẹp ẩn sâu trong lòng những dãy núi đá vôi. Chính sự kỳ bí ấy tạo cho Thác Bà một vẻ đẹp lung linh huyền hoặc nhưng lại rất thân thiện, hữu tình. Đi thuyền trên hồ Thác Bà, bạn không chỉ cảm nhận được bầu không khí mát lành từ nước, từ gió hồ Thác mà còn được hoà mình cùng thiên nhiên hào phóng, thả hồn mình vào mênh mông trời nước, điệp trùng núi đảo tưởng chừng như vô tận. Thắp một nén nhang tại đền Mẫu, trút bỏ những tính toan bộn bề cuộc sống, cầu cho cõi lòng thanh thản nơi cửa Phật từ bi để tiếp tục cuộc hành trình đưa bạn khám phá vẻ đẹp kỳ ảo của nhũ đá, của những tượng đá tự nhiên kỳ lạ ẩn chứa bao khát khao hoài bão của con người tại quần thể hang động đá vôi trên hồ như: Động Thuỷ Tiên, động Xuân Long, hang Bạch Xà, Thác Bà, Thác Ông …

    Núi Cao Biền là dãy núi lớn và dài nhất của thắng cảnh hồ Thác Bà. Đứng trên đỉnh Cao Biền mà đón ánh ban mai hay đợi hoàng hôn buông trên hồ Thác thì không có gì thú hơn. bạn được thoả sức phóng tầm mắt mà nhìn ngắm, mà cảm nhận vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, nét lung linh huyền ảo sắc nước gương trời của một vùng đất là nơi giao thoa giữa miền Tây Bắc và Trung du Bắc bộ, cửa ngõ của vùng Tây Bắc. Để tìm lại dấu ấn xưa của chợ Ngọc, chợ Ngà nổi tiếng Thác Bà một thời bán, buôn sầm uất… Ngồi ca nô ngược dòng sông Chảy không bao xa bạn sẽ được thăm thú vùng đất Ngọc Lục Yên với những danh thắng nổi tiếng như động Chùa São, đền Đại Cại… và chiêm ngưỡng sự kỳ ảo của những tác phẩm tranh đá quý tự nhiên dưới bàn tay tài hoa của người thợ.

    Được công nhận là Di sản thắng cảnh văn hoá từ tháng 9/1996, thắng cảnh hồ Thác Bà bên cạnh những lợi thế về vị trí địa lý như nằm trên trung lộ Hà Nội- Lào Cai, những làng, bản ven hồ Thác hiện nay vẫn còn giữ được nét hoang sơ, nguyên thuỷ cùng bản sắc văn hoá đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Phù Lá, Cao Lan… Các lễ hội truyền thống, tập quán sinh hoạt văn hoá riêng có của từng tộc người vẫn đang là sự lôi cuốn bạn thăm thú, tìm kiếm và khám phá Thác Bà.

    Bản Ngòi Tu thuộc xã Vũ Linh, Yên Bình. Là một bản với nhiều dân tộc anh em sinh sống, nhưng phần lớn vẫn là dân tộc Dao (Dao Quần Trắng), bản cách Hà Nội 165km nằm ở khu vực phía Tây-Bắc Việt Nam, theo đường QL2, QL70.

    Với những đặc trưng riêng, Ngòi Tu hấp dẫn du khách không những bởi có một vị trí đẹp, 1 phần đất liền và một nửa còn lại tiếp giáp mặt hồ nước mênh mông mà còn bởi nơi đây là sự hội tụ các giá trị truyền thống văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc Dao, Cao Lan, Nùng, trong đó chủ yếu là đồng bào Dao quần trắng.

    Đến với Ngòi Tu ngoài việc được thưởng thức những món ăn dân dẫ bạn sẽ còn được hòa mình vào phong cảnh hữu tình, say lòng cùng những làn điệu dân ca, những điệu múa : làm chay, xúc tép, rước dâu truyền thống … Với những bạn thích lang thang khám phát còn có thể tham gia trekking núi Yến, núi Cao Biền hoặc đạp xe khắp bản để khám phá văn hóa của người Dao.

    Tà Chì Nhù là tên gọi của một đỉnh núi thuộc khối núi Pú Luông của dãy núi Hoàng Liên Sơn, đỉnh Tà Chì Nhù có độ cao 2.979m thuộc địa phận huyện Trạm Tấu, Yên Bái. Tà Chì Nhù còn gọi là Phu Song Sung theo cách gọi của dân tộc Thái hay Chung Chua Nhà theo cách gọi của người Mông Địa hình của ngọn núi khá phức tạp với nhiều dốc cao, một số đoạn gần như dựng đứng. Khí hậu trên núi vô cùng khắc nghiệt, gió mạnh khiến cho quãng đường chinh phục đỉnh núi tương đối vất vả và nhiêu hiểm nguy rình rập.

    Tuy nguy hiểm và vất vả là thề, Tà Chì Nhù lại là một trong những địa điểm được các bạn ưa leo núi rất thích để “cưỡi gió – săn mây” và săn những bức ảnh tuyệt đẹp.

    Tà Sì Láng là một xã thuộc huyện Trạm Tấu, Yên Bái. Phía bắc giáp Bản Mù, phía Tây giáp Phù Yên (Sơn La), phía Đông và Nam giáp huyện Văn Chấn. Dân cư ở đây 100% là người H’Mong, sinh sống chủ yếu bằng nghề làm nương. Với đặc điểm địa hình hiểm trở trên độ cao gần 2000m, đường vào Tà Sì Láng cực kỳ khó khăn. Trước đây chỉ có đường dân sinh nhưng nay cũng đã mở rộng khoảng 4-5m, thường xuyên sạt lở và ách tắc vào mùa mưa bão. Độ dốc của con đường cũng thuộc dạng khủng, từ 15-20%. (So với 6-8% độ dốc trung bình của các con đường khác ở Tây Bắc)

    Háng Tề Chơ (Háng Đề Chơ) là bản xa nhất của xã Làng Nhì, Trạm Tấu, Yên Bái. Đây là một bản tập trung khoảng vài chục hộ dân người Mông Đen, bản cũng sở hữu ngọn thác cùng tên Háng Tề Chơ, được coi là một ngọn thác đẹp trong danh sách các điểm đến của Tây Bắc.

    Là một xã vùng cao của huyện Trạm Tấu, cách trung tâm huyện khoảng 12km. Nằm trên độ cao khoảng hơn 1000m so với mặt nước biển, Bản Mù quanh năm sương giăng kín lối với những ngôi nhà của đồng bào nằm lạc lõng trên những sườn núi.

    Nằm trên một đỉnh núi cao, bản Cu Vai thuộc xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, với hơn 80% người dân là đồng bào dân tộc H’Mông, cách trung tâm xã gần 20km đường đồi núi, trên bản có 46 hộ dân sinh sống.

    Suối khoáng nóng Trạm Tấu

    Cách trung tâm Trạm Tấu chưa đầy 2km về phía Tây Bắc là một khu suối khoáng nóng nằm ngay sát dưới chân những thửa ruộng bậc thang tuyệt đẹp, tọa lạc tại khu 5, thị trấn Trạm Tấu, Trạm Tấu.

    Để đặt ăn ngủ nghỉ tại khu suối khoáng Trạm Tấu, các bạn có thể liên hệ Anh Cường 0943 208 704 là chủ nhân của khu suối khoáng này.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu

    Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa bàn 4 xã: Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thượng của huyện Văn Yên có tọa độ địa lý từ 21051’35” đến 21057’00” vĩ độ Bắc và từ 104030’50” đến 104036’55” kinh độ Đông với tổng diện tích quy hoạch 16.950 ha, trong đó, khu bảo vệ nghiêm ngặt 7.250 ha, phân khu phục hồi sinh thái: 9.700 ha.

    Khu vực Nà Hẩu như một lòng chảo được tạo nên từ thung lũng hẹp, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi cao. Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều khe suối và các hợp thủy. Độ cao trung bình từ 600 – 700m so với mặt biển. Nơi cao nhất 1.788m, nơi thấp nhất 200m. Nhiệt độ bình quân 23,20C, lượng mưa bình quân 1.458,0 mm/năm, độ ẩm 85%. Hàng năm thường xuất hiện gió mùa Đông – Bắc vào tháng 11 và 12 kèm theo sương muối. Những ngày ít nắng, trời âm u, ở những nơi núi cao sương mù bao phủ cả ngày, độ ẩm không khí trong rừng rất lớn. Với điều kiện khí hậu như vậy rất phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển và khả năng tái sinh tự nhiên của cây rừng, thuận lợi cho các loài thực, động vật ở đây phát triển đa dạng và phong phú, tạo nên cấu trúc rừng rậm, nhiều tầng tán phù hợp với tính năng phòng hộ đầu nguồn.

    Trong khu bảo tồn thiên nhiên này, hệ rừng lá rộng thường xanh còn tương đối nguyên vẹn, nhiều khe, suối, thác nước chảy quanh năm. Cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, tầng tán được phân chia rõ rệt: tầng cao nhất là cây gỗ lớn nhô lên không liên tục chủ yếu là các loài như Chò nâu, Giổi, Trám…; tầng giữa là tầng ưu thế sinh thái, tán cây rừng liên tục cao gần ngang nhau, thuộc các loài cây thường xanh như Gội, De, Giẻ…; tầng dưới phân thành nhiều lớp cao thấp khác nhau, chủ yếu là các cây gỗ nhỏ ưa bóng; tầng thảm tươi chủ yếu là cây bụi, Dương sỉ, Cau rừng…; Hiện rừng tự nhiên vẫn còn trên 30 loài thực vật khác nhau, trong đó có những loài cây gỗ quý hiếm như Lát Hoa, Pơ mu… phát triển chủ yếu ở độ cao 700m trở lên. Hệ động vật trong khu bảo tồn khá phong phú và nhiều loài quý hiếm vẫn được gìn giữ và bảo tồn. Chủ yếu còn các loài thú như Chồn, Cầy hương, Lợn rừng, Rắn… và một số loài chim. Bên cạnh đó, người dân nơi đây chủ yếu là đồng bào dân tộc H’Mông và Dao với những nét đẹp văn hóa dân tộc đặc sắc như trang phục và nhà ở… vẫn được gìn giữ khá nguyên bản. Nà Hẩu khá thích hợp cho những nhóm bạn yêu thích trekking, cắm trại hay khám phá thiên nhiên.

    Đền Đông Cuông là một trong hai đền lớn ở thượng lưu sông Hồng, đã tồn tại từ lâu đời, tọa lạc tại xã Đông Cuông, huyện Văn Yên. Đền Đông Cuông là cụm di tích gồm 4 điểm: Ngoài Đến Chính còn có Miếu Cô, Miếu Cậu và Miến Đức Ông (Miếu Đức Ông tọa bên hữu ngạn sông Hồng đối diện với ngôi Đền Chính về hướng Nam cách 150m đường chim bay thuộc cụm di tích Đền Đông Cuông).

    Ở xã Cường Thịnh, huyện Trấn Yên có một hồ nước rất đẹp, thơ mộng và yên tĩnh. Một địa điểm thú vị để mọi người có thể khám phá thiên nhiên hay nghỉ ngơi, vui chơi, câu cá và tận hưởng bầu không khí trong lành, cảnh nguyên sơ nhưng đầy chất lãng mạn mà thiên nhiên ban tặng – đó là Hồ Chóp Dù.

    Nằm ngang lưng núi, hồ Chóp Dù rộng 16 ha, bao quanh hồ là cảnh quan sinh thái đa dạng với nhiều ngách xen lẫn với các khu rừng tự nhiên. Nước hồ ở đây trong xanh, phẳng lặng, soi bóng những vạt rừng.

    Chiến khu Vần là một vùng đất khá rộng, nằm ở phía Nam huyện Trấn Yên và Đông Nam huyện Văn Chấn. Trước năm 1945, Chiến khu Vần nằm ở địa bàn của 3 tổng là: Lương Ca, Giới Phiên (thuộc Trấn Yên) và Đại Lịch thuộc Văn Chấn có cự ly dài từ Bắc xuống Nam là 23km và từ Đông sang Tây 18km .

    Căn cứ cách mạng kiểu chiến khu có quy mô khá rộng trong đó có 2 vùng quan trọng nhất là làng Vần và làng Đồng Yếng.

    Làng Vần là thung lũng được bao bọc bởi các dãy núi có độ cao trung bình từ 200 đến 500m, thung lũng có chiều dài 4,5 km, đường đi lại khó khăn, ngày nay được kết cấu bằng những chân ruộng bậc thang, sau cách mạng được đồng bào khai phá (có độ chênh lệch thấp) nay gọi là Đồng Trò, Đồng Cây Gạo,… có ngòi Vần chạy dọc theo làng. Đây cũng là hợp lưu của 3 con ngòi nhỏ để tạo nên ngòi Vần. Địa thế hiểm trở, xưa chỉ có một con đường duy nhất vào làng và phải qua đèo. Vừa kín đáo lại vừa gần các trung tâm chính trị (tỉnh lỵ hai tỉnh Yên Bái – Phú Thọ) nên khu vực này đã được xứ uỷ Bắc Kỳ chọn làm nơi thuận lợi cho việc lập căn cứ cách mạng dần phát triển hình thành mô hình kiểu chiến khu.

    Làng Đồng Yếng cách làng Vần khoảng 4 km về phía Đông và cách Hiền Lương hơn 3 km về phía Tây. Là làng nằm giữa Vần và Hiền Lương. Có vị trí thuận lợi, đồi hình mâm xôi nên Đồng Yếng được đội du kích Âu Cơ chọn làm trung tâm huấn luyện quân sự để phát triển lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng ở Yên Bái và Phú Thọ.

    Cách thành phố Yên Bái hơn 10km về phía Nam, ở xã Minh Quân, huyện Trấn Yên, Hồ Đầm Hậu còn được gọi là Hồ 99 ngách ngay cạnh nút giao IC 12 đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai.

    Hồ Đầm Hậu quanh năm đầy nước, du khách đến đây, có thể chèo thuyền khám phá những ngóc nghách, những đảo lớn nhỏ hay vào vùng trung tâm hồ hòa mình cùng với thiên nhiên và cảm nhận bầu không khí trong lành, tìm cho mình một chỗ để có thể buông câu giúp tinh thần con người thoải mái. Trèo lên thân đập, phóng tầm mắt nhìn quanh hồ sẽ thấy một màu xanh mướt của những đảo cây in bóng xuống mặt nước lung linh huyền ảo thật kỳ thú. Và sau hành trình khám phá quanh hồ, du khách sẽ được thưởng thức ẩm thực tươi ngon từ nguồn thủy sản sẵn có của vùng hồ.

    Chợ đá Lục Yên họp tại một địa điểm khá đẹp nằm ở góc hồ nước lung linh ở Thị trấn Yên Thế, Lục Yên, Yen Bái. Chợ chỉ họp trong khoảng thời gian vài ba tiếng đồng hồ vào buổi sáng hàng ngày. Tùy mùa theo thời tiết mà phiên chợ diễn ra sớm hay muộn, nhưng áng chừng từ sáu rưỡi sáng người bán hàng bắt đầu đến chợ.

    Hàng được bày lên mặt bàn thành từng mớ. Hàng là các loại đá quý, đá bán quý các loại. Có thứ đã qua chế tác, có thứ còn để thô nguyên gốc. Nhưng dù ở dạng nào, những thứ hàng được bán ở cái chợ này đều khoe sắc lung linh. Những người bán hàng cho biết, đá quý được thu gom của những người đi núi về, có thời gian thì chế tác thành mặt đá cho nhẫn, dây chuyền, hoa tai… Có những thứ để làm nguyên liệu cho làm tranh đá quý, được bán bằng cân, bằng lạng.

    Chùa tháp Hắc Y – Đền Đại Cại

    Quần thể di tích đền Ðại Cại thuộc xã Tân Lĩnh, Lục Yên, cách thành phố Yên Bái khoảng 80km, bao gồm đình Bến Lăn, chùa tháp đất nung Hắc Y, đền Ðại Cại và thành nhà Bầu bao bọc quanh bãi đua ngựa huấn luyện kỵ binh.

    Quần thể này nằm dưới chân núi Vua áo đen, bên hữu là sông Chảy, trước mặt là suối Ðại Cại. Những thần được thờ ở đây đều là những người có công khai sơn lập thạch, mở mang chợ búa, lập ra làng bản, phố xá. Ðền Ðại Cại có từ thời hậu Lê, do nhân dân tổng Lâm Trượng hạ xây dựng để thờ bà Vũ Ngọc Anh, con gái một vị quần thần nhà Lê bị nhà Mạc giết hại. Bà là một danh nhân, chịu trách nhiệm việc đáp luỹ xây thành, lập ra các chợ. Ngoài ra, đền có thờ hai anh em Vũ Văn Mật và Vũ Văn Uyển có công lớn trong việc chống quân nhà Mạc. Ðền Ðại Cại, đình Bến Lăn có kiến trúc đẹp, có đủ các đồ thờ tự như bát nhang đồng, ngai thờ sơn son thếp vàng, đề có trạm trổ tứ quý làm từ gỗ tứ quý như chò chỉ, vàng tâm, lõi thọ, đinh hương. Ðặc biệt, những tảng đá kê cột đình, cột đền được chạm trổ hình mặt trăng, hoa sen, lá đề, mỗi tảng nặng hơn 100 kg. Ðền có chiên đồng, chuông đồng, có sắc phong của vua Cảnh Phong và vua Tự Ðức. Ngôi đền có kiến trúc đồ sộ, các chân tảng kê cột loại lớn có đường kính tới 45 cm, loại nhỏ 32 cm để đỡ các cột nách, cột lòng. Các chân tảng đều chạm 16 cánh hoa sen đều đặn vây quanh. Tại đây còn tìm thấy bệ Phật hoa sen bằng đất nung, bát sứ, lọ sứ men ngà rạn trang trí hình cánh sen rất đặc trưng của nghệ thuật thời Trần. Ngay dưới chân núi, tại dải thung lũng trải dài song song với sông Chảy vẫn còn lưu lại dấu vết của ngôi đền và những bức tường đất của một toà thành bao quanh. Bãi đua ngựa luyện tập kỵ binh nằm trong thành ngay trước của đình Bến Lăn.

    Theo sử sách, đền Suối Tiên xây dựng khoảng năm 1928 – 1929. Di tích đền Suối Tiên, với khuôn viên gần 6000m2, nằm trong không gian đậm nét văn hóa dân gian các dân tộc Lục Yên, gắn với những truyền tích huyền thoại xa xưa và hệ thống di tích lịch sử văn hóa quốc gia Đền Đại Cại – Hắc Y và khu khảo cổ tháp Chùa Thượng Miện thời Lý – Trần, là vùng đất “Non xanh kỳ thú – hấp dẫn tâm linh – Đất ngọc danh truyền”. Xung quanh có núi Thắm, núi Hắc Y, núi Bạch Mã với nhiều hang động, trên núi rừng hệ thảm thực động vật, thực vật, vi sinh vật đa dạng, phong phú; những núi đá độc lập, sừng sững kỳ vĩ; phía trước đền là giếng nước quanh năm trong mát, có loài cá bỗng bản địa (dân gọi là cá thần), tạo cho đền cảnh tĩnh lặng, huyền bí. Đặc biệt, trong những năm 1965-1966, các hang động ở khu đền Suối Tiên là nơi cất giấu vũ khí, lương thực phục vụ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

    Tìm trên Google:

    • các địa điểm du lịch ở Yên Bái
    • chơi gì khi đến Yên Bái
    • phượt Yên Bái có gì
    • cảnh đẹp Yên Bái
    • danh lam thắng cảnh Yên Bái
    • địa điểm du lịch tâm linh Yên Bái
    • đến Yên Bái nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Yên Bái

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Sơn Tây
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Sơn La (Cập Nhật 11/2020)
  • Top 20 Địa Điểm Du Lịch Quảng Trị Check
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Quảng Ngãi (Cập Nhật 11/2020)
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Quảng Nam (Cập Nhật 11/2020)
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Yên Bái (Cập Nhật 08/2020)

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đảo Koh Rong, Sihanoukville Tự Túc (Đầy Đủ Và Chi Tiết)
  • Du Lịch Đảo Koh Rong Samloem Biển Sihanoukville
  • Top 5 Khu Sinh Thái Gần Hà Nội Chơi Quên Lối Về
  • Thuê Xe Du Lịch 16 Chỗ Ở Đâu Có Giá Thấp Nhất?
  • Hè Về, Lưu Ngay Kinh Nghiệm Du Lịch Lăng Cô Ngắm Biển Trong Xanh, Ăn Hải Sản
  • Các địa điểm du lịch ở Yên Bái

    Cùng Phượt – Với nhiều người dường như du lịch Yên Bái chỉ có Mù Cang Chải, tuy nhiên các bạn có biết Yên Bái nơi cửa ngõ miền Tây Bắc là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ với trên 30 dân tộc anh em cùng chung sống, nơi đây có nền văn minh sông Hồng, sông Chảy, là trung điểm giao lưu giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc của tổ quốc. Nơi đây, với nhiều tiềm năng du lịch hấp dẫn, các địa điểm du lịch ở Yên Bái đa dạng với các di tích lịch sử cách mạng, hệ thống các đình, đền, chùa gắn liền với lịch sử dựng nước. Yên Bái cũng là địa điểm mà du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái phát triển khá mạnh ở khu vực Nghĩa Lộ và Hồ Thác Bà.

    Mù Cang Chải là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây của tỉnh Yên Bái, giáp với Thị xã Nghĩa Lộ, Mường La và Than Uyên của Lai Châu. Từ Hà Nội để đến với Mù Cang Chải bạn có thể lựa chọn đi theo hướng Quốc lộ 32 để cùng với đó khám phá đèo Khau Phạ, một trong tứ đại đỉnh đèo của Tây Bắc. Mù Cang Chải nổi tiếng nhất với khách du lịch bởi “đặc sản” ruộng bậc thang. Với hơn 700ha ruộng trong đó 50% tập trung ở 3 xã là La Pán Tẩn, Chế Cu Nha và Dế Xu Phình trải dài suốt đoạn đường từ đèo Khau Phạ về đến trung tâm thị trấn bạn sẽ không thể cưỡng lại được sự quyến rũ mê người từ màu vàng óng của những dãy núi trồng toàn lúa. Năm 2007 ruộng bậc thang Mù Cang Chải đã được xếp hạng là di tích danh thắng cấp quốc gia.

    Du lịch Nghĩa Lộ từ đã được nhiều người biết đến với những điểm du lịch hấp dẫn bởi nét đặc sắc trong văn hóa cũng như truyền thống cách mạng của các dân tộc sinh sống trên địa bàn như: Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu di tích lịch sử cách mạng Căng và Đồn Nghĩa Lộ, chợ Mường Lò, du lịch sinh thái ở xã Nghĩa Lợi, Nghĩa An…

    Nằm tại Thị xã Nghĩa Lộ, Sà Rèn là một bản làng nằm dọc ven bờ suối Thia, quanh năm róc rách bởi dòng Nậm Thia xanh mát, các bạn chỉ mất khoảng 2 tiếng đi xe ô tô là có thể đến tham quan, trải nghiệm điểm du lịch cộng đồng bản Sà Rèn, một nơi hoàn toàn chỉ có người Thái đen sinh sống và vẫn còn giữ được những nét văn hóa truyền thống vô cùng độc đáo.

    Bản Sà Rèn được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến bởi nơi đây vẫn nguyên vẹn vẻ đẹp thiên nhiên nguyên sơ, những khóm tre gắn bó sâu sắc với cuộc sống của người Thái đen được giữ gìn dọc ven bờ suối, những nếp nhà sàn cổ bên trong vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của người Thái, những con người miền sơn cước đôn hậu, thân thiện, mến khách.

    Chao Hạ là một bản người Thái của xã Nghĩa Lợi, Thị xã Nghĩa Lộ. Từ năm 2012, dưới sự đi đầu tiên phong của một vài người dân, Chao Hạ đã chuyển mình nghiêng theo hướng làm du lịch cộng đồng. Đến nay, bản đã là một trong những địa điểm đặc biệt yêu thích của khách du lịch nước ngoài. Đến bản Chao Hạ để du xuân ngắm cảnh núi rừng, trải nghiệm cuộc sống kiểu mới, thấy được hòa mình với thiên nhiên, với cộng đồng dân cư và thưởng thức những “món lạ” nơi đây

    Bản Đêu, xã Nghĩa An hiện đang lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống giàu bản sắc. Khách du lịch đến đây có thể hòa mình vào với đời sống của người địa phương. Khách ở dài ngày thì có thể đạp xe lên suối Nậm Đông để tắm hay đạp xe 30km lên Trạm Tấu để tìm hiểu đời sống sinh hoạt của người Mông hoặc có thể tham gia lao động cùng với gia đình. Mọi hoạt động đó đều được chính chủ nhà làm hướng dẫn viên.

    Quốc lộ 32 uốn lượn giữa miền núi non Tây Bắc “thanh sơn, bích thủy”. Núi cao, vực sâu, bạt ngàn cây rừng, lau lách. Rồi như một phép màu, con đường quốc lộ bỗng lọt vào một cánh đồng bằng phẳng biêng biếc sóng lúa Mường Lò. Ngỡ ngàng trước những mượt mà óng ả trong nắng trải tới chân núi xa, quả đúng như câu ca “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” nổi tiếng từ lâu.

    Cách thành phố Yên Bái 80 km về phía tây, Mường Lò nằm gọn trong lòng thị xã nghĩa Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn. Mường Lò là cánh đồng lớn thứ hai ở miền núi phía Bắc, chỉ sau Mường Thanh – Điện Biên (còn hai cánh đồng nhỏ hơn là Mường Than – Than Uyên và Mường Tấc – Phù Yên). Người Thái đen đã định cư lâu đời ở nơi đây. Theo câu chuyện sử thi của người Thái kể rằng: Hai anh em Tạo Xuông và Tạo Ngần tìm nơi lập nghiệp. Tạo Xuông đã dừng chân dựng bản làng ở Mường Lò, xây dựng nên vùng đất tổ tiên của người Thái đen ở khắp vùng Tây Bắc vì thấy ở đây đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào.

    Câu tục ngữ: “Thái theo nước, Xá theo lửa” nói về tập quán canh tác của người Thái trồng lúa nước, người Xá (Khơ Mú) đốt nương làm rẫy. Còn ông Tạo Ngần lên Mường Then (Mường Thanh ngày nay) xây dựng bản làng người Thái trắng cũng trồng lúa nước là chủ yếu. Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò đã thành danh từ lâu. Hương thơm của hạt gạo nơi này đã bay xa, vượt núi non đến nhiều nơi được rất đông người biết đến.

    Xuôi theo quốc lộ 32 với những miên man suy nghĩ về Mường Lò, Yên Bái. Để rồi ngỡ ngàng khi chứng kiến vẻ đẹp của những cánh đồng lúa chín vàng, thoai thoải bậc thang tiến về phía núi. Con suối Nậm Thia vắt ngang qua thung lũng như vẽ một dải lụa mềm uốn lượn giữa sóng lúa vàng. Tôi giật mình trước vẻ đẹp Mường Lò với một bóng người con gái Thái gánh lúa trên vai đang rẽ ngang con suối để rồi sẽ chẳng bao giờ lòng có thể quên.

    “Ngày xưa, nơi ấy có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng. Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối Nậm Thia, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát. Những sóng vàng của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi.

    Chỉ có người Thái đen ở Mường Lò mới có tục hát mời rượu và cũng chỉ có ở đây thì du khách mới có thể được nâng chén cùng lời ca mời rượu, cùng điệu Xòe Thái dập dìu bên bếp lửa nhà sàn. Tiếng hát người con gái Thái bên mâm rượu đã từng làm say bao du khách khi đến bản Mường. Tiếng hát như hơi rượu ngấm vào lòng người không thể nào quên.

    Di tích Căng Đồn Nghĩa Lộ

    Khi nhắc tới lịch sử của Căng và Đồn Nghĩa Lộ là nhắc tới địa danh Văn Chấn (nay thuộc Thị xã Nghĩa Lộ) và nhắc tới lịch sử nơi này thời kỳ kháng chiến chống Pháp những năm 40 của thế kỷ XX. Với ý đồ dập tắt phong trào cách mạng, Thực dân Pháp lập các trại “lao động đặc biệt” tập trung những người yêu nước. Sau khi Căng Bá Vân (Thái Nguyên) bị giải thể, Thực dân Pháp đã đưa những người yêu nước bị giam về Nghĩa Lộ. Mùa hè năm 1944 chi phủ Văn Chấn đã huy động các tổng, xã bắt phu nộp vật liệu để xây dựng Căng. Thực dân Pháp còn cử tên Đinh Văn Dung và tên Lăm – Be sở mật thám huyện đến kiểm tra đôn đốc khẩn trương ngày đêm. Tháng 1/1945 thì việc xây dựng hoàn thành. Nhìn toàn cảnh lúc này Căng Nghĩa Lộ như một cái tủ dựng đứng có 3 dãy nhà dài “hai dãy là nơi giam giữ chính phạm nam giới, phía trong giam chính trị phạm nữ giới, phía ngoài là nơi thường trực và bên cạnh là trạm gác của lính khố xanh”. Bao bọc toàn bộ khu Căng Đồn là hàng rào dây thép gai, phía ngoài hàng rào là hầm sâu có cắm chông, bồn góc Căng có chòi cao sừng sững ngày đêm canh giữ cẩn mật…

    Xã Suối Giàng nằm ở Văn Chấn trên độ cao 1.371m so với mực nước biển, nằm sâu trên dãy núi Fansipang hùng vĩ. Đây là quê hương của loại chè Shan Tuyết cổ thụ với hơn 300 hộ đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Khí hậu ở Suối Giàng bốn mùa se lạnh, tựa như Sapa, Đà Lạt. Chỉ mất chút ít thời gian thả hồn cùng những dải lúa cong cong theo vạt núi, từng nương ngô, nương cải xanh non trong sương bay bảng lảng là thấy mình như đứng trên mây.

    Từ trên cao nhìn xuống là biển lúa rộng mênh mông vàng óng Mường Lò, vựa lúa lớn thứ hai của khu vực Tây Bắc và thị xã Nghĩa Lộ thanh bình cùng nhịp sống của 13 dân tộc anh em. Tại đây, du khách có thể lên những cây chè cổ thụ trên trăm tuổi, hái những búp chè xanh non cùng thiếu nữ Hmông mến khách, hay đi dạo dưới rừng Pơ mu hoặc phiêu du cùng thác Tập Lang rì rầm nước chảy

    Suối Giàng nổi tiếng với những cây chè tuyết Shan cổ thụ hàng trăm năm tuổi, đường kính lên tới 100cm. Chè tuyết nơi đây phát triển tự nhiên trong tiểu vùng khí hậu quanh năm mát mẻ, chẳng cần phân bón mà vẫn đâm chồi nảy lộc xanh biếc. Lộc non sao lên, pha nước sôi, hương vị bốc lên thơm ngây ngất, uống vào thấy đượm vị ngọt lâu trên đầu lưỡi. Nhiều gia đình dân tộc Mông ở đây cũng nhờ những gốc chè này mà làm nên cơ nghiệp, cải thiện sinh hoạt trong cuộc sống. Họ coi đó là cây chè của đất trời ban tặng cho người Mông của xứ sở này.

    Đèo Lũng Lô nằm trên quốc lộ 37 (đường 379 cũ, nối quốc lộ 32 với quốc lộ 32B)) tại ranh giới hai huyện Văn Chấn (Yên Bái) và Phù Yên (Sơn La), đông bắc thị trấn Phù Yên 33 km. Đèo dài 15 km từ km349 đến km364, độ dốc 10%. Trong kháng chiến chống Pháp, một trong những con đường tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3-7/5/1954) qua đèo này. Trong bài thơ “Hoan Hô Chiến Sỹ Điện Biên” ra đời sau khi miền Bắc được giải phóng, Tố Hữu đã viết: Dốc Pha đin, chị gánh, anh thồ, Đèo Lũng lô, anh hò, chị hát. Gần đỉnh con đèo là điểm giáp ranh của cả 3 tính Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La.

    Cách Hà Nội gần 200km, Bản Hốc nằm ngay trung tâm của huyện Văn Chấn. Với gần 80% là dân tộc Thái, sống chủ yếu bằng làm nông nghiệp. Nơi đây còn lưu giữ khá nguyên vẹn những nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Thái.

    Nhà máy thủy điện Thác Bà

    Nhà máy thủy điện Thác Bà do Liên Xô giúp đỡ xây dựng là đứa con đầu lòng của nghành thủy điện Việt Nam, là nhà máy thủy điện được xây dựng đầu tiên ở miền Bắc nước ta. Nhà máy đã được xây dựng và lớn trong chiến tranh ác liệt khi nền kinh tế Miền Bắc còn non trẻ. Công tác khảo sát, thiết kế xây dựng được tiến hành từ năm 1959 đến năm 1961. Công trình được khởi công xây dựng ngày 19/8/1964. Sau hơn 10 năm xây dựng, ngày 5 tháng 10 năm 1971, nhà máy đã khởi động tổ máy số 1 và hòa vào lưới điện quốc gia, đây cũng là ngày được chọn là ngày thành lập Nhà máy thủy điện Thác Bà.

    Là một trong số ít những ngôi đền dọc bờ Sông Chảy còn giữ lại được cho đến tận ngày nay. Đền Thác Bà( hay Đền Mẫu Thác Bà) tọa lạc trên núi Hoàng Thi, từ lâu đã nổi tiếng là chốn linh thiêng với đông đảo du khách thập phương. Vượt qua 365 bậc đá, đến trước cửa sân đền, làn gió mát lành từ biển hồ đưa lên mang cảm giác nhẹ nhàng , thanh tịnh trốn cửa đền. Phóng tầm mắt ra xa, có thể bao quát toàn cảnh công trình thủy điện đầu tiên của cả nước và ngắm nhìn một vùng trời nước mênh mông, hữu tình. Hàng năm, Lễ hội Đền Thác Bà được tổ chức vào ngày 8 và 9 tháng Giêng âm lịch, hay còn gọi là lễ hội mùa xuân, lễ hội lớn nhất trong năm, với những nghi thức truyền thống trang trọng.

    – Ngoài đường thủy, du khách có thể đến Đền Thác Bà bằng đường bộ, theo tuyến đường: Trung tâm TPYên Bái – TT Yên Bình(9km) – Ngã ba Cát Lem (Đoan Hùng, Phú Thọ, 27km) – Đền Thác Bà( thị trấn Thác Bà 7km)

    Nằm ở phía Tây Bắc tổ quốc, hồ Thác Bà của tỉnh Yên Bái, nơi được ví như “Hạ Long trên núi” là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam hình thành khi xây dựng Nhà máy thuỷ điện Thác Bà.

    Nằm trong địa phận hai huyện Yên Bình và Lục Yên, Hồ Thác Bà rộng gần 23.500 ha với hơn 1.300 đảo xanh lớn nhỏ soi bóng dưới mặt nước cùng hệ thống hang động đẹp ẩn sâu trong lòng những dãy núi đá vôi. Chính sự kỳ bí ấy tạo cho Thác Bà một vẻ đẹp lung linh huyền hoặc nhưng lại rất thân thiện, hữu tình. Đi thuyền trên hồ Thác Bà, bạn không chỉ cảm nhận được bầu không khí mát lành từ nước, từ gió hồ Thác mà còn được hoà mình cùng thiên nhiên hào phóng, thả hồn mình vào mênh mông trời nước, điệp trùng núi đảo tưởng chừng như vô tận. Thắp một nén nhang tại đền Mẫu, trút bỏ những tính toan bộn bề cuộc sống, cầu cho cõi lòng thanh thản nơi cửa Phật từ bi để tiếp tục cuộc hành trình đưa bạn khám phá vẻ đẹp kỳ ảo của nhũ đá, của những tượng đá tự nhiên kỳ lạ ẩn chứa bao khát khao hoài bão của con người tại quần thể hang động đá vôi trên hồ như: Động Thuỷ Tiên, động Xuân Long, hang Bạch Xà, Thác Bà, Thác Ông …

    Núi Cao Biền là dãy núi lớn và dài nhất của thắng cảnh hồ Thác Bà. Đứng trên đỉnh Cao Biền mà đón ánh ban mai hay đợi hoàng hôn buông trên hồ Thác thì không có gì thú hơn. bạn được thoả sức phóng tầm mắt mà nhìn ngắm, mà cảm nhận vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, nét lung linh huyền ảo sắc nước gương trời của một vùng đất là nơi giao thoa giữa miền Tây Bắc và Trung du Bắc bộ, cửa ngõ của vùng Tây Bắc. Để tìm lại dấu ấn xưa của chợ Ngọc, chợ Ngà nổi tiếng Thác Bà một thời bán, buôn sầm uất… Ngồi ca nô ngược dòng sông Chảy không bao xa bạn sẽ được thăm thú vùng đất Ngọc Lục Yên với những danh thắng nổi tiếng như động Chùa São, đền Đại Cại… và chiêm ngưỡng sự kỳ ảo của những tác phẩm tranh đá quý tự nhiên dưới bàn tay tài hoa của người thợ.

    Được công nhận là Di sản thắng cảnh văn hoá từ tháng 9/1996, thắng cảnh hồ Thác Bà bên cạnh những lợi thế về vị trí địa lý như nằm trên trung lộ Hà Nội- Lào Cai, những làng, bản ven hồ Thác hiện nay vẫn còn giữ được nét hoang sơ, nguyên thuỷ cùng bản sắc văn hoá đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Phù Lá, Cao Lan… Các lễ hội truyền thống, tập quán sinh hoạt văn hoá riêng có của từng tộc người vẫn đang là sự lôi cuốn bạn thăm thú, tìm kiếm và khám phá Thác Bà.

    Bản Ngòi Tu thuộc xã Vũ Linh, Yên Bình. Là một bản với nhiều dân tộc anh em sinh sống, nhưng phần lớn vẫn là dân tộc Dao (Dao Quần Trắng), bản cách Hà Nội 165km nằm ở khu vực phía Tây-Bắc Việt Nam, theo đường QL2, QL70.

    Với những đặc trưng riêng, Ngòi Tu hấp dẫn du khách không những bởi có một vị trí đẹp, 1 phần đất liền và một nửa còn lại tiếp giáp mặt hồ nước mênh mông mà còn bởi nơi đây là sự hội tụ các giá trị truyền thống văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc Dao, Cao Lan, Nùng, trong đó chủ yếu là đồng bào Dao quần trắng.

    Đến với Ngòi Tu ngoài việc được thưởng thức những món ăn dân dẫ bạn sẽ còn được hòa mình vào phong cảnh hữu tình, say lòng cùng những làn điệu dân ca, những điệu múa : làm chay, xúc tép, rước dâu truyền thống … Với những bạn thích lang thang khám phát còn có thể tham gia trekking núi Yến, núi Cao Biền hoặc đạp xe khắp bản để khám phá văn hóa của người Dao.

    Tà Chì Nhù là tên gọi của một đỉnh núi thuộc khối núi Pú Luông của dãy núi Hoàng Liên Sơn, đỉnh Tà Chì Nhù có độ cao 2.979m thuộc địa phận huyện Trạm Tấu, Yên Bái. Tà Chì Nhù còn gọi là Phu Song Sung theo cách gọi của dân tộc Thái hay Chung Chua Nhà theo cách gọi của người Mông Địa hình của ngọn núi khá phức tạp với nhiều dốc cao, một số đoạn gần như dựng đứng. Khí hậu trên núi vô cùng khắc nghiệt, gió mạnh khiến cho quãng đường chinh phục đỉnh núi tương đối vất vả và nhiêu hiểm nguy rình rập.

    Tuy nguy hiểm và vất vả là thề, Tà Chì Nhù lại là một trong những địa điểm được các bạn ưa leo núi rất thích để “cưỡi gió – săn mây” và săn những bức ảnh tuyệt đẹp.

    Tà Sì Láng là một xã thuộc huyện Trạm Tấu, Yên Bái. Phía bắc giáp Bản Mù, phía Tây giáp Phù Yên (Sơn La), phía Đông và Nam giáp huyện Văn Chấn. Dân cư ở đây 100% là người H’Mong, sinh sống chủ yếu bằng nghề làm nương. Với đặc điểm địa hình hiểm trở trên độ cao gần 2000m, đường vào Tà Sì Láng cực kỳ khó khăn. Trước đây chỉ có đường dân sinh nhưng nay cũng đã mở rộng khoảng 4-5m, thường xuyên sạt lở và ách tắc vào mùa mưa bão. Độ dốc của con đường cũng thuộc dạng khủng, từ 15-20%. (So với 6-8% độ dốc trung bình của các con đường khác ở Tây Bắc)

    Háng Tề Chơ (Háng Đề Chơ) là bản xa nhất của xã Làng Nhì, Trạm Tấu, Yên Bái. Đây là một bản tập trung khoảng vài chục hộ dân người Mông Đen, bản cũng sở hữu ngọn thác cùng tên Háng Tề Chơ, được coi là một ngọn thác đẹp trong danh sách các điểm đến của Tây Bắc.

    Là một xã vùng cao của huyện Trạm Tấu, cách trung tâm huyện khoảng 12km. Nằm trên độ cao khoảng hơn 1000m so với mặt nước biển, Bản Mù quanh năm sương giăng kín lối với những ngôi nhà của đồng bào nằm lạc lõng trên những sườn núi.

    Nằm trên một đỉnh núi cao, bản Cu Vai thuộc xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, với hơn 80% người dân là đồng bào dân tộc H’Mông, cách trung tâm xã gần 20km đường đồi núi, trên bản có 46 hộ dân sinh sống.

    Suối khoáng nóng Trạm Tấu

    Cách trung tâm Trạm Tấu chưa đầy 2km về phía Tây Bắc là một khu suối khoáng nóng nằm ngay sát dưới chân những thửa ruộng bậc thang tuyệt đẹp, tọa lạc tại khu 5, thị trấn Trạm Tấu, Trạm Tấu.

    Để đặt ăn ngủ nghỉ tại khu suối khoáng Trạm Tấu, các bạn có thể liên hệ Anh Cường 0943 208 704 là chủ nhân của khu suối khoáng này.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu

    Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa bàn 4 xã: Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thượng của huyện Văn Yên có tọa độ địa lý từ 21051’35” đến 21057’00” vĩ độ Bắc và từ 104030’50” đến 104036’55” kinh độ Đông với tổng diện tích quy hoạch 16.950 ha, trong đó, khu bảo vệ nghiêm ngặt 7.250 ha, phân khu phục hồi sinh thái: 9.700 ha.

    Khu vực Nà Hẩu như một lòng chảo được tạo nên từ thung lũng hẹp, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi cao. Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều khe suối và các hợp thủy. Độ cao trung bình từ 600 – 700m so với mặt biển. Nơi cao nhất 1.788m, nơi thấp nhất 200m. Nhiệt độ bình quân 23,20C, lượng mưa bình quân 1.458,0 mm/năm, độ ẩm 85%. Hàng năm thường xuất hiện gió mùa Đông – Bắc vào tháng 11 và 12 kèm theo sương muối. Những ngày ít nắng, trời âm u, ở những nơi núi cao sương mù bao phủ cả ngày, độ ẩm không khí trong rừng rất lớn. Với điều kiện khí hậu như vậy rất phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển và khả năng tái sinh tự nhiên của cây rừng, thuận lợi cho các loài thực, động vật ở đây phát triển đa dạng và phong phú, tạo nên cấu trúc rừng rậm, nhiều tầng tán phù hợp với tính năng phòng hộ đầu nguồn.

    Trong khu bảo tồn thiên nhiên này, hệ rừng lá rộng thường xanh còn tương đối nguyên vẹn, nhiều khe, suối, thác nước chảy quanh năm. Cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, tầng tán được phân chia rõ rệt: tầng cao nhất là cây gỗ lớn nhô lên không liên tục chủ yếu là các loài như Chò nâu, Giổi, Trám…; tầng giữa là tầng ưu thế sinh thái, tán cây rừng liên tục cao gần ngang nhau, thuộc các loài cây thường xanh như Gội, De, Giẻ…; tầng dưới phân thành nhiều lớp cao thấp khác nhau, chủ yếu là các cây gỗ nhỏ ưa bóng; tầng thảm tươi chủ yếu là cây bụi, Dương sỉ, Cau rừng…; Hiện rừng tự nhiên vẫn còn trên 30 loài thực vật khác nhau, trong đó có những loài cây gỗ quý hiếm như Lát Hoa, Pơ mu… phát triển chủ yếu ở độ cao 700m trở lên. Hệ động vật trong khu bảo tồn khá phong phú và nhiều loài quý hiếm vẫn được gìn giữ và bảo tồn. Chủ yếu còn các loài thú như Chồn, Cầy hương, Lợn rừng, Rắn… và một số loài chim. Bên cạnh đó, người dân nơi đây chủ yếu là đồng bào dân tộc H’Mông và Dao với những nét đẹp văn hóa dân tộc đặc sắc như trang phục và nhà ở… vẫn được gìn giữ khá nguyên bản. Nà Hẩu khá thích hợp cho những nhóm bạn yêu thích trekking, cắm trại hay khám phá thiên nhiên.

    Đền Đông Cuông là một trong hai đền lớn ở thượng lưu sông Hồng, đã tồn tại từ lâu đời, tọa lạc tại xã Đông Cuông, huyện Văn Yên. Đền Đông Cuông là cụm di tích gồm 4 điểm: Ngoài Đến Chính còn có Miếu Cô, Miếu Cậu và Miến Đức Ông (Miếu Đức Ông tọa bên hữu ngạn sông Hồng đối diện với ngôi Đền Chính về hướng Nam cách 150m đường chim bay thuộc cụm di tích Đền Đông Cuông).

    Ở xã Cường Thịnh, huyện Trấn Yên có một hồ nước rất đẹp, thơ mộng và yên tĩnh. Một địa điểm thú vị để mọi người có thể khám phá thiên nhiên hay nghỉ ngơi, vui chơi, câu cá và tận hưởng bầu không khí trong lành, cảnh nguyên sơ nhưng đầy chất lãng mạn mà thiên nhiên ban tặng – đó là Hồ Chóp Dù.

    Nằm ngang lưng núi, hồ Chóp Dù rộng 16 ha, bao quanh hồ là cảnh quan sinh thái đa dạng với nhiều ngách xen lẫn với các khu rừng tự nhiên. Nước hồ ở đây trong xanh, phẳng lặng, soi bóng những vạt rừng.

    Chiến khu Vần là một vùng đất khá rộng, nằm ở phía Nam huyện Trấn Yên và Đông Nam huyện Văn Chấn. Trước năm 1945, Chiến khu Vần nằm ở địa bàn của 3 tổng là: Lương Ca, Giới Phiên (thuộc Trấn Yên) và Đại Lịch thuộc Văn Chấn có cự ly dài từ Bắc xuống Nam là 23km và từ Đông sang Tây 18km .

    Căn cứ cách mạng kiểu chiến khu có quy mô khá rộng trong đó có 2 vùng quan trọng nhất là làng Vần và làng Đồng Yếng.

    Làng Vần là thung lũng được bao bọc bởi các dãy núi có độ cao trung bình từ 200 đến 500m, thung lũng có chiều dài 4,5 km, đường đi lại khó khăn, ngày nay được kết cấu bằng những chân ruộng bậc thang, sau cách mạng được đồng bào khai phá (có độ chênh lệch thấp) nay gọi là Đồng Trò, Đồng Cây Gạo,… có ngòi Vần chạy dọc theo làng. Đây cũng là hợp lưu của 3 con ngòi nhỏ để tạo nên ngòi Vần. Địa thế hiểm trở, xưa chỉ có một con đường duy nhất vào làng và phải qua đèo. Vừa kín đáo lại vừa gần các trung tâm chính trị (tỉnh lỵ hai tỉnh Yên Bái – Phú Thọ) nên khu vực này đã được xứ uỷ Bắc Kỳ chọn làm nơi thuận lợi cho việc lập căn cứ cách mạng dần phát triển hình thành mô hình kiểu chiến khu.

    Làng Đồng Yếng cách làng Vần khoảng 4 km về phía Đông và cách Hiền Lương hơn 3 km về phía Tây. Là làng nằm giữa Vần và Hiền Lương. Có vị trí thuận lợi, đồi hình mâm xôi nên Đồng Yếng được đội du kích Âu Cơ chọn làm trung tâm huấn luyện quân sự để phát triển lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng ở Yên Bái và Phú Thọ.

    Cách thành phố Yên Bái hơn 10km về phía Nam, ở xã Minh Quân, huyện Trấn Yên, Hồ Đầm Hậu còn được gọi là Hồ 99 ngách ngay cạnh nút giao IC 12 đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai.

    Hồ Đầm Hậu quanh năm đầy nước, du khách đến đây, có thể chèo thuyền khám phá những ngóc nghách, những đảo lớn nhỏ hay vào vùng trung tâm hồ hòa mình cùng với thiên nhiên và cảm nhận bầu không khí trong lành, tìm cho mình một chỗ để có thể buông câu giúp tinh thần con người thoải mái. Trèo lên thân đập, phóng tầm mắt nhìn quanh hồ sẽ thấy một màu xanh mướt của những đảo cây in bóng xuống mặt nước lung linh huyền ảo thật kỳ thú. Và sau hành trình khám phá quanh hồ, du khách sẽ được thưởng thức ẩm thực tươi ngon từ nguồn thủy sản sẵn có của vùng hồ.

    Chợ đá Lục Yên họp tại một địa điểm khá đẹp nằm ở góc hồ nước lung linh ở Thị trấn Yên Thế, Lục Yên, Yen Bái. Chợ chỉ họp trong khoảng thời gian vài ba tiếng đồng hồ vào buổi sáng hàng ngày. Tùy mùa theo thời tiết mà phiên chợ diễn ra sớm hay muộn, nhưng áng chừng từ sáu rưỡi sáng người bán hàng bắt đầu đến chợ.

    Hàng được bày lên mặt bàn thành từng mớ. Hàng là các loại đá quý, đá bán quý các loại. Có thứ đã qua chế tác, có thứ còn để thô nguyên gốc. Nhưng dù ở dạng nào, những thứ hàng được bán ở cái chợ này đều khoe sắc lung linh. Những người bán hàng cho biết, đá quý được thu gom của những người đi núi về, có thời gian thì chế tác thành mặt đá cho nhẫn, dây chuyền, hoa tai… Có những thứ để làm nguyên liệu cho làm tranh đá quý, được bán bằng cân, bằng lạng.

    Chùa tháp Hắc Y – Đền Đại Cại

    Quần thể di tích đền Ðại Cại thuộc xã Tân Lĩnh, Lục Yên, cách thành phố Yên Bái khoảng 80km, bao gồm đình Bến Lăn, chùa tháp đất nung Hắc Y, đền Ðại Cại và thành nhà Bầu bao bọc quanh bãi đua ngựa huấn luyện kỵ binh.

    Quần thể này nằm dưới chân núi Vua áo đen, bên hữu là sông Chảy, trước mặt là suối Ðại Cại. Những thần được thờ ở đây đều là những người có công khai sơn lập thạch, mở mang chợ búa, lập ra làng bản, phố xá. Ðền Ðại Cại có từ thời hậu Lê, do nhân dân tổng Lâm Trượng hạ xây dựng để thờ bà Vũ Ngọc Anh, con gái một vị quần thần nhà Lê bị nhà Mạc giết hại. Bà là một danh nhân, chịu trách nhiệm việc đáp luỹ xây thành, lập ra các chợ. Ngoài ra, đền có thờ hai anh em Vũ Văn Mật và Vũ Văn Uyển có công lớn trong việc chống quân nhà Mạc. Ðền Ðại Cại, đình Bến Lăn có kiến trúc đẹp, có đủ các đồ thờ tự như bát nhang đồng, ngai thờ sơn son thếp vàng, đề có trạm trổ tứ quý làm từ gỗ tứ quý như chò chỉ, vàng tâm, lõi thọ, đinh hương. Ðặc biệt, những tảng đá kê cột đình, cột đền được chạm trổ hình mặt trăng, hoa sen, lá đề, mỗi tảng nặng hơn 100 kg. Ðền có chiên đồng, chuông đồng, có sắc phong của vua Cảnh Phong và vua Tự Ðức. Ngôi đền có kiến trúc đồ sộ, các chân tảng kê cột loại lớn có đường kính tới 45 cm, loại nhỏ 32 cm để đỡ các cột nách, cột lòng. Các chân tảng đều chạm 16 cánh hoa sen đều đặn vây quanh. Tại đây còn tìm thấy bệ Phật hoa sen bằng đất nung, bát sứ, lọ sứ men ngà rạn trang trí hình cánh sen rất đặc trưng của nghệ thuật thời Trần. Ngay dưới chân núi, tại dải thung lũng trải dài song song với sông Chảy vẫn còn lưu lại dấu vết của ngôi đền và những bức tường đất của một toà thành bao quanh. Bãi đua ngựa luyện tập kỵ binh nằm trong thành ngay trước của đình Bến Lăn.

    Theo sử sách, đền Suối Tiên xây dựng khoảng năm 1928 – 1929. Di tích đền Suối Tiên, với khuôn viên gần 6000m2, nằm trong không gian đậm nét văn hóa dân gian các dân tộc Lục Yên, gắn với những truyền tích huyền thoại xa xưa và hệ thống di tích lịch sử văn hóa quốc gia Đền Đại Cại – Hắc Y và khu khảo cổ tháp Chùa Thượng Miện thời Lý – Trần, là vùng đất “Non xanh kỳ thú – hấp dẫn tâm linh – Đất ngọc danh truyền”. Xung quanh có núi Thắm, núi Hắc Y, núi Bạch Mã với nhiều hang động, trên núi rừng hệ thảm thực động vật, thực vật, vi sinh vật đa dạng, phong phú; những núi đá độc lập, sừng sững kỳ vĩ; phía trước đền là giếng nước quanh năm trong mát, có loài cá bỗng bản địa (dân gọi là cá thần), tạo cho đền cảnh tĩnh lặng, huyền bí. Đặc biệt, trong những năm 1965-1966, các hang động ở khu đền Suối Tiên là nơi cất giấu vũ khí, lương thực phục vụ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

    Tìm trên Google:

    • các địa điểm du lịch ở Yên Bái
    • chơi gì khi đến Yên Bái
    • phượt Yên Bái có gì
    • cảnh đẹp Yên Bái
    • danh lam thắng cảnh Yên Bái
    • địa điểm du lịch tâm linh Yên Bái
    • đến Yên Bái nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Yên Bái

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Ngắm Hoa Hướng Dương Nghệ An
  • Du Lịch Tết Ở Vũng Tàu 2022
  • Tour Du Lịch Vũng Tàu 1 Ngày Tết Nguyên Đán Khởi Hành Hồ Chí Minh
  • Vé Máy Bay Đi Phú Quốc Giá Rẻ Chỉ Từ 49.000 Đồng
  • Giới Thiệu Du Lịch Hoàng Su Phì
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Yên Bái (Cập Nhật 09/2020)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nên Mua Quà Gì Khi Đi Du Lịch Dubai
  • Đi Du Lịch Dubai Nên Mua Gì Về Làm Quà Ý Nghĩa, Độc Đáo?
  • Du Lịch Nha Trang Khánh Hòa
  • Kiên Giang Phát Triển Du Lịch Thành Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Tỉnh Kiên Giang Kỳ Vọng Du Lịch Là Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn
  • Các địa điểm du lịch ở Yên Bái

    Cùng Phượt – Với nhiều người dường như du lịch Yên Bái chỉ có Mù Cang Chải, tuy nhiên các bạn có biết Yên Bái nơi cửa ngõ miền Tây Bắc là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ với trên 30 dân tộc anh em cùng chung sống, nơi đây có nền văn minh sông Hồng, sông Chảy, là trung điểm giao lưu giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc của tổ quốc. Nơi đây, với nhiều tiềm năng du lịch hấp dẫn, các địa điểm du lịch ở Yên Bái đa dạng với các di tích lịch sử cách mạng, hệ thống các đình, đền, chùa gắn liền với lịch sử dựng nước. Yên Bái cũng là địa điểm mà du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái phát triển khá mạnh ở khu vực Nghĩa Lộ và Hồ Thác Bà.

    Mù Cang Chải là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây của tỉnh Yên Bái, giáp với Thị xã Nghĩa Lộ, Mường La và Than Uyên của Lai Châu. Từ Hà Nội để đến với Mù Cang Chải bạn có thể lựa chọn đi theo hướng Quốc lộ 32 để cùng với đó khám phá đèo Khau Phạ, một trong tứ đại đỉnh đèo của Tây Bắc. Mù Cang Chải nổi tiếng nhất với khách du lịch bởi “đặc sản” ruộng bậc thang. Với hơn 700ha ruộng trong đó 50% tập trung ở 3 xã là La Pán Tẩn, Chế Cu Nha và Dế Xu Phình trải dài suốt đoạn đường từ đèo Khau Phạ về đến trung tâm thị trấn bạn sẽ không thể cưỡng lại được sự quyến rũ mê người từ màu vàng óng của những dãy núi trồng toàn lúa. Năm 2007 ruộng bậc thang Mù Cang Chải đã được xếp hạng là di tích danh thắng cấp quốc gia.

    Du lịch Nghĩa Lộ từ đã được nhiều người biết đến với những điểm du lịch hấp dẫn bởi nét đặc sắc trong văn hóa cũng như truyền thống cách mạng của các dân tộc sinh sống trên địa bàn như: Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu di tích lịch sử cách mạng Căng và Đồn Nghĩa Lộ, chợ Mường Lò, du lịch sinh thái ở xã Nghĩa Lợi, Nghĩa An…

    Nằm tại Thị xã Nghĩa Lộ, Sà Rèn là một bản làng nằm dọc ven bờ suối Thia, quanh năm róc rách bởi dòng Nậm Thia xanh mát, các bạn chỉ mất khoảng 2 tiếng đi xe ô tô là có thể đến tham quan, trải nghiệm điểm du lịch cộng đồng bản Sà Rèn, một nơi hoàn toàn chỉ có người Thái đen sinh sống và vẫn còn giữ được những nét văn hóa truyền thống vô cùng độc đáo.

    Bản Sà Rèn được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến bởi nơi đây vẫn nguyên vẹn vẻ đẹp thiên nhiên nguyên sơ, những khóm tre gắn bó sâu sắc với cuộc sống của người Thái đen được giữ gìn dọc ven bờ suối, những nếp nhà sàn cổ bên trong vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của người Thái, những con người miền sơn cước đôn hậu, thân thiện, mến khách.

    Chao Hạ là một bản người Thái của xã Nghĩa Lợi, Thị xã Nghĩa Lộ. Từ năm 2012, dưới sự đi đầu tiên phong của một vài người dân, Chao Hạ đã chuyển mình nghiêng theo hướng làm du lịch cộng đồng. Đến nay, bản đã là một trong những địa điểm đặc biệt yêu thích của khách du lịch nước ngoài. Đến bản Chao Hạ để du xuân ngắm cảnh núi rừng, trải nghiệm cuộc sống kiểu mới, thấy được hòa mình với thiên nhiên, với cộng đồng dân cư và thưởng thức những “món lạ” nơi đây

    Bản Đêu, xã Nghĩa An hiện đang lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống giàu bản sắc. Khách du lịch đến đây có thể hòa mình vào với đời sống của người địa phương. Khách ở dài ngày thì có thể đạp xe lên suối Nậm Đông để tắm hay đạp xe 30km lên Trạm Tấu để tìm hiểu đời sống sinh hoạt của người Mông hoặc có thể tham gia lao động cùng với gia đình. Mọi hoạt động đó đều được chính chủ nhà làm hướng dẫn viên.

    Quốc lộ 32 uốn lượn giữa miền núi non Tây Bắc “thanh sơn, bích thủy”. Núi cao, vực sâu, bạt ngàn cây rừng, lau lách. Rồi như một phép màu, con đường quốc lộ bỗng lọt vào một cánh đồng bằng phẳng biêng biếc sóng lúa Mường Lò. Ngỡ ngàng trước những mượt mà óng ả trong nắng trải tới chân núi xa, quả đúng như câu ca “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” nổi tiếng từ lâu.

    Cách thành phố Yên Bái 80 km về phía tây, Mường Lò nằm gọn trong lòng thị xã nghĩa Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn. Mường Lò là cánh đồng lớn thứ hai ở miền núi phía Bắc, chỉ sau Mường Thanh – Điện Biên (còn hai cánh đồng nhỏ hơn là Mường Than – Than Uyên và Mường Tấc – Phù Yên). Người Thái đen đã định cư lâu đời ở nơi đây. Theo câu chuyện sử thi của người Thái kể rằng: Hai anh em Tạo Xuông và Tạo Ngần tìm nơi lập nghiệp. Tạo Xuông đã dừng chân dựng bản làng ở Mường Lò, xây dựng nên vùng đất tổ tiên của người Thái đen ở khắp vùng Tây Bắc vì thấy ở đây đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào.

    Câu tục ngữ: “Thái theo nước, Xá theo lửa” nói về tập quán canh tác của người Thái trồng lúa nước, người Xá (Khơ Mú) đốt nương làm rẫy. Còn ông Tạo Ngần lên Mường Then (Mường Thanh ngày nay) xây dựng bản làng người Thái trắng cũng trồng lúa nước là chủ yếu. Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò đã thành danh từ lâu. Hương thơm của hạt gạo nơi này đã bay xa, vượt núi non đến nhiều nơi được rất đông người biết đến.

    Xuôi theo quốc lộ 32 với những miên man suy nghĩ về Mường Lò, Yên Bái. Để rồi ngỡ ngàng khi chứng kiến vẻ đẹp của những cánh đồng lúa chín vàng, thoai thoải bậc thang tiến về phía núi. Con suối Nậm Thia vắt ngang qua thung lũng như vẽ một dải lụa mềm uốn lượn giữa sóng lúa vàng. Tôi giật mình trước vẻ đẹp Mường Lò với một bóng người con gái Thái gánh lúa trên vai đang rẽ ngang con suối để rồi sẽ chẳng bao giờ lòng có thể quên.

    “Ngày xưa, nơi ấy có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng. Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối Nậm Thia, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát. Những sóng vàng của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi.

    Chỉ có người Thái đen ở Mường Lò mới có tục hát mời rượu và cũng chỉ có ở đây thì du khách mới có thể được nâng chén cùng lời ca mời rượu, cùng điệu Xòe Thái dập dìu bên bếp lửa nhà sàn. Tiếng hát người con gái Thái bên mâm rượu đã từng làm say bao du khách khi đến bản Mường. Tiếng hát như hơi rượu ngấm vào lòng người không thể nào quên.

    Di tích Căng Đồn Nghĩa Lộ

    Khi nhắc tới lịch sử của Căng và Đồn Nghĩa Lộ là nhắc tới địa danh Văn Chấn (nay thuộc Thị xã Nghĩa Lộ) và nhắc tới lịch sử nơi này thời kỳ kháng chiến chống Pháp những năm 40 của thế kỷ XX. Với ý đồ dập tắt phong trào cách mạng, Thực dân Pháp lập các trại “lao động đặc biệt” tập trung những người yêu nước. Sau khi Căng Bá Vân (Thái Nguyên) bị giải thể, Thực dân Pháp đã đưa những người yêu nước bị giam về Nghĩa Lộ. Mùa hè năm 1944 chi phủ Văn Chấn đã huy động các tổng, xã bắt phu nộp vật liệu để xây dựng Căng. Thực dân Pháp còn cử tên Đinh Văn Dung và tên Lăm – Be sở mật thám huyện đến kiểm tra đôn đốc khẩn trương ngày đêm. Tháng 1/1945 thì việc xây dựng hoàn thành. Nhìn toàn cảnh lúc này Căng Nghĩa Lộ như một cái tủ dựng đứng có 3 dãy nhà dài “hai dãy là nơi giam giữ chính phạm nam giới, phía trong giam chính trị phạm nữ giới, phía ngoài là nơi thường trực và bên cạnh là trạm gác của lính khố xanh”. Bao bọc toàn bộ khu Căng Đồn là hàng rào dây thép gai, phía ngoài hàng rào là hầm sâu có cắm chông, bồn góc Căng có chòi cao sừng sững ngày đêm canh giữ cẩn mật…

    Xã Suối Giàng nằm ở Văn Chấn trên độ cao 1.371m so với mực nước biển, nằm sâu trên dãy núi Fansipang hùng vĩ. Đây là quê hương của loại chè Shan Tuyết cổ thụ với hơn 300 hộ đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Khí hậu ở Suối Giàng bốn mùa se lạnh, tựa như Sapa, Đà Lạt. Chỉ mất chút ít thời gian thả hồn cùng những dải lúa cong cong theo vạt núi, từng nương ngô, nương cải xanh non trong sương bay bảng lảng là thấy mình như đứng trên mây.

    Từ trên cao nhìn xuống là biển lúa rộng mênh mông vàng óng Mường Lò, vựa lúa lớn thứ hai của khu vực Tây Bắc và thị xã Nghĩa Lộ thanh bình cùng nhịp sống của 13 dân tộc anh em. Tại đây, du khách có thể lên những cây chè cổ thụ trên trăm tuổi, hái những búp chè xanh non cùng thiếu nữ Hmông mến khách, hay đi dạo dưới rừng Pơ mu hoặc phiêu du cùng thác Tập Lang rì rầm nước chảy

    Suối Giàng nổi tiếng với những cây chè tuyết Shan cổ thụ hàng trăm năm tuổi, đường kính lên tới 100cm. Chè tuyết nơi đây phát triển tự nhiên trong tiểu vùng khí hậu quanh năm mát mẻ, chẳng cần phân bón mà vẫn đâm chồi nảy lộc xanh biếc. Lộc non sao lên, pha nước sôi, hương vị bốc lên thơm ngây ngất, uống vào thấy đượm vị ngọt lâu trên đầu lưỡi. Nhiều gia đình dân tộc Mông ở đây cũng nhờ những gốc chè này mà làm nên cơ nghiệp, cải thiện sinh hoạt trong cuộc sống. Họ coi đó là cây chè của đất trời ban tặng cho người Mông của xứ sở này.

    Đèo Lũng Lô nằm trên quốc lộ 37 (đường 379 cũ, nối quốc lộ 32 với quốc lộ 32B)) tại ranh giới hai huyện Văn Chấn (Yên Bái) và Phù Yên (Sơn La), đông bắc thị trấn Phù Yên 33 km. Đèo dài 15 km từ km349 đến km364, độ dốc 10%. Trong kháng chiến chống Pháp, một trong những con đường tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3-7/5/1954) qua đèo này. Trong bài thơ “Hoan Hô Chiến Sỹ Điện Biên” ra đời sau khi miền Bắc được giải phóng, Tố Hữu đã viết: Dốc Pha đin, chị gánh, anh thồ, Đèo Lũng lô, anh hò, chị hát. Gần đỉnh con đèo là điểm giáp ranh của cả 3 tính Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La.

    Cách Hà Nội gần 200km, Bản Hốc nằm ngay trung tâm của huyện Văn Chấn. Với gần 80% là dân tộc Thái, sống chủ yếu bằng làm nông nghiệp. Nơi đây còn lưu giữ khá nguyên vẹn những nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Thái.

    Nhà máy thủy điện Thác Bà

    Nhà máy thủy điện Thác Bà do Liên Xô giúp đỡ xây dựng là đứa con đầu lòng của nghành thủy điện Việt Nam, là nhà máy thủy điện được xây dựng đầu tiên ở miền Bắc nước ta. Nhà máy đã được xây dựng và lớn trong chiến tranh ác liệt khi nền kinh tế Miền Bắc còn non trẻ. Công tác khảo sát, thiết kế xây dựng được tiến hành từ năm 1959 đến năm 1961. Công trình được khởi công xây dựng ngày 19/8/1964. Sau hơn 10 năm xây dựng, ngày 5 tháng 10 năm 1971, nhà máy đã khởi động tổ máy số 1 và hòa vào lưới điện quốc gia, đây cũng là ngày được chọn là ngày thành lập Nhà máy thủy điện Thác Bà.

    Là một trong số ít những ngôi đền dọc bờ Sông Chảy còn giữ lại được cho đến tận ngày nay. Đền Thác Bà( hay Đền Mẫu Thác Bà) tọa lạc trên núi Hoàng Thi, từ lâu đã nổi tiếng là chốn linh thiêng với đông đảo du khách thập phương. Vượt qua 365 bậc đá, đến trước cửa sân đền, làn gió mát lành từ biển hồ đưa lên mang cảm giác nhẹ nhàng , thanh tịnh trốn cửa đền. Phóng tầm mắt ra xa, có thể bao quát toàn cảnh công trình thủy điện đầu tiên của cả nước và ngắm nhìn một vùng trời nước mênh mông, hữu tình. Hàng năm, Lễ hội Đền Thác Bà được tổ chức vào ngày 8 và 9 tháng Giêng âm lịch, hay còn gọi là lễ hội mùa xuân, lễ hội lớn nhất trong năm, với những nghi thức truyền thống trang trọng.

    – Ngoài đường thủy, du khách có thể đến Đền Thác Bà bằng đường bộ, theo tuyến đường: Trung tâm TPYên Bái – TT Yên Bình(9km) – Ngã ba Cát Lem (Đoan Hùng, Phú Thọ, 27km) – Đền Thác Bà( thị trấn Thác Bà 7km)

    Nằm ở phía Tây Bắc tổ quốc, hồ Thác Bà của tỉnh Yên Bái, nơi được ví như “Hạ Long trên núi” là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam hình thành khi xây dựng Nhà máy thuỷ điện Thác Bà.

    Nằm trong địa phận hai huyện Yên Bình và Lục Yên, Hồ Thác Bà rộng gần 23.500 ha với hơn 1.300 đảo xanh lớn nhỏ soi bóng dưới mặt nước cùng hệ thống hang động đẹp ẩn sâu trong lòng những dãy núi đá vôi. Chính sự kỳ bí ấy tạo cho Thác Bà một vẻ đẹp lung linh huyền hoặc nhưng lại rất thân thiện, hữu tình. Đi thuyền trên hồ Thác Bà, bạn không chỉ cảm nhận được bầu không khí mát lành từ nước, từ gió hồ Thác mà còn được hoà mình cùng thiên nhiên hào phóng, thả hồn mình vào mênh mông trời nước, điệp trùng núi đảo tưởng chừng như vô tận. Thắp một nén nhang tại đền Mẫu, trút bỏ những tính toan bộn bề cuộc sống, cầu cho cõi lòng thanh thản nơi cửa Phật từ bi để tiếp tục cuộc hành trình đưa bạn khám phá vẻ đẹp kỳ ảo của nhũ đá, của những tượng đá tự nhiên kỳ lạ ẩn chứa bao khát khao hoài bão của con người tại quần thể hang động đá vôi trên hồ như: Động Thuỷ Tiên, động Xuân Long, hang Bạch Xà, Thác Bà, Thác Ông …

    Núi Cao Biền là dãy núi lớn và dài nhất của thắng cảnh hồ Thác Bà. Đứng trên đỉnh Cao Biền mà đón ánh ban mai hay đợi hoàng hôn buông trên hồ Thác thì không có gì thú hơn. bạn được thoả sức phóng tầm mắt mà nhìn ngắm, mà cảm nhận vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, nét lung linh huyền ảo sắc nước gương trời của một vùng đất là nơi giao thoa giữa miền Tây Bắc và Trung du Bắc bộ, cửa ngõ của vùng Tây Bắc. Để tìm lại dấu ấn xưa của chợ Ngọc, chợ Ngà nổi tiếng Thác Bà một thời bán, buôn sầm uất… Ngồi ca nô ngược dòng sông Chảy không bao xa bạn sẽ được thăm thú vùng đất Ngọc Lục Yên với những danh thắng nổi tiếng như động Chùa São, đền Đại Cại… và chiêm ngưỡng sự kỳ ảo của những tác phẩm tranh đá quý tự nhiên dưới bàn tay tài hoa của người thợ.

    Được công nhận là Di sản thắng cảnh văn hoá từ tháng 9/1996, thắng cảnh hồ Thác Bà bên cạnh những lợi thế về vị trí địa lý như nằm trên trung lộ Hà Nội- Lào Cai, những làng, bản ven hồ Thác hiện nay vẫn còn giữ được nét hoang sơ, nguyên thuỷ cùng bản sắc văn hoá đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Phù Lá, Cao Lan… Các lễ hội truyền thống, tập quán sinh hoạt văn hoá riêng có của từng tộc người vẫn đang là sự lôi cuốn bạn thăm thú, tìm kiếm và khám phá Thác Bà.

    Bản Ngòi Tu thuộc xã Vũ Linh, Yên Bình. Là một bản với nhiều dân tộc anh em sinh sống, nhưng phần lớn vẫn là dân tộc Dao (Dao Quần Trắng), bản cách Hà Nội 165km nằm ở khu vực phía Tây-Bắc Việt Nam, theo đường QL2, QL70.

    Với những đặc trưng riêng, Ngòi Tu hấp dẫn du khách không những bởi có một vị trí đẹp, 1 phần đất liền và một nửa còn lại tiếp giáp mặt hồ nước mênh mông mà còn bởi nơi đây là sự hội tụ các giá trị truyền thống văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc Dao, Cao Lan, Nùng, trong đó chủ yếu là đồng bào Dao quần trắng.

    Đến với Ngòi Tu ngoài việc được thưởng thức những món ăn dân dẫ bạn sẽ còn được hòa mình vào phong cảnh hữu tình, say lòng cùng những làn điệu dân ca, những điệu múa : làm chay, xúc tép, rước dâu truyền thống … Với những bạn thích lang thang khám phát còn có thể tham gia trekking núi Yến, núi Cao Biền hoặc đạp xe khắp bản để khám phá văn hóa của người Dao.

    Tà Chì Nhù là tên gọi của một đỉnh núi thuộc khối núi Pú Luông của dãy núi Hoàng Liên Sơn, đỉnh Tà Chì Nhù có độ cao 2.979m thuộc địa phận huyện Trạm Tấu, Yên Bái. Tà Chì Nhù còn gọi là Phu Song Sung theo cách gọi của dân tộc Thái hay Chung Chua Nhà theo cách gọi của người Mông Địa hình của ngọn núi khá phức tạp với nhiều dốc cao, một số đoạn gần như dựng đứng. Khí hậu trên núi vô cùng khắc nghiệt, gió mạnh khiến cho quãng đường chinh phục đỉnh núi tương đối vất vả và nhiêu hiểm nguy rình rập.

    Tuy nguy hiểm và vất vả là thề, Tà Chì Nhù lại là một trong những địa điểm được các bạn ưa leo núi rất thích để “cưỡi gió – săn mây” và săn những bức ảnh tuyệt đẹp.

    Tà Sì Láng là một xã thuộc huyện Trạm Tấu, Yên Bái. Phía bắc giáp Bản Mù, phía Tây giáp Phù Yên (Sơn La), phía Đông và Nam giáp huyện Văn Chấn. Dân cư ở đây 100% là người H’Mong, sinh sống chủ yếu bằng nghề làm nương. Với đặc điểm địa hình hiểm trở trên độ cao gần 2000m, đường vào Tà Sì Láng cực kỳ khó khăn. Trước đây chỉ có đường dân sinh nhưng nay cũng đã mở rộng khoảng 4-5m, thường xuyên sạt lở và ách tắc vào mùa mưa bão. Độ dốc của con đường cũng thuộc dạng khủng, từ 15-20%. (So với 6-8% độ dốc trung bình của các con đường khác ở Tây Bắc)

    Háng Tề Chơ (Háng Đề Chơ) là bản xa nhất của xã Làng Nhì, Trạm Tấu, Yên Bái. Đây là một bản tập trung khoảng vài chục hộ dân người Mông Đen, bản cũng sở hữu ngọn thác cùng tên Háng Tề Chơ, được coi là một ngọn thác đẹp trong danh sách các điểm đến của Tây Bắc.

    Là một xã vùng cao của huyện Trạm Tấu, cách trung tâm huyện khoảng 12km. Nằm trên độ cao khoảng hơn 1000m so với mặt nước biển, Bản Mù quanh năm sương giăng kín lối với những ngôi nhà của đồng bào nằm lạc lõng trên những sườn núi.

    Nằm trên một đỉnh núi cao, bản Cu Vai thuộc xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, với hơn 80% người dân là đồng bào dân tộc H’Mông, cách trung tâm xã gần 20km đường đồi núi, trên bản có 46 hộ dân sinh sống.

    Suối khoáng nóng Trạm Tấu

    Cách trung tâm Trạm Tấu chưa đầy 2km về phía Tây Bắc là một khu suối khoáng nóng nằm ngay sát dưới chân những thửa ruộng bậc thang tuyệt đẹp, tọa lạc tại khu 5, thị trấn Trạm Tấu, Trạm Tấu.

    Để đặt ăn ngủ nghỉ tại khu suối khoáng Trạm Tấu, các bạn có thể liên hệ Anh Cường 0943 208 704 là chủ nhân của khu suối khoáng này.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu

    Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa bàn 4 xã: Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thượng của huyện Văn Yên có tọa độ địa lý từ 21051’35” đến 21057’00” vĩ độ Bắc và từ 104030’50” đến 104036’55” kinh độ Đông với tổng diện tích quy hoạch 16.950 ha, trong đó, khu bảo vệ nghiêm ngặt 7.250 ha, phân khu phục hồi sinh thái: 9.700 ha.

    Khu vực Nà Hẩu như một lòng chảo được tạo nên từ thung lũng hẹp, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi cao. Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều khe suối và các hợp thủy. Độ cao trung bình từ 600 – 700m so với mặt biển. Nơi cao nhất 1.788m, nơi thấp nhất 200m. Nhiệt độ bình quân 23,20C, lượng mưa bình quân 1.458,0 mm/năm, độ ẩm 85%. Hàng năm thường xuất hiện gió mùa Đông – Bắc vào tháng 11 và 12 kèm theo sương muối. Những ngày ít nắng, trời âm u, ở những nơi núi cao sương mù bao phủ cả ngày, độ ẩm không khí trong rừng rất lớn. Với điều kiện khí hậu như vậy rất phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển và khả năng tái sinh tự nhiên của cây rừng, thuận lợi cho các loài thực, động vật ở đây phát triển đa dạng và phong phú, tạo nên cấu trúc rừng rậm, nhiều tầng tán phù hợp với tính năng phòng hộ đầu nguồn.

    Trong khu bảo tồn thiên nhiên này, hệ rừng lá rộng thường xanh còn tương đối nguyên vẹn, nhiều khe, suối, thác nước chảy quanh năm. Cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, tầng tán được phân chia rõ rệt: tầng cao nhất là cây gỗ lớn nhô lên không liên tục chủ yếu là các loài như Chò nâu, Giổi, Trám…; tầng giữa là tầng ưu thế sinh thái, tán cây rừng liên tục cao gần ngang nhau, thuộc các loài cây thường xanh như Gội, De, Giẻ…; tầng dưới phân thành nhiều lớp cao thấp khác nhau, chủ yếu là các cây gỗ nhỏ ưa bóng; tầng thảm tươi chủ yếu là cây bụi, Dương sỉ, Cau rừng…; Hiện rừng tự nhiên vẫn còn trên 30 loài thực vật khác nhau, trong đó có những loài cây gỗ quý hiếm như Lát Hoa, Pơ mu… phát triển chủ yếu ở độ cao 700m trở lên. Hệ động vật trong khu bảo tồn khá phong phú và nhiều loài quý hiếm vẫn được gìn giữ và bảo tồn. Chủ yếu còn các loài thú như Chồn, Cầy hương, Lợn rừng, Rắn… và một số loài chim. Bên cạnh đó, người dân nơi đây chủ yếu là đồng bào dân tộc H’Mông và Dao với những nét đẹp văn hóa dân tộc đặc sắc như trang phục và nhà ở… vẫn được gìn giữ khá nguyên bản. Nà Hẩu khá thích hợp cho những nhóm bạn yêu thích trekking, cắm trại hay khám phá thiên nhiên.

    Đền Đông Cuông là một trong hai đền lớn ở thượng lưu sông Hồng, đã tồn tại từ lâu đời, tọa lạc tại xã Đông Cuông, huyện Văn Yên. Đền Đông Cuông là cụm di tích gồm 4 điểm: Ngoài Đến Chính còn có Miếu Cô, Miếu Cậu và Miến Đức Ông (Miếu Đức Ông tọa bên hữu ngạn sông Hồng đối diện với ngôi Đền Chính về hướng Nam cách 150m đường chim bay thuộc cụm di tích Đền Đông Cuông).

    Ở xã Cường Thịnh, huyện Trấn Yên có một hồ nước rất đẹp, thơ mộng và yên tĩnh. Một địa điểm thú vị để mọi người có thể khám phá thiên nhiên hay nghỉ ngơi, vui chơi, câu cá và tận hưởng bầu không khí trong lành, cảnh nguyên sơ nhưng đầy chất lãng mạn mà thiên nhiên ban tặng – đó là Hồ Chóp Dù.

    Nằm ngang lưng núi, hồ Chóp Dù rộng 16 ha, bao quanh hồ là cảnh quan sinh thái đa dạng với nhiều ngách xen lẫn với các khu rừng tự nhiên. Nước hồ ở đây trong xanh, phẳng lặng, soi bóng những vạt rừng.

    Chiến khu Vần là một vùng đất khá rộng, nằm ở phía Nam huyện Trấn Yên và Đông Nam huyện Văn Chấn. Trước năm 1945, Chiến khu Vần nằm ở địa bàn của 3 tổng là: Lương Ca, Giới Phiên (thuộc Trấn Yên) và Đại Lịch thuộc Văn Chấn có cự ly dài từ Bắc xuống Nam là 23km và từ Đông sang Tây 18km .

    Căn cứ cách mạng kiểu chiến khu có quy mô khá rộng trong đó có 2 vùng quan trọng nhất là làng Vần và làng Đồng Yếng.

    Làng Vần là thung lũng được bao bọc bởi các dãy núi có độ cao trung bình từ 200 đến 500m, thung lũng có chiều dài 4,5 km, đường đi lại khó khăn, ngày nay được kết cấu bằng những chân ruộng bậc thang, sau cách mạng được đồng bào khai phá (có độ chênh lệch thấp) nay gọi là Đồng Trò, Đồng Cây Gạo,… có ngòi Vần chạy dọc theo làng. Đây cũng là hợp lưu của 3 con ngòi nhỏ để tạo nên ngòi Vần. Địa thế hiểm trở, xưa chỉ có một con đường duy nhất vào làng và phải qua đèo. Vừa kín đáo lại vừa gần các trung tâm chính trị (tỉnh lỵ hai tỉnh Yên Bái – Phú Thọ) nên khu vực này đã được xứ uỷ Bắc Kỳ chọn làm nơi thuận lợi cho việc lập căn cứ cách mạng dần phát triển hình thành mô hình kiểu chiến khu.

    Làng Đồng Yếng cách làng Vần khoảng 4 km về phía Đông và cách Hiền Lương hơn 3 km về phía Tây. Là làng nằm giữa Vần và Hiền Lương. Có vị trí thuận lợi, đồi hình mâm xôi nên Đồng Yếng được đội du kích Âu Cơ chọn làm trung tâm huấn luyện quân sự để phát triển lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng ở Yên Bái và Phú Thọ.

    Cách thành phố Yên Bái hơn 10km về phía Nam, ở xã Minh Quân, huyện Trấn Yên, Hồ Đầm Hậu còn được gọi là Hồ 99 ngách ngay cạnh nút giao IC 12 đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai.

    Hồ Đầm Hậu quanh năm đầy nước, du khách đến đây, có thể chèo thuyền khám phá những ngóc nghách, những đảo lớn nhỏ hay vào vùng trung tâm hồ hòa mình cùng với thiên nhiên và cảm nhận bầu không khí trong lành, tìm cho mình một chỗ để có thể buông câu giúp tinh thần con người thoải mái. Trèo lên thân đập, phóng tầm mắt nhìn quanh hồ sẽ thấy một màu xanh mướt của những đảo cây in bóng xuống mặt nước lung linh huyền ảo thật kỳ thú. Và sau hành trình khám phá quanh hồ, du khách sẽ được thưởng thức ẩm thực tươi ngon từ nguồn thủy sản sẵn có của vùng hồ.

    Chợ đá Lục Yên họp tại một địa điểm khá đẹp nằm ở góc hồ nước lung linh ở Thị trấn Yên Thế, Lục Yên, Yen Bái. Chợ chỉ họp trong khoảng thời gian vài ba tiếng đồng hồ vào buổi sáng hàng ngày. Tùy mùa theo thời tiết mà phiên chợ diễn ra sớm hay muộn, nhưng áng chừng từ sáu rưỡi sáng người bán hàng bắt đầu đến chợ.

    Hàng được bày lên mặt bàn thành từng mớ. Hàng là các loại đá quý, đá bán quý các loại. Có thứ đã qua chế tác, có thứ còn để thô nguyên gốc. Nhưng dù ở dạng nào, những thứ hàng được bán ở cái chợ này đều khoe sắc lung linh. Những người bán hàng cho biết, đá quý được thu gom của những người đi núi về, có thời gian thì chế tác thành mặt đá cho nhẫn, dây chuyền, hoa tai… Có những thứ để làm nguyên liệu cho làm tranh đá quý, được bán bằng cân, bằng lạng.

    Chùa tháp Hắc Y – Đền Đại Cại

    Quần thể di tích đền Ðại Cại thuộc xã Tân Lĩnh, Lục Yên, cách thành phố Yên Bái khoảng 80km, bao gồm đình Bến Lăn, chùa tháp đất nung Hắc Y, đền Ðại Cại và thành nhà Bầu bao bọc quanh bãi đua ngựa huấn luyện kỵ binh.

    Quần thể này nằm dưới chân núi Vua áo đen, bên hữu là sông Chảy, trước mặt là suối Ðại Cại. Những thần được thờ ở đây đều là những người có công khai sơn lập thạch, mở mang chợ búa, lập ra làng bản, phố xá. Ðền Ðại Cại có từ thời hậu Lê, do nhân dân tổng Lâm Trượng hạ xây dựng để thờ bà Vũ Ngọc Anh, con gái một vị quần thần nhà Lê bị nhà Mạc giết hại. Bà là một danh nhân, chịu trách nhiệm việc đáp luỹ xây thành, lập ra các chợ. Ngoài ra, đền có thờ hai anh em Vũ Văn Mật và Vũ Văn Uyển có công lớn trong việc chống quân nhà Mạc. Ðền Ðại Cại, đình Bến Lăn có kiến trúc đẹp, có đủ các đồ thờ tự như bát nhang đồng, ngai thờ sơn son thếp vàng, đề có trạm trổ tứ quý làm từ gỗ tứ quý như chò chỉ, vàng tâm, lõi thọ, đinh hương. Ðặc biệt, những tảng đá kê cột đình, cột đền được chạm trổ hình mặt trăng, hoa sen, lá đề, mỗi tảng nặng hơn 100 kg. Ðền có chiên đồng, chuông đồng, có sắc phong của vua Cảnh Phong và vua Tự Ðức. Ngôi đền có kiến trúc đồ sộ, các chân tảng kê cột loại lớn có đường kính tới 45 cm, loại nhỏ 32 cm để đỡ các cột nách, cột lòng. Các chân tảng đều chạm 16 cánh hoa sen đều đặn vây quanh. Tại đây còn tìm thấy bệ Phật hoa sen bằng đất nung, bát sứ, lọ sứ men ngà rạn trang trí hình cánh sen rất đặc trưng của nghệ thuật thời Trần. Ngay dưới chân núi, tại dải thung lũng trải dài song song với sông Chảy vẫn còn lưu lại dấu vết của ngôi đền và những bức tường đất của một toà thành bao quanh. Bãi đua ngựa luyện tập kỵ binh nằm trong thành ngay trước của đình Bến Lăn.

    Theo sử sách, đền Suối Tiên xây dựng khoảng năm 1928 – 1929. Di tích đền Suối Tiên, với khuôn viên gần 6000m2, nằm trong không gian đậm nét văn hóa dân gian các dân tộc Lục Yên, gắn với những truyền tích huyền thoại xa xưa và hệ thống di tích lịch sử văn hóa quốc gia Đền Đại Cại – Hắc Y và khu khảo cổ tháp Chùa Thượng Miện thời Lý – Trần, là vùng đất “Non xanh kỳ thú – hấp dẫn tâm linh – Đất ngọc danh truyền”. Xung quanh có núi Thắm, núi Hắc Y, núi Bạch Mã với nhiều hang động, trên núi rừng hệ thảm thực động vật, thực vật, vi sinh vật đa dạng, phong phú; những núi đá độc lập, sừng sững kỳ vĩ; phía trước đền là giếng nước quanh năm trong mát, có loài cá bỗng bản địa (dân gọi là cá thần), tạo cho đền cảnh tĩnh lặng, huyền bí. Đặc biệt, trong những năm 1965-1966, các hang động ở khu đền Suối Tiên là nơi cất giấu vũ khí, lương thực phục vụ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

    Tìm trên Google:

    • các địa điểm du lịch ở Yên Bái
    • chơi gì khi đến Yên Bái
    • phượt Yên Bái có gì
    • cảnh đẹp Yên Bái
    • danh lam thắng cảnh Yên Bái
    • địa điểm du lịch tâm linh Yên Bái
    • đến Yên Bái nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Yên Bái

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Cần Biết Khi Đi Du Lịch Đài Loan
  • Đi Du Lịch Đài Loan Cần Những Gì?
  • Đi Du Lịch Thái Lan Tự Túc Cần Bao Nhiêu Tiền?
  • Phượt Hòn Sơn Kiên Giang, Chia Sẻ Kinh Nghiệm Đi Hòn Sơn Toàn Tập
  • Lịch Trình Du Lịch Yangon Tự Túc 3 Ngày
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Yên Bái (Cập Nhật 01/2021)

    --- Bài mới hơn ---

  • 20 Địa Điểm Du Lịch Tokyo Nhật Bản Đẹp Quên Lối Về Đáng Đi Nhất
  • Bản Đồ Trà Vinh Chi Tiết Và
  • Bản Đồ Trà Vinh Mới Và Chi Tiết Nhất
  • Bản Dồ Du Lịch Tràng An Tam Cốc Cúc Phương Hang Múa Ninh Bình
  • Bản Đồ Trung Quốc Ở Vị Trí Nào Thuộc Châu Á
  • Các địa điểm du lịch ở Yên Bái

    Cùng Phượt – Với nhiều người dường như du lịch Yên Bái chỉ có Mù Cang Chải, tuy nhiên các bạn có biết Yên Bái nơi cửa ngõ miền Tây Bắc là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ với trên 30 dân tộc anh em cùng chung sống, nơi đây có nền văn minh sông Hồng, sông Chảy, là trung điểm giao lưu giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc của tổ quốc. Nơi đây, với nhiều tiềm năng du lịch hấp dẫn, các địa điểm du lịch ở Yên Bái đa dạng với các di tích lịch sử cách mạng, hệ thống các đình, đền, chùa gắn liền với lịch sử dựng nước. Yên Bái cũng là địa điểm mà du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái phát triển khá mạnh ở khu vực Nghĩa Lộ và Hồ Thác Bà.

    Mù Cang Chải là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây của tỉnh Yên Bái, giáp với Thị xã Nghĩa Lộ, Mường La và Than Uyên của Lai Châu. Từ Hà Nội để đến với Mù Cang Chải bạn có thể lựa chọn đi theo hướng Quốc lộ 32 để cùng với đó khám phá đèo Khau Phạ, một trong tứ đại đỉnh đèo của Tây Bắc. Mù Cang Chải nổi tiếng nhất với khách du lịch bởi “đặc sản” ruộng bậc thang. Với hơn 700ha ruộng trong đó 50% tập trung ở 3 xã là La Pán Tẩn, Chế Cu Nha và Dế Xu Phình trải dài suốt đoạn đường từ đèo Khau Phạ về đến trung tâm thị trấn bạn sẽ không thể cưỡng lại được sự quyến rũ mê người từ màu vàng óng của những dãy núi trồng toàn lúa. Năm 2007 ruộng bậc thang Mù Cang Chải đã được xếp hạng là di tích danh thắng cấp quốc gia.

    Du lịch Nghĩa Lộ từ đã được nhiều người biết đến với những điểm du lịch hấp dẫn bởi nét đặc sắc trong văn hóa cũng như truyền thống cách mạng của các dân tộc sinh sống trên địa bàn như: Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu di tích lịch sử cách mạng Căng và Đồn Nghĩa Lộ, chợ Mường Lò, du lịch sinh thái ở xã Nghĩa Lợi, Nghĩa An…

    Nằm tại Thị xã Nghĩa Lộ, Sà Rèn là một bản làng nằm dọc ven bờ suối Thia, quanh năm róc rách bởi dòng Nậm Thia xanh mát, các bạn chỉ mất khoảng 2 tiếng đi xe ô tô là có thể đến tham quan, trải nghiệm điểm du lịch cộng đồng bản Sà Rèn, một nơi hoàn toàn chỉ có người Thái đen sinh sống và vẫn còn giữ được những nét văn hóa truyền thống vô cùng độc đáo.

    Bản Sà Rèn được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến bởi nơi đây vẫn nguyên vẹn vẻ đẹp thiên nhiên nguyên sơ, những khóm tre gắn bó sâu sắc với cuộc sống của người Thái đen được giữ gìn dọc ven bờ suối, những nếp nhà sàn cổ bên trong vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của người Thái, những con người miền sơn cước đôn hậu, thân thiện, mến khách.

    Chao Hạ là một bản người Thái của xã Nghĩa Lợi, Thị xã Nghĩa Lộ. Từ năm 2012, dưới sự đi đầu tiên phong của một vài người dân, Chao Hạ đã chuyển mình nghiêng theo hướng làm du lịch cộng đồng. Đến nay, bản đã là một trong những địa điểm đặc biệt yêu thích của khách du lịch nước ngoài. Đến bản Chao Hạ để du xuân ngắm cảnh núi rừng, trải nghiệm cuộc sống kiểu mới, thấy được hòa mình với thiên nhiên, với cộng đồng dân cư và thưởng thức những “món lạ” nơi đây

    Bản Đêu, xã Nghĩa An hiện đang lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống giàu bản sắc. Khách du lịch đến đây có thể hòa mình vào với đời sống của người địa phương. Khách ở dài ngày thì có thể đạp xe lên suối Nậm Đông để tắm hay đạp xe 30km lên Trạm Tấu để tìm hiểu đời sống sinh hoạt của người Mông hoặc có thể tham gia lao động cùng với gia đình. Mọi hoạt động đó đều được chính chủ nhà làm hướng dẫn viên.

    Quốc lộ 32 uốn lượn giữa miền núi non Tây Bắc “thanh sơn, bích thủy”. Núi cao, vực sâu, bạt ngàn cây rừng, lau lách. Rồi như một phép màu, con đường quốc lộ bỗng lọt vào một cánh đồng bằng phẳng biêng biếc sóng lúa Mường Lò. Ngỡ ngàng trước những mượt mà óng ả trong nắng trải tới chân núi xa, quả đúng như câu ca “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” nổi tiếng từ lâu.

    Cách thành phố Yên Bái 80 km về phía tây, Mường Lò nằm gọn trong lòng thị xã nghĩa Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn. Mường Lò là cánh đồng lớn thứ hai ở miền núi phía Bắc, chỉ sau Mường Thanh – Điện Biên (còn hai cánh đồng nhỏ hơn là Mường Than – Than Uyên và Mường Tấc – Phù Yên). Người Thái đen đã định cư lâu đời ở nơi đây. Theo câu chuyện sử thi của người Thái kể rằng: Hai anh em Tạo Xuông và Tạo Ngần tìm nơi lập nghiệp. Tạo Xuông đã dừng chân dựng bản làng ở Mường Lò, xây dựng nên vùng đất tổ tiên của người Thái đen ở khắp vùng Tây Bắc vì thấy ở đây đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào.

    Câu tục ngữ: “Thái theo nước, Xá theo lửa” nói về tập quán canh tác của người Thái trồng lúa nước, người Xá (Khơ Mú) đốt nương làm rẫy. Còn ông Tạo Ngần lên Mường Then (Mường Thanh ngày nay) xây dựng bản làng người Thái trắng cũng trồng lúa nước là chủ yếu. Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò đã thành danh từ lâu. Hương thơm của hạt gạo nơi này đã bay xa, vượt núi non đến nhiều nơi được rất đông người biết đến.

    Xuôi theo quốc lộ 32 với những miên man suy nghĩ về Mường Lò, Yên Bái. Để rồi ngỡ ngàng khi chứng kiến vẻ đẹp của những cánh đồng lúa chín vàng, thoai thoải bậc thang tiến về phía núi. Con suối Nậm Thia vắt ngang qua thung lũng như vẽ một dải lụa mềm uốn lượn giữa sóng lúa vàng. Tôi giật mình trước vẻ đẹp Mường Lò với một bóng người con gái Thái gánh lúa trên vai đang rẽ ngang con suối để rồi sẽ chẳng bao giờ lòng có thể quên.

    “Ngày xưa, nơi ấy có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng. Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối Nậm Thia, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát. Những sóng vàng của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi.

    Chỉ có người Thái đen ở Mường Lò mới có tục hát mời rượu và cũng chỉ có ở đây thì du khách mới có thể được nâng chén cùng lời ca mời rượu, cùng điệu Xòe Thái dập dìu bên bếp lửa nhà sàn. Tiếng hát người con gái Thái bên mâm rượu đã từng làm say bao du khách khi đến bản Mường. Tiếng hát như hơi rượu ngấm vào lòng người không thể nào quên.

    Di tích Căng Đồn Nghĩa Lộ

    Khi nhắc tới lịch sử của Căng và Đồn Nghĩa Lộ là nhắc tới địa danh Văn Chấn (nay thuộc Thị xã Nghĩa Lộ) và nhắc tới lịch sử nơi này thời kỳ kháng chiến chống Pháp những năm 40 của thế kỷ XX. Với ý đồ dập tắt phong trào cách mạng, Thực dân Pháp lập các trại “lao động đặc biệt” tập trung những người yêu nước. Sau khi Căng Bá Vân (Thái Nguyên) bị giải thể, Thực dân Pháp đã đưa những người yêu nước bị giam về Nghĩa Lộ. Mùa hè năm 1944 chi phủ Văn Chấn đã huy động các tổng, xã bắt phu nộp vật liệu để xây dựng Căng. Thực dân Pháp còn cử tên Đinh Văn Dung và tên Lăm – Be sở mật thám huyện đến kiểm tra đôn đốc khẩn trương ngày đêm. Tháng 1/1945 thì việc xây dựng hoàn thành. Nhìn toàn cảnh lúc này Căng Nghĩa Lộ như một cái tủ dựng đứng có 3 dãy nhà dài “hai dãy là nơi giam giữ chính phạm nam giới, phía trong giam chính trị phạm nữ giới, phía ngoài là nơi thường trực và bên cạnh là trạm gác của lính khố xanh”. Bao bọc toàn bộ khu Căng Đồn là hàng rào dây thép gai, phía ngoài hàng rào là hầm sâu có cắm chông, bồn góc Căng có chòi cao sừng sững ngày đêm canh giữ cẩn mật…

    Xã Suối Giàng nằm ở Văn Chấn trên độ cao 1.371m so với mực nước biển, nằm sâu trên dãy núi Fansipang hùng vĩ. Đây là quê hương của loại chè Shan Tuyết cổ thụ với hơn 300 hộ đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Khí hậu ở Suối Giàng bốn mùa se lạnh, tựa như Sapa, Đà Lạt. Chỉ mất chút ít thời gian thả hồn cùng những dải lúa cong cong theo vạt núi, từng nương ngô, nương cải xanh non trong sương bay bảng lảng là thấy mình như đứng trên mây.

    Từ trên cao nhìn xuống là biển lúa rộng mênh mông vàng óng Mường Lò, vựa lúa lớn thứ hai của khu vực Tây Bắc và thị xã Nghĩa Lộ thanh bình cùng nhịp sống của 13 dân tộc anh em. Tại đây, du khách có thể lên những cây chè cổ thụ trên trăm tuổi, hái những búp chè xanh non cùng thiếu nữ Hmông mến khách, hay đi dạo dưới rừng Pơ mu hoặc phiêu du cùng thác Tập Lang rì rầm nước chảy

    Suối Giàng nổi tiếng với những cây chè tuyết Shan cổ thụ hàng trăm năm tuổi, đường kính lên tới 100cm. Chè tuyết nơi đây phát triển tự nhiên trong tiểu vùng khí hậu quanh năm mát mẻ, chẳng cần phân bón mà vẫn đâm chồi nảy lộc xanh biếc. Lộc non sao lên, pha nước sôi, hương vị bốc lên thơm ngây ngất, uống vào thấy đượm vị ngọt lâu trên đầu lưỡi. Nhiều gia đình dân tộc Mông ở đây cũng nhờ những gốc chè này mà làm nên cơ nghiệp, cải thiện sinh hoạt trong cuộc sống. Họ coi đó là cây chè của đất trời ban tặng cho người Mông của xứ sở này.

    Đèo Lũng Lô nằm trên quốc lộ 37 (đường 379 cũ, nối quốc lộ 32 với quốc lộ 32B)) tại ranh giới hai huyện Văn Chấn (Yên Bái) và Phù Yên (Sơn La), đông bắc thị trấn Phù Yên 33 km. Đèo dài 15 km từ km349 đến km364, độ dốc 10%. Trong kháng chiến chống Pháp, một trong những con đường tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3-7/5/1954) qua đèo này. Trong bài thơ “Hoan Hô Chiến Sỹ Điện Biên” ra đời sau khi miền Bắc được giải phóng, Tố Hữu đã viết: Dốc Pha đin, chị gánh, anh thồ, Đèo Lũng lô, anh hò, chị hát. Gần đỉnh con đèo là điểm giáp ranh của cả 3 tính Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La.

    Cách Hà Nội gần 200km, Bản Hốc nằm ngay trung tâm của huyện Văn Chấn. Với gần 80% là dân tộc Thái, sống chủ yếu bằng làm nông nghiệp. Nơi đây còn lưu giữ khá nguyên vẹn những nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Thái.

    Nhà máy thủy điện Thác Bà

    Nhà máy thủy điện Thác Bà do Liên Xô giúp đỡ xây dựng là đứa con đầu lòng của nghành thủy điện Việt Nam, là nhà máy thủy điện được xây dựng đầu tiên ở miền Bắc nước ta. Nhà máy đã được xây dựng và lớn trong chiến tranh ác liệt khi nền kinh tế Miền Bắc còn non trẻ. Công tác khảo sát, thiết kế xây dựng được tiến hành từ năm 1959 đến năm 1961. Công trình được khởi công xây dựng ngày 19/8/1964. Sau hơn 10 năm xây dựng, ngày 5 tháng 10 năm 1971, nhà máy đã khởi động tổ máy số 1 và hòa vào lưới điện quốc gia, đây cũng là ngày được chọn là ngày thành lập Nhà máy thủy điện Thác Bà.

    Là một trong số ít những ngôi đền dọc bờ Sông Chảy còn giữ lại được cho đến tận ngày nay. Đền Thác Bà( hay Đền Mẫu Thác Bà) tọa lạc trên núi Hoàng Thi, từ lâu đã nổi tiếng là chốn linh thiêng với đông đảo du khách thập phương. Vượt qua 365 bậc đá, đến trước cửa sân đền, làn gió mát lành từ biển hồ đưa lên mang cảm giác nhẹ nhàng , thanh tịnh trốn cửa đền. Phóng tầm mắt ra xa, có thể bao quát toàn cảnh công trình thủy điện đầu tiên của cả nước và ngắm nhìn một vùng trời nước mênh mông, hữu tình. Hàng năm, Lễ hội Đền Thác Bà được tổ chức vào ngày 8 và 9 tháng Giêng âm lịch, hay còn gọi là lễ hội mùa xuân, lễ hội lớn nhất trong năm, với những nghi thức truyền thống trang trọng.

    – Ngoài đường thủy, du khách có thể đến Đền Thác Bà bằng đường bộ, theo tuyến đường: Trung tâm TPYên Bái – TT Yên Bình(9km) – Ngã ba Cát Lem (Đoan Hùng, Phú Thọ, 27km) – Đền Thác Bà( thị trấn Thác Bà 7km)

    Nằm ở phía Tây Bắc tổ quốc, hồ Thác Bà của tỉnh Yên Bái, nơi được ví như “Hạ Long trên núi” là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam hình thành khi xây dựng Nhà máy thuỷ điện Thác Bà.

    Nằm trong địa phận hai huyện Yên Bình và Lục Yên, Hồ Thác Bà rộng gần 23.500 ha với hơn 1.300 đảo xanh lớn nhỏ soi bóng dưới mặt nước cùng hệ thống hang động đẹp ẩn sâu trong lòng những dãy núi đá vôi. Chính sự kỳ bí ấy tạo cho Thác Bà một vẻ đẹp lung linh huyền hoặc nhưng lại rất thân thiện, hữu tình. Đi thuyền trên hồ Thác Bà, bạn không chỉ cảm nhận được bầu không khí mát lành từ nước, từ gió hồ Thác mà còn được hoà mình cùng thiên nhiên hào phóng, thả hồn mình vào mênh mông trời nước, điệp trùng núi đảo tưởng chừng như vô tận. Thắp một nén nhang tại đền Mẫu, trút bỏ những tính toan bộn bề cuộc sống, cầu cho cõi lòng thanh thản nơi cửa Phật từ bi để tiếp tục cuộc hành trình đưa bạn khám phá vẻ đẹp kỳ ảo của nhũ đá, của những tượng đá tự nhiên kỳ lạ ẩn chứa bao khát khao hoài bão của con người tại quần thể hang động đá vôi trên hồ như: Động Thuỷ Tiên, động Xuân Long, hang Bạch Xà, Thác Bà, Thác Ông …

    Núi Cao Biền là dãy núi lớn và dài nhất của thắng cảnh hồ Thác Bà. Đứng trên đỉnh Cao Biền mà đón ánh ban mai hay đợi hoàng hôn buông trên hồ Thác thì không có gì thú hơn. bạn được thoả sức phóng tầm mắt mà nhìn ngắm, mà cảm nhận vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, nét lung linh huyền ảo sắc nước gương trời của một vùng đất là nơi giao thoa giữa miền Tây Bắc và Trung du Bắc bộ, cửa ngõ của vùng Tây Bắc. Để tìm lại dấu ấn xưa của chợ Ngọc, chợ Ngà nổi tiếng Thác Bà một thời bán, buôn sầm uất… Ngồi ca nô ngược dòng sông Chảy không bao xa bạn sẽ được thăm thú vùng đất Ngọc Lục Yên với những danh thắng nổi tiếng như động Chùa São, đền Đại Cại… và chiêm ngưỡng sự kỳ ảo của những tác phẩm tranh đá quý tự nhiên dưới bàn tay tài hoa của người thợ.

    Được công nhận là Di sản thắng cảnh văn hoá từ tháng 9/1996, thắng cảnh hồ Thác Bà bên cạnh những lợi thế về vị trí địa lý như nằm trên trung lộ Hà Nội- Lào Cai, những làng, bản ven hồ Thác hiện nay vẫn còn giữ được nét hoang sơ, nguyên thuỷ cùng bản sắc văn hoá đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Phù Lá, Cao Lan… Các lễ hội truyền thống, tập quán sinh hoạt văn hoá riêng có của từng tộc người vẫn đang là sự lôi cuốn bạn thăm thú, tìm kiếm và khám phá Thác Bà.

    Bản Ngòi Tu thuộc xã Vũ Linh, Yên Bình. Là một bản với nhiều dân tộc anh em sinh sống, nhưng phần lớn vẫn là dân tộc Dao (Dao Quần Trắng), bản cách Hà Nội 165km nằm ở khu vực phía Tây-Bắc Việt Nam, theo đường QL2, QL70.

    Với những đặc trưng riêng, Ngòi Tu hấp dẫn du khách không những bởi có một vị trí đẹp, 1 phần đất liền và một nửa còn lại tiếp giáp mặt hồ nước mênh mông mà còn bởi nơi đây là sự hội tụ các giá trị truyền thống văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc Dao, Cao Lan, Nùng, trong đó chủ yếu là đồng bào Dao quần trắng.

    Đến với Ngòi Tu ngoài việc được thưởng thức những món ăn dân dẫ bạn sẽ còn được hòa mình vào phong cảnh hữu tình, say lòng cùng những làn điệu dân ca, những điệu múa : làm chay, xúc tép, rước dâu truyền thống … Với những bạn thích lang thang khám phát còn có thể tham gia trekking núi Yến, núi Cao Biền hoặc đạp xe khắp bản để khám phá văn hóa của người Dao.

    Tà Chì Nhù là tên gọi của một đỉnh núi thuộc khối núi Pú Luông của dãy núi Hoàng Liên Sơn, đỉnh Tà Chì Nhù có độ cao 2.979m thuộc địa phận huyện Trạm Tấu, Yên Bái. Tà Chì Nhù còn gọi là Phu Song Sung theo cách gọi của dân tộc Thái hay Chung Chua Nhà theo cách gọi của người Mông Địa hình của ngọn núi khá phức tạp với nhiều dốc cao, một số đoạn gần như dựng đứng. Khí hậu trên núi vô cùng khắc nghiệt, gió mạnh khiến cho quãng đường chinh phục đỉnh núi tương đối vất vả và nhiêu hiểm nguy rình rập.

    Tuy nguy hiểm và vất vả là thề, Tà Chì Nhù lại là một trong những địa điểm được các bạn ưa leo núi rất thích để “cưỡi gió – săn mây” và săn những bức ảnh tuyệt đẹp.

    Tà Sì Láng là một xã thuộc huyện Trạm Tấu, Yên Bái. Phía bắc giáp Bản Mù, phía Tây giáp Phù Yên (Sơn La), phía Đông và Nam giáp huyện Văn Chấn. Dân cư ở đây 100% là người H’Mong, sinh sống chủ yếu bằng nghề làm nương. Với đặc điểm địa hình hiểm trở trên độ cao gần 2000m, đường vào Tà Sì Láng cực kỳ khó khăn. Trước đây chỉ có đường dân sinh nhưng nay cũng đã mở rộng khoảng 4-5m, thường xuyên sạt lở và ách tắc vào mùa mưa bão. Độ dốc của con đường cũng thuộc dạng khủng, từ 15-20%. (So với 6-8% độ dốc trung bình của các con đường khác ở Tây Bắc)

    Háng Tề Chơ (Háng Đề Chơ) là bản xa nhất của xã Làng Nhì, Trạm Tấu, Yên Bái. Đây là một bản tập trung khoảng vài chục hộ dân người Mông Đen, bản cũng sở hữu ngọn thác cùng tên Háng Tề Chơ, được coi là một ngọn thác đẹp trong danh sách các điểm đến của Tây Bắc.

    Là một xã vùng cao của huyện Trạm Tấu, cách trung tâm huyện khoảng 12km. Nằm trên độ cao khoảng hơn 1000m so với mặt nước biển, Bản Mù quanh năm sương giăng kín lối với những ngôi nhà của đồng bào nằm lạc lõng trên những sườn núi.

    Nằm trên một đỉnh núi cao, bản Cu Vai thuộc xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, với hơn 80% người dân là đồng bào dân tộc H’Mông, cách trung tâm xã gần 20km đường đồi núi, trên bản có 46 hộ dân sinh sống.

    Suối khoáng nóng Trạm Tấu

    Cách trung tâm Trạm Tấu chưa đầy 2km về phía Tây Bắc là một khu suối khoáng nóng nằm ngay sát dưới chân những thửa ruộng bậc thang tuyệt đẹp, tọa lạc tại khu 5, thị trấn Trạm Tấu, Trạm Tấu.

    Để đặt ăn ngủ nghỉ tại khu suối khoáng Trạm Tấu, các bạn có thể liên hệ Anh Cường 0943 208 704 là chủ nhân của khu suối khoáng này.

    Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu

    Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa bàn 4 xã: Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thượng của huyện Văn Yên có tọa độ địa lý từ 21051’35” đến 21057’00” vĩ độ Bắc và từ 104030’50” đến 104036’55” kinh độ Đông với tổng diện tích quy hoạch 16.950 ha, trong đó, khu bảo vệ nghiêm ngặt 7.250 ha, phân khu phục hồi sinh thái: 9.700 ha.

    Khu vực Nà Hẩu như một lòng chảo được tạo nên từ thung lũng hẹp, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi cao. Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều khe suối và các hợp thủy. Độ cao trung bình từ 600 – 700m so với mặt biển. Nơi cao nhất 1.788m, nơi thấp nhất 200m. Nhiệt độ bình quân 23,20C, lượng mưa bình quân 1.458,0 mm/năm, độ ẩm 85%. Hàng năm thường xuất hiện gió mùa Đông – Bắc vào tháng 11 và 12 kèm theo sương muối. Những ngày ít nắng, trời âm u, ở những nơi núi cao sương mù bao phủ cả ngày, độ ẩm không khí trong rừng rất lớn. Với điều kiện khí hậu như vậy rất phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển và khả năng tái sinh tự nhiên của cây rừng, thuận lợi cho các loài thực, động vật ở đây phát triển đa dạng và phong phú, tạo nên cấu trúc rừng rậm, nhiều tầng tán phù hợp với tính năng phòng hộ đầu nguồn.

    Trong khu bảo tồn thiên nhiên này, hệ rừng lá rộng thường xanh còn tương đối nguyên vẹn, nhiều khe, suối, thác nước chảy quanh năm. Cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, tầng tán được phân chia rõ rệt: tầng cao nhất là cây gỗ lớn nhô lên không liên tục chủ yếu là các loài như Chò nâu, Giổi, Trám…; tầng giữa là tầng ưu thế sinh thái, tán cây rừng liên tục cao gần ngang nhau, thuộc các loài cây thường xanh như Gội, De, Giẻ…; tầng dưới phân thành nhiều lớp cao thấp khác nhau, chủ yếu là các cây gỗ nhỏ ưa bóng; tầng thảm tươi chủ yếu là cây bụi, Dương sỉ, Cau rừng…; Hiện rừng tự nhiên vẫn còn trên 30 loài thực vật khác nhau, trong đó có những loài cây gỗ quý hiếm như Lát Hoa, Pơ mu… phát triển chủ yếu ở độ cao 700m trở lên. Hệ động vật trong khu bảo tồn khá phong phú và nhiều loài quý hiếm vẫn được gìn giữ và bảo tồn. Chủ yếu còn các loài thú như Chồn, Cầy hương, Lợn rừng, Rắn… và một số loài chim. Bên cạnh đó, người dân nơi đây chủ yếu là đồng bào dân tộc H’Mông và Dao với những nét đẹp văn hóa dân tộc đặc sắc như trang phục và nhà ở… vẫn được gìn giữ khá nguyên bản. Nà Hẩu khá thích hợp cho những nhóm bạn yêu thích trekking, cắm trại hay khám phá thiên nhiên.

    Đền Đông Cuông là một trong hai đền lớn ở thượng lưu sông Hồng, đã tồn tại từ lâu đời, tọa lạc tại xã Đông Cuông, huyện Văn Yên. Đền Đông Cuông là cụm di tích gồm 4 điểm: Ngoài Đến Chính còn có Miếu Cô, Miếu Cậu và Miến Đức Ông (Miếu Đức Ông tọa bên hữu ngạn sông Hồng đối diện với ngôi Đền Chính về hướng Nam cách 150m đường chim bay thuộc cụm di tích Đền Đông Cuông).

    Ở xã Cường Thịnh, huyện Trấn Yên có một hồ nước rất đẹp, thơ mộng và yên tĩnh. Một địa điểm thú vị để mọi người có thể khám phá thiên nhiên hay nghỉ ngơi, vui chơi, câu cá và tận hưởng bầu không khí trong lành, cảnh nguyên sơ nhưng đầy chất lãng mạn mà thiên nhiên ban tặng – đó là Hồ Chóp Dù.

    Nằm ngang lưng núi, hồ Chóp Dù rộng 16 ha, bao quanh hồ là cảnh quan sinh thái đa dạng với nhiều ngách xen lẫn với các khu rừng tự nhiên. Nước hồ ở đây trong xanh, phẳng lặng, soi bóng những vạt rừng.

    Chiến khu Vần là một vùng đất khá rộng, nằm ở phía Nam huyện Trấn Yên và Đông Nam huyện Văn Chấn. Trước năm 1945, Chiến khu Vần nằm ở địa bàn của 3 tổng là: Lương Ca, Giới Phiên (thuộc Trấn Yên) và Đại Lịch thuộc Văn Chấn có cự ly dài từ Bắc xuống Nam là 23km và từ Đông sang Tây 18km .

    Căn cứ cách mạng kiểu chiến khu có quy mô khá rộng trong đó có 2 vùng quan trọng nhất là làng Vần và làng Đồng Yếng.

    Làng Vần là thung lũng được bao bọc bởi các dãy núi có độ cao trung bình từ 200 đến 500m, thung lũng có chiều dài 4,5 km, đường đi lại khó khăn, ngày nay được kết cấu bằng những chân ruộng bậc thang, sau cách mạng được đồng bào khai phá (có độ chênh lệch thấp) nay gọi là Đồng Trò, Đồng Cây Gạo,… có ngòi Vần chạy dọc theo làng. Đây cũng là hợp lưu của 3 con ngòi nhỏ để tạo nên ngòi Vần. Địa thế hiểm trở, xưa chỉ có một con đường duy nhất vào làng và phải qua đèo. Vừa kín đáo lại vừa gần các trung tâm chính trị (tỉnh lỵ hai tỉnh Yên Bái – Phú Thọ) nên khu vực này đã được xứ uỷ Bắc Kỳ chọn làm nơi thuận lợi cho việc lập căn cứ cách mạng dần phát triển hình thành mô hình kiểu chiến khu.

    Làng Đồng Yếng cách làng Vần khoảng 4 km về phía Đông và cách Hiền Lương hơn 3 km về phía Tây. Là làng nằm giữa Vần và Hiền Lương. Có vị trí thuận lợi, đồi hình mâm xôi nên Đồng Yếng được đội du kích Âu Cơ chọn làm trung tâm huấn luyện quân sự để phát triển lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng ở Yên Bái và Phú Thọ.

    Cách thành phố Yên Bái hơn 10km về phía Nam, ở xã Minh Quân, huyện Trấn Yên, Hồ Đầm Hậu còn được gọi là Hồ 99 ngách ngay cạnh nút giao IC 12 đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai.

    Hồ Đầm Hậu quanh năm đầy nước, du khách đến đây, có thể chèo thuyền khám phá những ngóc nghách, những đảo lớn nhỏ hay vào vùng trung tâm hồ hòa mình cùng với thiên nhiên và cảm nhận bầu không khí trong lành, tìm cho mình một chỗ để có thể buông câu giúp tinh thần con người thoải mái. Trèo lên thân đập, phóng tầm mắt nhìn quanh hồ sẽ thấy một màu xanh mướt của những đảo cây in bóng xuống mặt nước lung linh huyền ảo thật kỳ thú. Và sau hành trình khám phá quanh hồ, du khách sẽ được thưởng thức ẩm thực tươi ngon từ nguồn thủy sản sẵn có của vùng hồ.

    Chợ đá Lục Yên họp tại một địa điểm khá đẹp nằm ở góc hồ nước lung linh ở Thị trấn Yên Thế, Lục Yên, Yen Bái. Chợ chỉ họp trong khoảng thời gian vài ba tiếng đồng hồ vào buổi sáng hàng ngày. Tùy mùa theo thời tiết mà phiên chợ diễn ra sớm hay muộn, nhưng áng chừng từ sáu rưỡi sáng người bán hàng bắt đầu đến chợ.

    Hàng được bày lên mặt bàn thành từng mớ. Hàng là các loại đá quý, đá bán quý các loại. Có thứ đã qua chế tác, có thứ còn để thô nguyên gốc. Nhưng dù ở dạng nào, những thứ hàng được bán ở cái chợ này đều khoe sắc lung linh. Những người bán hàng cho biết, đá quý được thu gom của những người đi núi về, có thời gian thì chế tác thành mặt đá cho nhẫn, dây chuyền, hoa tai… Có những thứ để làm nguyên liệu cho làm tranh đá quý, được bán bằng cân, bằng lạng.

    Chùa tháp Hắc Y – Đền Đại Cại

    Quần thể di tích đền Ðại Cại thuộc xã Tân Lĩnh, Lục Yên, cách thành phố Yên Bái khoảng 80km, bao gồm đình Bến Lăn, chùa tháp đất nung Hắc Y, đền Ðại Cại và thành nhà Bầu bao bọc quanh bãi đua ngựa huấn luyện kỵ binh.

    Quần thể này nằm dưới chân núi Vua áo đen, bên hữu là sông Chảy, trước mặt là suối Ðại Cại. Những thần được thờ ở đây đều là những người có công khai sơn lập thạch, mở mang chợ búa, lập ra làng bản, phố xá. Ðền Ðại Cại có từ thời hậu Lê, do nhân dân tổng Lâm Trượng hạ xây dựng để thờ bà Vũ Ngọc Anh, con gái một vị quần thần nhà Lê bị nhà Mạc giết hại. Bà là một danh nhân, chịu trách nhiệm việc đáp luỹ xây thành, lập ra các chợ. Ngoài ra, đền có thờ hai anh em Vũ Văn Mật và Vũ Văn Uyển có công lớn trong việc chống quân nhà Mạc. Ðền Ðại Cại, đình Bến Lăn có kiến trúc đẹp, có đủ các đồ thờ tự như bát nhang đồng, ngai thờ sơn son thếp vàng, đề có trạm trổ tứ quý làm từ gỗ tứ quý như chò chỉ, vàng tâm, lõi thọ, đinh hương. Ðặc biệt, những tảng đá kê cột đình, cột đền được chạm trổ hình mặt trăng, hoa sen, lá đề, mỗi tảng nặng hơn 100 kg. Ðền có chiên đồng, chuông đồng, có sắc phong của vua Cảnh Phong và vua Tự Ðức. Ngôi đền có kiến trúc đồ sộ, các chân tảng kê cột loại lớn có đường kính tới 45 cm, loại nhỏ 32 cm để đỡ các cột nách, cột lòng. Các chân tảng đều chạm 16 cánh hoa sen đều đặn vây quanh. Tại đây còn tìm thấy bệ Phật hoa sen bằng đất nung, bát sứ, lọ sứ men ngà rạn trang trí hình cánh sen rất đặc trưng của nghệ thuật thời Trần. Ngay dưới chân núi, tại dải thung lũng trải dài song song với sông Chảy vẫn còn lưu lại dấu vết của ngôi đền và những bức tường đất của một toà thành bao quanh. Bãi đua ngựa luyện tập kỵ binh nằm trong thành ngay trước của đình Bến Lăn.

    Theo sử sách, đền Suối Tiên xây dựng khoảng năm 1928 – 1929. Di tích đền Suối Tiên, với khuôn viên gần 6000m2, nằm trong không gian đậm nét văn hóa dân gian các dân tộc Lục Yên, gắn với những truyền tích huyền thoại xa xưa và hệ thống di tích lịch sử văn hóa quốc gia Đền Đại Cại – Hắc Y và khu khảo cổ tháp Chùa Thượng Miện thời Lý – Trần, là vùng đất “Non xanh kỳ thú – hấp dẫn tâm linh – Đất ngọc danh truyền”. Xung quanh có núi Thắm, núi Hắc Y, núi Bạch Mã với nhiều hang động, trên núi rừng hệ thảm thực động vật, thực vật, vi sinh vật đa dạng, phong phú; những núi đá độc lập, sừng sững kỳ vĩ; phía trước đền là giếng nước quanh năm trong mát, có loài cá bỗng bản địa (dân gọi là cá thần), tạo cho đền cảnh tĩnh lặng, huyền bí. Đặc biệt, trong những năm 1965-1966, các hang động ở khu đền Suối Tiên là nơi cất giấu vũ khí, lương thực phục vụ cho cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

    Tìm trên Google:

    • các địa điểm du lịch ở Yên Bái
    • chơi gì khi đến Yên Bái
    • phượt Yên Bái có gì
    • cảnh đẹp Yên Bái
    • danh lam thắng cảnh Yên Bái
    • địa điểm du lịch tâm linh Yên Bái
    • đến Yên Bái nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Yên Bái

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Yên Bái: Từng Bước Khẳng Định Thương Hiệu Yên Bái Trên Bản Đồ Du Lịch Việt Nam
  • Bản Đồ Yên Bái Kích Thước Lớn Chi Tiết Nhất
  • Bản Đồ Yên Bài Về Hành Chính Du Lịch
  • Bản Đồ Du Lịch, Hành Chính Tỉnh Yên Bái Online 2022
  • Bản Đồ Vĩnh Phúc Về Hành Chính Du Lịch
  • Khu Du Lịch Hồ Thác Bà (Yên Bái)

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tướng Duyệt Quy Hoạch Khu Du Lịch Quốc Gia Hồ Thác Bà Yên Bái
  • Yên Bái: Quy Hoạch Tổng Thể Khu Du Lịch Hồ Thác Bà
  • Ngắm Vẻ Đẹp Ma Mị Trong Khu Du Lịch Hồ Thủy Tiên Ở Huế
  • Khu Du Lịch Hồ Thủy Tiên Đang Hoang Phế
  • Top 5 Resort Hồ Tràm Chuẩn ‘sang Chảnh’ Dành Cho Chuyến Du Lịch Nghỉ Dưỡng
  • Cách Hà Nội 140km về phía Tây theo quốc lộ 2, trong lưu vực sông Chảy thuộc địa phận huyện Yên Bình và một phần huyện Lục Yên, Thác Bà là tên gọi hồ nước nhân tạo được khởi công xây dựng từ năm 1962 và hoàn thành năm 1970 với mục đích làm nghẽn dòng sông Chảy tạo ra hồ nước phục vụ cho công trình nhà máy thủy điện Thác Bà. Nguyên trước khi đắp đập làm hồ, trong khu vực hồ Thác Bà hiện nay đã từng tồn tại hai thác nước liên hoàn với dòng nước đổ mạnh và chảy xiết, được người dân địa phương gọi là “thác Ông” – “thác Bà”.

    Sau này khi hình thành hồ thủy điện, cả hai thác này đều bị vùi sâu trong lòng hồ. Để lưu danh những thác nước nổi tiếng gắn với niềm tin thánh tín của người dân địa phương nay chỉ còn trong ký ức, hồ đã được đặt tên “Thác Bà”. Tên “Thác Ông” cũng được đặt cho một cây cầu gần đó.

    Vào thời điểm xây dựng, hồ Thác Bà là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam, nguồn cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Thác Bà – công trình thủy điện đầu tiên của Việt Nam. Ngoài dòng sông Chảy là nơi cung cấp nguồn nước chủ yếu, hồ Thác Bà còn nhận thêm nguồn nước từ hệ thống ngòi lớn như ngòi Hành, ngòi Cát…, làm tăng lượng phù sa và phong phú các loài sinh vật.

    Với chiều dài 80km, chiều rộng nơi lớn nhất 30km, diện tích 23.400ha trong đó diện tích mặt nước 19.050ha, hồ Thác Bà có sức chứa 3 – 3,9 tỉ mét khối nước, mực nước dao động từ 46 – 58m, đã góp phần rất lớn vào việc cải tạo và điều hòa môi trường, làm giảm nhiệt độ mùa Hè 1 – 2ºC, tăng độ ẩm tuyệt đối vào mùa khô lên 20% và lượng mưa từ 1.700 – 2.000mm, tạo điều kiện duy trì thảm thực vật xanh tốt quanh năm.

    Lặng lẽ hồ Thác Bà – Ảnh: nguồn ditichlichsuquocgia.violet.vn

    Với những giá trị độc đáo cả về cảnh quan và lịch sử, hồ Thác Bà đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận di tích lịch sử danh thắng cấp quốc gia theo quyết định số 2410/QĐ-VH ngày 27-9-1996.

    TIỀM NĂNG VÀ TRIỂN VỌNG

    Là một hồ nước mênh mông với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, hồ Thác Bà được ví như vịnh Hạ Long trên núi cao của vùng Tây Bắc. Điểm làm nên giá trị của hồ Thác Bà là trong lòng hồ có đến 1.334 đồi đảo lớn, nhỏ chiếm đến 4.350ha. Cảnh quan sơn thủy hữu tình cùng hệ thống hang động ẩn sâu trong những dãy núi đá vôi đã biến hồ Thác Bà thành một trung tâm du lịch sinh thái đầy tiềm năng.

    Hồ Thác Bà – vịnh Hạ Long trên núi – Ảnh: vietnamplus.vn

    Dòng sông Chảy cùng hệ thống các ngòi lớn như ngòi Hành, ngòi Cát… đã hào phóng bồi đắp phù sa nuôi dưỡng những bản làng trù phú ven hồ. Quanh khu vực hồ Thác Bà hiện có đến 13 tộc người gồm Tày, Nùng, Mông, Dao, Phù Lá, Cao Lan… sống trên triền núi hoặc ven hồ. Các cư dân vẫn giữ được nét hoang sơ cùng bản sắc văn hóa độc đáo với những tập tục, truyền thống, lễ hội mang giá trị nhân văn sâu sắc.

    Du khách tham quan làng Ngòi Tu – Vũ Linh – Ảnh: Mạnh Toàn (yenbai.gov.vn)

    Du khách tại bến thuyền Khu du lịch Ruby – Ảnh: Trịnh Văn Bộ (Báo ảnh Việt Nam)

    Không chỉ mang giá trị về môi sinh và cảnh quan, hồ Thác Bà còn có nguồn lợi thủy sản to lớn với hàng ngàn tấn cá, tôm thu hoạch mỗi năm. Du khách đến đây sẽ có dịp biết đến văn hóa ẩm thực lòng hồ với nhiều món ngon dân dã mà cũng rất tinh tế của đồng bào các dân tộc như cơm lam, nộm hoa chuối rừng, thịt gà nấu măng chua hay gỏi cá, nộm tôm… Những món ăn đặc sản hồ được chế biến khéo léo từ các loài thủy sản đặc trưng vùng hồ như Ba ba, cá Lăng, cá Chiên, cá Quả, cá Tầm… sẽ đem lại cho du khách những trải nghiệm lý thú.

    Du khách tại khu du lịch cộng đồng Ngòi Tu – Ảnh nguồn yenbai.gov.vn

    Trong những năm gần đây, thắng cảnh vùng hồ Thác Bà được đánh giá là điểm đến hấp dẫn nhưng việc khai thác du lịch còn chưa tương xứng với tiềm năng… Ngoài khu du lịch cộng đồng Ngòi Tu ở Vũ Linh, khu du lịch Tân Hương, khu du lịch sinh thái Ruby, các dịch vụ đưa đón, phục vụ khách của các hộ dân, một vài nhóm văn nghệ không chuyên ở Yên Thành, Xuân Lai sẵn sàng biểu diễn phục vụ khách tham quan, và ở quy mô lớn hơn là các hoạt động “khám phá Thác Bà” trong Chương trình “Du lịch về cội nguồn” phối hợp ba tỉnh Yên Bái – Phú Thọ – Lào Cai, các thành công của việc nghiên cứu, trồng cây phủ vùng bán ngập…, thực tế nơi đây chưa thể hiện nét nổi bật và còn hạn chế về các loại hình dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng.

    Nhận rõ điểm yếu cơ bản, hiện tỉnh Yên Bái đang triển khai xây dựng khu du lịch trung tâm hồ Thác Bà với tổng diện tích quy hoạch 206ha, bao gồm các khu chức năng như trung tâm đón tiếp – điều hành, khu vui chơi giải trí, khu khách sạn – dịch vụ – thương mại, khu nghỉ sinh thái, khu tháp viễn thông và thể thao mạo hiểm… Hy vọng trong tương lai gần, hồ Thác Bà sẽ trở thành điểm đến xứng tầm, đáp ứng niềm kỳ vọng của du khách yêu mến cảnh quan thiên nhiên, sông nước hữu tình giữa núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, nên thơ…

    PHƯỢT BỐN PHƯƠNG!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Review Khu Du Lịch Hòa Phú Thành Đà Nẵng
  • Quẩy Tung Khu Du Lịch Hòa Phú Thành, Điểm Đến Hot Nhất Dành Cho Giới Trẻ Tại Đà Nẵng
  • Công Viên Hồ Nước Ngọt Sóc Trăng
  • Cuộc Thi Ca Khúc Về Khu Du Lịch Hồ Hòa Bình
  • Trải Nghiệm Mới Tại Khu Du Lịch Lòng Hồ Hòa Bình
  • Du Lịch Lục Yên Yên Bái

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Du Lịch Lục Yên (Yên Bái)
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thung Lũng Mây Lũng Vân Hòa Bình
  • Về Lũng Vân Hòa Bình Ngắm ‘thung Lũng Mây’ Xứ Mường
  • Lũng Vân Nóc Nhà Xứ Mường,phượt Lũng Vân,du Lịch Lũng Vân
  • Đánh Thức Tiềm Năng Du Lịch Vùng Cao Lũng Vân, Hòa Bình
  • 1. Giới thiệu khu du lịch Lục Yên, Yên Bái

    Lục Yên, Yên Bái là một huyện thuộc vùng núi Phía Tây Bắc của Việt Nam. Nơi đây có những ngọn đồi trùng điệp, dãy núi hùng vĩ, sừng sững mọc giữa đất trời tựa như những cánh tay ôm lấy thiên nhiên nơi đây. Không những thế, nét đặc trưng của những vùng núi Tây Bắc còn có cả thửa ruộng bậc thang, suối chảy rì rào, hay tiếng thác đổ ào ạt tạo nên bản hòa ca giữa đất trời mênh mang.

    Lục Yên cách trung tâm TP Yên Bái chừng 80km, cách thủ đô Hà Nội 250km về phía Tây Bắc. Do được thiên nhiên ưu đãi, ở mảnh đất Lục Yên có xuất hiện rất nhiều đá quý, có giá trị kinh tế cao như đá Ruby, sapphire. Chình vì điều này, mỗi khi nhắc tới Lục Yên, người ta lại nhớ đến một “vùng đất đá quý” của miền núi phía Bắc.

    Bằng đôi bàn tay khéo léo của những người con đất ngọc, họ đã biến một cục đá thô sơ thành những món trang sức vô cùng lộng lẫy và trở lên đất giá hơn. Họ – những người ngày hôm qua còn có đôi bàn tay lấm đầy bùn đất giờ đã trở thành một người thợ chế tác đồ trang sức chuyên nghiệp. Những tác phẩm nghệ thuật này không chỉ lưu hành trên quê hương mà còn xuất khẩu sang rất nhiều nước trên thế giới.

    Ở vùng đất ngọc này còn có rất nhiều các di tích lịch sử gắn liền với vị Phật Hoàng Trần Nhân tông như đền Đại Cại, suối tiên, chùa Tháp Hắc Y, hang chùa São, suối thác, hang động,… Tất cả những điều này tạo lên một Lục Yên thật đẹp trong mắt du khách quốc tế.

    2. Hướng dẫn di chuyển tới Lục Yên, Yên Bái

    Xuất phát từ Hà Nội, bạn có thể chọn di chuyển bằng tàu hỏa, từ ga Hà Nội tới ga Yên Bái.

    Ngoài ra, cũng có rất nhiều xe khách có tuyến chạy từ Hà Nội tới Yên Bái. Bạn có thể bắt xe tại bến Mỹ Đình:

    • SĐT: 0912451745/0912220140
    • Giá vé: 120k/chiều/người
    • SĐT: 0912061210/0912785262
    • Giá vé: 130k/chiều/vé
    • SĐT: 1900 1986/1900 1986
    • Giá vé: 180k/chiều/vé

    3. Du lịch Lục Yên, Yên Bái có gì thú vị?

    Thác Xả Tràn

    • Địa chỉ: Xã Lâm Thượng, Lục Yên, Yên Bái

    Đây là một điểm du lịch còn giữ được nét hoang sơ và nguyên bản. Dòng thác uốn lượn từ trên cao, mang theo nước đổ xuống suối tạo lên một khung cảnh vô cùng thơ mộng, tựa như lạc vào thế giới thần tiên. Xung quanh con thác là sự bao bọc bởi rừng già rậm rạp, đặt chân tới đây bạn sẽ không chỉ được lắng nghe tiếng ào ào nước chảy dữ dội từ cao thác, nếu lắng nghe kỹ bạn sẽ được thưởng thức bản hòa nhạc từ núi rừng, tiếng chim kêu ríu rít, tiếng gió xào xạc, tiếng róc rách của khe suối,… Đây quả thật là hương vị của cuộc sống, thật bình yên và dân giã.

    Hang động Cảm Dương

    • Địa chỉ: Thuộc xã Liễu Đô, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

    Cảm Dương được đánh giá là hang động đẹp nhất Yên Bái, được xếp hạng trong nhóm 10 hang động đẹp nhất Việt Nam. Hang động Cảm Dương toát lên vẻ hoang sơ và kỳ bì, hầu như nơi này chưa có sự tác động của bàn tay con người nên vì vậy khung cảnh ở đây còn khá nguyên vẹn.

    Động hưởng trọn vẹn những gì tinh tú nhất từ tạp hóa, với sự sắp đặt vô cùng khéo léo với nhiều khối đá có hình thù kỳ lạ, được sắp đặt khéo léo khiến người nhìn cảm thấy choáng ngợp. Hang động có thể tích rất rộng, chứa được tới hàng ngàn người, cửa hang cao 12m, rộng 25m.

    Càng vào sâu, bạn sẽ phát hiện được nhiều hang động nhỏ khác, với những khối đá nhũ đủ kích cỡ, hình dạng rất đẹp, không chỉ mang tính thẩm mỹ mà chúng còn thể hiện nhiều giá trị độc đáo về địa chất. Chình những điều này đã khiến nhiều du khách tò mò và mong muốn một ngày nào đó có thể khám phá Cảm Dương.

    Hang đèn Lồng

    Đây là nguồn cung cấp nước chính cho con suối Ngọc Bích. Hang có tên là đèn Lồng bởi trong hang xuất hiện rất nhiều khối thạch nhũ to khổng lồ, mọc từ trên trần xuống nền hang nhìn như một chiếc đèn rủ khổng lồ.

    Hang Mực

    Chiều dài của hang lên tới 1km, hang có cửa thông ra ngoài. Vì thế nếu đứng trong lòng hang sẽ cảm thấy từng đợt gió lùa vô cùng sảng khoái. Cũng như hang lồng đèn, cái tên gọi hang mực cũng bắt nguồn từ những khối nhũ đát trong hang có hình tựa chiếc bút mực thời xưa. Ngoài ra, trong hang Mực còn xuất hiện rất nhiều khối đá nhũ màu trắng sữa, với sự phản chiếu của ánh sáng, những khối đá này hiện lên thật lung linh và rực rỡ.

    Bài XIMGO/ Nguồn ảnh: Internet

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lục Ngạn Khai Thác Lợi Thế Du Lịch Tâm Linh
  • Phát Triển Tour, Tuyến Du Lịch Lục Nam, Lục Ngạn Trong Sự Phát Triển Du Lịch Tỉnh Bắc Giang
  • 7 Trải Nghiệm Nhất Định Phải Thử Khi Du Lịch Luang Prabang
  • Lửa Việt Tuyển Dụng Nhân Viên Kinh Doanh Và Thực Tập Sinh
  • Lữ Hành Là Gì? Khám Phá Công Việc Trong Lĩnh Vực Lữ Hành
  • Ruby Garden Yên Bình Yên Bái

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Sinh Thái Khám Phá Bán Đảo Sơn Trà
  • Không Gian Du Lịch Sinh Thái Dưới Chân Sơn Trà
  • Du Lịch Sinh Thái Suối Lương – Đà Nẵng.
  • Khu Du Lịch Sinh Thái Suối Mỡ
  • Tam Đảo 2 – Khu Du Lịch Nghỉ Dưỡng Sinh Thái Và Giải Trí
  • Ruby Garden là dự án đô thị đẳng cấp, hiện đại với không gian sống xanh tọa lạc tại thị trấn Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Dự án Ruby Garden Yên Bình nằm ở khu vực trung tâm huyện Yên Bình, một phần tiếp giáp hồ Thác Bà nên cảnh quan xung quanh rất đa dạng và trong lành.

    Phối cảnh dự án Ruby Garden Yên Bình

    TỔNG QUAN DỰ ÁN RUBY GARDEN YÊN BÌNH

    • Tên dự án : Ruby Garden

    • Vị trí :  Tổ 8B Thị trấn Yên Bình, tỉnh Yên Bái

    • Quy mô : 4.5 Ha

    • Số lượng : 300 lô

    • Diện tích : 100 – 300m2

    VỊ TRÍ DỰ ÁN RUBY GARDEN YÊN BÌNH

    Dự án Ruby Garden nằm giữa trung tâm huyện Yên Bình, vùng đất hứa về du lịch tại Yên Bái. Phía Đông Bắc giáp ven hồ Thác Bà phía Nam giáp trung tâm hành chính huyện, phía Tây là hướng đi thành phố Yên Bái.

    Yên Bình là địa phương có nhiều lợi thế so sánh về vị trí địa lý, là đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh Yên Bái với Lào Cai và Hà Nội, là cửa ngõ của vùng Tây Bắc Huyện là đầu mối giao thông quan trọng, có tuyến Quốc lộ 70 chạy suốt dọc trung tâm huyện lỵ, có tuyến đường Vĩnh Viễn – Yên Thế chạy dọc các xã vùng đồng hồ và tử Yến Binh đến tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai cũng chưa đầy 10 Km. Tổng số lao động trong độ tuổi trên 54.000 người, đó là thuận lợi quan trọng để phát triển kinh tế dịch vụ,

    Ngoài ra, Yên Bình còn có tiềm năng để phát triển du lịch: Vùng hồ Thác Bà với diện tích khoảng 15.900 ha với hơn 1.300 đảo lớn nhỏ và hang động tự nhiên như Đồng Thủy Tiên (xã Tân Hương, Mông Sơn), Đông Cầu Quậy (xã Xuân Long, trong tương lai khu du lịch sinh thái hồ Thác Bà sẽ là khu du lịch sinh thái mang tầm cỡ quốc gia, ngoài ra còn có các điểm di tích lịch sử văn hóa như: Đền thờ Mẫu Thác Bà, Đình Khả Linh… đó là những tiềm năng để đáp ứng cho phát triển du lịch. Với lợi thế về du lịch, huyện Yên Bình đang kêu gọi đầu tư vào các dự án khu nghỉ dưỡng và hệ thống khách sạn, nhà hàng phục vụ khách tham quan du lịch. Đặc biệt là đu tư vào khu du lịch sinh thái Hồ Thác Bà.

    TIỆN ÍCH DỰ ÁN RUBY GARDEN YÊN BÌNH

    Đến với hồ Thác Bà, du khách không chỉ được đắm chìm trong cảnh sắc thiên nhiên tuyệt sắc với 1.331 hòn đảo lớn nhỏ mà còn được thưởng ngoạn những kiệt tác thiên nhiên của tạo hóa với núi điệp trùng và những hang động huyền kỳ. Bên cạnh đó, bạn sẽ được thưởng thức hương vị thơm ngon đặc biệt trong bữa cơm thiết khách của đồng bào các dân tộc như cơm lam, nộm hoa chuối rừng, thịt gà đồi nấu lá chanh, lợn “cắp nách” quay hay gỏi cá, tôm…

    Tiện ích dự án Ruby Garden Yên Bình

    • Khách Sạn Ruby

    • Trung Tâm Tiệc Cưới Ruby Garden

    • Trung Tâm Mua Sắm

    • Hiệp Hội Đá Qúy, Con Đường Đá Qúy

    • Tổ Hợp Trung Tâm Giải Trí

    • Cafe Ngoài Trời

    • Tivi Màn Hình Lớn Phục Vụ Dân Cư

    • Khu Vui Chơi Trẻ Em

    • Sân Vườn Tiểu Cảnh.

    • Trường Mẫu Giáo, Nhà Trẻ,

    • Phòng Khám.

    • Sân Chơi Thể Dục Thể Thao.

    MẶT BẰNG DỰ ÁN RUBY GARDEN YÊN BÌNH

    Khu đô thị Ruby Garden xây dựng trên diện tích 4,5ha với khoảng 300 lô đất sẽ được đầu tư xây dựng hàng loạt các hạng mục phụ trợ, vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe đẳng cấp hàng đầu. Như khu thương mại; nhà hàng tiệc cưới; trường mẫu giáo; bể bơi ngoài trời; phòng khám chăm sóc sức khỏe chất lượng cao..

    Mặt bằng dự án Ruby Garden Yên Bình

    GIÁ BÁN VÀ TIẾN ĐỘ THANH TOÁN

    Giá bán đất nền Ruby Garden Yên Bình

    Tiến độ thanh toán : Đang cập nhật

    Thông tin chi tiết dự án Ruby Garden Yên Bình quý khách liên hệ

    Hotline : 0936.201.858

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Chiều Du Hí Quốc Phương Trại
  • Địa Điểm Cắm Trại Cực Chill Ngay Gần Hà Nội
  • Quảng Ninh Quy Hoạch Hai Xã Đảo Minh Châu, Quan Lạn Là Khu Du Lịch Sinh Thái Cao Cấp
  • Viglacera Động Thổ Xây Dựng Dự Án Khu Du Lịch Sinh Thái Cao Cấp Vân Hải – Quan Lạn, Quảng Ninh
  • Dự Án Khu Du Lịch Sinh Thái Cao Cấp Vân Hải {1} – Đô Thị Quảng Ninh
  • [Yên Bái] Top10 Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Tại Yên Bái

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Úc 2022
  • Tổng Hợp Những Địa Điểm Du Lịch Ở Đà Lạt Nổi Tiếng Nhất
  • Đi Du Lịch Đài Loan Mùa Nào Đẹp Nhất Trong Năm
  • Đi Du Lịch Trung Quốc Mùa Nào Đẹp Nhất?
  • Nên Đi Du Lịch Trung Quốc Khi Nào
  • Mù Cang Chải là một huyện vùng cao thuộc tỉnh Yên Bái, nằm Cách Hà Nội gần 300 km về phía Tây Bắc, Mù Cang Chải là điểm đến ưa thích cho người yêu thiên nhiên và thích thưởng thức không khí vùng cao.

    Vào mùa gặt Mù Cang Chải, những sườn đồi sẽ toàn màu vàng ươm của lúa chín, lượn vòng theo ruộng bậc thang như những lượt sóng mềm mại. Đẹp mộng mị, lãng mạn, mê hoặc và thanh thoát…

    Suối Giàng là một xã vùng cao của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, nằm cách trung tâm huyện Văn Chấn 12 km về phía Bắc.

    Đến Suối Giàng bạn sẽ ngỡ ngàng trước những rừng chè đến cả trăm năm tuổi, hương thơm nổi tiếng cả trong và ngoài nước thực sự rất có sức hút với những du khách gần xa. Cây chè tuyết với thân cây già đến trắng phau, hiên ngang và sừng sững trước sóng gió, nắng mưa.

    Không chỉ có rừng chè cổ thụ, du khách lại bị hút hồn những nét đẹp văn hóa, sinh hoạt rất đặc trưng của người Mông vùng Tây Bắc. Trong tiếng gió chiều sơn cước, hòa với tiếng khèn Mông tạo thành một âm thanh của đại ngàn làm mê mẩn biết bao du khách.

    Đến với Suối Giàng du khách sẽ có những phút giây thư giãn cực kì lý tưởng. Cùng với những trải nghiệm về cuốc sống dân cư và sự phát triển của sinh vật nơi đây

    Hồ Thác Bà nằm trên địa phận hai huyện Yên Bình và Lục Yên thuộc tỉnh Yên Bái, cách Hà Nội 180km về phía Tây. Hồ được hình thành khi ngăn sông đắp đập xây thủy điện có hơn 1.300 đảo lớn nhỏ.

    Bằng cách đi du thuyền quanh các hòn đào, bạn sẽ cảm nhận không khí trong lành từ làn nước xanh trong tựa ngọc và làn gió mát lành từ thiên nhiên, ngắm những vạt rừng xanh thăm thẳm, những hang động nằm sâu trong núi đá vôi, xen kẽ là các hòn đảo trùng điệp tạo nên bức tranh lung linh huyền ảo của một vùng trời nước.

    Với phong cảnh hữu tình, Hồ Thác Bà là điểm du lịch chân lý tưởng dành cho những ai yêu vẻ hoang sơ của núi rừng Tây Bắc.

    Háng Tề Chơ là tên một bản làng người Mông trong xã Làng Nhì, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. Nơi đây quanh năm mây mù che phủ và cũng hiếm dấu chân người “ngoại bang” đến đây như bao bản làng khác nếu không có sự xuất hiện của một con thác hùng vĩ và huyền thoại:thác Háng Tề Chơ.

    Có 2 cách để tới với thác Háng Tề Chơ, một đường là đi từ dưới hạ nguồn rồi ngược lên, cách 2 là leo lên lưng chừng thác, ở vị trí này bạn được chiêm ngưỡng được một góc khác thật tuyệt của con thác này. Tiếng nước đổ mạnh mẽ, dường như âm thanh át hết cái mệt, thay vào đó là sự thích thú mãnh liệt. Hơi nước tỏa mạnh khiến toàn bộ khu vực mát lạnh.

    Sau bao nhiêu vất vả trên chặng đường chinh phục thác Háng Tề Chơ, ngồi kề bên thác là phần thưởng xứng đáng dành cho những kẻ liều lĩnh muốn chinh phục nơi được gọi là “hiểm địa” này.

    Thác Pú Nhu nằm tại bản Pú Nhu, thuộc xã La Pán Tẩn, cách trung tâm huyện Mù Cang Chải chừng 10km về phía Tây, là một trong những điểm đến được thiên nhiên ban tặng là một trong những thác nước chảy từ Than Uyên đổ về.

    Thác Pú Nhu nằm giữa hai vách núi, thác Pú Nhu đẹp như một bức tranh thủy mặc. Khí hậu mát mẻ, trong lành là sự lý tưởng để du khách trải nghiệm cảm giác dễ chịu. Những thềm đá được nước chảy xuống êm đềm, nhẹ nhàng là điểm đến để du khách có thể yêu thiên nhiên, yêu con người nơi đây một lần nữa.

    Nơi đây chính là điểm đến dành cho những ai muốn tìm đến du lịch sinh thái, muốn chìm đắm trong dòng nước mát lạnh, cho những ai muốn tĩnh lặng.

    Nằm cách trung tâm Tp.Yên Bái hơn 10km, hồ Chóp Dù thuộc xã Cường Thịnh, huyện Trấn Yên, là hồ nước đẹp,yên tĩnh và thơ mộng , một địa điểm thú vị để du khách có thể khám phá thiên nhiên, tham gia các hoạt động vui chơi, câu cá.

    Đến với hồ Chóp Dù bạn sẽ được vãn cảnh bằng thuyền để cảm nhận được bầu không khí mát lành từ nước, từ gió hồ, hòa mình vào thiên nhiên, vào mênh mông trời nước. Đến nơi đầu nguồn của hồ, du khách còn được thưởng ngoạn cảnh non xanh, núi biếc giữa làn hơi nước huyền ảo.

    Hồ Chóp Dù có cảnh đẹp nguyên bản, sơn thủy hữu tình. Vẻ đẹp của núi, cây rừng, của những dòng suối róc rách hòa quyện với tiếng chim rừng đua nhau hòa đàn đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp.

    Đèo Khau Phạ là một trong những đường đèo quanh co và dốc đứng thuộc hàng bậc nhất Việt Nam vượt khi qua đỉnh núi Khau Phạ, ngọn núi cao nhất Mù Cang Chải. Từ Tp.Yên Bái, ngược theo QL.32, qua xã Tú Lệ, đèo Khau Phạ huyện Mù Cang Chải hiện ra một vùng cao nguyên bao quanh bởi các dãy núi trùng điệp. Những con đường đèo quanh co giữa những cánh rừng già mang đậm nét nguyên sơ và những triền ruộng bậc thang của các dân tộc Thái, H’Mông.

    Đèo Khau Phạ trong tiếng Thái là “sừng trời” cũng bởi vì đỉnh đèo cao 1.200 m như chiếc sừng hiên ngang, vươn thẳng tới bầu trời. Đây là linh hồn của cung đèo, khi leo tới đỉnh đèo cũng là lúc bạn đã chạm vào “linh hồn” của cung đèo danh chấn phương Bắc rồi đấy!

    Quốc lộ 32 uốn lượn giữa núi non Tây Bắc “thanh sơn, bích thủy”. Núi cao, vực sâu, bạt ngàn cây núi, lau lách. Như một phép màu, con đường bỗng lọt vào một cánh đồng bằng phẳng biêng biếc sóng lúa Mường Lò. Ngỡ ngàng trước sự mượt mà óng ả trong nắng trải tới chân núi xa.

    Cách thành phố Yên Bái 80 km về phía tây, Mường Lò nằm trong lòng thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn. Mường Lò là cánh đồng lớn thứ hai ở miền núi Tây Bắc. Lạc vào đây chúng ta ngỡ ngàng khi chứng kiến vẻ đẹp của những cánh đồng lúa chín vàng, thoai thoải bậc thang tiến về phía núi.

    Giật mình trước vẻ đẹp Mường Lò với một bóng con gái Thái gánh lúa trên vai đang rẽ ngang con suối để rồi sẽ chẳng bao giờ quên.

    Ở trên cùng một dẻo đất, Vân Hội có một gò cọ Đồng Yếng sánh cùng đình làng Vần, hang Dơi ở xã Việt Hồng trong quần thể Khu di tích lịch sử Chiến khu Vần Hiền Lương.

    Chỉ cách trung tâm thành phố Yên Bái chừng 20 km, đường đi lại thuận nên đến với Vân Hội không mất nhiều thời gian. Đây là một hồ nước nhân tạo được hình thành cách đây khoảng ba bốn chục năm.

    Dùng thuyền lang bang trên hồ, người ta sẽ cảm nhận được sóng nước lao xao và hòa vào nhịp sống thanh bình của người dân nơi đây. Rồi nữa, bạn có thể khám phá những ngòi Mõng, khe Long Ẩn, vực Đèo Giang để tìm về quá khứ vẻ vang của một vùng quê giàu truyền thống cách mạng.

    Đường lên dãy Tà Xùa bắt đầu từ bản Tà Xùa nhưng để lên tới đỉnh cao nhất chỉ có một con đường đất độc đạo với độ dốc rất lớn là thử thách không đơn giản để vượt qua dành cho bất kỳ ai muốn chinh phục.

    Dãy Tà Xùa mọc lên sừng sững tạo ra ranh giới tự nhiên giữa Yên Bái và Sơn La, với ba đỉnh kết nối thành một kỳ quan vô cùng hùng vĩ. Đỉnh cao nhất là nơi dựng cột cờ Việt Nam trên độ cao 2.850m, tại đỉnh thứ hai hiện vẫn còn dấu tích cột cờ cũ vốn được dựng lên từ thời Pháp thuộc. Đỉnh cao thứ ba nằm ở giữa, nó như vạch nối tạo thành sống lưng của một con khủng long thời cổ đại.

    Dãy núi mỏng như sống dao nhưng lại vô cùng hùng vĩ – bởi vậy những người dân nơi đây đã ví nó tựa như sống lưng khủng long, vắt từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác. Độ cao của sống lưng áng chừng 2.500m.

    Cường Nguyễn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 17 : Vùng Trung Du Và Miền Núi Bắc Bộ
  • Vùng Trung Du Và Miền Núi Bắc Bộ
  • Top 15 Địa Điểm Du Lịch Việt Nam Phải Đến 2022
  • 20 Địa Điểm Du Lịch Đẹp Ở Anh Quốc Nổi Tiếng Nhất Giàu Ý Nghĩa Văn Hóa
  • Kinh Nghiệm, Lịch Trình Du Lịch Đà Nẵng 2 Ngày 1 Đêm Tự Túc
  • Địa Điểm Du Lịch Nức Tiếng Ở Yên Bái

    --- Bài mới hơn ---

  • Địa Điểm Ăn Uống Du Lịch Đà Nẵng
  • 10 Địa Điểm Ăn Uống Du Lịch Đà Nẵng Ngon Bổ Rẻ Cho Các Bạn
  • Ngẩn Ngơ Trước Những Địa Điểm Ăn Uống Tại Phố Cổ Hội An Không Thể Bỏ Qua
  • Địa Điểm Ăn Uống Nên Thử Một Lần Khi Đến Hội An
  • Tóp 9 Địa Điểm Du Lịch Gần Sài Gòn Có Thể Đi 2 Ngày 1 Đêm
  • Hãy đến đây vào mùa nước đổ ( tháng 5-6) và mùa lúa chín ( tháng 9-10), bạn sẽ bị hút hồn bởi vẻ đẹp của ruộng bậc thang. Khi thì loáng loáng mặt nước, khi lại lúa chín vàng tươi nhuộm rực rỡ cả một vùng Tây Bắc, một cảnh sắc đặc biệt của Yên Bái. Hãy đến và ghi lại kỉ niệm bằng thật nhiều kiểu ảnh, khung ảnh bình yên nên thơ sẽ xua tan hết mệt mỏi của bạn luôn đấy.

    Khu sinh thái Ecolodge Mù Cang Chải chỉ có 5 ngôi nhà, nhưng được xây dựng và thiết kế theo kiến trúc nhà sàn của người Thái, ẩn hiện trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ như một nét chấm phá, tô thêm sắc màu cho vùng đất Mù Cang Chải.

    Khu Du Lịch Thác Mơ

    Lên Mù Cang Chải, từ trên cao du khách sẽ nhìn thấy thác Mơ như một dải lụa trắng lấp lánh ánh bạc, mềm mại trải dài. Người ta nói, dải lụa ấy mềm mượt như suối tóc của thiếu nữ và trên mái tóc đó được gắn rất nhiều đá hoa cương. Thác Mơ nằm giữa đỉnh Nả Háng A và Nả Háng B thuộc địa phận xã Mồ Dề (huyện Mù Cang Chải).

    Đèo Khau Phạ Yên Bái là đèo hiểm trở và dài nhất trên tuyến quốc lộ 32 được mệnh danh là một trong “tứ đại đèo” với độ dài trên 30 km. Đèo Khau Phạ là một trong những cung đường đèo quanh co và dốc đứng thuộc hàng bậc nhất Việt Nam.

    Đèo nằm ở khu vực giáp giới giữa huyện Văn Chấn và huyện Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái, đèo Khau Phạ đi qua nhiều địa danh nổi tiếng như La Pán Tẩn, Mù Cang Chải, Tú Lệ, Chế Cu Nha, Nậm…

    Tà Xùa

    Ở Tà Xùa có hai điểm săn mây là sống lưng khủng long ở Háng Đồng và sống lưng khủng long ở Xím Vàng.

    Để lên được tới đỉnh núi Tà Xùa, bạn phải đi qua bản văn hóa Tà Xùa, xã Bản Công, huyện Trạm Tấu. Đỉnh Tà Xùa là đỉnh núi thấp nhất trong Top 10 đỉnh núi cao nhất ở Việt Nam. được các bạn yêu thích trekking cho rằng đây là đỉnh thấp nhất trong 10 đỉnh núi cao nhất Việt Nam. Với tọa độ GPS đo được là 2875m, đường lên Tà xùa qua Bản văn hóa Tà Xùa, xã Bản Công, huyện Trạm Tấu, Yên Bái.

    Bốn bề của đỉnh Tà Xùa được bao bọc bởi những dãy núi cao nên thung lũng Tà Xùa luôn xuất hiện mây mù dày đặc, những dải mây cuồn cuộn như cánh sóng đánh ập vào vách núi, tạo nên một biển mây đẹp ngỡ ngàng.

    Suối Giàng

    Suối Giàng là một xã vùng cao của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, nằm cách trung tâm huyện lỵ Văn Chấn 12 km về phía Bắc, với diện tích tự nhiên là 5.922 héc-ta, bao gồm 4 tộc người cùng cư trú là người Mông, Kinh, Dao, Tày, trong đó người Mông chiếm 98,5%, còn lại các dân tộc khác chiếm gần 2%. Do vậy, các giá trị văn hoá dân gian truyền thống của đồng bào Mông nơi đây còn lưu giữ được nhiều yếu tố cổ truyền độc đáo. Đây chính là sự khác biệt, tạo cho Suối Giàng có tiềm năng để trở thành khu du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái của vùng phía Tây nói riêng và tỉnh Yên Bái nói chung. Một ngày ở Suối Giàng, ta có thể cảm nhận rõ được bốn mùa trong năm. Ban đêm, trời se lạnh; sáng ra, mây mờ che phủ bồng bềnh khắp các bản làng, sườn núi; buổi trưa, trời trong xanh, lộng gió và buổi chiều, nắng vàng trải mượt như rót mật. Bởi thế, khí hậu ở Suối Giàng có thể sánh với SaPa, Đà Lạt.

    Suối nước nóng

    Nếu có dịp đến Yên Bái, bạn nhất định đừng bỏ qua 3 suối nước nóng sau:

    Suối nước nóng Bản Hốc

    Lên bản Hốc, du khách sẽ tìm được cho mình những giây phút thư thái trong dòng khoáng nóng trên những bãi “tắm tiên” thơ mộng, tận hưởng cảnh đẹp của núi rừng Tây Bắc…

    Suối nước nóng Bản Cọi

    Thiên nhiên ưu ái ban tặng dòng suối khoáng nóng, cảnh quan nguyên sơ, người dân thân thiện và mến khách, chắc chắn Cò Cọi sẽ trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn du khách gần xa.

    Suối nước nóng Tú Lệ

    Nơi đây được thiên nhiên ban tặng cho dòng suối nước nóng quanh năm và người Thái ở Tú Lệ đã tắm nước khoáng miễn phí từ hàng trăm năm nay. Vào mùa đông, khi nhiệt độ ở Tú Lệ chỉ dưới 10 độ thì nhiệt độ dưới suối nước nóng vẫn ở mức 38 – 40 độ, khói bốc nghi ngút.

    Ở Tú Lệ có hai bể tắm nước khoáng nóng ngay cạnh dòng suối mát và bên bờ là ruộng nương chín vàng. Một bể tắm rất nóng và một bể tắm ấm. Việc tắm nóng nhiều hay ít là tùy ý mỗi người.

    Hồ Thác Bà

    Là hồ nhân tạo được làm cùng với công trình thủy điện cùng tên, hồ rộng 23400 ha, xung quanh được bao bọc bởi thảm thực vật xanh tốt. Nước hồ trang xanh, mát lạnh, cảnh quang xung quanh rất nên thơ, hữu tình. Do đó, du khách có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hồ bằng cách đi thuyền du ngoạn.

    Nếu bạn là người thích du lịch tâm linh, đền Thác Bà là điểm đến đang chờ bạn khám phá. Đền thờ mẫu, kiến trúc rất đặc biệt, không gian thờ tự linh thiêng và cổ kính. Xung quanh đền được bao bọc bởi cây xanh, cảnh quan thoáng mát và tráng lệ, mang đến cho du khách một cảm giác bình yên và tĩnh tại.

    Đồi chè tuyết cổ thụ

    Rừng chè cổ thụ Suối Giàng với những thân to hàng trăm năm tuổi, trải rộng hàng trăm hecta. Chè shan tuyết cổ thụ Suối Giàng xưa nay được xem là một trong những thức uống thơm ngon bậc nhất so với sản phẩm từ tất cả các vùng chè trên cả nước. Du khách tới đây vẫn tranh thủ hái những lá chè, quả chè trực tiếp từ thân chè cổ thụ về làm quà.

    Bình nguyên xanh Khai Trung

    Khai Trung là xã vùng cao của huyện Lục Yên, cách thành phố Yên Bái gần 100km. Miền đất này là một bình nguyên tương đối bằng phẳng, nằm trên độ cao 700m so với mực nước biển, xung quanh có núi đá cao bao bọc.

    Bản Chao Hạ

    Nghĩa Lộ mang đặc trưng khí hậu của vùng Tây Bắc Việt Nam với mùa hè tương đối mát mẻ (so với nền nhiệt độ chung) nhưng mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô.

    Các bạn có thể lên kế hoạch du lịch Nghĩa Lộ vào khoáng tháng 9, đây là thời điểm đẹp nhất bởi thường khoảng thời gian này sẽ tổ chức Tuần văn hóa Lễ hội Mường Lò cùng với Lễ hội ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải.

    Khoảng tháng 2-3 (thời điểm đầu năm) có thể đến Nghĩa Lộ để cùng tham gia vào các lễ hội của người dân địa phương (bao giờ mùa xuân đầu năm cũng là mùa lễ hội ở Tây Bắc), thời điểm này rất thích hợp cho các bạn ưa thích khám phá văn hóa của đồng bào vùng cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Địa Điểm Du Lịch Ở Sơn La Vùng Núi Rừng Của Tây Bắc
  • Giới Thiệu Về Tổng Quan Về Địa Danh Du Lịch Bà Rịa Vũng Tàu Bằng Tiếng Anh.
  • Những Địa Danh Du Lịch Tại Vĩnh Phúc Làm Nức Lòng Du Khách
  • Top 5 Địa Danh Du Lịch Úc Nổi Tiếng Không Thể Không Đến
  • Những Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Của Nước Úc
  • Khám Phá Du Lịch Lục Yên (Yên Bái)

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thung Lũng Mây Lũng Vân Hòa Bình
  • Về Lũng Vân Hòa Bình Ngắm ‘thung Lũng Mây’ Xứ Mường
  • Lũng Vân Nóc Nhà Xứ Mường,phượt Lũng Vân,du Lịch Lũng Vân
  • Đánh Thức Tiềm Năng Du Lịch Vùng Cao Lũng Vân, Hòa Bình
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Lũng Vân, Hòa Bình Chi Tiết Ăn Chơi A
  • Du khách tham quan, ghi lại những khuôn hình đẹp trên Bình nguyên xanh Khai Trung.

    Khám phá du lịch Yên Bái nếu mới chỉ đến với Mường Lò – Nghĩa Lộ hay ruộng bậc thang Mù Cang Chải đắm say, những cung đường mạo hiểm chinh phục đỉnh Tà Chì Nhù Trạm Tấu mà bỏ qua vùng đất Ngọc Lục Yên thì quả thật là đáng tiếc.

    Nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, cách thành phố Yên Bái khoảng 80 km, Lục Yên được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh đẹp hữu tình, cùng với nét đẹp văn hóa đa sắc màu của đồng bào các dân tộc sinh sống từ lâu đời. Tất cả tạo nên Lục Yên đầy quyến rũ, bí ẩn.

    Dọc theo Quốc lộ 70, trên cung đường uốn lượn quanh những triền núi và dòng sông Chảy xanh thẳm, du khách sẽ đến thị trấn Yên Thế, trung tâm của vùng đất Ngọc Lục Yên. Phố núi Yên Thế được bao bọc bởi những triền núi cao, uốn lượn, xa xa là những bản làng bình yên nép mình bên triền núi, xen giữa là những mảng màu của lúa, ngô; màu bàng bạc của những con suối nhỏ. Đến với Yên Thế, du khách còn được tham quan những cơ sở chế tác, nơi khai thác đá quý và lựa chọn những viên đá quý về làm quà hay trang sức cho mình.

    Chợ đá Lục Yên nằm ở trung tâm thị trấn Yên Thế được hình thành từ lâu. Như tên gọi, mặt hàng chính của chợ là đá quý đủ các loại, đủ các sắc màu, được chế tác thành nhiều kích cỡ để khách hàng lựa chọn.

    Trải qua 30 năm, nhưng nét mộc mạc, giản dị của chợ đá quý không thay đổi. Nó được xem là nét đặc trưng, ghi đậm dấu ấn của vùng đất cũng như con người nơi đây. Kinh doanh “đặc sản” của địa phương, chợ đá quý mở cửa tất cả các ngày trong tuần. Mở cửa chỉ chừng 3-4 tiếng mỗi ngày nhưng chợ rất nhộn nhịp, đông vui.

    Tùy thuộc theo mùa mà người bán, người mua có thể đến chợ sớm hay muộn. Phiên chợ đá quý không chỉ là nơi giao thương, buôn bán mà còn là không gian để du khách mọi miền đến chiêm ngưỡng sắc màu đá quý Lục Yên.

    Đến Lục Yên, ngoài tham quan chợ đá quý, du khách còn được chiêm ngưỡng các thắng cảnh nổi tiếng như: chùa tháp Hắc Y – di tích gắn với huyền sử Phật Hoàng Trần Nhân Tông, đền Đại Cại, suối Tiên, suối Ngọc Bích, thác Nà Kèn, hang Mực, hang Đèn Lồng…

    Đặc biệt là vẻ đẹp của những bản làng người Tày nơi lưu giữ những phong tục, tập quán và những nét văn hóa mang đậm bản sắc. Dừng chân nơi ấy, bạn sẽ thấy vô cùng thư thái để rồi hòa mình với âm điệu trữ tình của những làn điệu hát then, hát khắp; để thưởng thức các món ăn đậm đà dư vị như: vịt lam ống nứa, xôi ngũ sắc, rêu đá gói lá rong nướng trên than hồng, canh măng mai, khoai tím, vịt bầu luộc, gà trống thiến…

    Vùng đất Lục Yên còn nổi tiếng với đặc sản cam sành. Vào mùa này, những đồi cam sành bạt ngàn đang căng mọng nước, chín đỏ. Cam sành Lục Yên được trồng trên đồi núi, quả to, vị ngọt, thơm. Và một điểm nhấn mang thương hiệu du lịch của Lục Yên chính là Bình nguyên xanh Khai Trung thuộc xã Khai Trung.

    Nơi ấy không khí trong lành, nguyên sơ với ngàn hoa khoe sắc. Bình nguyên xanh Khai Trung có tổng diện tích 15 ha, bên trái tiếp nối từ dãy núi Vua Áo Đen đến núi Khe Rùng, bên phải là dãy núi Pu Nậm Chọ.

    Khai thác lợi thế cảnh quan, khí hậu nơi đây, từ đầu năm 2022, Hợp tác xã Dịch vụ du lịch Đại An đã thử nghiệm trồng 1 ha hoa cánh bướm, hoa nở rực rỡ đã thu hút hàng nghìn lượt khách tham quan. Trong 2 năm trở lại đây, mô hình càng được Hợp tác xã quy hoạch, mở rộng chuyên nghiệp, hấp dẫn hơn phục vụ du khách đến tham quan.

    Xác định khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh, đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp không khói của địa phương, năm 2022 lần đầu tiên Lục Yên tổ chức Chương trình du lịch “Về miền đất Ngọc”, với sự chuẩn bị chu đáo, cùng nhiều điểm mới lạ, đã thu hút hàng trăm nghìn lượt khách đến tham quan. Với những thành công bước đầu, năm 2022 này huyện Lục Yên tiếp tục tổ chức Chương trình du lịch “Về miền đất Ngọc”.

    Đây là sự kiện văn hóa, du lịch nhằm giới thiệu, quảng bá các điểm du lịch, sản phẩm du lịch đặc trưng của huyện để thu hút khách du lịch trong tỉnh, trong nước và quốc tế, tạo sinh kế cho người dân địa phương. Cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong đầu tư, xây dựng các sản phẩm, dịch vụ du lịch, góp phần phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

    Thúc đẩy sự liên kết phát triển du lịch giữa các huyện trong tỉnh, kết nối với các chương trình du lịch của tỉnh Yên Bái và các huyện lân cận tạo thành tour, tuyến liên huyện, liên tỉnh nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn, đặc trưng của huyện.

    Chương trình du lịch “Về miền đất Ngọc” diễn ra trong 2 ngày, từ ngày 4 – 6/12/2020 với nhiều hoạt động hấp dẫn, mở đầu là lễ dâng hương tại Khu Di tích lịch sử Quốc gia đền Đại Cại, xã Tân Lĩnh. Cùng với đó là lễ khai mạc với chương trình biểu diễn nghệ thuật đặc sắc và bắn pháo bông.

    Nằm trong chuỗi các hoạt động Hội thi “Gói bánh chưng xanh”, trải nghiệm thưởng thức các loại bánh truyền thống của địa phương, các sản phẩm đan lát của hội viên phụ nữ; trưng bày, giới thiệu các sản phẩm đặc trưng của huyện với 8 gian hàng trưng bày các sản phẩm OCOP; ra mắt tuyến phố văn hóa – du lịch; trình diễn quy trình làm tranh đá quý; tham quan các điểm du lịch cộng đồng: Bình nguyên xanh Khai Trung, du lịch tâm linh tại di tích đền Suối Tiên, đền Đại Cại, các hoạt động biểu diễn đường phố (của câu lạc bộ Guita, Rumba, nhóm nhảy, đội văn nghệ dân tộc Tày, Dao các xã Mường Lai, Lâm Thượng, Khai Trung) cùng các hoạt động thi đấu thể thao…

    Đến thời điểm này, mọi công tác chuẩn bị Chương trình du lịch “Về miền đất Ngọc” lần thứ II, năm 2022 đã hoàn tất, sẵn sàng chào đón du khách gần xa.

    Nguồn: TCDL

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Lục Yên Yên Bái
  • Lục Ngạn Khai Thác Lợi Thế Du Lịch Tâm Linh
  • Phát Triển Tour, Tuyến Du Lịch Lục Nam, Lục Ngạn Trong Sự Phát Triển Du Lịch Tỉnh Bắc Giang
  • 7 Trải Nghiệm Nhất Định Phải Thử Khi Du Lịch Luang Prabang
  • Lửa Việt Tuyển Dụng Nhân Viên Kinh Doanh Và Thực Tập Sinh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×