Khu Nghỉ Dưỡng Tại Phú Thọ

--- Bài mới hơn ---

  • Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Khu Du Lịch Sinh Thái Làng Sen
  • Nghỉ Dưỡng 3 Sao Tại Tropicana Resort Phú Quốc Có Gì Đặc Biệt?
  • Jeju Phiên Bản Việt Của Quy Nhơn
  • Đồi Tức Dụp An Giang
  • Địa Chỉ, Số Điện Thoại Đặt Phòng, Voucher
  • TRE NGUỒN RESORT – PHÚ THỌ

    ☎️ Hotline/Zalo tư vấn: 0866.010055/0866.091515

    Tọa lạc trên diện tích rộng lớn bên dòng sông Đà thơ mộng, khu  nghỉ dưỡng khoáng nóng Tre Nguồn Resort gồm 21 phòng nghỉ cao cấp bao quanh bởi những đồng cỏ, đồi chè xanh ngát trải dài. Đến với Tre Nguồn Resort, Quý khách hàng không chỉ bị lôi cuốn bởi nguồn nước khoáng nóng quý hiếm mà thiên nhiên ban tặng cho nơi đây. Cơ hội được tận hưởng cảm giác tinh tế khi đắm chìm trong khoảng không gian mênh mông cuốn hút, nghỉ ngơi trong những căn phòng biệt thự sang trọng, thưởng thức những món ăn luôn biết thỏa mãn mọi nhu cầu khó tính nhất…Tất cả đã làm lên một Tre Nguồn Resort tinh tế, thuần khiết như chính những dòng suối nóng của miền sơn cước Thanh Thủy hiền hòa.

    Địa chỉ: Xã La Phù, tt. Thanh Thủy, Thanh Thủy, Phú Thọ 

    Các loại phòng/villa cho thuê tại Tre Nguồn Resort Phú Thọ

    ***Khu biệt thự Villa có 9 phòng bao gồm:

    Biệt thự Villa tầng 1 có 4 phòng

    2 phòng có một giường đôi 1m6

    2 phòng có hai giường đơn 1m2

    Các phòng đều có bồn tắm khoáng nóng trong phòng

    Giá phòng Villa tầng 1:

    Trong tuần từ thứ hai đến thứ năm: 850.000Đ / phòng / đêm

    Cuối tuần từ thứ sáu đến chủ nhật: 1.190.000Đ / phòng / đêm

    Biệt thự Villa tầng 2 có 5 phòng

    2 phòng có hai giường đơn 1m2

    3 phòng có một giường đôi 1m6 và một giường đơn 1m2

    Giá phòng Villa tầng 2:

    Trong tuần từ thứ hai đến thứ năm: 800.000Đ / phòng / đêm

    Cuối tuần từ thứ sáu đến chủ nhật: 1.090.000Đ / phòng / đêm

    Diện tích trong phòng 28m2 dành cho tối đa 2 người lớn

    Miễn phí cho 1 trẻ em dưới 5 tuổi

    Gia đình có 2 trẻ dưới 5 tuổi phụ thu 50.000Đ.

    Trẻ em từ 6 – 10 tuổi phụ thu 100.000Đ / bé.

    Trẻ em trên 11 tuổi, người lớn phụ thu 200.000 / người.

    ***Nhà vườn Bungalow có 4 phòng bao gồm:

    3 phòng có một giường đôi 1m6 và một giường đơn 1m2

    1 phòng có hai giường đơn 1m2

    Các phòng đều có bồn tắm khoáng nóng trong phòng

    Giá phòng Bungalow:

    Trong tuần từ thứ hai đến thứ năm: 950.000Đ / phòng / đêm

    Cuối tuần từ thứ sáu đến chủ nhật: 1.290.000Đ / phòng / đêm

    ☎️ Hotline/Zalo tư vấn: 0866.010055/0866.091515

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Tràng An Ninh Bình Nổi Danh Với Non Xanh Nước Biếc
  • Z Khám Phá Khu Du Lịch Tràng An Cổ Ninh Bình
  • Khu Du Lịch Sinh Thái Trại Bò – Diễn Lâm Nghệ An
  • Khu Du Lịch Sinh Thái Thủy Vân Sơn
  • Thung Lũng Vàng Đà Lạt Có Gì Hot Mà Thu Hút Khách Du Lịch Đến Vậy
  • Khu Du Lịch Đảo Ngọc Xanh Phú Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Kíp Khám Phá Khu Du Lịch Đảo Ngọc Xanh
  • Review Chi Tiết Du Lịch Đảo Ó Đồng Nai
  • Khu Du Lịch Biển Đảo Phú Quốc
  • Toàn Cảnh Siêu Dự Án Khu Văn Hoá Đền Hùng Tphcm Sau Hơn 20 Năm Xây Dựng
  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Đẹp Và Hấp Dẫn Nhất Tại Hà Nội
  • Đảo Ngọc Xanh là khu du lịch vui chơi, nghỉ dưỡng nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội 70 Km về hướng Tây Bắc, thuộc địa phận Xã La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ. Đảo Ngọc Xanh là một trong những khu du lịch trọng điểm thu hút khách du lịch nhất của vùng đất tổ. Hòn đảo này vốn là một bãi bồi cồn cát nổi giữa sông Đà, bên dưới lòng đất có những mạch ngầm đó là nước khoáng nóng có trữ lượng lớn nhất cả nước. Vì thế, Đảo Ngọc Xanh đúng như tên gọi của mình, là một hòn đảo ngọc xanh biếc, quý như ngọc giữa lòng thị thành phố.

    Khu du lịch sinh thái Đảo Ngọc Xanh được xây dựng kết hợp với những điều kiện thuận lợi nhất của thiên nhiên và khả năng sáng tạo vô tận của con người, hòn đảo này như một kỳ quan mới để mang đến những trải nghiệm thú vị cho du khách khi khám phá vùng đất thiên thời, địa lợi, nhân hòa này.

    2. Hình tượng 54 dân tộc

    Với việc phục dựng lại hình tượng mô phỏng sắc thái 54 dân tộc anh em của nước Việt Nam với trang phục, quần áo theo đúng nguyên mẫu, từ những dân tộc phổ biến nhất như Kinh, Mường, tới Bana, H’Mong… được họa màu rất đẹp và bên cạnh những bức hình đẹp, du khách sẽ có thêm những hiểu biết, kiến thức về bản sắc, văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Đảo Ngọc Xanh.

    3. Khu vườn thú

    Với những con gà, con chim, vịt, ngỗng, Nai, Hươu, Đà điểu, Gà lôi, Ngựa hoang… được nuôi gần như bán hoang dã rất gần gũi và thân thiện với con người. Bạn sẽ được làm quen, được cho chúng ăn và còn được chụp những bức ảnh ngộ nghĩnh cùng chúng.

    4. Ngắm cảnh bên sông Đà

    Đây là một hòn đảo nằm giữa lòng sông Đà, nên xung quanh hòn đảo này đều là nước. Nhưng khi vào khu vui chơi tản bộ hoặc đi xe đạp đôi ra bên rìa của khu du lịch về phía núi Ba Vì, bạn sẽ có cơ hội đi trên con đường cạnh dòng sông và ngắm cảnh ngay cạnh con sông Đà hiền hòa và lãng mạn.

    5. Khám phá Công viên thảo dược

    Công viên Thảo dược tại Đảo Ngọc Xanh là mô hình với kết hợp độc đáo theo phương châm làm việc học tập, nghiên cứu khoa học với tham quan, giải trí và nghỉ dưỡng. Bạn nên ghé qua để tìm hiểu và nhận dạng các loài thảo mộc quý hiếm.

    II. Dịch vụ Đảo Ngọc Xanh

    1. Tổ chức sự kiện – Hội nghị, hội thảo

    Với hệ thống phòng hội thảo rộng rãi có sức chứa tối đa từ 40-70 chỗ ngồi, và phòng hội trường lớn với sức chứa tối đa 400 chỗ ngồi sẽ giúp cho du khách có thể tổ chức các sự kiện lớn nhỏ. Các phòng đều có phục vụ điều hóa, máy chiếu, nước uống miễn phí, hệ thống âm thanh hiện đại để giúp khách hàng cảm thấy tiện nghi nhất có thể.

    2. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng

    – Dịch vụ tắm khoáng:

    Bên cạnh đó ngoài khu vui chơi giải trí không thể không nhắc tới điểm nhấn làm cho Đảo Ngọc Xanh có sự khác biệt so với các khu du lịch sinh thái khác, đó là dòng nước khoáng nóng dồi dào chảy ngầm trong lớp đất phù sa bên dưới sông Đà.

    Với dòng nước khoáng nóng này là tiền đề để xây dựng nên khu vườn tắm khoáng nóng với 2 bể bơi nóng và lạnh giúp du khách có thể ngâm mình cảm nhận sự sảng khoái của dòng nước khoáng mang lại. Ngoài ra, còn có các bể bơi tắm chanh, tắm trà chanh và tắm thuốc bắc nữa.

    Lợi ích của việc ngâm mình trong dòng suối khoáng thật không kể hết được, suối khoáng giúp tăng cường lưu thông máu, do chịu áp lực thay đổi của nước, làm thuận lợi cho hồi lưu máu từ hệ tĩnh mạch về tim, tắm khoán còn có lợi cho tiêu hóa, kích thích hoạt động của hệ tiêu hóa, người bệnh cảm giác nhanh đói và ăn ngon miệng hơn.

    Ngoài ra suối khoáng còn tác động tới hệ thần kinh, cả thần kinh ngoại vi và thần kinh trung ương do áp lực nước tác động lên da gây ra thư giãn, giảm stress, dễ đi vào giấc ngủ và ngủ sâu.

    Khu vật lý trị liệu này còn có đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp sẽ phục vụ quý khách tận tình, chu đáo. Mang tới cảm giác thư giãn, thoải mái sau những ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi.

    – Phòng sục xông hơi, tắm thuốc bắc

    Khu nghỉ dưỡng này còn được xây dựng các phòng sục xông hơi, tắm thuốc bắc để kết hợp với massage kèm với những liệu pháp vật lý trị liệu hữu ích nhằm bồi bổ thể chất, nâng cao sức khỏe toàn thân cho du khách khi đến với khu du lịch Đảo Ngọc Xanh.

    III. Khách sạn – Nhà hàng

    1. Phòng khách sạn

    Kim Cương Hotel có hệ thống khách sạn được trang bị các thiết bị theo tiêu chuẩn 3 sao, các phòng được nâng cấp và sửa sang liên tục sẽ cho du khách một không gian nghỉ ngơi thư giãn và tiện nghi nhất. Những phòng nghỉ được trang trí trang nhã, lịch sự với góc nhìn đẹp hướng ra bờ sông hoặc khu bể bơi trung tâm khách sạn. Gồm có 2 loại phòng:

    IV. Khu vui chơi giải trí

    Các trò chơi công viên nước bao gồm: bể bơi người lớn, bể bơi trẻ em, máng trượt ống xoắn, máng trượtcảm giác mạnh…

    Nhóm trò chơi thư giãn, giải trí: Xe điện đụng, vòng đu quay ông mặt trời siêu lớn, xem những sản phẩm phim 3D với hiệu ứng thú vị, trò chơi bò điên sẽ mang tới cho du khách sự thư giãn nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần thú vị.

    Nhóm trò chơi cảm giác mạnh: Muốn tận hưởng những giây phút hồi hộp tới thót tim hoặc muốn kiểm tra giới hạn chịu đựng của bản thân, những trò chơi cảm giác mạnh tại Đảo Ngọc Xanh sẽ mang tới cho bạn những trải nghiệm chưa từng có: Tháp xoay khí nén, tàu điện siêu tốc, thảm bay hai chiều, vũ trụ bay.

    Nhóm trò chơi thiếu nhi: Bên cạnh các trò chơi dành cho người lớn, đối tượng thiếu nhi cũng sẽ được thỏa thích vui chơi với rất nhiều các trò chơi thiếu nhi đa dạng, phong phú như: nhà bóng, nhà hơi, xe lửa hoàng gia, thuyền Caribe, Nhà liên hoàn.

    Với những điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa cùng với trí tưởng tượng vô hạn của con người, Đảo Ngọc Xanh xứng đáng là nơi chúng ta lựa chọn cho một kỳ nghỉ cuối tuần thú vị.

    Địa chỉ: Đảo Ngọc Xanh, t.t Thanh Thủy, Thanh Thủy, Phú Thọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đảo Hòn Dấu Điểm Đến Hấp Dẫn Nhất Hải Phòng.
  • Trải Nghiệm Khu Du Lịch Đầm Vạc Vĩnh Phúc
  • Đưa Nhau Đi Trốn Dịp Cuối Tuần Tại Khu Du Lịch Đầm Long Hà Nội
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Đắk Nông Chi Tiết Cho Bạn Đam Mê Phượt
  • Khu Du Lịch Đại Nam Văn Hiến
  • Các Điểm Tham Quan Du Lịch Tại Phú Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • Dự Án Khu Đô Thị Thanh Sơn Riverside Garden Phú Thọ
  • Du Lịch Lăng Cô Vào Mùa
  • 9 Khách Sạn Ở Lăng Cô Tiện Nghi View Đẹp Dịch Vụ Tốt Nhất Giá Từ 400K
  • Khu Du Lịch Thanh Tân Huế
  • Tour Du Lịch Thanh Tân Huế 2 Ngày 1 Đêm Khởi Hành Hằng Ngày
  • Phú Thọ là một tỉnh trung du, miền núi nằm ở trung tâm miền Bắc Việt Nam, vị trí chuyển tiếp giữa miền núi phía Bắc và đồng bằng, đỉnh của tam giác Châu thổ đồng bằng Bắc bộ, nơi hợp lưu giữa ba con sông lớn: Sông Thao, Sông Lô và Sông Đà, có bao bọc giữa hai dãy núi Tam Đảo và Ba Vì, tựa lưng vào vùng đồi núi san sát như bát úp phần cuối của dãy Hoàng Liên Sơn, mặt hướng xa vùng Đồng bằng Châu thổ Bắc bộ phì nhiêu rộng mênh mông làm cho Phú Thọ có một vị trí đắc địa: Sơn chầu, Thuỷ tụ.Tuy nhiên đã ban tặng cho Phú Thọ nhiều cảnh quan thiên nhiên như ngã ba Bạch Hạc, Ao Giời Suối Tiên, Đầm Ao Châu, Đầm Vân Hội, mỏ nước khoáng nóng Thanh Thủy, Vườn Quốc gia Xuân Sơn…là tài nguyên du lịch tự nhiên vô cùng quý báu để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên.

    Phú Thọ là mảnh đất cội nguồn của dân tộc, có truyền thống lịch sử văn hóa gắn liền với suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nơi các Vua Hùng chọn làm đất khởi nghiệp dựng nước, xây dựng nhà nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Phú Thọ có Đền Hùng , là nơi thờ cúng Tổ tiên chung của cả dân tộc Việt Nam, là nơi tụ hội và thể hiện sức mạnh, ý trí đại đoàn kết dân tộc.Trên mảnh đất Phú Thọ còn đang lưu giữ hàng ngàn di tích lịch sử văn hóa, hàng trăm lễ hội dân gian cùng các làn điệu xoan, ghẹo cổ, là di sản văn hóa quý báu của dân tộc mang đậm sắc cội nguồn và là các tài nguyên du lịch nhân văn có bản sắc độc đáo tạo nên sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách.

    Du lịch Phú Thọ có những điểm đến hấp dẫn như: Khu di tích lịch sử văn hóa Đền Hùng, Việt Trì là thành phố Lễ hội, khu nước khoáng nóng Thanh Thủy, vườn Quốc gia Xuân Sơn, …Trong những năm qua cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch của Phú Thọ đã được nâng cấp 1200 phòng nghỉ đạt tiêu chuẩn, các phương tiện vận chuyển khách sang trọng đã thu hút trên ba triệu lượt khách mỗi năm. Để có những thông tin cung cấp cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư, các hãng lữ hành trong và ngoài nước và du khách. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ Biên soạn và xuất bản cuốn Sổ tay du lịch Phú Thọ. Sổ tay sẽ giúp ích cho các hãng lữ hành, các du khách có được những thông tin đầy đủ và chính xác, để lựa chọn và thực hiện các chuyến thăm quan du lịch tới Phú Thọ một cách dễ dàng, thuận tiện và phù hợp với nhu cầu của du khách.

    I/ Các danh thắng của tỉnh Phú Thọ:

    1.Di tích lịch sử và Lễ hội Đền Hùng:

    – Di tích lịch sử Đền Hùng:

    Đền Hùng thuộc Thôn Cổ tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đền Hùng là một hệ thống kiến trúc, thờ các Vua Hùng. Đền Hùng vừa là thắng cảnh đẹp, vừa là một di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng đối với người Việt Nam. Các ngôi đền nằm trên núi Nghĩa lĩnh có độ cao 175m so với mực nước biển. Núi Nghĩa Lĩnh trông xa giống như đầu Rồng hướng về phía Nam, cảnh ngoạn mục hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của Sơn Thủy hội tụ. Cụm Di tích lịch sử Đền Hùng có các kiến trúc như sau:

    Cổng Đền: Được xây năm Khải Định thứ hai( 1917), cổng xây cao 8,5m, rộng 4,5m, nóc cổng có hình dáng tám mái nhỏ, hai bên có đắp phù điêu hai võ sỹ, một cầm dao, một cầm chùy.

    – Đền Hạ: Đền Hạ được xây dựng vào thế kỷ thứ XVII theo kiểu chữ nhị gồm hai tòa, mỗi tòa ba gian. Tương truyền nơi đây mẹ Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở thành 100 người con, nghĩa đồng bào được bắt đầu từ đây.

    – Chùa Thiền Quang: Nằm ở phía bên phải Đền Hạ, kiến trúc chủ yếu là cột gỗ có đá kê. Chùa được xây dựng vào thời Lý và thời Trần. Chùa dựng lại vào thời nhà Lê 1427-1573, chùa thờ Phật theo phái đại thừa, trước cửa chùa có cây thiên tuế khoảng 700 năm tuổi.

    – Đền Trung( Hùng Vương Tổ Miếu): Đền Trung được xây sớm nhất trên núi Nghĩa Lĩnh. Đến thế kỷ XVII được xây dựng lại như kiểu dáng hiện nay. Tương truyền nơi đây các Vua Hùng thường họp bàn việc nước. Đền Trung cũng là nơi Vua Hùng thứ 6 nhường ngôi cho Lang Liêu, đã có công làm ra bánh chưng, bánh dầy.

    – Đền Thượng( Kính Thiên Lĩnh Điện): Đền Thượng được trùng tu vào năm Khải Định thứ 2( 1917), đền làm theo kiểu chữ ” Vương”. Phía trước đền có bốn cột trụ được trang trí, điêu khắc ” Lưỡng Long Chầu Nguyệt”. Đền Thượng là nơi các Vua Hùng thường làm lễ tế trời đất, mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, muôn dân được ấm no hạnh phúc.

    – Lăng Vua Hùng: Lăng được xây bên trái phía trước Đền Thượng, Lăng hình vuông, cột liền tường, tám mái có đao cong, trong Lăng có mộ khối hình chữ nhật.

    – Đền giếng: Được xây dựng vào thế kỷ thứ XVII ở chân núi phía Nam Nghĩa Lĩnh, gồm ba lớp nhà và hai nhà oản hai bên. Trong Đền có Giếng Ngọc, tương truyền là nơi hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thường soi gương, chải tóc. Nước Giếng trong không bao giờ cạn, Đền gồm hai tòa không có trạm trổ.

    Lễ hội Đền Hùng là Lễ hội có quy mô lớn nhất trong cả nước. Lễ hội diễn ra từ sau tết Nguyên đán đến hết tháng ba âm lịch. Lượng khách đến tham dự Lễ hội đông nhất từ ngày 01 đến ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hàng năm có khoảng trên ba triệu lượt khách về Đền Hùng thắp hương viếng Mộ Tổ và tham dự Lễ hội. Ngày 10 tháng 3 âm lịch là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, đã được công nhận là ngày Quốc Giỗ tại Nghị định số 82/2001/NĐCP ngày 06 tháng 11 năm 2001. Phần Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương được tiến hành với nghi lễ tôn nghiêm, trọng thể tại Đền Thượng. Lễ Dâng hương được tổ chức ở cấp Nhà nước vào những năm chẵn, ở cấp tỉnh những năm còn lại. Nhân dân các địa phương xung quanh như xã Hùng Lô, xã Chu Hóa, xã Sơn Vi, thị trấn Lâm Thao, xã Hy Cương… tổ chức Rước kiệu đến Đền Hùng. Phần hội diễn ra dưới chân núi Nghĩa Lĩnh với các trò diễn dân gian như: Múa Lân, múa sư tử, kéo co, tứ dân chi nghiệp…Các hoạt động văn hóa nghệ thuật như: Hát dân ca, hát xoan, hát ghẹo…Các cuộc thi nấu cơm, giã bánh dầy, gói nấu bánh chưng… Thi đấu thể thao: Bóng chuyền, vật…Với sự tham gia đông đảo của hàng vạn người dân địa phương và du khách thập phương tới tham dự lễ hội. Trong dịp lễ hội các địa hương xung quanh Đền Hùng cũng tổ chức nhiều hoạt động văn hóa để tạo thêm không khí tưng bừng náo nhiệt cho Lễ hội Đền Hùng.

    Đền Mẫu Âu Cơ thuộc xã Hiền Lương- huyên Hạ Hòa- tỉnh Phú Thọ. Đền Mẫu Âu Cơ cách thành phố Việt Trì 80km và cách Hà Nội( cầu Trung Hà) 70km. Đền Mẫu Âu Cơ được xây dựng vào năm 1475 trên một quả gò đất cao, giữa khoảng đất rộng thoáng của cánh đồng. Ngôi đền nằm dưới gốc Đa Cổ thụ, quay mặt về phía Nam. Bên tả có giếng Loan, bên hữu có giếng Phượng, phía trước có núi giác đẹp như một thư án, sau lưng có Sông hồng uốn khúc bao bọc, cây cối xanh tốt. Kiến trúc Đền gồm 5 gian Đại Bái và ba gian hậu cung trong Đền có nhiều bức trạm gỗ quý giá, có giá trị mỹ thuật điêu khắc, có các Cổ vật có giá trị như: Tương Âu Cơ, tượng Đức Ông, Long Ngai, khảm thờ. Đền Mẫu Âu Cơ là di tích thờ Quốc Mẫu quan trọng trong hệ thống di tích lịch sử của tỉnh Phú Thọ.

    Lễ hội tổ chức chính vào ngày 07 tháng giêng âm lịch hàng năm. Ngoài ra còn có các ngày lễ khác như ngày 10 và 11 tháng 2 (âm lịch), ngày 12 tháng 3( âm lịch), ngày 13 tháng 8( âm lịch), và ngày 25 tháng 12( âm lịch) là ngày “Tiên thăng về trời”. Mở đầu lễ hội là lễ tế thành hoàng ở đình Đức Ông sau đó rước kiệu vào đền Quốc Mẫu( vào khoảng 07giờ đến 09giờ sáng), đám rước vào đến sân đền và phần lễ tại đền Mẫu Âu Cơ được tiến hành : Đầu tiên là lễ dâng hương và lễ vật(100 cầu bánh ngọt, 100 phẩm oản, và hoa quả), sau đó là đội tế nữ quan gồm 12 cô gái thanh tân tiến hành lễ Mẫu theo nghi lễ truyền thống. Sau phần tế lễ, nhân dân thập phương và khách thập phương vào đền lễ Mẫu dâng hương hoa. Ngoài sân Đền diễn ra các trò chơi dân gian như: Đu tiên, đánh cờ người, chọi gà, tổ tôm điếm, các hoạt động văn hóa, văn nghệ và chợ quê được tổ chức để tăng thêm không khí vui tươi cho ngày hội.

    3.Khu di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh:

    Di tích nằm ở xã Cổ Tiết- huyện Tam Nông- tỉnh Phú Thọ, cách huyện lỵ Tam Nông 6km. Di tích được xếp hạng cấp quốc gia tai Quyết định số 65/QĐ- BT ngày 16 tháng 01 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin.

    – Thư gửi đồng bào toàn quốc ngày 05/3/1947

    – Thư gửi đồng bào hậu phương ngày 05/3/1947

    – Gửi Quốc hội và nhân dân Pháp ngày 05/3/1947

    – Thư gửi giám mục La Hữu Tử 10/3/1947

    – Trả lời phỏng vấn về lời tuyên bố của Thủ tướng Pháp Ramandiê ngày 09/3/1947

    – Thư gửi Bộ nội vụ về việc chuyển các cơ quan về nơi an toàn

    – Ký sắc lệnh số 298 định rõ về thể thức ngoại thương và lập ngoại thương cục ngày 14/3/1947

    – Biên tập cuốn ” Đời sống mới” ký tên Tân Bình

    Đọc Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo và phép dùng binh của Tôn Tử. Đêm ngày 18/3/1947 Người về Cổ Tiết sang Chu Hóa huyện Lâm Thao tiếp tục chặng đường kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Đặc biệt Người đã đặt tên cho các đồng chí bảo vệ, giúp việc cho Bác là : Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi nhằm khẳng định mục đích kháng chiến của cách mạng Việt Nam.

    Vườn Quốc gia Xuân Sơn thuộc địa bàn huyện Tân Sơn- tỉnh Phú Thọ. Vườn quốc gia Xuân Sơn có tổng diện tích là 33.687ha, trong đó vùng lõi của vườn là 15.048ha và vùng đệm là 18.639ha. Vườn Quốc gia Xuân Sơn có hệ thống đa dạng sinh học được bảo tồn. Theo thống kê vườn Quốc gia Xuân Sơn có 1217 loại thực vật, trong đó có 665 loài cây thuốc, 300 loài cây rừng có thể làm rau ăn, có các loại thực vật bậc cao như: Re, dẻ, sồi, vá, táu muối, chò chỉ, dổi, kim dao. Rừng chò chỉ Xuân Sơn được đánh giá là giàu và đẹp nhất miền Bắc, có nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi có đường kính tới 2m và cao 30m. Vườn Quốc gia có 365 loài động vật trong đó có 46 loài ghi trong danh sách đỏ Việt Nam và 18 loài ghi trong sách đỏ thế giới, có loài cá cóc bụng đỏ là loài động vật quí hiếm. Có 3 đỉnh nuí cao trên 1000m đó là các đỉnh: Núi Ve, núi Ten và núi Cẩn.Hệ thống hang động đá vôi rất phong phú và đa dạng có nhiều màng đá, nhũ đá, cột đá đẹp. Đã phát hiện khoảng 30 hang động có các kích thước lớn nhỏ khác nhau: Hang Lun, hang Lạng, hang Na, hang Dơi, hang Sơn Dương, hang Thổ Công, hang Thiên Nga, hang Chồn Trắng, hang Trăng Tròn…Hang Lạng là hang lớn nhất và dài nhất ăn sâu vào núi Ten, vòm hang có chỗ cao tới 20m và rộng 20m. Hệ thống thác nước trong vườn Quốc gia được tạo bởi các con suối đổ từ trên núi xuống rất đẹp đó là: Thác Xoan, thác Kẹm, thác 99 tầng, thác Tô Anh, thác Tô Em, Thác nước mọc.Trong vườn Quốc gia còn có các dân tộc: Mường, Dao cư trú tại các bản: Lạng, Dù, Lấp, Thang, Xoan, Ong, Dâm…Đặc biệt ở đây còn giữ được phong tục tập quán truyền thống với các lễ hôi dân gian, các điệu nhảy múa ca hát rất độc đáo. Vườn Quốc gia Xuân Sơn là một thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt đẹp là điểm đến hấp dẫn đối với du khách.

    Mỏ nước khoáng nóng Thanh Thủy nằm trên địa bàn xã La Phù, xã Bảo Yên- huyện Thanh Thủy- tỉnh Phú Thọ. Mỏ nước khoáng nóng Thanh Thủy nằm cách thành phố Việt Trì hơn 40km, giáp với thành phố Hà Nội mở rộng( Từ cầu Trung Hà đi dọc theo bờ đê Sông Đà 11km là đến mỏ nước khoáng nóng Thanh Thủy), là một điểm đến hết sức thuận lợi cho du khách. Mỏ nước khoáng nóng Thanh Thủy được phân bổ dọc theo bờ Sông Đà với diên tích trên 300ha. Nước khoáng nóng ở độ sâu cách mặt đất 30m đến 40m, độ nóng của nước đạt từ 45độ đến 46 độC. Thành phần của nước có các nguyên tố vi lượng có tác dụng tốt cho việc chữa bệnh và phục hồi sức khỏe. Trữ lượng nước khoáng đủ khả năng khai thác phục vụ cho du khách lâu dài với lưu lượng khoảng 2500m3/ngày .Tỉnh Phú Thọ đã quy hoạch khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy với các dự án xây dựng các khu chữa bệnh, nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí, tổ chức hội nghị, hội thảo…Hiện nay vào các dịp ngày nghỉ có hàng ngàn lượt du khách mỗi ngày đến nghỉ và tắm nước nóng tại khu nước khoáng nóng Thanh Thủy.

    Ao Giời- Suối Tiên thộc địa phận xã Quân Khê- huyện Hạ Hòa- tỉnh Phú Thọ. Suối Tiên bắt nguồn từ núi Nả có độ cao trên 1000m. Suối chảy từ trên cao xuống tạo nên một hệ thống thác đẹp, có thác đổ xuống những khu vực nước sâu và trong xanh, có thác lại đổ xuống nhưng bái đá cuội, đá tảng ngũ sắc lấp lánh, tạo nên vẻ đẹp kỳ ảo. Có khoảng 10 thác lớn nhỏ với các đặc điểm riêng biệt về độ cao, vực đổ nước và cảnh quan xung quanh đã được người dân nơi đây đặt cho những cái tên rất đẹp như: Ao Giời, Giếng Bụt, Vực Xanh, Động Không Đáy, Lòng Huyền, Thác Mây, Động Tiên, Thác Gió, Thác Chum, Thác Ba Tầng, Bể Ngọc…Ven suối có các bãi đá và phiến đá rất đẹp có hình thù đa dạng phong phú được đặt những cái tên độc đáo như: Bệ đá Voi Quỳ, bệ đá Hổ Phục, Cổng Trời, Cánh Tiên…Ao Giời- Suối Tiên cách Đền Mẫu Âu Cơ khoảng 10km, cách đầm Vân Hội 3km. Ao Giời- Suối Tiên là một điểm đến lý tưởng cho các du khách có nhu cầu thưởng thức các thắng cảnh thiên nhiên sau khi đã đi thăm và thắp hương tại Đền Mẫu Âu Cơ.

    Nằm trên khu vực của thị trấn ấm Thượng- xã Yên Sơn- huyện Hạ Hòa. Đầm Ao Châu có diện tích mặt nước trên 300ha nổi lên giữa một vùng đồi trung du, tạo nên 99 ngách ăn sâu vào một vùng đồi gò rộng lớn với diện tích trên 1000ha. Nước trong đầm luôn trong xanh và sạch, độ sâu của nước trung bình từ 8 đến 10m, chỗ sâu nhất là 15m. Những quả đồi đất nổi lên giữa đầm nước mênh mông được trồng các loại cây bản địa như chè, cọ đặc biệt là các đồi vải chín đỏ vải vào mùa hè hàng năm tạo nên bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp. Vùng núi và đồi ven hồ là những rừng cây xanh tốt tạo nên một cảnh quan rất thơ mộng. Đầm Ao Châu đã được quy hoạch để xây dựng thành một khu du lịch sinh thái với hệ thống các khách sạn sang trọng, các khu nghỉ dưỡng với các trò vui chơi giải trí như bơi thuyền, đua thuyền trên mặt đầm. Đầm Ao Châu nằm cách Việt Trì 70km, thời gian đi ô tô mất gần 2 giờ có thể thực hiện một kỳ nghỉ bổ ích và lý thú.

    Nằm ở xã Hiền Lương- huyện Hạ Hòa- tỉnh Phú Thọ. Đầm tiếp giáp với xã Vân Hội và xã Việt Cường- huyện Văn Chấn- tỉnh Yên Bái. Đầm Vân Hội có diện tích trên 200ha, độ sâu của nước từ 7m đến 8m, chỗ sâu nhất đạt 20m. Đầm có hệ thống cung cấp và thoát nước mở nên luôn giữ mực nước ổn định, mùa mưa và mùa cạn nước chỉ chênh lệch nhau khoảng 1,3m. Nước trong Đầm rất trong và sạch. Xung quanh Đầm có hệ thống núi và đồi và rừng của các xã Quân Khê- huyện Hạ Hòa- Phú Thọ, xã Vân Hội, xã Việt Cường huyện Văn Chấn( tỉnh Yên Bái) vây bọc tạo nên cảnh quan thơ mộng. Trên mặt Đầm có khoảng 40 đảo, đảo lớn nhất có diện tích 10ha, còn lại là đảo nhỏ từ 0,5 đến 1ha với các loại cây như: Cọ, chè, keo…Tạo nên phong cảnh hữu tình. Đường cao tốc xuyên á: Hải Phòng- Hà Nội- Côn Minh( Trung Quốc) chạy qua cách cửa Đầm( Ngòi Vần) khoảng 700m. Từ Việt Trì lên Đầm Vân Hội khoảng 80km đi mất 2 giờ xe ô tô. Đầm Vân Hội cách Đền Mẫu Âu Cơ( Hạ Hòa) 1km, cách Ao Giời- Suối Tiên 3km. Đầm Vân Hội được quy hoạch thành khu du lịch nghỉ dưỡng- vui chơi giải trí cao cấp.

    Thác Cự Thắng thuộc xã Cự Thắng- huyện Thanh Sơn- tỉnh Phú Thọ. Thác Cự Thắng phố Vàng huyện Thanh Sơn khoảng 18km. Thác Cự Thắng có chiều cao 10m, nước chảy với lưu lượng nước quanh năm, dưới chân thác là hồ nước rộng và nước rất trong, là nơi tắm rất lý tưởng. Xung quanh khu vực thác và dọc theo dòng suối là rừng cây xanh tốt và các bãi đá cuội tạo nên cảnh quan đẹp. Thác Cự Thắng là một điểm đến nghỉ ngơi lý tưởng vào những ngày nghỉ mùa hè.

    Bạch Hạc có tên gọi xuất sứ từ lâu đời. Sách” Lĩnh nam chích quái “chép: ” Đất Phong Châu thời thượng cổ có một cây lớn gọi là cây Chiên Đàn, cành lá rập rạp, có chim Hạc làm tổ ở trên, nên gọi đất ấy là Bạch Hạc. Ngã ba Bạch Hạc nơi hợp lưu của ba con sông lớn: Sông Thao, Sông Đà và Sông Lô. Vùng đất này có thế ” sơn chầu, thủy tụ” dồi dào ” khí thiêng sông núi”. Do thế đất thuận lợi có núi, đồi và đồng bằng nên đã được người Việt Cổ chọn làm nơi cư trú: nước ngập thì lên đồi núi kiếm ăn, mưa thuận gió hòa thì xuống đồng bằng gieo cấy. Nơi đây đã được Vua Hùng chọn làm đất xây dựng nên Nhà nước Văn Lang. Bạch Hạc còn lưu giữ biết bao truyền thuyết của thời đại Hùng Vương, Tiên Ông đặt tên cho 100 người con của Lạc Long Quân trên bến sông…….vẫn còn hòn đá hằn gót chân Tiên Ông, truyền thuyết Sơn Tinh- Thủy Tinh đấu võ, truyền thuyết về hai anh em Thổ Lệnh và Thạch Khanh…Nơi đây còn có nhiều di tích lịch sử văn hóa như hệ thống đền chùa Tam Giang, đình Bạch Hạc, đền Lang Đài, miếu Hà thần…và các lễ hội nổi tiếng như: Lễ hội bơi chải Bạch Hạc, hội thi giã bánh giày, hội đấu vật…Mỗi tên đất tên làng đều gắn với những truyền thuyết đẹp của thời đại Hùng Vương. Ngã ba Bạch Hạc đã từ lâu nổi tiếng bởi một vùng sông nước hữu tình, sầm uất trên bến dưới thuyền, buổi chiều tà mặt trời đỏ ối lặn sau dãy Ba vì, trên sông các thuyền thả lưới đánh cá vọng vang trong những làn điệu dân ca tạo cho Bạch Hạc một thắng cảnh nên thơ. Bach Hạc là một điểm đến hấp dẫn với các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể độc đáo, đặc sắc, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú sẽ làm hài lòng du khách sau mỗi chuyến đi.

    Phú Thọ là quê hương của cọ, cây cọ đã trở thành biểu tượng của Phú Thọ. Vùng đồi trung du san sát như bát úp của Phú Thọ với diện tích hàng chục ngàn hecta được phủ xanh bởi rừng cọ tạo nên một cảnh quan dẹp và hấp dẫn du khách. Những buổi trưa hè nằm trong rừng cọ thưởng thức những làn gió thơm của vùng đồi trung du thật sảng khoái, dễ chịu bao nhiêu mệt nhọc đều tan biến. Thật ấn tượng ngắm nhìn mỗi buổi bình minh lên hay chiều tà rừng cọ cao vút ” xòe tay” vẫy gọi ” khua gươm” như một đại đoàn quân dũng mãnh đang xung trận bảo vệ tổ quốc. Cây cọ cũng như cây tre đã bao đời gắn bó với cuộc sống của cộng đồng dân cư nông nghiệp người Việt suốt từ thủa bình minh dựng nước cho đến ngày nay. Mái nhà lá co, nón lá, áo tơi…đã che chở nắng, mưa, sương, gió qua ngàn đời cho con người tồn tại và phát triển. Ngày nay rừng cọ Phú Thọ vẫn là nơi cung cấp nguyên liệu để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và hơn thế nữa nó là một cảnh quan rất hấp dẫn cho các chuyến du lịch sinh thái, nghỉ ngơi, thư giãn lý tưởng.

    Phú Thọ đã từ lâu nổi tiếng là đất trồng chè, với diện tích trồng chè trên 12 ngàn ha và sản lượng chè búp tươi hàng năm đạt 150.000 tấn/năm. Hàng năm Phú Thọ xuất khẩu trên 10 ngàn tấn chè búp khô. Ai đã từng qua vùng đồi trung du Phú Thọ các huyện Đoan Hùng, Thanh Ba, Hạ Hoà, Cẩm Khê, Phù Ninh…không thể nào quên những đồi chè xanh mơn mởn, trông như những mâm xôi tầng tầng, lớp lớp ngút ngàn tạo nên cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Những cô gái miền trung du nhanh tay thoăn thoắt hái những búp chè, miệng luôn cươi tươi trong các làn điệu dân ca tạo nên cuộc sống thanh bình, êm ả của một vùng quê. Thật thú vị khi được thưởng thức vị trà đậm đà, đắng nhẹ, ngọt hậu về sau từ những ấm trà nhỏ của các lão nông vùng đất chè trong những câu chuyện về cây chè, rồi về truyền thuyết của thời đại dựng nước…Thật là vui vẻ sảng khoái thưởng thức bát nước chè xanh của các bà “bủ”, bà ” Bầm” mỗi khi nóng nực. Cảnh đẹp của những đồi chè, cuộc sống lao động sản xuất vui vẻ chàn đầy tinh thần lạc quan của những nhà sản xuất, chế biến chè cùng với văn hóa chè của người Phú Thọ đã tạo nên một điểm đến với các loại hình du lịch sinh thái, văn hóa cực kỳ lý thú và hấp dẫn.

    II/ Lễ hội, Di tích lịch sử văn hóa và Di tích khảo cổ:

    Địa điểm Lễ hội: Phường Bạch Hạc- thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ.

    Thời gian tổ chức Lễ hội: Ngày 10 tháng 3 âm lịch.

    Đây là lễ hội sông nước được tổ chức để nhắc lại tích Thần Thổ Lệnh đưa Tản Viên khi ngài đến thăm Bạch Hạc trở về. Tham gia hội thi có 4 giáp: Thiên Hạc, Đông Nam, Thần Trúc, Bộ Đầu. Mỗi giáp có 1 chải được sơn một màu: Chải Tiên Hạc màu xanh, chải Đông Nam màu trắng, chải Thần Trúc màu đỏ, chải Bộ đầu màu vàng. Khi đua mỗi chải có 50 tay chèo và một người cầm lái, một người cầm cỗ, một người gõ mõ làm nhịp. Trang phục của các tay chèo cùng màu với màu chải. Đường bơi bắt đầu từ cửa Đền xuống ngã ba sông, vòng lên Làng Tiên Cát, các tay chải vào làm lễ tại đền Chi cát nơi thờ Thạch Khanh rồi quay về đích trước cửa Đền.

    Khi chải đầu tiên cán đích thì tiếng reo hò của hàng chục ngàn người xem vang lên không ngớt. Lễ hội bơi chải Bạch Hạc gắn với cụm di tích Đền Chùa Tam Giang và thắng cảnh ngã ba sông Bạch Hạc đã thu hút được hàng chục ngàn đồng bào và du khách đến tham dự.

    Địa điểm tổ chức lễ hội: Xã Hiền Quan- huyện Tam Nông- tỉnh Phú Thọ.

    Thời gian diễn ra lễ hội: Ngày 12 va 13 tháng giêng âm lịch hàng năm.

    Ngày 12 là ngày cáo hội: Buổi sáng rước kiệu và án nhang từ Đền thờ Thiều Hoa về đình, trên kiệu có đặt long ngai và quả phết. Sau tế Lễ là tổ chức điểm binh. Ngày 13 là ngày chính hội: Rước kiệu , Long ngai, án nhang ra đình, Lễ dâng hương tưởng niệm và tế lễ tại đình. Buổi chiều là phần hấp dẫn nhất của ngày hội đó là trò kéo quân đánh phết, trai làng chia làm hai phe, mỗi phe khoảng 50 đến 60 người cởi trần mặc quần dài, thắt lưng màu đỏ bỏ múi tay cầm dùi phết. Sau khi làm lễ trước bàn thờ, các cụ cầm cờ chéo ngang đầu đi dọc hai hàng quân như điểm binh và các cụ dẫn hai cánh quân chạy ra bãi hội vừa đi vừa giơ cao dùi phết, móc từng đôi vào nhau theo hình chữ A. Khi đoàn tiến ra giữa bãi, chủ tế đứng bên lò phết đọc bài hò phết. Sau đó chủ tế ném quả phết xuống lò, hai người cầm giữ phết đạp xuống hai bên lò phết 10 lần rồi đưa dùi phết móc quả phết lên, lập tức cuộc tranh cướp phết bắt đầu. Khi một người cướp được quả Phết chạy ra thì hàng trăm người rượt theo, xô vào dành dật quả phết vô cùng quyết liệt, chỉ khi một người ôm được quả phết vào lòng chạy qua hàng rào cây nêu ranh giới thì cuộc chơi mới tạm dừng. Sau quả phết thứ nhất chủ tế lại cùng các chàng trai rước quả phết thứ hai, rồi quả phết thứ ba trình tự như ban đầu. Cuộc chơi không hề có giải thưởng nhưng ai cướp được phết thì năm đó sẽ được nhiều may mắn. Sau ba bàn phết, chủ tế vào làm lễ rồi rước ba quả chúi trên mâm…. Đến bãi hội rồi ném từng quả theo ba hướng theo phía xuôi dòng sông. Một lần nữa hàng trăm người nhảy lên đón chúi rồi giành giật, xô đẩy mong kiếm được quả lộc mang về. Tan hội dân làng làm lễ tạ rồi rước kiệu từ Đình về Đền, mọi người ra về mang trong lòng một niềm vui phấn khởi.

    Lễ hội được tổ chức tại xã Thanh Đình- thành phố Việt Trì.

    Thời gian tổ chức lễ hội: Ngày 04 tháng 01 âm lịch hàng năm.

    Lễ rước ông Khiu, bà khiu được gọi là lễ cầu mùa. Lễ vật bao gồm: một bánh chưng tày dài khoảng 40cm, một cành đào, một bó lúa nếp, một bó lúa tẻ được tẽ ra xung quang mâm, dưới có nhiều hạt: Ngô, đỗ, lạc, vừng. Xung quanh kiệu có dắt các bông lau, bông chít.

    Đóng ông Khiu là một người đàn ông 60 đến 65 tuổi, khỏe mạnh, còn song toàn vợ chồng, con cái thì có trai có gái, ông Khiu trong trang phục màu xanh lam, quần trắng, đầu đội mũ tế, chân đi hia.

    Đóng bà Khiu là một người thanh niên nam đóng giả tuổi từ 12 đến 17, khỏe mạnh, tuấn tú, còn bố mẹ song toàn, trang phục áo mớ ba, mớ bảy, váy màu đen, đầu đội nón ba tầm chân đi guốc nhỏ, tay cầm một túi nhỏ bằng vải hoa trong có 9 miếng trầu cánh phượng, 9 miếng cau, 9 miếng vỏ cay. Ông Khiu, bà Khiu được rước trên kiệu từ đình đến Oa nhà Nít( Còn gọi là đá dai hay cái của phụ nữ). Trong phần lễ hội tại Oa nhà Nít ông Khiu cầm bánh chưng tày tượng trưng cho dương vật đâm xuống Oa nhà Nít ba lần. Sau khi làm lễ lại rước ông Khiu, bà Khiu về đình. Tại đây ông Khiu, bà Khiu tung bánh chưng và mâm ngũ cốc cho dân làng cướp, ai cướp được nhiều bánh thì may mắn sinh con trai, ai cướp được nhiều hạt ngũ cốc thì năm đó có mùa màng bội thu.

    + Lễ hội Trò Trám và rước lúa thần:

    Lễ hội được tổ chức tại xã Tứ Xã- huyện Lâm Thao- tỉnh Phú Thọ.

    Thời gian tổ chức: Đêm ngày 11 và ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội Trò trám là lễ hội phồn thực của người Việt cổ, cầu cho mùa màng tươi tốt, mọi vật sinh sôi nảy nở, Lễ hội Trò trám gồm ba phần chính:

    – Phần một: “Lễ mật tát đèn” đêm ngày 11 tháng giêng diễn ra tại Miếu Trò, chủ tế đưa cho con trai một vật bằng gỗ và con gái một vật hình mui rùa tượng trưng cho sinh thực khí. Đôi trai gái sau câu xướng của chủ tế ” Linh tinh tình phộc” phải rướn người lên, giơ cao dùi gỗ, nui rùa miệng há rồi chọc mạnh vào nhau. Nghi lễ này diễn ra ba lần, nếu cả ba lần đâm trúng thì năm đó gặp nhiều may mắn.

    Phần hai:Lễ rước lúa thần khoảng từ 8 đến 9 giờ sáng ngày 12 tháng giêng nhưng từ chiều tối hôm trước bát hương được rước từ miếu ra trám cúng ” Tế cao” và sáng 12 tháng giêng là tế đốn, sau đó là rước luá diêũ qua cánh đồng thôn xóm và cuối cùng là về miếu Trò.

    Phần Ba: Hội trình nghề tứ dân chi nghiệp: Sỹ, Nông, Công, Thương. Các nhân vật chính trong trò trình nghề này chủ yếu là những nhân vật ở nông thôn, trong đó nổi bật là các vai thợ cày, thợ cấy, thợ mộc, thợ câu, kéo sợi, người bán xuân, thầy đồ…Trò diễn đi quanh khắp làng và điểm cuối cùng là diễn ra ở sân miếu Trò. Trò trám phản ánh khát vọng, nét sinh hoạt buổi hoang sơ của dân cư đất Việt cổ ven Sông Hồng và là một trong những lễ hội cổ xưa nhất còn lưu truyền đến ngày nay.

    + Lễ Hội Tịch Điền: ( Lễ hội Vua Hùng dạy dân cấy lúa)

    Lễ hội được tổ chức tại xã Minh Nông- thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ

    Thời gian tổ chức lễ hội vào ngày 01 tháng 6 âm lịch hàng năm

    Lễ hội được bắt nguồn từ nhữểTtuyền thuyết trong buổi bình minh dựng nước của các Vua Hùng. Truyền thuyết kể rằng: Các vùng đất bãi ven sông hàng năm được phù sa bồi đắp màu mỡ, Vua Hùng thấy đất tốt có lúa hoang dại mọc lên bèn gọi dân đến bảo cách đắp bờ giữ nước, thu giữ hạt lúa hoang dại đem gieo mạ rồi cấy lúa vào các thửa ruộng đã được giữ nước. Lúc đầu dân không biết cấy, Vua phải dừng ngựa ở đồi Mã Lao, nhổ mạ, cấy lúa cho dân làng xem. Mọi người làm theo, cấy lúa cho đến lúc mặt trời đứng bóng, Vua và dân cũng nghỉ ngồi tại bãi đất cao giữa đồng. Trước đây đàn tịch điền được xây xung quanh bằng đá ong dài 8m, rộng 7m, cao 1,3m, xung quanh trồng gai sọng. Trong đắp hình hổ phù dài 1,2m, cao 0,3m nằm trên bệ giữa đàn: xây bệ cao 1,2 m, dài 0,6m, rộng 0,8m, trên đặt bát hương đường kính 30cm, lễ vật đặt cạnh bát hương, diện tích còn lại đặt vừa hai chiếu, sàn trồng cỏ. Lễ vật dùng cúng tế: Ván sôi gà, trầu, cau, hương, rượu, nước…Phần lễ được tiến hành rất uy nghiêm, trình tự theo quy định. Cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt để dân khang, vật thịnh. Sau khi nghi lễ được tiến hành, ông chủ tế sắn quần lội xuống lấy một bó mạ rồi cắm cây nêu, nổi chiêng trống kết thúc buổi lễ xuống đồng.

    Hội được tổ chức tại xá Đào Xá- huyện Thanh Thủy- tỉnh Phú Thọ.

    Thời gian tổ chức lễ hội: 03 ngày( 27,28 và 29 tháng giêng âm lịch hàng năm). Hội rước voi Đào Xá hay còn gọi là Lễ cầu tháng giêng.

    Tương truyền: Vua Hùng thấy Hùng Hải( con trai thứ 19 của Lạc Long Quân) có công lớn trong việc khai thiên lập địa tự thủy vùng Tam Giang, đã ban thưởng cho 2 thớt voi trước khi ông về trông coi vùng đất Sông Nhị( Hải Dương). Trước khi chia tay Hồng Hải dẫn đôi voi về Đào Xá làm lễ tạ ba lần rồi từ biệt, cuộc tiễn đưa đầy quyến luyến cảm động, đôi voi dùng dằng chẳng muốn đi mắt đẫm lệ, nhưng cuối cùng cũng phải dứt lòng cùng chủ ra đi. Lễ hội được tổ chức từ sáng 27 tháng giêng, làng cắt đặt người mang: Bát biểu, chấp kích , cờ tán, long và sắm lễ: Ba nải chuối, ba bát bánh trôi không nhân, ba con cá chép, rượu…làm lễ tế rước bài vị bát nhang, kèm sắc từ Đền Tam Công về ĐìnhX›Chiều ngày 27 thì tổ chức rước kiệu, rước voi ra đền. Sáng ngày 28 làm cỗ rước lên đình và cỗ để ở đình đến sáng ngày 29. Trong ngày 28 ở trong đình làm lễ tế, ngoài sân có nhiều trò chơi đặc sắc như: Múa voi, thi nấu cơm, chọi gà, kéo chúng tôi ông voi được rước khắp sân đình. Sáng ngày 29 tháng giêng rước kiệu từ đình ra điếm và sau đó lại rước về sân đình và tế lễ tại đình. Chiều ngày 29 rước hoàn cung về đền vào làm lễ tạ.

    + Lễ hội bơi chải đền Đào Xá:

    Lễ hội được tổ chức tại xã Đào Xá- huyện Thanh Thủy- tỉnh Phú Thọ.

    Thời gian tổ chức lễ hội ngày 10 tháng 7 âm lịch.

    Lễ hội bơi chải Đào Xá được tổ chức trên Đầm Đào Dị Nậu. Lễ hội gắn liền với sự tích thờ ba vị Thủy thần và đặc biệt là từ khi Lý Thường Kiệt đến đóng quân luyện thủy binh chuẩn bị đánh Tống thì lễ hội bơi chải được kéo dài thêm năm ngày nữa đến tận 15 tháng 7 âm lịch.

    Dự cuộc đua có hai chải: Môt chải màu trắng( chải cái), một chải màu đỏ( chải đực). Mỗi chải dài 25m và có 24 người bơi. Lệ bơi: Mỗi lần bơi chỉ có ba dạo bơi ra, ba dạo bơi vào, sau đó mới được dương đàn, cờ, quạt. Mọi người khua trống chiêng, mõ reo hò cổ động cho cuộc thi. Lễ hội bơi chải Đào Xá đã tạo nên được những cảnh đẹp của văn hóa truyền thống.

    Lễ hôi được tổ chức tại hai xã: Xã Chu Hóa và xã Hy Cương- thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ.

    Thời gian tổ chức lễ hội: Ngày 07 và 08 tháng 01 âm lịch.

    Lễ hội rước Chúa Gái còn có tên gọi là Lễ hội Làng He, diễn tả sự tích Tản Viên đón dâu là công chúa Ngọc Hoa từ Đền Hùng về núi Tản Viên. Trước khi tổ chức lễ hội hai làng Vi và Trẹo phải lựa chọn một chúa gái tiêu chuẩn phải xinh đẹp, duyên dáng, chưa có chồng, tuổi từ 13 đến 18, bố mẹ song toàn, anh em có trai có gái. Lễ rước được tổ chức trọng thể theo nghi thức và phong tục truyền thống. Chúa gái được đón từ Đình cả để dân làng làm lễ tạ, sau đó cô dâu được rước qua thôn Trẹo( xã Hy Cương) để đưa về núi Tản theo Sông Hồng. Trên đường rước dân làng làm nhiều trò diễn, để làm vui lòng công chúa Ngọc Hoa, các trò diễn được đặt tên là trò ” Bách nghệ khôi hài”. Thông qua Lễ hội rước Chúa Gái nội dung phong tục hôn nhân thời đại các Vua Hùng dựng nước được thể hiện một cách khá đầy đủ và rõ nét. Đó là tục thách cưới là lễ đón dâu và thi chọn rể.

    + Lễ hội giã bánh dày làng Trúc Phê:

    Lễ hội được tổ chức tại làng Trúc Phê- thị trấn Hưng Hóa- huyện Tam Nông- tỉnh Phú Thọ.

    Thời gian tổ chức lễ hội: Ngày 07 tháng giêng âm lịch.

    Tương truyền hai chị em Hồ Thiên Hương và Hồ Tông là hai tướng thời của Tản Viên có công lớn trong cuộc chiến Phù Hùng đánh Thục và sau là phó Thục đánh Tần và Triệu. Để tưởng nhớ hai chị em là Thiên Hương và Hồ Tông tổ chức tiệc khao quân mừng chiến thắng và tưởng niệm bà Thiên Hương cứu viện giải vây cho Đinh Công Tuấn, dân làng Trúc Phê đã tổ chức lễ hội giã bánh dày. Cối giã bánh dày ở đây là cối phên nứa có kích thước là 1m được làm từ nan nứa cật, xung quanh cối được làm nẹp tre giữ cho cối chắc và khi giã bánh không bị tràn ra ngoài. Chày giã làm bằng gỗ lim hoặc táu, đầu chày được bịt bằng phên nứa đan nan đôi. Gạo nếp được chọn rất kỹ, không có đầu ruồi đen, đem ngâm đãi cho kỹ rồi cho vào sôi chín rồi đem giã. Mỗi cối có bốn người: Hai người giã bánh, một người vén bánh và một người cắt bánh, thời gian giã 15 đến 20 phút. Bánh có đường kính 15cm đến 20cm, cao 5cm có hình chân tượng. Bánh được đưa lên kiệu rước vào Đình Trúc Phê để chấm điểm. Bánh được giải được đưa vào thờ trong đình và người được giải sẽ có lộc và gặp may mắn trong năm.

    + Lễ hội cồng chiêng của dân tộc Mường:

    Lễ hội cồng chiêng được tổ chức tại xã Tất Thắng- huyện Thanh Sơn- tỉnh Phú Thọ.

    Thời gian tổ chức: Tháng giêng âm lịch, ngoài ra cồng chiêng còn được sử dụng vào các ngày Tết Nguyên Đán, Lễ đình, Lễ cầu mùa, Lễ tang, Lễ cưới…

    Cồng chiêng được coi là biểu Trưng văn hóa Mường, nó không chỉ là nhạc cụ mà còn biểu thị cho sự giàu sang và vi thế. Cồng chiêng còn được dùng làm của hồi môn cho cô dâu về nhà chồng. Cồng là loại đường kính nhỏ 20 đến 30cm, Chiêng là loại đường kính lớn đến 60cm. Người ta gọi chung là Cồng. Giàn cồng đơn có 6 chiếc, giàn cồng kép có 12 chiếc. Trong giàn cồng có chiếc cồng chủ gọi là dàm, chiếc cồng bé nhất trong giàn gọi là cồng út hay cồng chét. Biểu diễn cồng chiêng có 2 cách: Cầm tay và treo trên giàn. Cồng chiêng được biểu diễn hòa tấu với các bài dân ca như: ” Đi đường”, ” Gọi nhau đi hội”, ” Sắc bùa”, ” Chào”, “Chúc rượu”. Cồng chiêng còn được biểu diễn cùng các loaị nhạc cụ khác như: Trống, kèn. Biểu diễn đánh cồng chiêng là nghệ thuật và tiếng cồng chiêng là nhạc đệm cho các bài hát, điệu múa của đồng bào mường. Hiện nay Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đứng ra tổ chức liên hoan cồng chiêng toàn tỉnh.

    Hát xoan là một sản phẩm văn hóa độc đáo của Phú Thọ. Hát xoan có từ thời dựng nước gắn liền với các truyền thuyết về thời đại Hùng Vương. Hát xoan có tên gọi là: Khúc môn đình( Hát cửa đình) được tổ chức vào mùa xuân để đón chào năm mới. Các họ xoan lần lượt khai xoan ở đình, miếu làng. Ngày 01 tết các họ xoan hát ở đình: An Thái, Kim Đức, Phù Đức, Thét. Từ ngày 05 tết cả 4 phường xoan đều hát ở các đình, nơi các làng chạ kết ” nước nghĩa”. Các phường xoan đi hát từ ngày 5 tháng 01 âm lịch đến ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hát xoan phải theo trình tự đã quy định gồm 3 phần: Phần lễ nghi tín ngưỡng ” giáo trống giáo pháo”, phần trình diễn 14 quả cách và phần hát hội. Phần nghi lễ tín ngưỡng: Hát xoan có những lời chúc tụng và như một cầu khẩn được trình diễn theo đúng nghi thức trước cửa đình, nói lên cảm xúc của con người trước thần linh và sau là ca ngượi thánh thần. Phần trình diễn quả cách: Nội dung các quả cách là mô tả đời sống sinh hoạt của các tầng lớp người đương thời, ca ngợi cảnh vật thiên nhiên hoặc kể chuyện cổ tích xưa. Mỗi quả cách thường có cấu trúc ba phần: Giao cách( mở đầu), đưa cách( phần giữa), kết cách( phần cuối). Phần hát hội mang tính chất trữ tình giao duyên, yêu đương trai gái. Đây là giai đoạn ứng tác như: Hát ví, trống quân bao gồm các tiết mục múa hát, trò chơi. Hát xoan không phải là một lề lối ca hát thuần nhất mà thực sự là một hội. Hội xoan có dân ca giao duyên, đối đáp, xin hoa, đố chữ, hội xoan có cả múa hát, trình diễn sân khấu dân gian với những tiết mục khá độc đáo hấp dẫn như: Cài hoa, mó cá. Ca từ trong hát xoan là một diễn đạt khéo, sử dụng cái hay của hai dòng văn hoá bác học và dân gian. Mó cá được coi là tiết mục kết thúc quá trình diễn sướng hát xoan, có tiết tấu nhịp nhàng, khỏe khoắn gần với tiết tấu của bài hát lao động.

    Hát ghẹo là hình thức hát đối, hát giao duyên. Đối dáp của nam nữ thường được tổ chức vào những ngày hội mùa xuân, mùa thu, hội được mùa và những đêm trăng sáng. Hát ghẹo ở Phú Thọ được tập trung nhiều nhất ở các thôn Phú Cường, Nam Cường xã Thanh Uyên- huyện Tam Nông và thôn Hùng Nhĩ- xã Hùng Sơn, xã Thục Luyện huyện Thanh Sơn. ở từng nơi tên gọi của hát ghẹo là khác nhau, ở Nam Cương gọi là hát ” Nước nghĩa”, ở Thục Nhĩ, Thục luyện gọi là hát ” Anh chị” hay hát ghẹo ” ghẹo anh” gọi là hát ” anh chị” có nghĩa là trong hát ” Nước nghĩa” hai bên đều gọi tên nhau là anh chị. Gọi là hát ” Ghẹo anh” vì xã sở tại bao giờ cũng là nữ hát và gọi nước nghĩa là anh. Hát ghẹo được tổ chức sau khi cuộc tế lễ đã kết thúc và không hát ở đình mà hát ở nhà tư. Nó không có nội dung khấn lễ, không dính dáng đến tế lễ, không phải là loại hình dân ca tín ngưỡng hoặc hát ở cửa đình. Hát ghẹo không phải là hình thức hát tự do như hát ví, đúm, trống quân mà giống như quan họ. Hát ghẹo được tổ chức trên hai hình thức: Hát cầu hội diện và hát thi. Hát cầu hội diện: Làng tổ chức hát họp nếu nhất trí thì mời nước nghĩa khoảng 12 người, dân làng cử một bà già và số chị em tương đương với số người mời nước nghĩa để ôn luyện ca hát và đón tiếp các anh nước nghĩa. Nước nghĩa được mời cử đi một, hai cụ ông và 12 anh. Các anh cũng ôn luyện ca hát để chờ ngày đi dự lễ và ca hát. Đây là hình thức hát đối nam nữ, các anh chị thường hát hai người ” Hát đôi”. Khi hát họ nhìn thẳng vào nhau để biểu lộ tình cảm, để khi hát ra vào đúng nhịp điệu.

    Hát thi: Trong hát ghẹo hát thi không phải hát để lấy giải mà để cho cuộc thi thêm hào hứng sôi nổi. Có hai loại cuộc thi: Thi câu và thi giọng. Thi câu: Hát những lời ca sẵn có theo quy định, ai quên đoạn nào coi như bị thua. Thi giọng: Ai không biết giọng nào tính bị thua giọng. Các giọng hát có ví đại trầu, giọng sổng, sang giọng và ví tiễn chân. Hát ghẹo nước nghĩa thường hát từ chập tối, suốt đêm cho đến sáng hôm sau. Hát song các chị thay mặt dân làng tiễn nước nghĩa ra về.

    + Lễ hội rước kiệu xã Hùng Lô:

    Lễ hội được tổ chức tại xã Hùng Lô- thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ.

    Thời gian tổ chức lễ hội: Ngày 09 tháng 3 âm lịch đến 13 tháng 3 âm lịch.

    Ngày 09 tháng 3 tổ chức lễ ở đình làng với lễ vật có gà thờ. Sau đó số ván gà được đem về nhà yến lão cạnh đình để mời các quan viên, bô lão và sau đó dân làng tổ chức trồng kiệu rước ngay tại đình làng và rước vào Đền Hùng. Đoàn rước kiệu có từ 200 đến 400 người ăn mặc trang phục lễ hội truyền thống thêu các hình long, ly, quy, phượng, đội nón xanh, chân quấn xã cạp đi giày…Nổi bật trong đoàn rước là 4 cỗ kiệu sơn son thếp vàng, đục trạm rất tinh vi. Đường rước kiệu từ Hùng Lô đến Đền Hùng là 9km, trên đường rước có các trạm nghỉ, tổ chức múa sư tử, rước tới ngã ba hàng nghỉ 1 đêm, sáng 10 tháng 9 rước vào Đền Hùng. Lễ rước kiệu Hùng Lô diễn ra uy nghi trang trọng, thu hút được sự tham gia của đông đảo nhân dân.

    Lễ hội được tổ chức tại Đền Lăng Sương- xã Trung Nghĩa- huyện Thanh Thủy- tỉnh phú Thọ.

    Thời gian tổ chức lễ hội: Ngày 15 tháng giêng âm lịch và ngày 25 tháng 10 âm lịch.

    Lễ hội ngày 15 tháng giêng là ngày sinh đức thánh Tản Viên. Làng tổ chức rước kiệu từ Đền Lăng Sương ra bờ Sông Đà. Đến gần bờ sông chủ tế đứng trước hương án trên bày đồ thờ mâm ngũ quả, kiệu hướng về núi Tản và khấn mời Thánh Tản và bà mẹ nuôi Ma Thị về tham dự với dân làng. Sau đó lại rước kiệu quay về đền. Tổ chức các trò chơi: Chọi gà, đấu vật, tổ tôm, ném còn, kéo co, hát hội…

    Lễ hội ngày 25 tháng 10 âm lịch: là ngày Mẫu hóa, dân làng tổ chức rước nước từ Sông Đà về Đền. Đêm ngày 24 tháng 10 làm Lễ tế Mẫu. Ngày 25 tháng 10 tổ chức rước kiệu từ Đền Lăng Sương ra bãi Trường Sa ở Sông Đà để đón Tản Viên về báo hiếu mẹ. Ngày 25 tháng 20 tổ chức lễ tế bò( bò thui cả con). Dân làng tổ chức các trò chơi: Đập niêu, bắt vịt dưới ao, đu tiên, đánh cờ người, hát đúm…Buổi tối tổ chức hát bội tại cửa đền. Lễ hội Lăng Sương là một trong những lễ hội nổi tiếng của vùng núi Tản Sông Đà trong hệ thống các di tích thờ thánh Tản Viên.

    Đình Đào Xá được xây dựng tại xã Đào Xá- huyện Thanh Thủy- tỉnh Phú Thọ. Là di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Đình Đào Xá được xây dựng vào thời Vua Lê Gia Tông niên hiêu Đức Nguyên( 1674- 1675), theo kiến trúc chữ nhất gồm tòa đại đình ba gian, 2 dĩ. Đình có 48 cột gỗ, cột con có đường kính 55cm, cột hiên có đường kính 40cm. Chiều dài của đình 24m, chiều rộng 13,22m. Diện tích lòng đình hơn chúng tôi chính giữa có bàn thờ theo kiểu long án cách nền đình 2m, bên trên có 4 cánh cửa sơn sơn thiếp vàng, chạm trổ tứ linh và lưỡng long chầu nguyệt, đường nét chạm trổ tinh vi, mềm mại. Hai bên tả, hữu có bàn thờ được bố cục như gian chính giữa. Đình có 12 kẻ được trạm trổ cả 2 mặt rất tinh vi. Trên nóc Đình là lưỡng long chầu nguyệt, 4 đầu đao đắp nghé, hai đầu đốc mỗi bên đắp một con kìm. Đình Đào Xá thờ Hùng Hải Công( con thứ 19 của Lạc Long Quân).

    Thuộc xã Hùng Lô- thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ. Đình Hùng Lô còn gọi là Đình Xốm. Đình được xây dựng vào thời Vua Lê Hy Tông( 1697). Đình và Đền sát nhau, tạo thành kiến trúc hình chữ ” Nhị”. Đình gồm tiền đế và đại đình, giữa hai tòa tiền đế và đại đình có long đình, hai bên long đình là lầu chiêng và lễ chông. Tiền tế gồm: 5 gian, 2 dĩ. Đại đình gồm: 5 gian xung quanh đại định được lịa ván. Mái đình cổ kính có những đầu đao cao vút. Đình Hùng Lô còn nhiều đồ thờ uy nghi và được trang trí bằng những bức chạm đẹp, đậm đà tính dân gian như ” Đinh Tiên Hoàng tập trận cờ lau”, ” Táng mả hàm rồng”, ” Đấu vật”…

    Đình Lâu Thượng nằm ở làng Lâu Thượng- xã Trưng Vương- thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ.

    Đình Lâu Thượng thờ 4 vị Thần húy là: Tản Viên Sơn Thánh, Hai Bà Trưng, Lý Hồng Liên người đã có công dạy học, dạy dân nghề trồng dâu nuôi tằm. Đình Lâu Thượng được dựng vào thế kỷ XVII, Đình có kiến trúc đồ sộ, làm theo kiểu chữ Đinh, gồm có Đại bái 5 gian, 2 trái và hậu cung 3 gian. Đình có chiều dài 28m, chiều rộng kể cả hậu cung là 22m, được kết cấu theo kiểu 6 hàng chân gỗ với tổng số là 60 chiếc cột, cột có các đường kính là 0,75m, đường kính cột con là 0,56m. Đình là một công trình kiến trúc chạm trổ công phu bậc nhất của tỉnh Phú Thọ: Tổng số có ít nhất là mười hai bức chạm, đây là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian, tập trung chủ yếu vào hình ảnh con rồng: Quần long hội tụ, long, ly, quy, phượng, lưỡng long chầu nguyệt. Kỹ thuật chạm lộng, đục thủng công phu điêu luyện. Trong đình còn lưu giữ được một số cổ vật như: Bức Đại tự, đôi câu đối, 4 cỗ ngai, 4 mâm ấu, 5 bát hương cổ bằng đất nung.

    Đình An Thái nằm ở lang An Thái- thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm thành phố Việt Trì 10km về phía Đông Nam và cách Đền Hùng 5km về phía Tây Bắc. Đình An Thái được xây dựng vào thời kỳ Hậu Lê cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII được trùng tu vào thời Nguyễn. Đình An Thái: Thờ các Vua Hùng. Kiến trúc của đình được làm theo kiểu chữ nhất gồm có một tòa, hai gian, ba dĩ, có chiều dài 18,4m, rộng 13m. Kết cấu bộ khung theo kiểu kiến trúc lòng thuyền, thượng thu hạ thách. Đình có 4 hàng chân với tổng số 36 chiếu cột gỗ trong đó có 4 cột cái, 12 cột quân và 20 cột hiên. Đình làm theo kiểu 4 mái tạo nên 4 góc giao nhau và uốn cong lên tạo nên 4 đầu đao cao vút. Các bức cốn, kẻ, bảy, đầu chỉ là những tác phẩm tuyệt mỹ, điêu luyện. Đề tài chủ yếu là ” Rồng ổ”, ” Tứ linh”. Kỹ thuật ở đây là chạm bong, đục thủng mang đậm nét dấu ấn thời Hậu, Lê. Đình An Thái còn giữ được các cổ vật: 03 cỗ ngai niên đại thế kỷ XVIII, 03 câu đối, 03 mũ kiểu mũ bình thiên, 03 lư hương đất nung với những giá trị về kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc gỗ và đặc biệt đình An Thái còn là nơi tổ chức hội xoan cổ truyền thống. Đình An Thái đã được xếp hạng cấp quốc gia vào năm 2006.

    + Di tích Đền, Chùa Tam Giang:

    Di tích nằm ở: Phường Bạch Hạc- thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ.

    Hệ thống Đền, Chùa Tam Giang tọa lạc trên một vị trí tuyệt đẹp ngay trên bờ sông. Đền Tam Giang thờ Thổ lệnh Thạch Khanh, Người đã có công tìm phương thuốc quý chữa trị bệnh cho muôn dân.Khi lớn lên cả hai đều theo vua Hùng Duệ Vương đánh giặc, thống lĩnh quân thuỷ. Sau khi mất được phong làm thần sông Bạch Hạc. Về sau lại ứng linh giúp cho các tướng lĩnh nhà Trần( Trần Nhật Duật) đánh giặc ngoại xâm. Trần Nhật Duật được cấp điền trạch nơi Bạch Hạc làm thái ấp, nhân dân trân trọng công trạng của ngài đã tạc tượng thờ đặt cạnh Thánh Hạc- Thổ Lệnh Đại Vương. Hệ thống Đền, Chùa nay được tu bổ có kiến trúc đẹp, nhiều bức chạm là các kèo, bẩy, hoành phi, câu đối,…có giá trị điêu khắc nghệ thuật. Hệ thống ban thờ, các tượng là các công trình điêu khắc, mỹ thuật đẹp. Ngoài ra còn có các bức tranh điêu khắc lớn giới thiệu cảnh quan một số ngôi chùa nổi tiếng ở Việt Nam cũng là một tác phẩm nghệ thuật đáng kể cho khách tham quan.

    Thuộc xã Hiền Quan- huyện Tam Nông- tỉnh Phú Thọ.

    Tương truyền Đền Hiền Quan được xây dựng rất sớm vào những năm đầu công nguyên và đã được trùng tu sửa chữa nhiều lần. Đền Hiền Quan thờ Thiều Hoa, một nữ tướng của Hai Bà Trưng đã có công đánh đuổi Tô Định dẹp yên bờ cõi. Đền gồm nhà Tiến tế và Hậu cung, nhà Tiên tế dài 12m, rộng 4,3m, cột cái cao 2,8m đường kính 0,35m, một cửa chính ở gian giữa cao 1,8m, rộng 2,3m, hai cửa hai bên cao 1,8m, rộng 0,9m. Hậu cung: Dài 9,6m rộng 4,6m, đường kính cột 0,35m trên thân cột vẽ hình tượng tứ linh. Trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật quý có giá trị nghệ thuật văn hoá như: Kiệu bát công, chấp kích, cờ quạt, dùi phết, quả phết, án thờ. Đặc biệt gằn liền với đền là hội phết truyền thông thể hiện tinh thần thượng võ dân tộc. Ngoài kiến trúc chính của ngôi đền còn có lăng mộ bà Thiều Hoa.

    Chùa Phúc Khánh( Chùa Hiền Quan) thuộc xã Hiền Quan- huyện Tam Nông- tỉnh Phú Thọ. Chùa được xây dựng rất sớm. Tương truyền Thiều Hoa là người đã tu luyện ở chùa. Trải qua gần hai nhàn năm chùa đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần.

    Chùa có kiến trúc ” Nội công, Ngoại quốc” gồm có: Gác, chuông, tiền đường, Thương điện, hành lang và nhà Tô. Chùa có quy mô lớn, chạm trổ, điêu khắc tinh vi với kỹ thuật chủ yếu là đục bong chạm nổi đề tài thể hiện: Long, ly, quy, phượng, mai, sen, cúc, trúc. Chùa thờ phật với nhiều pho tượng cổ từ thế kỷ thứ XVII, đồng thời là nơi thờ bà Thiều Hoa là nữ tướng của Hai Bà Trưng.

    Thuộc xã Hiền Quan- huyện Tam Nông- tỉnh Phú Thọ

    Đình Hiền Quan thờ tự 4 vị: Sơn Thống, Thiên Cương, Hắc Long, Hổ Lân đã có công lớn trong cuộc chiến chống Thục bảo vệ biên cương bờ cõi giữ nghiệp nhà Hùng. Đình được xây theo kiểu chữ Đinh, gồm 2 tòa: Đại đình và Hậu cung. Tòa nhà Đại đình hiện nay được xây dựng năm 1993 gồm 5 gian có 3 ô cửa: Cửa chính cao 2,7m, rộng 3,3m, 2 cửa nách cao 2,1m, rộng 1,6m. Trước cửa có các câu đối. Trên nóc của Đại đình được đắp nổi hình Long chầu nguyệt. Hậu cung gồm 2 gian, 2 dĩ với ba hàng cột, cột cái cao 3,3m, cột con cao 2,9m. Trên cốn nóc có các bức chạm rồng: ” Lưỡng long chầu nguyệt”. Đình Hiền Quan còn giữ được bộ án giang có kích thước 2,2m gồm ba tâng trang trí hoa sen, lá đề, cúc dây đẹp lộng lẫylà tác phẩm nghệ thuật thời hậu lê thế kỷ XVIII.

    Có thể nói đình, đền chùa Hiền Quan cùng với lễ hội đánh phết là một điểm tham quan du lịch hấp dẫn.

    + Di tích khảo cổ Phùng Nguyên:

    Di tích khảo cổ thuộc thôn Phùng Nguyên- xã Kinh Kệ- huyện Lâm Thao- tỉnh Phú Thọ. Di tích được phát hiện năm 1959.

    Văn hóa Phùng Nguyên mang tên di chỉ Phùng Nguyên, văn hóa khởi đầu cho thời kỳ tiền Hùng Vương. Di tích thuộc sơ kỳ thời đai kim khí có niên đại cách đây khoảng 3000 năm. Tại khu di tích đã khai quật được các di vật cổ, đồ đá chiếm ưu thế, kỹ thuật chế tác đá đạt trình độ điêu luyện, gồm các loại công cụ lao động bằng đá, đồ trang sức bằng đá: Vòng tay, khuyên tai, hạt chuồi, nha chương được làm từ đá ngọc Nêphơrit. Ngoài ra còn phát hiện các đồ gốm( các loại hình, mâm bồng chân đế… có hoa văn đẹp, phong phú) và tìm thấy nhiều hạt thóc chứng minh chủ nhân văn hóa này là cư dân nông nghiệp. Văn hóa Phùng Nguyên là khởi nguồn cho sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Đông Sơn, đồng thời là cơ sở khoa học quan trọng khẳng định sự tồn tại của một nền văn hóa gắn với sự hình thành Nhà nước Văn Lang.

    Lưỡi rìu đá – Di chỉ khảo cổ Phùng Nguyên

    Di tích khảo cổ thuộc xã Tứ Xã- huyện Lâm Thao- tỉnh Phú Thọ, là di tích được phát hiện từ năm 1961, được coi là di tích tiêu biểu, vì vậy được lấy tên đặt cho nền văn hoá khảo cổ Gò Mun

    Di tích khảo cổ được xếp hạng cấp quốc gia. Di tích được khai quật vào năm 1972. Kết quả khai quật đã khẳng định đây là nơi cư trú của người Gò Mun và nơi mộ táng của người Đông Sơn.Các di vật tìm được ở Gò Mun là các dấu vết của các bếp nấu, các hố chôn cột và các đồ gốm đồ đồng. Các di vật được phát hiện ở khu di tích gồm các dụng cụ sinh hoạt và các loại vũ khí bằng đồng: các loại lao, mũi tên, giáo, rìu…các loại đồ gốm hết sức đa dạng phong phú như: Bát gốm, nồi gốm, bình lọ gốm…

    Di tích Gò Mun là tiêu biểu cho thời đại đông thau Việt Nam

    Di tích khảo cổ Làng cả thuộc Phường Thọ Sơn- thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ. Di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Di tích được phát hiện vào năm 1959.

    Kết quả khảo cổ chứng minh nơi đây từng là khu cư trú. Sau đó là mộ táng của cư dân Việt Cổ thời đại Hùng Vương. Niên đại của khu di tích thuộc thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến thế kỷ thứ II sau Công nguyên. Số lượng mộ phát hiện đã được phát hiện là 315 ngôi. Di vật được phát hiện: Gốm ” Đường cổ”. Đồ đồng: vũ khí bằng đồng thau, công cụ lao động, khuôn đúc đồng, nồi rót đồng. Khu di tích có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học và lịch sử để nghiên cứu về kinh đô Văn Lang thời đại Hùng Vương.

    Di tích thuộc xã Thanh Đình- thành phố Việt trì- tỉnh Phú Thọ.

    Di tích được phát hiện năm 1960 với tên gọi đồ đồng thau Thanh Đình- thuộc văn hóa Đông Sơn. Di tích được khai quật năm 1994 và 2003. Nơi đây là khu cư trú và mộ táng của người Việt cổ.

    Các di vật được phát hiện gồm: Đồ đá, rìu đá, mảnh bàn mài, khuyên tai…Đồ gốm: Nồi gốm, vó gốm…Đồ xương: Nanh thú… Đồ đồng là các loại vũ khí: Rìu chiến, dao găm, giáo lao, các loại công cụ lao động bằng đồng, nhạc khí: trống đồng, chuông nhỏ, lục lạc…

    Di tích khảo cổ Gò De với các di vật phong phú, đa dạng phản ánh trình độ văn minh cao của dân cư Việt Cổ, đã góp phần khẳng định tính chất bản địa, truyền thống văn hóa của Nhà nước Văn Lang

    Thuổng đồng – di tích Gò De.

    Phú Thọ là một vùng đất cổ, nơi phát tích của dân tộc Việt Nam . Kế thừa những truyền thống tốt đẹp, người Phú Thọ qua bao đời còn lưu giữ nhiều tính cách đặc trưng của con người Việt Nam . Không chỉ giàu sáng tạo trong lao động, giàu khí phách trong đấu tranh, giàu nhân ái trong cuộc sống, con người nơi đây còn có óc thẩm mỹ và bàn tay tài hoa của người nghệ sỹ. Sản phẩm làng nghề Phú Thọ là một trong những bằng chứng cho nhận định đó. Mặc dù không phải là đất nghề nhưng nghề thủ công ở Phú Thọ lại tồn tại và phát triển khá bền vững theo thời gian. Và đến nay, các sản phẩm đó chưa hẳn đã đem lại giá trị kinh tế cao nhưng mỗi sản phẩm lại gửi gắm trong đó tâm hồn, tính cách của những người con Đất Tổ.

    + Làng nghề “Mỹ nghệ than tre” xã Phú Lạc – huyện Cẩm Khê

    Đi theo quốc lộ 32, bên dòng sông Hồng chúng ta sẽ đến Phú Lạc, một xã miền núi thuộc huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Đến các cơ sở sản xuất ở đây, chúng ta sẽ được tận mắt chứng kiến một thế giới than tre mang đậm dáng dấp cổ x­ưa, với rất nhiều các mặt hàng thủ công mỹ nghệ độc đáo từ than tre như­ các loại cốc uống nư­ớc đ­ược trang trí khá cầu kỳ, những chiếc lọ hoa với nhiều hình dáng tự nhiên, những chiếc thìa pha cà phê xinh xắn, những chiếc mành than thanh mảnh dọc lối đi, hay những giò phong lan thơm ngát bằng than tre. Chính do đặc tính lọc sạch n­ước, khử mùi, khử khí độc…mà các vật dụng mỹ nghệ từ than tre trở nên vô giá, không chỉ đem lại vẻ đẹp nghệ thuật mà còn có lợi cho sức khoẻ con ng­ười, cải thiện môi trường sống và luôn đư­ợc coi nh­ư một mặt hàng xa xỉ.

    Các quốc gia có công nghệ phát triển như­ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,… rất ư­a chuộng các sản phẩm từ than tre để lọc nư­ớc, khử mùi, hút khí độc. Than tre đ­ược tạo thành bằng phương pháp đốt yếm khí tre và các vật liệu họ tre. Để đốt đ­ược than tre là cả một nghệ thuật mà nếu không có sự thấu hiểu về tre thì không thể thành công đư­ợc. Nếu đốt quá lửa thì than sẽ thành tro, còn đốt chư­a đủ thời gian thì than sống. Hơn nữa, phải điều chỉnh nhiệt độ đốt sao cho than đốt phải được cứng, có tiếng kêu leng keng nh­ư sắt và có bề mặt hấp thụ lớn nhất… Khó là vậy, như­ng than tre sản xuất tại Phú Lạc (Cẩm Khê) đã tạo đư­ợc uy tín lớn trên thị trường bởi chất l­ượng v­ượt trội.

    Không quá sầm uất và náo nhiệt như các làng nghề khác ở đồng bằng châu thổ sông Hồng. Sự lặng lẽ và bền bỉ đã giữ mãi cho Đỗ Xuyên một làng nghề và những sản phẩm nghề độc đáo. Nghề đan cót và nứa chắp có từ bao giờ không ai biết, chỉ biết rằng nó đã cứu cánh cho người Đỗ Xuyên qua bao mùa mưa lũ và trở thành nghề phụ quan trọng của cả xã. Chọn cho mình những sản phẩm hết sức bình dị, không cần đầu tư lớn, chỉ cần đôi bàn tay khéo léo của con người, lãi cũng không nhiều, thế mới biết cái tâm của người làm nghề đáng quý biết bao giữa cơ chế thị trường.

    Sản phẩm chính hiện nay của Đỗ Xuyên là cót với nhiều chủng loại, mẫu mã, tuỳ theo nhu cầu của khách: cót làm trần nhà; cót ép, khổ 1m x 3m hoặc 1m x 4m; cót dùng để lót hàng,…. với kích cỡ đa dạng, giá cả hợp lý. Đỗ Xuyên ngày nay có thể gọi là “làng cót” bởi nghề cót có mặt ở khắp nơi, làm giàu cho người dân nơi đây. Bên cạnh đó, có một sản phẩm vẫn miệt mài tồn tại, bất chấp sự cạnh tranh của thị trường, đó là “mâm chắp”.

    Ngày nay, nghề nứa chắp Đỗ Xuyên được phát triển hơn nhờ sự đầu tư lớn của một doanh nghiệp tại Hà Nội (Công ty TNHH Hòn Ngọc Viễn Đông). Sản phẩm nứa chắp của Đỗ Xuyên đã có mặt trên thị trường thế giới với các sản phẩm đĩa, bát…. các loại. Người dân Đỗ Xuyên từ đây không những có được cơ hội giữ gìn nghề truyền thống mà nếu lạc quan hơn họ còn có thể vươn lên làm giàu.

    Là đất cọ nên nghề làm nón phát triển ở Phú Thọ cũng là lẽ thường. Tuy vậy, bao năm qua, nón lá trắng, nón lá già Phú Thọ vẫn chỉ bó gọn trong không gian hẹp, âm thầm và miệt mài. Không có tiếng tăm như nón làng Chuông (Hà Tây) hay nón bài thơ xứ Huế, nón Phú Thọ có nét thanh tú, hài hoà, bình dị, bền và đặc biệt rất thích hợp túi tiền người lao động.

    Một chiếc nón đẹp phải đảm bảo mái nón phẳng phiu, đường khâu mượt mà, những vết khâu trải trên mỗi vành theo những khoảng cách đều tăm tắp. Giữa hai lớp lá mỏng, người ta gài vào lòng nón những hình trổ như hình hoa lá, đôi nét kiến trúc cổ kính và đôi khi cả mấy câu thơ trữ tình, lặng thầm mà đầy thi tứ:

    Bình, dị, trắng, bền là nón Sông Thao

    Hỡi ai đi ngược về xuôi, muốn đội nón đẹp thì về Sông Thao.

    Đã bao giờ bạn ghé vào một hàng nước ven đường và gọi cho mình một chén trà nóng giữa mùa đông lạnh giá chưa? Để giữ ấm cho chén nước của bạn, người bán hàng đã dùng một sản phẩm thủ công đặc trưng của làng quê Việt Nam , đó là chiếc ủ ấm. Có người bảo, đây là sản phẩm của những người hoài cổ, cuộc sống hiện đại đã có những đồ dùng tiện dụng hơn nhưng dù thế nào ủ ấm vẫn là sản phẩm đặc dụng trong nhiều gia đình Việt Nam và là một trong những món quà được du khách quốc tế ưa chuộng.

    Sơn Vy, một ngôi làng nhỏ thuộc huyện Lâm Thao – Phú Thọ là quê hương của sản phẩm độc đáo này. Nghề ủ ấm đã có mặt ở Sơn Vy hơn 100 năm nay, có lúc thịnh, có lúc suy nhưng đến nay vẫn tồn tại. Với bàn tay khéo léo của mình, người Sơn Vy đã tạo ra loại ủ ấm có dáng vẻ độc đáo riêng. Mỗi chiếc ủ ấm là một đồ dùng bền, đẹp, giữ nhiệt tốt, làm đậm đà cho những ấm nước chè xanh, lá vối, nhân trần… trong suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.

    Huy chương Bạc dành cho sản phẩm ủ ấm Sơn Vy tại hội chợ triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ toàn quốc là một đánh giá xác đáng về giá trị của ủ ấm Sơn Vy. Thêm một chút sáng tạo độc đáo hay chú trọng tới việc trang trí, hiện đại hoá chiếc ủ ấm cổ truyền,… chắc chắn giá trị của ủ ấm Sơn Vy sẽ được nâng cao hơn, sức sống của làng nghề Sơn Vy sẽ bền vững dài lâu.

    + Nghề chế biến thực phẩm Đoàn Kết

    Xóm Đoàn Kết thuộc xã Hùng Lô – huyện Phù Ninh nổi tiếng với nghề làm miến, mỳ gạo, bún, bánh hàng trăm năm qua. Không làm ăn lớn, không thương hiệu hàng hoá, chỉ có một cách để người tiêu dùng khắp cả nước nhận ra sản phẩm của Đoàn Kết – Hùng Lô, đó là chất lượng.

    Núp dưới những mái nhà, làng nghề vẫn tồn tại bền bỉ và khiêm tốn. Nếu không vào tận nơi chứng kiến cảnh làm việc rộn ràng của các máy xay, máy xát thì ít ai có thể biết rằng từng thế hệ người Hùng Lô đã lớn từ mẻ mỳ, cân miến. Nghề làm miến, mỳ gạo không đòi hỏi vốn lớn nên hộ gia đình nào cũng có thể làm được, có ít làm ít, có nhiều làm nhiều, nghề có rải rác khắp các xóm thuộc xã Hùng Lô. Cách đây khoảng chục năm, người làm nghề hoàn toàn làm thủ công, hiện nay máy móc đã thay thế sức người vì thế năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên (có hộ gia đình sản lượng đạt tới 2-3 tạ/ngày). Như vậy, chỉ tính sơ sơ thì mỗi ngày xã Hùng Lô cũng cung cấp ra thị trường hàng chục tấn thực phẩm khô các loại, bao gồm mỳ, miến, bánh đa nem, bánh đa trắng….

    Nhắc đến nghề mộc chắc chắn mọi người sẽ nghĩ ngay tới những cái tên như Đồng Kỵ (Bắc Ninh) hay La Xuyên ( Nam Định). Giá trị kinh tế từ những làng nghề này đang được tính bằng những con số khổng lồ. Nhưng ở đâu đó những làng nghề mộc với quy mô nhỏ hơn vẫn cần mẫn làm giàu cho người và làm đẹp cho đời.

    Làng mộc Minh Đức (xã Thanh Uyên – huyện Tam Nông – Phú Thọ) là một ví dụ tiêu biểu. Sản phẩm chủ yếu của làng nghề này là những sản phẩm thông dụng như giường, tủ,… Không quá cầu kỳ bởi người sử dụng chủ yếu đòi hỏi về độ bền, nhưng không vì thế mà sản phẩm mộc Minh Đức mất đi vẻ đẹp đặc trưng bình dị. Nghề có từ bao giờ không ai còn nhớ, chỉ biết đến hôm nay nó là nghề của cả làng với tổng giá trị hàng năm ước đạt vài chục tỷ đồng (chiếm 95% thu nhập của làng).

    Cùng với thời gian, sản phẩm mộc Minh Đức đã có mặt ở mọi miền tổ quốc, bắt đầu từ những vùng nông thôn rồi đến thành thị nhưng không phải ai cũng biết tên của sản phẩm họ đang dùng. Gắn được tên làng cho sản phẩm của mình vẫn luôn là niềm mơ ước của mỗi người dân làm nghề ở Minh Đức.

    III. ẩm thực Phú Thọ, các nhà hàng:

    Có một cách để bạn có thể tiếp cận một mảnh đất mới, một nền văn hoá mới, đó là thưởng thức những món ăn ở nơi đó. ý tưởng đó chưa hề sai bởi ẩm thực là một trong những nét văn hoá đặc sắc, thể hiện đặc trưng nhất phong cách mỗi vùng, miền.

    Phú Thọ – mảnh đất ngát hương thơm từ nguồn cội dân tộc sẽ khoản đãi bạn bè khắp nơi bằng các món “sơn hào hải vị” rất bình dị mà thắm nghĩa tình, thể hiện nét ẩm thực đặc trưng vùng Đất Tổ.

    Có một mối liên hệ ràng buộc nào đó mà cả ba miền Bắc – Trung – Nam của nước ta đều có giống bưởi ngon. Bưởi Phúc Trạch đặc trưng cho miền Trung nắng gió, bưởi Năm Roi chọn cho mình vùng đất Nam Bộ màu mỡ để sinh sôi. Bưởi Đoan Hùng (thuộc huyện Đoan Hùng) – giống bưởi chắt lọc tinh chất từ sỏi đá trung du để ngon, ngọt đến lạ kỳ.

    Bưởi Đoan Hùng xưa còn gọi là “bưởi Phủ Đoan”, vẫn được biết đến bởi những đặc điểm tép nhỏ, quả nhỏ, vỏ héo, mềm, mọng nước, ngọt và mát. Ngày nay, đến Đoan Hùng bạn sẽ được biết đến một số giống bưởi như bưởi Bằng Luân, quả to, dáng đẹp, vỏ vàng xanh. Bưởi Pôlênô (lai Mỹ) quả to, dáng thô, tôm nát, vị chua, không dóc vỏ. Bưởi Lã Hoàng tròn dẹt, hình bánh xe ăn mát ngon…. Và cuối cùng là bưởi Sửu, quả vừa, xinh xắn, vỏ vàng rộm, da hơi nhăn, dáng vẻ trông khiêm tốn hơn cả. Nhưng đây mới là loại bưởi quý hiếm nhất, người sành ăn sẽ chọn bưởi Sửu.

    Có lẽ làm nên cái hồn cho bưởi Đoan Hùng là hương bưởi, cái mùi thơm ngan ngát ấy thực khó diễn tả. Tết đến, xuân về trên bàn thờ tổ tiên mà có trái bưởi Đoan Hùng thì hương vị đặc biệt ấy sẽ làm cho không khí gia đình thêm ấm cúng. Bạn đừng quên chọn cho mình được một trái bưởi làng Chí, hay bưởi Sửu vào mùa hè để thưởng thức vị ngọt lịm, tan nơi đầu lưỡi và thấm cái mát đến tận ruột gan, da thịt.

    Bưởi đang làm giàu cho Đoan Hùng, mỗi trái bưởi gửi đến mọi miền đất nước là gửi gắm cái tâm thanh khiết của người trồng bưởi. Có thế bưởi Đoan Hùng mới mang vị đậm đà, bình dị đến vậy.

    Loại quả được coi như sản vật quí hiếm của vùng đất Tổ này được người xưa xếp đứng đầu trong hàng ngũ hoa quả quý dùng để tiến vua. Hồng Hạc là niềm tự hào của người Đất Tổ. Đến nay, nhiều vườn hồng Hạc còn có những cây to cả một người ôm, có cây ngót trăm tuổi. Hồng Hạc quả to, không hạt, mình vuông, tròn bằng, cát mịn, giòn ngọt, càng ăn càng thèm chứ không hăng chát, nhão thịt như hồng nước, hồng trâu.

    Hồng Hạc mới hái phải được ngâm nước giếng đá ở Tiên Cát, Việt Trì mới đạt độ ngọt và giòn đặc biệt. Ngâm trong vại sành hay trong chum đủ ba ngày ba đêm mới vớt ra, khi ấy hồng sẽ tươi vàng, giòn mát, cắn cả vỏ vẫn thơm lựng chất đường.

    Hồng Hạc mộc mạc, chân quê, thuần khiết. Nâng trái hồng trên tay, lựa lưỡi dao sắc, gọt lớp vỏ vàng màu nắng nhạt, bổ ra đã thấy thơm lựng, vị ngọt dịu dàng, đài các ngất ngây duyên trời, duyên đất. Cái mát, cái giòn, cái ngọt cứ ngập ngừng, quyến luyến khiến người thưởng thức không nỡ nuốt nhanh. Hồng Hạc bày trên mâm cỗ trung thu, thưởng ngoạn dưới trăng thu thi vị thanh tao, càng khó có thứ quả nào sánh kịp.

    Cá Lăng chỉ sống ở sông có dòng chảy, độ sâu và mặt nước rộng. Nó sống ở đáy nước, ăn động vật. Chỉ khi đã lớn mới trồi lên mặt nước, bởi vậy ngư dân “hớt xẻo” thường bắt được cá Lăng to từ vài cân đến vài chục cân. Là cá ngon nhất trong nhóm cá da trơn.

    Tại ngã ba sông Việt Trì có cá Anh Vũ quý hiếm xếp vào loại hàng cá nước ngọt. Sống ở đáy sông, ăn rêu đá, suốt mùa xuân hè ẩn trong hang, chỉ sang thu đông mới ra ngoài. Vì thế chỉ hôm nào rét đậm sương mù mới đánh được cá Anh Vũ. Thời phong kiến, loài cá này dùng để tiến vua.

    Quãng sông Thao thuộc huyện Thanh Ba có giống cá Cháy, loại cá có hai buồng trứng to và rất ngon. Chính vì vậy khi bắt được cá Cháy người ta sẽ mổ ra và chỉ lấy hai buồng trứng. Những người sành ăn sẽ không ngần ngại chọn cá Cháy trong vô số những loại cá khác.

    Những năm gần đây, tại thành phố Việt Trì đã xuất hiện một số nhà hàng chế biến, kinh doanh những loại cá này để phục vụ thực khách. Nổi tiếng và lâu năm nhất có lẽ phải kể đến “Quán cá Bờ Sông”, sau này có Quán cá Bạch Hạc và một số nhà hàng ăn uống khác.

    Đất của nước chè mà khi viết về ẩm thực lại không nhắc đến chè thì quả là thiếu sót với đất và người nơi này. ấy vậy mà trong hàng chục sản phẩm từ chè, người Phú Thọ lại chọn cho mình một thứ dân dã lắm nhưng cũng đậm đà lắm để thết đãi bạn bè gần xa: Nước chè xanh.

    Nghe qua về món nước tươi, mát, bổ này chắc ai cũng nghĩ chế biến nó thật đơn giản. Chọn hái khoảng chục lá chè, rửa sạch, cho vào hãm với nước rồi chắt ra uống. Nói thế cũng đúng nhưng chưa đủ để nước chè xanh (chè tươi) trở thành thú thưởng ngoạn bình dân mà tao nhã.

    Nhìn cách uống chè xanh của người dân nơi thôn dã mới thấy hết được nét truyền thống của thú ẩm thực này. Từ cây chè để hái lá uống tươi cũng phải chọn lựa. Để có nước chè xanh màu đẹp, mùi thơm, vị ngọt chát, phải chọn những cây chè mọc tự nhiên trong rừng già, chen chúc giữa muôn loài cây cối khác. Trông cây chè tựa như một cây cổ thụ, gốc xù xì to ngang với các cột nhà, cành lá vươn cao, muốn hái phải leo lên mới với tới. Ưa chát thì chọn cây giãi nắng, ưa ngọt thì chọn cây ớm bóng. Lá chè tốt nhất là những lá chớm vàng, còn trụ bám vững trên cây.

    Nước để hãm chè tươi cũng phải chọn nguồn thích hợp. Hầu như mỗi làng chỉ có một nơi có nguồn nước thích hợp với việc này thôi, chỗ này được gọi là “giếng quê”. Người biết nấu chè xanh phải dùng ấm đất nung. Khi nấu người ta sẽ nút cả vòi ấm lại để giữ hương thơm và đề phòng quá lửa sôi trào mất nước cốt.

    Nhâm nhi một bát nước chè xanh để bàn chuyện nhân tình thế thái, để đỡ khát giữa buổi lao động mệt nhọc, để ấm lòng mỗi khi nhớ về quê hương bản quán, để cái dư vị ngọt ngào ấy theo ta mãi về sau… Đến bất cứ nơi nào trên đất Phú Thọ, nếu được mời một bát nước chè xanh, bạn đừng nỡ từ chối. Đó là tấm lòng hiếu khách họ dành cho bạn đấy!

    Nói đến rau sắn có thể quý khách nghe nhầm là đặc sản “rau sắng” chùa Hương – Hà Tây. Quả thật rau sắn không quý hiếm mà được trồng bạt ngàn trên các vùng đồi trung du Phú Thọ. Là người con Đất Tổ, hình như ai cũng đã được thưởng thức các món sắn luộc, sắn nấu canh hến, các loại bánh sắn… nhưng không thể nào quên hương vị chua chua, bùi bùi của rau sắn muối dưa nấu cá, nấu với lạc nhân giã nhỏ. Những búp sắn non trồng ở bờ dậu được các bà, các chị hái về, bỏ bớt những cọng lá già đem muối dưa 2,3 ngày. Khi rau ngả màu vàng và có vị chua thì đem nấu. Cách nấu ngon nhất là nấu với tép sông hoặc cá mè hoa trắng. Nếu như đã từng được nếm món ăn dân dã này thì thật khó quên dư vị của nó!

    Mấy năm nay, món bánh Tai thị xã Phú Thọ đã “lên ngôi”. Tại các lễ cưới, tiệc tùng dùng thay cho cơm tẻ, vừa tiện dùng, vừa lịch sự và hấp dẫn. Bánh Tai đã trở thành quà quý lạ về tận Hà Thành và một vài tỉnh bạn. Thứ quà trong ngày nhưng phải biết giữ gìn công phu.

    Bán Tai Phú Thọ hôm nay có từ thời xa xưa của làng Phú Thọ gọi là bánh Hòn. Bánh Tai có hình thù giống cái tai, là thứ bánh gạo tẻ, nhân thịt lợn, dễ làm bởi quy trình không mấy phức tạp, dụng cụ không cầu kỳ nhưng không phải ai cũng làm nổi cái bánh Tai.

    Xưa cũng như nay, khâu chọn gạo làm bánh vẫn là khâu quyết định chất lượng bánh, gạo phải ngon và có độ dẻo. Gạo làm bánh đãi sạch, ngâm nước lã từ hai giờ đến nửa ngày. Sau đó đem giã cối đá và làm thành quả bột. Khâu này đòi hỏi bàn tay khoẻ, nắm cho bột kết dính thật chắc. Sau đó quả bột lại được cho vào cối đá giã thật nhuyễn và đánh cho thật tơi. Lấy tay nhào bột cho tới khi vừa độ dẻo rồi bắt đầu nặn bánh bằng tay (không có khuôn). Những người làm hàng thạo thường nặn 10 cái đều nhau như đúc khuôn. Bánh nặn dài như cái tai, có nhân thịt lợn ở giữa. Bánh nặn xong, xếp vào chõ xôi hấp cách thuỷ. Chỉ 30 phút đến một tiếng sau bạn đã có một mẻ bánh Tai như ý. Nhưng lưu ý, điều tối kỵ trong làm bánh Tai là không được để bột vón cục (còn gọi là mắt cá).

    Bánh Tai ngon nhất là ăn tại chỗ, kiểu dân dã. Cái bánh Tai vừa đưa ra còn thoảng hơi nóng, lót tay bằng mảnh lá chuối hoặc cầm tay không từ từ ăn ngay mới thấm hết mùi vị của bánh, đó là sự hoà quyện giữa: dẻo, giòn, bùi, ngọt, béo ngậy và thơm.

    Cũng vẫn là bảy món đặc trưng như mọi nơi nhưng thịt chó Việt Trì lại có sức hấp dẫn rất riêng bởi hương vị đậm đà và khả năng chế biến đạt đến độ chuyên nghiệp. Chọn nguyên liệu được coi là khâu mấu chốt quyết định, không sử dụng những loại chó nuôi tăng trọng là đặc điểm quan trọng của thịt chó Việt Trì, đặc biệt chó nuôi gầm nhà sàn của các vùng dân tộc miền núi đã được trưng dụng và được thực khách sành ăn rất ưa chuộng, kế đến là khâu chế biến được coi là bí quyết gia truyền… Với cảm nhận của người thưởng thức, có thể đưa ra một vài nhận xét như sau: Thịt mềm, thơm, không sẫm màu như một số vùng khác. Đặc biệt những món như dồi, món nướng không bị khô. Món chân chó tẩm hấp lại mang đến một dư vị đậm đà khó tả với màu vàng ngậy và độ mềm, thơm vừa tới. Món xương hầm đu đủ mang đến một cảm nhận khác về sản vật vùng trung du miền núi…

    Người Việt Trì tự hào về thú ẩm thực rất dân dã của đất mình và chắc chắn đến Việt Trì một lần bạn sẽ được những tấm lòng hiếu khách khoản đãi món ngon này. Phố Đoàn Kết là trung tâm của thịt chó Việt Trì với gần 20 cửa hàng lớn nhỏ. Những cửa hàng này đều đã có trên dưới chục năm nay nhưng vẫn mang vẻ bình dị, dân dã vốn có bởi theo những chủ cửa hàng ở đây thì phòng ốc bóng nhoáng, bàn ghế sang trọng sẽ không còn là thịt chó Việt Trì.

    Người Dao ở Phú Thọ hiện có hơn 11.000 người sống trong 28 bản động ở hai huyện miền núi Thanh Sơn và Yên Lập. Đồng bào thuộc hai nhóm khác nhau: người Dao Đeo Tiền (Dao Tiền) thuộc nhóm Tiểu Bản và người Dao Quần Chẹt thuộc nhóm Đại Bản.

    Theo văn cúng và các tài liệu điền dã dân tộc học thì người Dao nói chung di cư từ Trung Quốc vào Việt Nam từ nhiều thời gian và con đường khác nhau, chủ yếu họ đi theo đường biên giới Việt – Trung. Những cuộc thiên di lớn do nhà Minh cấp “thông hành”, được nhà Lê tiếp nhận cho đồng bào đi bằng 7 xà lan, qua vịnh Bắc Bộ vào cửa sông Hồng lên Ba Hạc (Bạch Hạc – Việt Trì) rồi họ chia nhau theo ba con suối lớn, thực ra là ba con sông Hồng, sông Đà và sông Lô để du canh du cư phá rừng làm nương rẫy.

    Dẫn đầu cuộc thiên di này là bà Đặng Thị Hành, Bàn Đức Hội và Triệu Thánh Thông. Ba vị này được nhiều cộng đồng người Dao ở Phú Thọ nói riêng và Việt Nam nói chung thờ làm thành hoàng.

    Theo giao hẹn trước khi xuất phát, nếu xà lan nào gặp nạn gió bão, cuốn đi xa thì phải nhảy lên xin khất (hứa) với trời, phật, tiên thánh, tổ tiên là sau này chúng con sẽ làm tết nhảy để tạ ơn các đấng và các hồn đã che chở cứu giúp chúng con cập được bến bờ của miền đất hứa.

    Ngày nay, trong các bản động của người Dao chỉ những họ nào đi trong 4 xà lan gặp nạn mới phải làm tết nhảy. Các họ đi ở 3 xà lan không gặp nạn, không có tết nhảy. Tết nhảy của người Dao vì thế là tết tạ ơn chứ không chỉ là nghi thức hành lễ tín ngưỡng của tín đồ Đạo giáo như nhiều nhà dân tộc học kết luận; vì không riêng người Dao mà cả người Tày, Cao Lan, Kinh, Mường… đều bị ảnh hưởng của Đạo giáo.

    Theo hẹn ước từ trước khi xuống thuyền (xà lan) thì thuyền nào cập bờ trước sẽ phải đi ở xa, trên cao và được làm anh. Vì thế người Dao Tiền theo bà Đặng Thị Hành được ở vai anh nhóm Dao Quần Chẹt do ông Bàn Đức Hội dẫn đầu. Hai nhóm này trước đây không kết hôn với nhau. Còn nhóm nữa theo ông Triệu Thánh Thông ngược theo sông Lô tản đi các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Ngày 12 tháng Giêng hàng năm, người Dao cả nước lại về Tân Long, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ để giỗ tổ là vì vậy.

    Người Dao Tiền. Ảnh: Nguyễn Chính.

    Người Dao Tiền ở xa trên ngọn sông Đà. Đồng bào sống du canh du cư nên phong tục khác xa với nhiều nhóm tộc người khác. Họ đeo tiền kim khí sau cổ áo và phụ nữ nhóm này mặc váy là để tưởng nhớ đến vị thành hoàng Đặng Thị Hành lúc sinh thời mặc váy và đeo rất nhiều vàng bạc ngọc ngà. Các thầy cúng người Dao cũng mặc váy cúng khi hành lễ, để tưởng niệm bà Hành chứ không chỉ là sự hồi cổ thời mẫu hệ – việc cúng tế do phụ nữ thực hiện.

    Về hôn nhân: Đồng bào hiện vẫn giữ tục ngủ thăm. Ngủ thăm để biết chắc chắn hai người lấy nhau sẽ sinh con đẻ cái. Vì thế, giường các cô gái lớn chưa chồng thường kê ở cuối nhà cạnh cửa ngách để đêm đêm con trai tiện cạy cửa vào ngủ thăm. Nếu cô gái bằng lòng thì anh con trai có thể ngủ liền hai ba tháng cho đến khi cô gái có mang. Nếu cô gái không bằng lòng mà anh con trai định cưỡng bức thì có thể bị chém chết. Do tục này mà đầu giường các cô gái luôn để sẵn con dao sắc.

    Khi cô gái có mang, già làng cho gọi tất cả những anh đã từng ngủ thăm với cô gái đến. Mỗi anh mang theo một con gà nhỏ và chai rượu để làm lễ cúng buộm. Riêng anh chàng ngủ với cô gái có mang phải mang lễ đến bằng một con lợn ba bốn chục cân, một chai rượu và một tập giấy bản làm tiền âm.

    Cúng buộm xong, so tuổi nếu không lấy được nhau thì đứa trẻ sinh ra được cúng làm ma nhà vãi (ông bà vãi). Nó làm con ông bà vãi, gọi người đẻ ra mình là chị. Cô gái đã biết sinh đẻ càng dễ lấy chồng hơn những cô gái tơ. Đó là vì đồng bào quý người. Con đẻ, con nuôi, con cùng dòng máu hoặc khác dòng máu (do vợ ngoại tình) người ta đều quý như nhau. Ngoại tình nếu bị bắt thì nộp lễ cúng buộm xong là thoát tội.

    Chỉ ở những bản động hạ sơn ở gần người Mường, người Kinh thì tục này mới được xóa bỏ dần. Các địa phương ở trên cao như xóm Cỏi, xã Xuân Sơn, xóm Tân Hồi, Hạ Bằng (xã Kim Thượng), xóm Xinh Tàn, xã Thượng Cửu… thì tục ngủ thăm vẫn duy trì. Xưa người đàn ông Dao Tiền lấy làm tự hào vì vợ mình xinh đẹp mới được nhiều anh đến ăn nằm.

    Tục bỏ con: Vì trước đây đồng bào sống du canh du cư nên người ta cần có nhiều lao động và con người cần khỏe mạnh, khôi ngô. Vì thế, khi sinh ra, người ta chỉ giữ nuôi những đứa bé khỏe mạnh. Nếu đứa bé bị tật hay bệnh bẩm sinh thì người ta bỏ ngay.

    Người đàn bà khi sinh nở đều nằm cạnh bếp. Khi đứa bé ra đời nếu lành lặn khôi ngô thì đặt nó xuống đất cho làm ma nhà mình. Nếu không thì thả ngay vào sọt đem treo trong rừng vắng.

    Ngày nay, tục này đã được bãi bỏ do các cuộc vận động xây dựng làng bản văn hóa

    Vùng núi Thanh Sơn, Phú Thọ.

    Tục tang ma: Trước đây cũng do du canh du cư nên người Dao Tiền càng coi trọng phần hồn, không coi trọng phần xác. Xác chết thì tiêu đi nhưng hồn còn mãi mãi. Hơn nữa, du canh du cư có khi rời nhà đi xa hàng trăm cây số nên không thể về thường xuyên thăm viếng mồ mả, nơi lưu giữ thi hài tổ tiên.

    Do vậy, khi nhà có người chết người ta bỏ ngay xác ra vườn. Nhờ bốn người khỏe mạnh vác ra rừng. Đi một đường, về một đường đề phòng bị ma đánh. Ra rừng, người ta dùng cây nhọn đào đất để chôn xác người. Kiêng đào bằng cuốc xẻng sắt làm cho ma bị tối mắt không biết đường về Dương Châu đại diện là đất tổ người Dao. Do chôn vùi qua loa, xác người chỉ làm mồi cho thú dữ.

    Gia đình người chết sau đó mới đắp ngôi mộ giả ở nơi khác để làm ma cho người chết. Nếu gia đình có của thì làm ma tươi cho người chết tức là cúng ngay sau khi qua đời. Nếu nhà nghèo chưa có thịt chua, gạo, lợn thì phải chờ lâu, có khi hai ba năm mới làm ma khô cho người chết.

    Ngày nay cũng nhờ các cuộc vận động hạ sơn sống định cư và xây dựng nếp sống văn hóa mới, các bản động của người Dao Tiền đều có khu nghĩa địa hợp vệ sinh. Tục ma chay của người Dao Tiền cũng đã tương tự như phong tục của người Mường, người Kinh và các nhóm tộc người khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biển Thạnh Phú Ở Bến Tre
  • Giới Thiệu Về Đà Nẵng Thành Phố Hút Hàng Triệu Du Khách Mỗi Năm
  • Cảm Xúc Của Thế Hệ Trẻ Với Côn Đảo
  • Cơ Sở Lưu Trú Phục Vụ Khách Du Lịch Côn Đảo Ngày Một Phát Triển
  • Khách Sạn Thành Mỹ Cam Ranh
  • Du Lịch Tâm Linh Ở Phú Thọ Đến Các Chùa

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Địa Điểm Du Lịch Tâm Linh Nổi Tiếng Tỉnh Phú Thọ
  • Phú Thọ: Du Lịch Tâm Linh Hấp Dẫn Khách Du Lịch Mùa Lễ Hội
  • Các Điểm Du Lịch Tâm Linh Quảng Bình Không Thể Bỏ Qua
  • Du Lịch Tâm Linh Tại Quảng Bình
  • Tour Du Lịch Tâm Linh Quảng Bình 2022 (2 Ngày 1 Đêm)
  • Đền Hùng là địa điểm du lịch thu hút nhiều du khách tới tham quan vào các dịp lễ, tết. Đền Hùng được xây vào thế kỷ 15, tương truyền nơi đây người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.

    Ảnh: Du lịch tâm linh về nguồn – Đền Hùng

    Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc thâm nghiêm trên núi Nghĩa Lĩnh, gồm có đền Hạ và chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng. Đến ngày nay, ở gần Công Quán (nơi để tiếp khách thập phương) có Bảo tàng Hùng Vương đã được xây dựng tương đối lớn trưng bày nhiều hiện vật ở thời kỳ Hùng Vương thời dựng nước qua nền văn hoá thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt..

    2. Du lịch tâm linh về nguồn – Chùa Bồng Lai

    Chùa Bồng Lai còn có tên gọi: Chùa Hà Thạch. Tên chữ: “Bồng Lai tự” có từ khi mới khởi dựng. Chùa Bồng Lai được xây dựng trên một quả đồi có hình dáng một con voi. Từ đây có thể nhìn bao quát bốn phía. Chùa Bồng Lai quay hướng Tây Nam nhìn ra sông Hồng. Đến gần chùa Bồng Lai, ngay từ đê sông Hồng ta có thể chiêm ngưỡng một hòn đảo “Bồng Lai tiên cảnh” giữa đồng lúa xanh, gần đó là nhà thờ và những nếp nhà cổ kính thấp thoáng sau những đám lá cây cổ thụ, bồng bềnh ẩn hiện giữa nền trời xanh biếc.

    Ảnh: Du lịch tâm linh về nguồn – Chùa Bồng Lai

    Chùa có kiến trúc đẹp, ở giữa quả đồi đẹp cao nhất khu vực, như một dấu nối giữa trời và đất, giữa âm và dương. Từ đê bước tới chùa, ta phải leo một con dốc dài mới tới cửa Phật. Một không khí mát mẻ, êm dịu của hương hoa đại, của tán lá cổ thụ tạo nên cảm giác khoan khoái và lắng đọng.

    Trải qua những biến cố của lịch sử xã hội, chùa Bồng Lai đồ sộ bị mai một dần. Đến nay mặt bằng kiến trúc của chùa được bố cục như sau: Ngoài chùa là cổng tam quan làm lại (tam quan cũ bị phá năm 1953) từ cổng theo một lối đi thẳng tắp đến sân chùa lát gạch đỏ rộng 200m2, bên tả sân là ngôi nhà 3 gian mới xây, bên hữu dựng hàng bia đá. Kiến trúc chính của chùa gồm 2 tòa hình chữ đinh, được xây dựng trên nền đất cao nhất.

    3. Du lịch tâm linh về nguồn – Chùa Phổ Quang

    Chùa Phổ Quang được xây dựng theo kiểu chữ “Công”, lợp ngói, có hai cấp chùa. Chùa cấp trên cao 10m, dọc 7m, gồm ba gian, có một cửa ra vào từ nhà Tổ lên chùa. Chùa cấp dưới ngang 16m, dọc 13,5m, gồm 5 gian. Đá Kê cột có loại vuông, loại bát giác với trang trí gần như lá đề. Giữa chùa có bức đại tự và hai câu đối.

    Nghệ thuật kiến trúc đáng chú ý nhất của chùa Phổ Quang là bệ đá hoa sen ghép từ 71 phiến đá xanh trạm trổ kỳ công, đặt ở giữa chùa cấp trên đỡ ba tòa tam thế. Trong đó, cánh sen được cách điệu là đề tài chủ yếu, chiếm vị trí chủ đạo trong nghệ thuật điêu khắc bệ đá.

    Ảnh: Du lịch tâm linh về nguồn – Chùa Phổ Quang

    Cùng với hình ảnh bông sen, cuộc sống trần thế cũng được miêu tả sinh động qua các hoạ tiết dân gian như: Cá lượn, sư tử vờn, hươu cặp cành hoa hải đường nở xoè… Bốn góc bệ, tầng ba, tầng bốn có bốn linh điểu vững chãi, mặt hình nhân, dưới ngực có bốn lá đề cách điệu, trán khắc chữ “vương”, cổ chân và thân đều thắt hoa.

    4. Du lịch tâm linh về nguồn – Đền Mẫu Âu Cơ

    Đền Mẫu Âu Cơ Phú Thọ là địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng thu hút du khách tham quan và tìm hiểu truyền thuyết, nét văn hóa đặc sắc. Đặc biệt là dịp Lễ hội Đền Mẫu Âu Cơ được tổ chức vào ngày mùng 7 tháng Giêng và rất đông đúc vào dịp Tết Nguyên Đán hàng năm cúng bái, cầu may mắn.

    Địa điểm du lịch tâm linh ở Phú Thọ này mang tính kiến trúc nghệ thuật có giá trị cao. Trong đền Mẫu Âu Cơ Phú Thọ có pho tượng quý như tượng Đức Ông, tượng Âu Cơ cùng nhiều cổ vật, bức chạm trổ quý giá. Đặc biệt, trong khuôn viên của ngôi chùa có kết cấu dạng hình chữ nhật với diện tích rộng khoảng 150m2 và được bao quanh bởi tường vững chắc.

    Không chỉ có cảnh đẹp, đền Mẫu Âu Cơ Phú Thọ còn thu hút du khách với lễ hội được tổ chức hàng năm sau dịp Tết. Lễ hội còn được gọi là Tiên Giáng, vào những ngày trước buổi lễ người dân nơi đây tổ chức tế lễ và tập rước kiệu trình lễ. Vào những ngày này du khách thập phương náo nức hòa mình cùng lễ hội sôi động của lễ hội.

    Ảnh: Du lịch tâm linh về nguồn – Đền Mẫu Âu Cơ

    5. Du lịch tâm linh về nguồn – Đình Hùng Lô

    Địa điểm du lịch tâm linh ở Phú Thọ không thể không nhắc tới đình Hùng Lô tọa lạc bên dòng sông Lô cách đền Hùng khoảng 10km về hướng Đông. Đình Hùng Lô được công nhận là di tích lịch sử quốc gia từng là nơi vua Hùng nghỉ chân khi đi du hành, sau đó người dân nơi đây đã lập miếu thờ. Địa điểm này rất nổi tiếng với lễ hội rước kiệu thu hút đông đảo du khách tham gia, hàng năm cứ vào dịp lễ hội Đền Hùng người dân nơi đây tổ chức lễ rước kiệu hoành tráng.

    6. Du lịch tâm linh về nguồn – Đền Tam Giang và Chùa Đại Bi

    Đền Tam Giang, chùa Đại Bi được xây dựng theo kiến trúc “tiền Thần, hậu Phật”. Vùng đất này tương truyền là nơi tụ nhân, tụ thủy, tụ khí, buôn bán kinh doanh sầm uất với nhiều di tích lịch sử văn hóa, gắn liền với những sự tích từ thời vua Hùng dựng nước Văn Lang.

    Qua cửa Chùa, trước ban Tam Bảo cùng những pho tượng cổ, ta như bỏ lại phía sau bao lo toan, muộn phiền thế tục để nhất tâm hướng Phật. Bên thềm đá trước sân chùa, cây gạo cổ thụ sừng sững giữa đất trời, phía trước là dòng Lô cuộn chảy. Phong cảnh chốn Đền Tam Giang, Chùa Đại Bi thật linh thiêng giữa trời mây sông nước.

    Ảnh: Du lịch tâm linh về nguồn – Đền Tam Giang và Chùa Đại Bi

    Những cứ liệu lịch sử giá trị giúp nghiên cứu nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội thời Trần, là những di sản văn hóa quý giá góp phần quan trọng khẳng định giá trị của cụm di tích.

    Cùng vẻ đẹp cổ kính, linh thiêng, rất nhiều du khách đến thưởng ngoạn đền Tam Giang – chùa Đại Bi mà đông nhất là dịp đầu năm, lễ hội Đền Hùng.

    7. Du lịch tâm linh về nguồn – Đền Lạc Long Quân

    Đền Lạc Long Quân tọa lạc trong khu di tích lịch sử Đền Hùng, thu hút du khách với thiết kế hoành tráng, uy nghi và có địa thế đắc địa. Địa điểm du lịch nổi tiếng ở Phú Thọ này có tổng diện tích khoảng 14ha, tọa lạc trên một ngọn đồi, hai bên là Bạch Hổ và Thanh Long, trước cửa đền là sông Hồng, hồ Hóc Trai. Ngôi đền được phân thành nhiều hạng mục như: Cổng biểu tượng, cổng tam quan, phương đình, sân hành lễ, khu đền thờ chính và tả vu.

    Ảnh: Du lịch tâm linh về nguồn – Đền Lạc Long Quân

    Địa chỉ: Đền Hùng, Chu Hóa, Thành phố Việt Trì, Phú Thọ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 Địa Điểm Du Lịch Tâm Linh, Linh Thiêng Nhất Ở Việt Nam
  • Top 7 Địa Điểm Du Lịch Tâm Linh Linh Thiêng Nhất Việt Nam ⋆ Innotour.vn
  • Du Lịch Tâm Linh Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển
  • Đầu Năm Hành Hương Đến 5 Điểm Du Lịch Tâm Linh Ở Quảng Ninh
  • Du Lịch Xuân Đến Những Điểm Tâm Linh Ở Quảng Ninh
  • Vài Nét Về Khu Du Lịch Thanh Thủy , Phú Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoáng Nóng Thanh Thủy (Phú Thọ)
  • Bí Quyết Du Lịch Thanh Thủy Phú Thọ Tiết Kiệm Nhất
  • Khám Phá Trang Phục Truyền Thống Của Vùng Thảo Nguyên Mông Cổ
  • Trải Nghiệm Du Lịch Trên Thảo Nguyên Mông Cổ
  • Thảo Nguyên Xanh Mộc Châu
  • Các khu du lịch thanh thủy nằm rải rác trong huyện miền núi Thanh Thủy nằm ở phía Tây nam của tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm thủ đô Hà Nội về phía Tây 65 km, cách trung tâm thành phố Việt Trì 40 km, đây là cửa ngõ nối liền các tỉnh Tây Bắc với thủ đô, là cửa ngõ giao lưu kinh tế văn hóa giữa Phú Thọ, Hà Nội, Hòa Bình và các tỉnh phía Tây Bắc của tổ quốc.

    Trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, hội tụ đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông trong năm, nhiệt độ trung bình từ 20 – 24°C; độ ẩm trung bình các tháng đạt 80%, chênh lệch giữa các tháng từ 4 – 6%, lượng mưa trung bình 50mm về mùa khô. Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 10 thường xuất hiện mưa to, lượng mưa trung bình 350mm.

    Thanh Thủy là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp chính, các loại cây lương thực và chăn nuôi thủy sản. Chất đất ở vùng đồi núi thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của các cây nguyên liệu khác nhau. Quan trong hơn trên vùng đất này, từ lâu đã nổi lên có nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên thu hút khách thâp phương, các khu du lịch thanh thủy mọc lên bắt kịp xu thế để phục vụ nhu cầu khách gần xa, dần dần biến nơi đây từ một vùng đất thuần nông thành một huyện du lịch nổi tiếng về suối nước nóng trong cả nước.

    Điểm đến thú vị

    Thanh thủy là một địa điểm du lịch gần Hà Nội. Đến đây có lẽ bạn sẽ băn khoăn bởi có khá nhiều địa điểm đưa vào dịch vụ tắm khoáng nóng, nên rất khó lựa chọn. kể ra thì chỉ có vài khu du lịch thanh thủy lớn và uy tín với dịch vụ này mà bao gồm có cả nghỉ ngơi, ăn uống , vui chơi, giải trí uy tín đã được hàng ngàn lượt khách du lịch hàng năm đánh giá là điểm nên dừng chân khi đến đây như Thanh Lâm resort, nơi này nằm lưng chừng đồi bốn bề bao quanh bởi đồi núi, phong cảnh nên thơ, trồng rất nhiều cây bon sai, hoa trái, có trang trại riêng để bảo vệ nét ẩm thực của mình, hay khu Đảo Ngọc Xanh xưa vốn là một bãi nổi giữa sông, mới được đầu tư xây dựng kỳ công, hoàn thành với nhiều loại hình nghỉ ngơi, giải trí quy mô để trở thành một khu du lịch lớn, có thể kể tiếp đến như khu Thanh Thủy resort có bề dày kinh nghiệm với các loại hình dịch vụ, vì đây là một trong những nơi tiên phong trong việc khai thác du lịch của huyện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Thanh Thủy
  • Du Lịch Thành Thành Công Lâm Đồng Chắp Cánh Ước Mơ Cho Trẻ Em Nghèo
  • Công Ty Cp Du Lịch Thành Thành Công Lâm Đồng: Mang Đến Diện Mạo Mới Cho Thành Phố Ngàn Hoa
  • Công Ty Cổ Phần Du Lịch Thành Thành Công Lâm Đồng
  • Thanh Sơn Gắn Sản Xuất Nông Nghiệp Sạch Với Phát Triển Du Lịch
  • Các Địa Danh Của Du Lịch Phú Thọ Nên Ghé Thăm

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Địa Danh Du Lịch Phú Yên Nhất Định Bạn Phải Ghé Thăm
  • Giới Thiệu Khái Quát Về Địa Danh Du Lịch Tây Nguyên. (Song Ngữ Anh
  • 5 Địa Danh Du Lịch Trung Quốc Ngay Gần Việt Nam Không Đi Tiếc Cả Đời
  • Cảnh Đẹp Nước Úc: Những Địa Danh Nổi Tiếng Ở Úc Mê Hoặc Bất Kỳ Ai
  • Khám Phá Những Địa Danh Du Lịch Úc Hấp Dẫn Du Khách Nhất
  • Du lịch Phú Thọ chỉ có đền Hùng? Nhiều người lại băn khoăn vì cho rằng Phú Thọ chỉ có đền Hùng. Nhưng thực tế không phải vậy. Ngoài đền Hùng, bạn có thể đến nhiều điểm du lịch của Phú Thọ như Đầm Ao Châu, Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Đền Mẫu Âu Cơ, Khu Du Lịch Đảo Ngọc Xanh.

    Nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, Thành phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ, Khu Di Tích Lịch Sử Đền Hùng được xây vào thế kỷ XV. Tương truyền, nơi đây, người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.

    Khu di tích lịch sử đền Hùng gồm có đền Hạ và chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng.

    Vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm, nơi đây sẽ tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương. Lễ hội này thu hút được rất nhiều du khách trong và ngoài nước, để nhớ ơn các vị vua Hùng đã có công dựng nước và giữ nước.

    Hiện nay, bảo tàng Hùng Vương được xây dựng trong khu di tích với quy mô tương đối lớn, trưng bày nhiều hiện vật từ thời kỳ Hùng Vương dựng nước qua nền văn hoá thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt…

    Vườn Quốc gia Xuân Sơn

    Vườn Quốc gia Xuân Sơn nằm trên địa bàn Huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây sở hữu hệ sinh thái vô cùng phong phú với nhiều loài động, thực vật quý hiếm mang giá trị lớn trong nghiên cứu khoa học cũng như bảo tồn nguồn gen (365 loài động vật và 726 loài thực vật bậc cao).

    Xuân Sơn có diện tích lên tới 15.000 ha, độ che phủ rừng lên tới 84%, không khí trong lành, sạch sẽ, mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 22 – 23 độ C. Một ngày ở Xuân Sơn, bạn sẽ được tận hưởng thời tiết đặc trưng của 4 mùa: buổi sáng mát mẻ như mùa Xuân, buổi trưa ấm áp giống mùa Hè, buổi chiều hiu hiu như mùa Thu, buổi tối trời se lạnh đặc trưng của mùa Đông. Đây là lợi thế của vườn trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng.

    Bởi vậy, địa điểm du lịch này rất thích hợp cho các phượt thủ khám phá. Bạn có thể lên kế hoạch cho một chuyến du lịch bụi tới đây. Bạn sẽ được khám phá núi rừng, hang động, các loài động thực vật, tìm hiểu nét độc đáo trong đời sống sinh hoạt của cư dân bản địa, tham gia các lễ hội truyền thống.

    Đầm Ao Châu thuộc thị trấn Hạ Hoà, xã Ấm Thượng, xã Y Sơn và xã Phụ Khánh, Huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ. Từ trên cao, đầm giống như đầu con Trâu có hai sừng choãi ra hai phía sông Thao và Sông Lô. Địa điểm du lịch này có 99 ngách, đan cài vào các đồi, núi, thu nước của 99 con suối nhỏ đổ về.

    Tương truyền, xưa kia, vua Hùng và các quần thần đã bị mê hoặc, say đắm bởi khung cảnh như bức tranh thủy mặc nơi đây. Đặc biệt, trong lúc ngắm cảnh, đức vua đã chứng kiến trận giao đấu quyết liệt giữa hai con trâu vàng. Bởi vậy, người dân địa phương còn gọi điểm đến này là Hồ Kim Ngưu hay Hồ Trâu Vàng.

    Trải qua bao biến cố thăng trầm cùng thời gian, nay, đầm Ao Châu có diện tích 30ha, góp phần tạo nên mùa màng tươi tốt cho cả khu vực rộng lớn, xung quanh có thảm thực vật phong phú. Đặc biệt, quanh năm, nước ở Ao Châu không bao giờ bị cạn, mặt nước trong xanh không bị ô nhiễm, có nhiều thuỷ tộc sinh sống, trong đó có loại quý hiếm như rùa vàng, ba ba, dải… Trong hồ có rất nhiều đảo lớn nhỏ, lâu nay đã được nhân dân trong vùng trồng các loại cây ăn quả như vải, nhãn, mít, bưởi… Từ những lợi thế do tạo hóa ban tặng, Ao Châu được nhiều du khách ví như một Hạ Long thu nhỏ.

    Đền Quốc mẫu Âu Cơ

    Nằm trên vùng đất xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ, Đền Mẫu Âu Cơ là một công trình lịch sử văn hoá đặc biệt, là biểu tượng của tinh thần yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc. Thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tri ân công đức Tổ Mẫu Âu Cơ và giáo dục truyền thống dân tộc, cách đây hơn 500 năm, thế kỷ thứ XV thời hậu Lê, vua Lê Thánh Tông đã phong thần và cho xây dựng Đền Mẫu Âu Cơ. Đến năm 1991, đền được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia năm 1991.

    Từ khi được xây dựng, hàng trăm năm qua, người dân Hạ Hòa cùng con, cháu thập phương luôn thành tâm dâng hương kính lễ tới Tổ Mẫu Âu Cơ. Trong những năm gần đây, khu di tích Đền Mẫu Âu Cơ đã từng bước được tôn tạo, tu bổ để dần xứng với công ơn và tấm lòng độ lượng bao dung của Mẫu; xứng đáng là nơi hội tụ của con cháu từ khắp mọi miền đất nước tìm về nguồn cội Tiên Rồng.

    Những năm gần đây, Phú Thọ đã chú trọng quan tâm phát triển du lịch. Ngoài những điểm đến trên, địa phương này còn có Đảo Ngọc Xanh ở xã La Phù, huyện Thanh Thủy, hay chùa Tam Giang, Ao Giời – Suối Tiên … Bên cạnh đó, hát Xoan cũng là nét đẹp văn hóa của Phú Thọ. Những điểm đến này đã thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước. Đặc biệt vào dịp giỗ Tổ Hùng Vương, lượng du khách đổ về địa phương này tăng vọt.

    Đền Quốc tổ Lạc Long Quân

    Đền thuộc khu di tích Đền Hùng, được khởi công xây dựng tại đồi Sim 26/3/2007. Đền có diện tích 13ha, với nhiều hạng mục công trình: Cổng tam quan, cổng biểu tượng, sân hành lễ, phương đình, tả vu, khu đền thờ chính.

    Khu đền thờ chính có diện tích 210 m2,bên trong đền đặt tượng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân bằng đồng cao 1,98m, nặng 1,5 tấn. Hai bên là tượng Lạc hầu và Lạc tướng ở tư thế đứng. Trong đền cũng được treo hai bức phù điêu “Quốc Tổ Lạc Long Quân cùng 50 người con xuống biển” và “Quốc Mẫu Âu Cơ cùng 50 người con lên núi”.

    Tương truyền, Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con trai. Để gây dựng giang sơn, 50 người con theo cha xuống biển, 49 người theo mẹ lên núi, suy tôn người con cả làm vua, hiệu là Hùng Vương, đặt quốc hiệu là Văn Lang. Nơi vua ở là bộ Văn Lang, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng. Tương truyền có 18 đời vua đều gọi là Hùng Vương. Lạc Long Quân được xem như Quốc Tổ của dân tộc Việt Nam và được người đời vô cùng sùng bái, tôn kính”.

    Khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót

    Khu du lịch nằm tại Ngã ba Hạc thuộc hai phường Bạch Hạc và Bến Gót, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

    Bạch Hạc – Bến Gót lưu giữ nhiều những di tích, truyền thuyết về quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta: “Hoa Long Thiền Tự” xưa ở bến sông Thông, cạnh chùa có một tảng đá ven sông, trên mặt còn hằn vết gót chân. Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên húy là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hóa thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc”.

    Khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót có diện tích 100 ha chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô. Khu du lịch được tạo nên bởi vẻ đẹp hài hòa của đồi núi, cây cối, sông nước làm cho khung cảnh trở nên hữu tình, thơ mộng.

    Lầu Bạch Hạc được xây dựng cao theo hướng vươn lên tượng trưng cho đàn tế trời, đây cũng là nơi để du khách có thể ngắm cảnh.

    Ao Giời – Suối Tiên nằm trên Núi Nả thuộc xã Quân Khê, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ. Dòng chảy của suối Tiên được bắt nguồn trên núi Nả, chảy qua từng khe đá, tạo thành một dải lụa trắng chảy dài theo khe núi.

    Suối có chiều dài hơn 10 km, đầu nguồn của con suối có Giếng Tiên, diện tích khoảng 40m2.

    Truyền thuyết kể lại: “Xưa kia chỉ có Giếng Tiên, hàng ngày có các nàng tiên thường tới đây tắm mát, Ngọc Hoàng đã cho nước giếng dâng lên tạo thành các thác nước đổ xuống, lâu dần tạo thêm các ao. Ai được tắm ở Ao Giời – Suối Tiên trong 3 năm sẽ có làn da trắng mịn như ngọc, khuôn mặt sáng đẹp như trăng rằm, tâm hồn thư thái, sáng láng”.

    Ao Giời – Suối Tiên hiện nay vẫn giữ được vẻ hoang sơ, là điểm thu hút khách du lịch vào những ngày hè oi ả.

    Hồ Thượng Long được người dân bản địa gọi là Hồ Ly nằm ở xã Thượng Long, Huyện Yên Lập. Hồ được tạo nên từ hai khe nước là khe Ly và khe Chanh. Hồ Ly có vẻ đẹp hoang sơ, thu hút rất nhiều các nhóm bạn trẻ đến check – in, chụp hình.

    Hồ có diện tích mặt nước là 40 ha, cung cấp nước sinh hoạt, phục phụ cho sản xuất nông nghiệp ở các xã Thượng Long, Nga Hoàng, Hưng Long, Phúc Khánh, Đồng Thịnh và thị Trấn Yên Lập.

    Suối khoáng nóng Thanh Thủy

    Suối khoáng nóng Thanh Thủy nằm ở xã La Phù và Bảo Yên, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Suối khoáng nóng Thanh Thủy có nhiệt độ dao động khoảng từ 37ºC – 54ºC, nguồn khoáng nóng được khai thác từ độ sâu gần 100m, nước chứa nhiều hàm chất vi lượng nên khoáng nóng Thanh Thủy có khả năng lưu thông máu, hồi phục sức khỏe.

    Đồi chè Long Cốc nằm ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đồi chè được đánh giá là một trong những đồi chè đẹp nhất Việt Nam, là một điểm đến thu hút khách du lịch trong thời gian gần đây.

    Những đồi chè to và nằm liền kề nhau tạo nên một “ốc đảo chè”, mỗi đồi chè có diện tích khoảng 1ha. Vào mỗi buổi sáng sớm, đồi chè hiện lên mờ mờ ảo ảo vô cùng đẹp với những hạt sương còn đọng trên lá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Điểm Tham Quan Du Lịch Nước Pháp
  • Những Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Nước Pháp
  • Top 6 Địa Danh Du Lịch Thú Vị Ở Vĩnh Phúc
  • Top 10 Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng Ở Việt Nam
  • Địa Danh Du Lịch Quy Nhơn: Danh Lam Thắng Cảnh, Các Địa Điểm Ưa Thích Thu Hút Du Lịch Ở Quy Nhơn
  • 3 Khu Du Lịch Sinh Thái Nổi Tiếng Tại Phú Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Chạy & Giá Vé Tàu, Phà Rạch Giá
  • [Update] Kinh Nghiệm Du Lịch Hàn Quốc Tự Túc 2022 Trọn Vẹn
  • Tổng Hợp Top Địa Điểm Du Lịch Giá Rẻ Từ Bắc Ra Nam Thú Vị Nhất
  • Cập Nhật Giá Tour Du Lịch Đà Nẵng Bà Nà Hill 2 Ngày 1 Đêm Cực Chi Tiết
  • Những Lý Do Sẽ Thuyết Phục Bạn Nên Du Lịch Ubud, Bali Vào Năm 2022
  • Phú Thọ là điểm du lịch rất gần với Hà Nội. Vào cuối tuần, bạn có thể tổ chức chuyến dã ngoại cho gia đình mình hoặc bạn bè cùng đến đây và ghé qua những khu du lịch sinh thái taxi nội bài chia sẻ.

    Suối khoáng Thanh Thủy Phú Thọ

    Nếu như dòng sông Hồng hiền hòa lặng lẽ mang phù sa bồi đắp lên những ven sông màu mỡ thì dòng sông Đà luôn gầm gào mang nỗi uất hận ngàn đời của Thủy Tinh tạo lên nguồn điện thắp sáng xóm làng, thành phố. Nhưng khi xuôi về hạ lưu, dòng nước ấy tích tụ tinh khí đất trời tạo thành một mỏ nước khoáng nóng vô giá ở vùng tả ngạn, nó đã biến huyện Thanh Thủy trở thành một điểm du lịch nghỉ dưỡng khoáng nóng đặc trưng hơi thở miền trung du Phú Thọ.

    Đến với khu du lịch khoáng nóng Thanh Thủy du khách được ngâm mình trong những bồn nước, bể bơi khoáng nóng tự nhiên từ trong lòng đất, thỏa sức vùng vẫy, bơi lội trong bể bơi có mái che ngoài trời hoặc ngồi thư giãn ngâm chân để tận hưởng những giây phút thư thái, hòa mình vào thiên nhiên khoáng đãng, trong lành.

    Đầm Ao Châu – Hạ Long trong lòng Phú Thọ

    Đầm Ao Châu nằm trên địa bàn thị trấn Hạ Hòa và các xã Y Sơn, Ấm Hạ và Phụ Khánh thuộc huyện Hạ Hoà. Du khách có thể đi bằng đường bộ, đường sắt hoặc đường thuỷ tới khu du lịch Ao Châu đều thuận lợi. Đầm Ao Châu có diện tích mặt nước khoảng 2km² và có tới khoảng 100 hòn đảo lớn nhỏ được bao phủ một thảm thực vật đa loài dầy đặc và phong phú, đỉnh cao nhất cao tới 177m so với mặt biển, cùng với 99 ngách nước đan cài vào các khe núi. Đáng chú ý là mực nước trong hồ luôn có độ sâu khoảng 3m, có nơi sâu tới 35m và quanh năm không bị cạn. Nhờ vậy, mặt nước đầm Ao Châu trong xanh, không bị ô nhiễm và có nhiều thủy tộc sinh sống: giải, rùa vàng, ba ba… Đặc biệt, nhân dân địa phương còn trồng nhiều loại cây ăn quả như: mít, bưởi, nhãn, vải… khiến cho Ao Châu càng trở nên hấp dẫn.

    Khu du lịch đầm Ao Châu đang trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, thúc đẩy sự phát triển của cả một vùng về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngoài ra, sự hình thành và phát triển của khu du lịch này còn thúc đẩy sự phát triển các làng nghề truyền thống, các ngành sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, nhất là xuất khẩu tại chỗ nhiều loại hàng hoá, hàng lưu niệm cũng như các dịch vụ khác.

    Du lịch sinh thái thiên nhiên ở Ao Giời – Suối Tiên

    Khu du lịch sinh thái thiên nhiên Ao Giời – Suối Tiên bắt nguồn từ trên núi Nả, chảy qua các khe đá, hình thành dải lụa trắng bạc, vắt ngang sườn núi, nổi bật giữa màu xanh mượt mà của núi rừng, lẫn vào màu xanh của mây trời, làm cho cảnh trí càng sinh động, kỳ ảo, cảnh tượng vừa gần gũi, vừa sâu thẳm, vừa rõ ràng, vừa huyền bí thơ mộng làm xao xuyến lòng người.

    Khu sinh thái Ao Giời – Suối Tiên hai bên có hàng trăm đỉnh núi lớn, nhỏ có độ cao trung bình từ 500-600 m so với mặt biển. Với đỉnh cao 1.200m, núi Nả cao vượt lên sừng sững, trông thật hùng vĩ như điểm tựa của miền thượng vùng trung du rộng lớn, được phủ một màu xanh dày đặc của các loài cây nhiệt đới, chen chúc nhau tầng tầng, lớp lớp với khá nhiều loài cây quí hiếm như đinh, lim, gụ, vàng tâm… Trong rừng còn có các bầy khỉ, nai, hoẵng, lợn rừng, cầy hương…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Miền Tây, Phượt Miền Tây
  • Du Lịch Miền Tây Mùa Nước Nổi: Tắm Đồng, Ăn Cá Sông
  • 5 Mẫu Lời Mở Đầu Báo Cáo Thực Tập Chuẩn Cho Sinh Viên
  • 5 Mẫu Lời Mở Đầu Báo Cáo Thực Tập Du Lịch Hay Nhất
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Nhật Bản Vào Mùa Đông
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Phú Thọ (Cập Nhật 09/2020)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Kuala Lumpur
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Nha Trang 2022 Vui Chơi, Ăn Hải Sản Thả Ga
  • Du Lich Cao Bang Lang Son, Thac Ban Gioc, Hang Pắc Bó Cao Bằng, Lạng Sơn
  • Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Tỉnh Quảng Bình Đến Năm 2022 Và Tầm Nhìn Đến Năm 2025
  • 8 Địa Điểm Không Nên Bỏ Qua Khi Du Lịch Mông Cổ
  • Các địa điểm du lịch ở Phú Thọ

    Cùng Phượt – Phú Thọ được biết đến là cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt, trung tâm sinh tụ của người Việt Cổ, thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nơi đây vẫn giữ được dấu ấn của những buổi đầu bình minh dựng nước của dân tộc. Với hệ thống các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú: 1.372 di tích lịch sử văn hóa (trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là Di tích quốc gia đặc biệt), cùng với “Hát Xoan Phú Thọ”, “Ca Trù”, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đến với các địa điểm du lịch ở Phú Thọ để được trải nghiệm nét văn hóa độc đáo với nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử, lễ hội dân gian, các loại hình nghệ thuật đặc sắc gắn liền thời đại các Vua Hùng, cội nguồn dân tộc Việt Nam.

    Đền Hùng là tên gọi khái quát của Khu di tích lịch sử Đền Hùng – quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

    Đền Quốc Tổ Lạc Long Quân

    Đền Quốc tổ Lạc Long Quân được xây dựng tại đồi Sim, cách núi Nghĩa Lĩnh khoảng 1 km, nơi có vị trí đắc địa, có thế “sơn chầu thuỷ tụ”. Đồi Sim có hình thế giống một con rùa lớn, hai bên có Thanh Long, Bạch Hổ, phía trước là hồ Hóc Trai và sông Hồng chảy xuôi về biển. Ngôi đền tọa lạc trên lưng rùa biểu hiện sự linh thiêng huyền diệu.

    Đền chính có diện tích 210m2, kiến trúc kiểu chữ đinh truyền thống, nội thất bằng gỗ lim, sơn son thếp vàng, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch Bát Tràng, bó vỉa đá xanh. Hậu cung đặt tượng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân dáng vẻ uy nghiêm. Tượng được đúc bằng đồng, nặng 1,5 tấn, cao 1,98m ở tư thế ngồi trên ngai, đặt trên bệ đá chạm khắc hoa văn theo mô típ văn hóa Đông Sơn. Hai bên là tượng Lạc hầu và Lạc tướng ở tư thế đứng có chiều cao 1,80m, mỗi pho nặng 0,5 tấn.

    Cổng đền (nghi môn) cũng được xây dựng theo kiểu truyền thống, gồm có 4 cột, cổng chính rộng 4,2m, cổng phụ rộng khoảng 2m. Cổng được xây dựng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh chạm họa tiết hoa văn 4 mặt. Phía trước nghi môn là cổng biểu tượng cũng có kết cấu cột bê tông cốt thép ốp đá và chạm khắc. Hai bên sân đền là nhà tả vu, hữu vu xây dựng 5 gian, khung gỗ lim, lợp ngói mũi hài. Hai trụ biểu đối xứng nhau cũng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh. Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân được Nhà nước đầu tư xây dựng đồng bộ các hạng mục công trình kiến trúc, các họa tiết trang trí được mô phỏng theo hoa văn trên trống đồng Đông Sơn được cách điệu như: Hình ảnh người giã gạo, hình ảnh chim lạc… thể hiện sinh động, độc đáo mang nét kiến trúc đặc trưng riêng của ngôi đền tôn thêm sự uy nghiêm, linh thiêng.

    Nằm trên đường Trần Phú, bên bờ hồ công viên Văn Lang – trung tâm của thành phố Việt Trì – Bảo tàng Hùng Vương được ví như một “cuốn sử bằng hiện vật” thu hút đông đảo du khách thập phương đến tham quan, tìm hiểu và khám phá các giá trị độc đáo, riêng có về lịch sử, văn hóa của vùng đất Tổ cội nguồn.

    Khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót

    Phường Bạch Hạc, phường Bến Gót nằm ở phía Nam thành phố Việt Trì, cửa ngõ nối liền giữa Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

    Bến Gót ngày nay thuộc phủ Tam Đới xưa, còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, các truyền thuyết, chuyện kể về quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta như: “Hoa Long Thiền Tự” xưa ở bến sông Thông, cạnh chùa có một tảng đá ven sông, trên mặt còn hằn vết gót chân. Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc….. Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,… nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước.

    Với diện tích 100 ha, khu Du lịch Bến Gót được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, trong đó phần lãnh thổ phía Bắc (thuộc phường Bến Gót) là chủ yếu. Khu du lịch có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh. Khu du lịch Bến Gót bao gồm những thành phần chủ yếu như: vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,… được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc.

    Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân – Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái…

    Nằm trong địa phận của kinh đô Văn Lang xưa, đền Thiên Cổ uy nghiêm ngự trên một quả đồi nhỏ thuộc thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là ngôi đền thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang, người thầy giáo đầu tiên của dân tộc đã có công dạy dỗ hai công chúa Tiên Dung – Ngọc Hoa con vua Hùng Vương thứ 18.

    Tương truyền, thầy giáo Vũ Thê Lang quê ở Mộ Trạch, Hải Dương cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thục, quê ở Đông Ngàn, Kinh Bắc lên kinh đô Văn Lang dạy học từ thời Hùng Vương thứ 18. Hai người tạ thế cùng một giờ, một ngày mồng 2 tháng 2 năm Quý Dậu (năm 228 trước Công nguyên). Đến nay phần mộ của hai vợ chồng thầy cô vẫn còn được nhân dân giữ gìn và bảo vệ cẩn thận ở trong ngôi đền. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, ngôi đền vẫn được người dân thôn Hương Lan, xã Trưng Vương hết lòng bảo vệ.

    Đền Tam Giang – Chùa Đại Bi

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi thuộc phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Ngôi đền nằm bên tả ngạn nơi hợp lưu của ba dòng sông: sông Hồng, sông Lô, sông Đà mà xưa nay nhân dân vẫn quen gọi là ngã ba Hạc. Đây là một thắng cảnh đẹp của vùng đất Tổ, thu hút đông đảo du khách đến tham quan và lễ bái.

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi là cụm di tích hoàn chỉnh, thống nhất, gồm có: đền Tam Giang, đền Mẫu, chùa Đại Bi, vết chân Thổ lệnh Cao quan Bạch Hạc Đại Vương, bến bơi chải, tượng đài Chiêu Văn Vương Tả Thánh Thái Sư Trần Nhật Duật và bức phù điêu 18 ngôi chùa tiêu biểu của Phật Giáo Việt Nam.

    Đền Tam Giang thờ nhân vật lịch sử huyền thoại thời Hùng Vương dựng nước là thần Thổ Lệnh, ông là thần làng – thần sông Bạch Hạc đã có công chu du thiên hạ tìm phương thuốc quý chữa trị tật bệnh cho muôn dân, khi mất lại linh ứng giúp cho các tướng lĩnh đánh giặc ngoại xâm giữ nước. Chùa Đại Bi, ngôi chùa cổ do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật và cháu gái là công chúa Thiên Thụy xây dựng từ đời Trần (năm 1328) đã có gần 700 năm tuổi.

    Hùng Lô xưa là vùng đất trù phú, có lịch sử phát triển lâu đời. Đình Hùng Lô là quần thể di tích có giá trị văn hóa, lịch sử nổi bật trên vùng Đất Tổ, niên đại khoảng hơn 300 năm. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình vẫn bảo tồn được nguyên vẹn giá trị kiến trúc, văn hóa, lịch sử: Ngôi miếu cổ, tòa Đại đình, Long đình, nhà Tiền tế, lầu chuông, lầu trống, nhà thờ Phật, bệ thờ thần nông, nhà Văn chỉ và nhà Yến lão.

    Đình Hùng Lô, thuộc làng cổ Hùng Lô, nằm dọc ven sông Lô, cách Đền Hùng chừng 10km về phía Đông. Đình Hùng Lô được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1990. Tương truyền, đây là vùng đất thiêng, nơi Vua Hùng từng nghỉ chân trong một lần đi du ngoạn. Về sau, dân lập miếu thờ, đến đời Lê Hy Tông (1697), đình được xây dựng, hướng về núi Nghĩa Lĩnh…

    Một điểm đặc sắc đáng lưu ý nữa, đình Hùng Lô rất nổi tiếng về truyền thống trong lễ hội rước kiệu Đền Hùng từ xưa đến nay. Năm Mậu Ngọ (1918), đình Hùng Lô đã được thưởng “Kỷ niệm Hùng Vương đệ nhất hội”; hiện nay, biển thưởng này vẫn được trang trọng lưu giữ trong đình. Vào dịp lễ hội Đền Hùng hằng năm, đến đình Hùng Lô, du khách sẽ được hòa mình trong lễ rước kiệu quy mô rất hoành tráng của trên 200 nam trung, đi đến đâu náo động cả một vùng đến đó. Cuộc rước sẽ đi từ đình làng đến Đền Hùng; trở về từ Đền Hùng, các lễ tế tại đình làng mới được tiến hành, sau cùng là thụ lễ tại nhà Yến lão.

    Đền Tiên Cát và Chùa Cát Tường nằm bên bờ sông Hồng thuộc khu phố Anh Dũng, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì. Đền Tiên thờ Mẫu Thần Long Hồng Đăng Ngạn- Hoàng Hậu nước Xích Quỷ, vợ vua Kinh Dương Vương, mẹ đẻ của Vua Lạc Long Quân. Người đã sát cánh cùng chồng trong buổi đầu dựng nước, trong việc dạy dỗ nhân dân và người đã được vua Kinh Dương Vương phong làm “Vi Cung Chính Khổn” thưởng cho cung Tiên Cát. Khi người mất nơi đây được chuyển thành Tiên Cát lăng được nhân dân trông nom gìn giữ suốt mấy nghìn năm.

    Quần thể Lộc Vừng ở Cẩm Khê

    Quần thể lộc vừng được công nhận là cây di sản nằm tại Gò Thờ, xã Chương Xá, huyện Cẩm Khê. Từ xa, quần thể lộc vừng như một chậu cây cảnh khổng lồ hay một khu rừng rậm rạp. Quần thể lộc vừng này có hơn 80 cây, nằm trên một quả gò chỉ rộng chừng 500 m2, trên đầm Láng Chương, hay còn gọi là gò Vình. Rất ít tài liệu ghi chép chính xác số tuổi của quần thể lộc vừng này, nhưng nhiều người ước tính nó đã hơn 1.000 năm tuổi.

    Nằm trên khu vực của thị trấn ấm Thượng, xã Yên Sơn. Đầm Ao Châu có diện tích mặt nước trên 300 ha nổi lên giữa một vùng đồi trung du, tạo nên 99 ngách ăn sâu vào một vùng đồi gò rộng lớn với diện tích trên 1000ha. Nước trong đầm luôn trong xanh và sạch, độ sâu của nước trung bình từ 8 đến 10m, chỗ sâu nhất là 15m. Những quả đồi đất nổi lên giữa đầm nước mênh mông được trồng các loại cây bản địa như chè, cọ đặc biệt là các đồi vải chín đỏ vải vào mùa hè hàng năm tạo nên bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp. Vùng núi và đồi ven hồ là những rừng cây xanh tốt tạo nên một cảnh quan rất thơ mộng.

    Đầm Ao Châu đã được quy hoạch để xây dựng thành một khu du lịch sinh thái với hệ thống các khách sạn sang trọng, các khu nghỉ dưỡng với các trò vui chơi giải trí như bơi thuyền, đua thuyền trên mặt đầm.

    Đền nằm giữa một cánh đồng lúa bên dòng sông Thao thuộc xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà. Tương truyền trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi, người con cả dừng ở đất Phong Châu dựng kinh đô Văn Lang cai quản đất nước truyền ngôi được 18 đời, gọi là các vua Hùng. 49 người con theo mẹ tiếp tục ngược thượng nguồn sông Thao, đến vùng Hiền Lương thấy sơn thuỷ hữu tình, đất đai tươi tốt bèn hạ trại khai hoang lập ấp, dạy cho dân làng nghề trồng lúa, nuôi tằm…

    Lễ chính đền Mẫu Âu Cơ vào ngày 7-1, kéo dài trong ba ngày, sau khi tế nữ xong mới đến lễ Mẫu dâng hương sớ. Trong dịp này trước sân đền và tại đình làng có nhiều trò chơi dân gian địa phương như: cướp cờ, đánh phết, hát ghẹo, hát xoan… Đặc biệt có tục làm bánh vôi từ bột gạo nếp và nước mía là đặc sản ngon nổi tiếng của vùng Hạ Hoà.

    Ao Giời – Suối Tiên thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; hai bên đường tới Ao Giời – Suối Tiên có hàng trăm đỉnh núi lớn, nhỏ có độ cao trung bình từ 500 – 600m so với mặt biển. Với đỉnh cao 1.200m, núi Nả cao vượt lên sừng sững, trông thật hùng vĩ như điểm tựa của miền thượng vùng trung du rộng lớn, được phủ một màu xanh dày đặc của các loài cây nhiệt đới, chen chúc nhau tầng tầng, lớp lớp với khá nhiều loài cây quí hiếm như đinh, lim, gụ, vàng tâm… Trong rừng còn có các bầy khỉ, nai, hoẵng, lợn rừng, cầy hương…

    Dưới chân các thác nước cao là những phiến đá khổng lồ, trải qua thời gian dài bị xói mòn, đã thành những chiếc ao nhỏ mà đáy ao là cả một phiến đá, làm nên vẻ đẹp riêng có ở nơi đây. Theo truyền thuyết: “xưa kia chỉ có Giếng Tiên, hàng ngày có các nàng tiên thường tới đây tắm mát, Ngọc Hoàng đã cho nước giếng dâng lên tạo thành các thác nước đổ xuống, lâu dần tạo thêm các ao. Ai được tắm ở Ao Giời – Suối Tiên trong 3 năm sẽ có làn da trắng mịn như ngọc, khuôn mặt sáng đẹp như trăng rằm, tâm hồn thư thái, sáng láng”.

    Đầm Vân Hội có diện tích trên 200 ha, độ sâu của nước từ 7 m đến 8 m, chỗ sâu nhất đạt 20 m. Đầm có hệ thống cung cấp và thoát nước mở nên luôn giữ mực nước ổn định, mùa mưa và mùa cạn nước chỉ chênh lệch nhau khoảng 1,3 m. Nước trong Đầm rất trong và sạch. Xung quanh Đầm có hệ thống núi và đồi và rừng của các xã Quân Khê (Hạ Hòa), xã Vân Hội, xã Việt Cường (Văn Chấn, Yên Bái) vây bọc tạo nên cảnh quan thơ mộng. Trên mặt Đầm có khoảng 40 đảo, đảo lớn nhất có diện tích 10 ha, còn lại là đảo nhỏ từ 0,5 đến 1 ha với các loại cây như: Cọ, chè, keo… tạo nên phong cảnh hữu tình. Đầm Vân Hội cách Đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hòa) 1km, cách Ao Giời – Suối Tiên 3 km. Đầm Vân Hội được quy hoạch thành khu du lịch nghỉ dưỡng – vui chơi giải trí cao cấp.

    Cách Hà Nội khoảng 120km, Vườn quốc gia Xuân Sơn rộng hơn 15.000ha, đứng thứ 12 trong số 15 vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam. Vườn được ví là “lá phổi xanh,” là điểm du lịch hấp dẫn của Phú Thọ với độ che phủ rừng lên tới 84%, chất lượng các hệ sinh thái rừng ổn định và được bảo vệ tốt. Vườn được đánh giá là nơi có môi trường không khí, môi trường nước sạch sẽ, mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 22-23ºC.

    Đặc biệt, một ngày ở Xuân Sơn, thời tiết có nét đặc trưng của 4 mùa: buổi sáng mát mẻ của mùa Xuân, buổi trưa ấm áp của mùa Hè, buổi chiều hiu hiu như mùa Thu, buổi tối trời se lạnh đặc trưng của mùa Đông. Đây là lợi thế của vườn trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng.

    Tại đây hiện có 365 loài động vật, trong đó có 46 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam và 18 loài ghi trong Sách đỏ Thế giới. Các loài đặc trưng cho hệ động vật Tây Bắc như voọc xám, vượn chó, cầy bạc má, sóc bụng đỏ đuôi trắng, gấu, báo,… về chim có: gà lôi, gà tiền, đại bàng đất,… riêng sơn dương có nhiều nhất toàn quốc. Bên cạnh đó, vườn còn có 726 loài thực vật bậc cao trong đó có 52 loài thuộc ngành quyết và ngành hạt trần. Nằm trong khu vực giao tiếp của hai luồng thực vật Mã Lai và Hoa Nam, hệ thực vật ở Xuân Sơn có các loài re, dẻ, sồi và mộc lan chiếm ưu thế.

    Ngoài ra, ở Xuân Sơn còn có các loài tiêu biểu cho khu vực Tây Bắc như táu muối, táu lá duối, sao mặt quỷ và chò chỉ, chò vảy, nghiến, dồi, vầu đắng, kim giao (rừng chò chỉ ở Xuân Sơn là một trong những rừng chò chỉ đẹp và giàu nhất miền Bắc). Xuân Sơn còn là kho giống bản địa, kho cây thuốc khổng lồ, đặc biệt là cây rau đắng mọc tự nhiên có mật độ cao nhất miền Bắc.

    Ngoài sức hấp dẫn của hệ động thực vật phong phú, Xuân Sơn còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nằm trong quần thể vườn quốc gia Xuân Sơn có ba đỉnh núi cao trên 1.000m là: núi Voi, núi Ten và núi Cẩn với hàng trăm hang động; sông suối như suối Lấp, suối Thang; và nhiều thác nước có độ cao trên 50m, che phủ hang, hốc đá, hòa quyện màu thác bạc với màu xanh của rừng già làm cho phong cảnh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.

    Do quá trình phong hóa, thủy hóa tạo thành Xuân Sơn có 16 hang động đá với thạch nhũ đẹp, đa dạng, tạo nên muôn hình vạn trạng. Vào thăm hang động ở đây, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của các nhũ đá rủ xuống thành muôn hình kỳ lạ. Ðộng Tiên là một hang ngầm trong lòng núi đá cẩm thạch dài 10km. Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu. Hồ nước có nhiều loài cá lạ hấp dẫn.

    Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc nơi đây hiện vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc của mình như trang phục, lễ hội, các hoạt động đời sống sinh hoạt hàng ngày như đan lát đồ dùng thủ công, dệt thổ cẩm, thêu, lễ cấp sắc, múa đâm đuống, múa xòe, uống rượu hoẵng, cơm lam…, những nét đẹp văn hóa đặc trưng của vùng đất các vua Hùng. Quan trọng hơn, vườn nằm trong thế chân kiềng của tổng thể cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ Tam Đảo – Ba Vì – Xuân Sơn. Trong trục tâm linh của truyền thuyết lịch sử Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, Sơn Tinh – Thủy tinh, vua Hùng, tạo nên một Xuân Sơn kỹ vĩ và có nhiều lợi thế trong bảo tồn, phát triển bền vững kết hợp với du lịch.

    Đây là ngôi làng cổ xưa nhất của người Dao Tiền, bản cuối cùng của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Do có loài gà chín cựa, một loài vật tưởng như chỉ có trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh mà bản Cỏi hiện nay được nhiều người biết tới. Từ một khu dân cư heo hút nằm sâu trong vùng lõi Vườn Quốc gia Xuân Sơn, nay bản Cỏi biến thành địa điểm thu hút được nhiều khách du lịch cũng như các thương lái đến thu mua loại gà này để tiêu thụ.

    Phú Thọ đã từ lâu nổi tiếng là đất trồng chè, với diện tích trồng chè trên 12 ngàn ha và sản lượng chè búp tươi vô cùng lớn. Ai đã từng qua vùng đồi trung du Phú Thọ khu vực các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn sẽ không thể nào quên những đồi chè xanh mơn mởn, trông như những mâm xôi tầng tầng, lớp lớp ngút ngàn tạo nên cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Đồi chè Long Cốc ở Tân Sơn được xếp vào một trong những đồi chè đẹp nhất Việt Nam.

    Đèo Khế là ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Phú Thọ và Yên Bái. Từ Hà Nội qua địa phận xã Thu Cúc (Phú Thọ) đi thẳng tiếp là lên đến đèo Khế. Vượt qua đèo Khế sẽ sang tới địa phận của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Trước đây, đèo Khế từng là “nỗi sợ hãi” đối với cánh tài xế và những người đi đường đêm. Sau khi được tu sửa lại, con đường đèo dài gần 30km không chỉ giúp giao thông thuận tiện mà còn trở thành điểm lui tới quen thuộc của dân mê phượt.

    Thác Mây thuộc xã Hương Cần, nằm cách trung tâm huyện Thanh Sơn khoảng 25km. Trên đỉnh núi Hem có một hồ nước nhỏ, nước từ đó đổ xuống sườn núi tạo thành suối Hem và nhiều tầng thác liên hoàn kế tiếp nhau, gọi là thác Mây. Thác Mây gồm 13 thác nước lớn nhỏ, trong đó thác cao nhất là thác Thượng với nhiều cột nước tung bọt trắng xoá. Những ngày trong xanh, hoà cùng màu xanh của núi rừng và màu xanh của trời là những dòng thác như giải lụa mềm giữa trời. Nhiều thác nước lớn nhỏ đã tạo nên những cung bậc âm thanh khác nhau, có thác nước đổ rào rào, có thác nước chảy róc rách giống như những bản nhạc của thiên nhiên. Tới gần thác, không khí như dịu mát hẳn, khác biệt với không khí bên ngoài, du khách có thể đắm mình trong dòng nước suối trong mát sau khi khám phá bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.

    Thác Mơ thuộc xã Cự Thắng, cách trung tâm huyện 15km. Trước đây, thác có tên gọi khác là thác Vạn Mơ nhưng lâu dần người ta gọi thác là thác Mơ. Ngay từ tên gọi của thác đã tạo cho du khách hình dung được khung cảnh mộc mạc, mà nên thơ. Đường vào thác được bao bọc bởi màu xanh của núi rừng, các loại hoa dại hai bên đường, góp phần tạo nên vẻ đẹp hoang sơ cho khung cảnh nơi đây.

    Thác Mơ có đến 9 tầng khác nhau, từ xa, đã nghe tiếng thác nước đổ rì rào như lời hát của các sơn nữ. Men theo con suối nhỏ để đến chân thác, du khách sẽ được đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên còn hoang sơ của đại ngàn. Thác được vây quanh bởi những ngọn núi xanh mát, hệ động thực vật nguyên sinh phong phú, đa dạng. Sau khi khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, du khách có thể nghỉ ngơi tại nhà sàn, thưởng thức các món ăn dân giã đặc sắc của đồng bào các dân tộc Thanh Sơn.

    Suối khoáng nóng Thanh Thủy

    Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy nằm trên địa phận các xã La Phù và Bảo Yên huyện Thanh Thủy, cách thành phố Việt Trì hơn 40km, giáp với Hà Nội, nằm bên tả sông Đà, đối diện với núi Ba Vì. Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là khu vực đắc địa sở hữu nguồn nước khoáng nóng cùng với các cảnh quan đẹp được coi là những tài nguyên vô giá của tự nhiên ban tặng cho Thanh Thủy để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Qua tài liệu nghiên cứu khoa học cho thấy, nước khoáng Thanh Thuỷ có nhiệt độ dao động trong khoảng từ 37ºC – 54ºC thuộc loại nước khoáng ấm – nóng. Trong nước khoáng có nhiều chất vi lượng như: Natri, Canxi, Magie, đặc biệt có hàm lượng chất Radon vừa phải để tạo nên một loại nước quý hiếm rất thích hợp cho việc tắm ngâm, phục hồi sức khoẻ và chữa bệnh.

    Sau khi ngăn đập, hồ Thượng Long hay còn gọi (hồ Ly) trở thành một trong 10 hồ có trữ lượng nước lớn nhất tỉnh, hồ có khả năng tưới cho trên 500ha lúa và cung cấp nước sinh hoạt cho hàng ngàn người dân ở xã Thượng Long, Nga Hoàng, Hưng Long, Phúc Khánh, Đồng Thịnh và thị trấn Yên Lập. Đập ngăn nước đã tạo nên một hồ nước xanh như viên ngọc giữa núi rừng.

    Hồ Ly được tạo từ hai khe nước là khe Ly và khe Chanh. Người dân địa phương đã lấy tên khe Ly đặt tên gọi cho hồ. Hồ Ly có vẻ đẹp non nước hữu tình mà thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nơi đây với cảnh đẹp yên bình thu hút nhiều bạn trẻ đến tham quan, chụp hình và trải nghiệm thú vị khi khám phá văn hóa dệt thổ cẩm, thưởng thức những đặc sản của bà con dân tộc người Dao, Mường tại địa phương.

    Tìm trên Google:

    • các địa điểm du lịch ở Phú Thọ
    • chơi gì khi đến Phú Thọ
    • phượt Phú Thọ có gì
    • cảnh đẹp Phú Thọ
    • danh lam thắng cảnh Phú Thọ
    • địa điểm du lịch tâm linh Phú Thọ
    • đến Phú Thọ nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Phú Thọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tour Du Lịch Miền Tây Phú Quốc 5 Ngày 4 Đêm
  • Mua Gì Khi Đi Du Lịch Nước Anh?
  • Du Lịch Đà Lạt Tự Túc Giá Rẻ
  • Tour Côn Đảo 3 Ngày 2 Đêm Giá Rẻ
  • Du Lịch Phú Quốc Bằng Đường Bộ
  • Các Món Ăn Ngon Ở Phú Thọ (Cập Nhật 01/2021)

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Địa Điểm Du Lịch Bí Ẩn Ở Phú Thọ
  • Quận 9 Có Gì Chơi Hấp Dẫn Giới Trẻ Sài Thành
  • Du Lịch Quy Nhơn Có Gì Chơi
  • Top 15+ Điểm Du Lịch Ở Singapore Đẹp Nổi Tiếng Phải Ghé
  • Top Địa Điểm Du Lịch Ở Singapore Mới Toanh 2022 Siêu Hấp Dẫn
  • Các món ăn ngon ở Phú Thọ

    Cùng Phượt – Sinh sống quần tụ bên triền sông Thao, sông Lô hiền hòa, cư dân Phú Thọ từ bao đời đã làm nên những vốn ẩm thực đậm đà, chỉ có ở vùng quê trung du này. Điều đặc biệt là các món ăn ngon ở Phú Thọ được tạo bởi từ chính bàn tay của người nông dân chân chất mà mộc mạc nghĩa tình. Ẩm thực vùng Đất Tổ Phú Thọ khá phong phú. Sự phong phú ấy được hiện rõ ở sự đa dạng của các món ăn, ở tính chất vùng miền, mỗi vùng quê trong tỉnh lại có những món ăn đặc trưng mang đậm đà bản sắc. Khi tìm hiểu về ẩm thực Phú Thọ, người ta thấy có ba loại rất đặc thù là món ăn gắn liền với lễ hội, văn hóa tâm linh, món ăn là đặc sản của vùng và món ăn thường ngày của người dân.

    Ẩm thực người Mường Phú Thọ

    Ẩm thực là một nét đẹp văn hóa, là sản phẩm đặc trưng do bàn tay và khối óc của con người tạo ra. Với người Mường ở Thanh Sơn, họ đã biết cách chung sống cùng thiên nhiên, những món ăn đơn giản, dân dã nhưng luôn hài hòa và gắn liền với thiên nhiên cũng như bản tính hiền lành và đôn hậu của con người xứ Mường. Cho đến nay, những giá trị văn hóa đó vẫn được đồng bào bảo tồn và phát huy. Một trong số các món ăn điển hình phải kể đến là cơm lam.

    Để làm ra được món cơm lam ngon và có dấu ấn riêng của dân tộc mình, người Mường thường rất cầu kỳ, kỹ lưỡng trong việc chọn nguyên liệu. Đầu tiên phải chọn đồ đựng là một ống nứa thon dài khoảng 20- 30cm, không to, không nhỏ, không quá dày cũng không quá mỏng. Vì nếu quá dày nướng sẽ rất lâu, lúc bóc sẽ rất tốn công, còn nếu quá mỏng sẽ dễ bị cháy. Điều đặc biệt nứa phải là cây còn non, bà con lấy luôn nước có ở trong từng đốt ống nứa để nướng cơm, người Mường cho rằng đó là thứ tinh hoa của đất trời còn vương lại. Ống nứa tươi xanh giúp lửa không bén vào gạo và chất nhựa trong vỏ sẽ ngấm sâu vào cơm làm cho cơm có vị ngọt và mùi hương tự nhiên.

    Tiếp theo là đến việc chọn gạo, đồng bào chọn loại nếp nương thơm, dẻo của vùng cao. Gạo trước khi được đem đi “lam” sẽ được ngâm khoảng 2- 3 tiếng, sau đó vo sạch, rắc ít muối và trộn đều rồi đổ vào ống nứa đã có sẵn nước. Khi gạo đổ vào, không nén chặt mà để cách miệng ống 5cm để khi gạo chín nở ra sẽ vừa khít miệng ống. Nếu thấy ống nứa có ít nước, có thể thêm nước xăm xắp mặt gạo. Nước này người Mường thường lấy nước trên những khe đồi, khe suối nhằm tạo nên vị ngọt mát. Sau đó, đem nút miệng ống lại bằng lá dong hoặc lá chuối. Đốt lửa dựng các ống quanh bếp, có thể nướng ống cơm lam bằng than củi, than tre hoặc rơm khoảng một giờ, khi cơm sủi thỉnh thoảng nhấc ra dằn mạnh ống xuống đất để gạo dồn xuống phía dưới cho hạt cơm săn chắc. Nước cạn, đặt ống nằm ngang và nướng xoay đều. Dùng ngón tay nhấn, thấy cơm mềm và có mùi thơm bốc lên là cơm đã chín. Lấy dao róc bỏ phần vỏ cháy bên ngoài. Đợi cho nguội hẳn bóc lớp vỏ còn lại sẽ để lộ ra lớp cơm vẫn được bao bọc bởi phần vỏ lụa trắng ngà của ruột tre, nứa khiến cơm lam có một màu sắc thuần hậu.

    Bánh trứng kiến người Mường

    Nếu như đối với những người dân tộc Kinh, vào ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch hằng năm thường tổ chức “Tết hàn thực” hay còn gọi Tết bánh trôi – bánh chay thì người Mường lại tổ chức ăn “Tết thanh minh” với món đặc sản là bánh trứng kiến.

    Theo quan niệm của người Mường, mỗi năm chỉ làm loại bánh này đúng một đợt vào lúc mặt trời đỏ nhất trong năm và cũng chỉ trong tháng ấy mới có loại trứng kiến mang hương vị khác lạ nhất so với các loại kiến làm tổ trên cây khác. Người Mường cho rằng thường bắt đầu từ tháng 3 âm lịch mặt trời sẽ đỏ rực nhất, đó là lúc những tổ kiến đen trên ngọn cây luồng, cây keo, cây nứa,… trong rừng có nhiều trứng nhất, theo kinh nghiệm của đồng bào, mặt trời càng đỏ thì trứng càng to nhanh, trứng ngon nhất khi nó to nhất thì bằng hạt gạo nương và có màu trắng hồng béo ngậy.

    Để làm món bánh trứng kiến, người Mường vào rừng tìm cây nứa, cây luồng có những tổ kiến to, có nhiều trứng. Người thì chặt tổ trên cây cho rơi xuống, người thì cho tổ vào mẹt đập nhẹ cho rơi trứng ra, người thì vừa kéo mẹt đi vừa bẻ cành lá cho vào để lừa kiến bò đi chỗ khác, sau đó sàng sẩy cho sạch vỏ tổ, còn lại những quả trứng kiến chắc, mẩy. Trứng kiến sau đó được rửa sạch, phơi khô.

    Những gia vị cho món bánh trứng kiến thêm thơm, ngon gồm có: Lóng chuối (nõn chuối rừng), rau đáu (rau răng cưa), rau dổi, lá kiệu cùng gạo tẻ đã được ngâm qua nước. Tất cả những nguyên liệu này được chộn lẫn với nhau, cho vào cối giã nhỏ, thêm gia vị (mắm, muối, mì chính) vừa đủ sau đó được nặn thành viên to gần bằng nắm tay, tán dẹt, cho trứng kiến vào giữa và dùng lá sung mật gói lại rồi cho vào nồi hấp hoặc đồ chín. Khi bánh đã chín, mang ra xếp vào rổ để nguội là có thể thưởng thức mà không cần chấm thêm bất kỳ gia vị nào.

    Bắp chuối lam sườn là món ăn truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc Mường. Hoa chuối rừng có trên khắp các các dãy núi, cánh rừng ở Yên Lập. Khi đi rừng người Mường thường hái bắp chuối mang về để chế biến thành nhiều món ăn khác nhau. Để làm món bắp chuối lam sườn, bắp chuối sẽ được thái mỏng, ngâm với dấm, sau đó vớt ra để ráo nước và với các trộn gia vị: muối, tiêu, lá thơm và thịt sườn băm (trước kia là thịt thú rừng băm nhỏ) cho vào ống nứa và lam đều tay (như lam cơm) trên lửa nhỏ hoặc than hồng. Khi lam chín món ăn có mùi thơm đặc trưng của hoa chuối rừng vị ngọt của thịt sườn, có thể ăn cùng cơm nóng hay làm dùng đồ nhắm rượu đều rất tuyệt.

    Văn hóa ẩm thực của người Mường hình thành từ những món đơn giản dân dã, in đậm hương vị núi rừng, sông suối như thịt, cá, măng, rau rừng… Trong số đó, sẽ là thiếu sót khi không nhắc tới gà nấu măng chua. Trong tiết trời lạnh của mùa đông rất thích hợp để thưởng thức món măng chua nấu gà với mùi vị chua dịu nhẹ và thịt gà mềm mượt. Món măng chua nấu gà từ lâu đã nổi tiếng. Với đồng bào Mường để thưởng thức món măng chua nấu thịt gà ngon thì không thể thiếu các loại rau ăn kèm như lá đu đủ, cải nương … ăn kèm thịt gà với các loại rau này sẽ tạo nên hương vị đặc sắc vị đắng lá đu đủ kết hợp với cay của rau cải nương cùng hương vị thơm ngon của măng chua nấu thịt gà sẽ tốt cho sức khỏe.

    Người Mường ở Thanh Sơn vốn sinh sống chủ yếu dựa vào thiên nhiên, gần những con sông, con suối nhỏ, chính từ sự che chở của thiên nhiên mà trong nếp nhà sàn của đồng bào luôn tồn tại nguồn thức ăn được chế biến từ nguyên liệu sẵn có nơi núi rừng. Bên cạnh sở thích ăn thức ăn có vị chua như: củ kiệu muối, quả cà muối chua, rau cải muối dưa, rau sắn muối dưa cá; vị đắng như: măng đắng; lá, hoa, quả đu đủ; rau đốm… thì đồng bào còn ưa dùng một loại củ rất đặc biệt có vị chát, đó là củ nâu.

    Món thịt nộm nâu được xem như món ăn “lạ” và đặc trưng của đồng bào Mường trên mảnh đất này. Để chế biến nên món thịt nộm nâu, tùy vào số lượng người ăn mà bà con chuẩn bị nguyên liệu vừa đủ. Đồng bào chọn thịt lợn loại lợn rừng nuôi thả rông, làm món nộm nâu thích hợp nhất là thịt nạc mông kèm theo một chút thịt ba chỉ. Củ nâu có hai loại: nâu vàng và nâu đỏ, nhưng làm món thịt nộm nâu đồng bào chọn loại nâu già màu đỏ thẫm, vì nâu đỏ món ăn sẽ ngon hơn, màu sắc sẽ hấp dẫn hơn.

    Nhắc đến ẩm thực của người Mường, thực khách thường nghĩ ngay đến những món ăn đơn giản, dân dã mang hương vị của núi rừng, sông suối như: món cá suối, thịt lợn rừng, măng chua… nhưng có lẽ ít ai đã được thưởng thức món rau rừng đồ. Với đồng bào dân tộc Mường ở vùng cao Thanh Sơn, từ những loại rau rừng bình dị, gần gũi trong vườn nhà, trên vách núi, đồng bào đã chế biến nên món rau rừng hết sức độc đáo, hấp dẫn mang đặc trưng riêng mà chỉ người Mường mới có.

    Rau đồ đạt tiêu chuẩn đòi hỏi phải giữ được màu xanh của các loại rau, màu trắng của quả cà rừng, của hoa đu đủ đực và màu nâu nhạt của hoa chuối rừng. Đồng thời, phải giữ được vị chát, đắng đặc trưng của rau ngải cứu, lá đu đủ. Rau đồ có thể xem như một món ăn rất truyền thống của người Mường, đồng bào đi làm nương về cũng có thể hái rau rồi làm món ăn này. Điều đặc biệt hơn, trong các loại rau rừng đồng bào đem đồ cũng là một trong những vị thuốc vì những loại rau rừng có vị đắng, chát vốn có tính nóng và có tác dụng rất tốt trong phòng chống cảm cúm, chống các loại gió độc, tăng sức đề kháng cho cơ thể…. Chỉ từ những sản vật của núi rừng mà người Mường Thanh Sơn đã chế biến thành những món ăn cực kỳ hấp dẫn mang hương vị đặc biệt.

    Bánh tai Phú Thọ hôm nay có từ thời xa xưa của làng Phú Thọ. Bánh tai có hình thù giống cái tai, là thứ bánh gạo tẻ, nhân thịt lợn, dễ làm bởi quy trình không mấy phức tạp, dụng cụ không cầu kỳ nhưng không phải ai cũng làm được.

    Bánh tai Phú Thọ chủ yếu là thứ ăn sáng. Ra chợ phường (như chợ phường Hùng Vương hiện nay) định ăn bánh tai, ta phải tìm đến bà hàng không quán, bánh đựng trong thúng ủ kín. Ngon nhất là ăn tại chỗ, kiểu dân dã. Bánh tai vừa lấy ra còn hơi nóng, lót tay bằng mảnh lá chuối hoặc cầm tay không, từ từ ăn mới thấm hết cái đặc điểm và mùi vị của bánh: cảm giác dẻo mát, giòn, bùi, ngọt, béo, thơm hòa quyện trong từng miếng.

    Gà gáy là tên một giống lúa nếp quý hiếm, là đặc sản nổi tiếng của huyện Yên Lập có từ rất lâu đời. Loại nếp này là giống lúa dài ngày, được trồng trên những ruộng bậc thang, hạt dài, mẩy, lúa chưa chín nhưng chỉ đi qua cánh đồng lúa người ta đã được đắm mình trong hương lúa non ngào ngạt đến mê người. Khi nấu, cơm thơm, dẻo, mùi vị ngon đặc trưng.

    Để có một nồi xôi nếp Gà gáy ngon thì gạo phải được đãi sạch, không cần ngâm nước lâu nhưng xôi vẫn dẻo, mềm, thơm. Cho gạo vào trõ, lấy cám gạo tẩm ít nước vào rồi chát kín trõ xôi không cho nó phì hơi ra ngoài. Cứ thế đun khoảng 2 tiếng thì nhấc ra. Xôi nếp “gà gáy” mà ăn với muối vừng do bà con dân bản trồng trên nương thì ngon tuyệt vời. Mùi muối vừng thơm nức cùng với hương thơm ngon ngọt, nồng nàn của xôi, tất cả hòa quyện vào nhau tọa nên mọt món ăn rất đỗi gần gũi, mộc mạc mà khó quên. Xôi nếp Gà gáy được dùng để đãi khách quý, nấu rượu trong những ngày lễ lớn, quan trọng.

    Không biết món cuốn cão ở làng Sỏi (Thạch Sơn, Lâm Thao) có từ bao giờ, ai là người đầu tiên sáng tạo nên món ăn đặc biệt ấy. Xưa kia người dân nơi đây gọi con tôm càng là con cão, cách gọi tên này ngày nay vẫn còn không ít người trong làng sử dụng. Món ăn là sự tổng hợp của nguyên liệu, nhiều màu sắc với màu đỏ của tôm, màu xanh của rau thơm, củ kiệu, màu trắng của thịt ba chỉ luộc và bún, giò lụa, màu vàng của trứng rán… Những con tôm được lựa chọn to chừng ngón tay út, đều nhau được rang lên phải đạt độ giòn và ngả màu hơi đỏ. Củ kiệu để cả lá, nhặt bỏ rễ và đem luộc chín. Trứng rán, thịt lợn ba chỉ luộc, giò lụa và bún, tất cả được thái thành miếng nhỏ dài để dễ xếp và dễ cuốn với kiệu. Để có một miếng cuốn cão ngon vừa miệng, người ta xếp các loại thực phẩm đã thái sẵn mỗi loại một miếng cùng một ít rau mùi sau đó dùng lá của củ kiệu cuốn lại.

    Việc trồng sắn, vừa lấy củ, vừa tận dụng lá để nuôi tằm đã đem lại nguồn thu nhập lớn cho người dân ở xã Đồng Lương, huyện Cẩm Khê …Nuôi tằm ở xã Đồng Lương vừa bán được kén, vừa bán được nhộng để làm thức ăn.

    Vùng đất cổ Thanh Sơn (Phú Thọ) được nhắc đến với văn hóa ẩm thực đa dạng, phong phú mà chỉ mới nghe tên các món ăn mà ai nấy cũng đã xốn xang: “Lạ lùng rêu đá, đậm đà thịt chua”. Nhắc tới món thịt chua Thanh Sơn bạn sẽ nghĩ ngay đến mùi vị bùi bùi của thịt, sần sật của bì nướng hoà quyện với vị chua chua của vị thính đã lên men, vị chát ngọt của lá cây vô cùng dễ ăn giúp thay đổi khẩu vị, có thể dùng làm mồi trong các bữa nhậu rất đặc sắc và thơm ngon.

    Nguyên liệu để chế biến món thịt chua gồm: thịt lợn mán, thính ngô, thính đỗ, các loại gia vị như: muối, đường, tỏi, ớt,… Quy trình làm thịt chua với rất nhiều công đoạn: thui cho lợn vàng đều, quay cho thịt lợn gần chín tới, những vùng thịt ngon nhất của con lợn như: thịt ba chỉ, thịt mông sấn, thịt nạc vai, nạc thăn sẽ được đem thái lát mỏng, ướp một chút muối gia vị, trộn đều với thính ngô, đỗ sao cho bột thính bám thật đều trên bề mặt các miếng thịt. Công đoạn tiếp theo là chuẩn bị những chiếc thau to rửa sạch, để khô, lót lá ổi, lá sung xuống dưới rồi cho thịt đã được ướp thính vào, đậy lớp lá ổi lên trên bề mặt và đậy chặt lại. Sau 5 – 7 ngày khi ăn miếng thịt khô, tơi, chua, ngọt, thơm ngậy vừa miệng là có thể dùng được. Người ta thường ăn thịt kèm với các loại lá như: lá sung, lá ổi, lá mơ, lá đinh lăng, rau thơm,… chấm kèm với tương ớt sẽ cảm nhận được hết hương vị vô cùng độc đáo, mới lạ mà món ăn đem lại.

    Muốn ăn rêu sạch, non phải chọn nơi nước suối chảy xiết, có nhiều tảng đá to (nơi rêu bám vào để phát triển). Rêu được “bắt” thành từng dây dài, tùy từng khúc suối sâu hay nông mà có màu xanh lục hay xanh non. Rêu được bỏ vào rổ, giặt qua nước suối nhằm loại bỏ cát hoặc chất bẩn, bỏ lên một tảng đá to, có mặt bằng phẳng rồi dùng một khúc gỗ to để đập. Sơ chế rêu cũng đòi hỏi phải có tính kiên nhẫn vì phải giặt và đập rêu tới vài lần mới sạch. Cả một rổ rêu đá lúc này chỉ còn đủ dùng trong một bữa. Màu rêu đá xanh đậm, sờ vào mềm và mát như lụa.

    Rêu đã làm sạch được tẩm ướp gia vị. Đó là tỏi thái mỏng, muối, mì chính, cộng thêm hành và chút mỡ lợn rồi trộn đều, dùng lá dong gói thành nhiều lớp buộc chặt lại. Thông thường món ăn này được làm vào buổi tối vì đó là lúc có mặt đông đủ mọi thành viên trong gia đình. Bên bếp lửa bập bùng, họ vừa nấu cơm, vừa vùi rêu vào than hồng. Lớp lá dong bén lửa bốc lên mùi cay cay, thơm thơm. Đợi đến khi lớp lá bên ngoài chuyển thành màu đen, họ mới bóc từng lớp lá ra. Mùi tỏi và hành quyện với mùi nồng nồng của rêu đá tạo nên một hương vị rất riêng. Rêu giờ đây giống như món tảo biển có vị ngầy ngậy, mềm mềm, ngon mà không ngấy.

    Đến với Vườn quốc gia Xuân Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ du khách không chỉ ấn tượng bởi vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, mà còn được tận mắt ngắm nhìn giống “gà chín cựa” hay còn gọi gà nhiều cựa. Tưởng rằng chỉ có trong truyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh, nhưng giống gà này vẫn được người Dao Tiền tại vùng lõi Vườn quốc gia Xuân Sơn nuôi dưỡng và phát triển, chúng được sùng kính gọi là “Gà Chúa”.

    Những chú gà nhiều cựa ở đây sống trong môi trường tự nhiên, đôi khi kết bạn gà rừng, có lẽ vì thế mà thịt gà nhiều cựa rất ngon và rắn chắc. Món gà đặc sản này khi người dân thiết đãi khách gà thường mang hấp lá chanh hoặc ướp mật ong rừng và một số loại lá cây gia vị tẩm ướp rồi nướng trong bếp than đỏ, khi thưởng thức mang lại cho chúng ta một hương vị thơm ngon tuyệt hảo đặc trưng của núi rừng.

    Phú Thọ là vùng đất có nhiều sông suối, ao hồ nên từ lâu cá đã trở thành một món ăn quen thuộc của mảnh đất này. Ngoài các cách chế biến thông thường như cá kho tương, kho trám, cá rán, nấu canh chua…người dân nơi đây còn tinh tế chế biến ra một món ăn độc đáo là cá thính. Cách chế biến này không những tạo nên một món ăn có hương vị độc đáo mà còn giúp bảo quản cá mỗi khi người dân đánh bắt được nhiều. Với phương thức gia truyền truyền từ đời nay sang đời khác, cá thính đã trở thành một món đặc sản của mảnh đất trung du không biết tự bao giờ.

    Để làm được một mẻ cá thơm ngon phải đòi hỏi sự kì công, tỉ mỉ, khéo léo và tinh tế của người làm ra nó. Khi cá được bắt về, người ta mổ cá, để nguyên vẩy, làm sạch phía bụng cá và thái vừa miếng, sắt đôi cho miếng cá mỏng để dễ ngấm gia vị. Sau đó, dùng thính đã xay mịn trộn vào cá đã ướp muối và xếp cá vào chum hoặc vại. Cuối cùng, úp ngược lọ xuống một cái chậu đựng nước muối sao cho “vung” mo cau không chạm vào nước. Để khoảng 3 tuần có thể mang ra ăn được. Muốn cá thính thơm ngon hơn, người ta cho thêm vài lá ổi vào cùng. Sau một thời gian, lấy cá ra cạo sạch thính cũ và cho thính mới vào. Miếng cá phải khô, chặt thịt, thơm dậy mùi thính và lá ổi mới đạt yêu cầu. Cá thính để càng lâu càng ngon hơn.

    Cá ướp thính thường chỉ rán hoặc nướng. Nhưng món cá nướng luôn được chuộng hơn cả bởi nó có mùi thơm đặc trưng của thính quyện vào mùi than, mùi khói. Cách nướng cá cũng thật đặc biệt. Không nướng cá trực tiếp trên than hồng, mỗi miếng cá được cặp vào một thanh tre tươi. Từng cặp cá đem cắm xung quanh bếp lửa than hồng. Lửa than tỏa ra, cá chín dần dần bằng hơi nóng tỏa ngang, thỉnh thoảng lại xoay đảo qua, đảo lại cho hai mặt cá chín đều. Cá nướng như vậy không bao giờ bị cháy. Mùi thơm của thính đỗ tương, gạo nếp, cộng với mùi cá chín vàng bay ra thật quyến rũ.

    Măng rừng có ở nhiều nơi nhưng măng Sặt là giống măng rừng không phải vùng nào cũng có. Từ lâu rồi, măng Sặt mọc nhiều trên núi Buộm, dãy núi cao nhất ở Ấm Hạ. Loại măng này có đặc điểm thân nhỏ bằng đầu ngón tay cái, dong dỏng cao, lá nhỏ, sinh sản nhanh.

    Cá nheo là loài cá da trơn sống ở ao hồ, sông ngòi vùng trung du Hạ Hòa. Rất hiếm khi người đồng quê nơi đây bắt được những chú cá quanh năm sống lẩn dưới bùn nước sâu này để chế biến món ăn. Cá nheo đồng được người dân miền trung du Hạ Hòa chế biến thành những món ăn đậm đà dư vị. Vì đây là loại cá da trơn nên khó lòng chế nheo thành món luộc, món hấp hay nấu canh. Người sành ăn từ lâu đã biết chế nheo thành hai món khá hấp dẫn là nheo nướng và nheo om trái chuối xanh.

    Vào khoảng tháng 11, 12 âm lịch là mùa cọ chín, người dân ở huyện Phú Thọ lại lựa những quả cọ nếp để làm xôi. Món ăn này từ lâu đã trở nên thân thuộc và người dân nơi đây đi đâu cũng nhớ về.

    Để làm xôi cọ, người ta thường chọn các quả cọ nếp có vị béo và ngậy. Cọ tẻ cũng có thể làm được xôi nhưng thường không ngậy và dẻo. Quả cọ được rửa sạch và xóc cho tróc vỏ, bớt vị chát rồi cho vào nồi nước đun cho đến khi chín, gọi là ỏm cọ. Sau đó cọ được tách ra lấy phần thịt màu vàng để nấu xôi.

    Gạo nếp dùng để nấu cũng phải được chọn kỹ càng thì xôi mới dẻo, thơm, hạt bóng mẩy. Gạo được ngâm nước qua đêm sau đó vo sạch, cho thịt cọ vào bóp nhuyễn, thêm một chút muối thêm phần đậm đà.

    Phù Ninh là vùng quê nổi tiếng với cây cọ. Đời sống người dân nơi đây bao đời gắn với cây cọ. Bên cạnh nón lá cọ, mành cọ, ở đây còn có một đặc sản là cơm nắm lá cọ.

    Để có nắm cơm lá cọ, phải tìm những lá cọ non của những cây cọ mới mọc thấp ngang thắt lưng. Tàu lá cọ nhỏ bằng miệng nón, còn phớt xanh hoặc chưa xòe hết. Mang lá cọ cắt bớt tua lá xung quanh, lau rửa sạch, để cho ráo nước. Cơm nấu chín, xới ra, dùng khăn ướt hoặc tay nhúng nước lạnh nắm tròn lại, lăn cho kỹ, cho nhuyễn, tùy khẩu phần ăn cho một hay nhiều người mà chia thành nắm to, nắm nhỏ. Sau đó cho vào tàu cọ, túm lại buộc một đầu, lăn qua lần nữa cho chặt. Cơm nắm lá cọ thường được người dân Phù Ninh mang theo khi đi làm đồng, đi buôn bán hay đi học xa trong những tháng ngày còn khó khăn.

    Cứ đến cữ tháng 9 cây cọ bắt đầu ra hoa và đến vài ba tháng sau thì cho quả. Quả cọ non thì chưa om được, phải đợi đến khi quả cọ già, da chuyển màu xanh sậm. Quả cọ rửa qua, cho vào nồi lưng lưng nước, đặt lên bếp, đun nhỏ lửa. Cái giống cọ không ưa to lửa, bởi nếu ai nóng ruột đun lửa to cho chóng chỉ có làm hỏng món cọ om mà thôi, bởi khi ấy cọ rất chát, lửa càng to thì cọ càng chát. Vậy nên khi đun nhỏ lửa, vị chát của cọ được “thôi” ra, cho đến khi thấy quả cọ mềm là được. Cọ om ăn bùi, ngậy không kém trám om. Cầu kỳ hơn, cọ om đem kho cá, nêm gia vị ăn cũng rất lạ.

    Làng Dòng (Xuân Lũng, Lâm Thao) nức danh khắp vùng trung du đất Tổ với nghề làm bánh truyền thống đã tồn tại hàng mấy trăm năm, vẫn đang được người dân nơi đây gìn giữ và phát triển. Các loại bánh của làng Dòng vừa ngon, vừa đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm, luôn được đông đảo người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh yêu thích.

    Bánh chưng được gói từ gạo nếp cái hoa vàng, dẻo thơm đậm đà hương vị; bánh nẳng được làm cầu kỳ từ gạo nếp với nước cốt các loại lá thơm, mầu đỏ đậm, có độ trong và dẻo, chấm với mật mía đem lại cho du khách cảm giác mát giọng, ngọt ngào; bánh gai dẻo mềm hương vị của lá gai, bùi béo của mứt sen trần, của lạc rang, của cùi dừa; bánh đúc giòn, đậm đà vị tương quê, thêm lạc rang bùi ngậy thơm nồng; bánh giày mịn màng, dẻo thơm, ngọt dịu…

    Để làm ra những chiếc bánh ngon, trước tiên phải chọn được nguyên liệu tốt đó là loại sắn nếp củ trắng, thân mập có nhiều bột, vị ngọt thơm, khi luộc sắn bở tung trắng xốp. Cách làm loại bánh này khá đơn giản: Sắn bóc vỏ, rửa sạch, lọc bỏ xơ dùng bàn mài sắn thành bột đánh nhuyễn. Vắt lấy bã còn nước để lắng gạn lấy tinh bột rồi nhào bã cùng tinh bột cho mịn nhuyễn, nắn thành từng chiếc bánh nhỏ xinh. Nhân bánh gồm: Thịt mỡ, hành tươi, đỗ xanh bỏ vỏ nấu chín. Phi hành mỡ thơm cùng đỗ xanh, thịt mỡ nêm gia vị cho vừa để làm nhân bánh. Bột sắn nặn thành những chiếc bánh xinh xinh hình tròn hoặc khum dẹt, dùng lá chuối bọc bên ngoài từng chiếc bánh để khi xôi bánh không bị dính vào nhau. Lần lượt xếp bánh vào nồi đồ xôi. Đun nồi xôi nhỏ vừa để bánh chín đều. Sau 40 phút bánh sẽ lên mùi thơm ngậy của sắn nếp và nhân đậu thịt. Khi bóc chiếc bánh, bên ngoài có màu xanh nhạt từ màu xanh của lá chuối, bên trong bánh có màu trắng và ở giữa là nhân.

    Đặc sản Phú Thọ mua về làm quà

    Mùi thơm hấp dẫn, vị đậm ngọt, béo ngậy và màu vàng sánh của tương Dục Mỹ khiến cho những ai từng thưởng thức sẽ không quên được hương vị tương quê đặc biệt nơi đây

    Những nguyên liệu để tạo nên tương Dục Mỹ là gạo nếp, đậu tương, muối và nước. Tuy quy trình làm tương nơi đây không có gì khác so với quy trình làm tương truyền thống: phơi mốc, ủ mốc, lên men…nhưng có lẽ chính do nguồn nước ngọt được lấy từ độ sâu hàng trăm mét dưới lớp đá ong dày đã tạo nên mùi vị đặc biệt cho loại tương này.

    Bưởi Đoan Hùng là giống bưởi đặc sản nổi tiếng tại Phú Thọ và khắp miền Bắc. Loại trái cây đặc biệt này được trồng tại vùng đất Đoan Hùng, xưa còn gọi là “bưởi Phủ Đoan”, là loại cây trồng lâu năm, có quả hình cầu dẹt, nặng chưa đầy 1 kg, khi quả chín màu vàng sáng, tép nhỏ, vỏ héo, mềm, đặc trưng mọng nước, ngọt và mát. Món ẩm thực đất Tổ này còn quý ở chỗ có thể bảo quản được vài tháng đến nửa năm, ngay cả khi vỏ đã héo khô, khi bổ ra ăn vẫn ngọt, thơm mát, vẫn giữ nguyên hương vị.

    Tại Đoan Hùng hiện nay vẫn còn giữ được hai giống bưởi quý đó là: bưởi Chí Đám và bưởi Bằng Luân. Cách đây khoảng 300 năm bưởi Bằng Luân được trồng nhiều nhất ở hai xã Bằng Luân và xã Quế Lâm của huyện Đoan Hùng. Bưởi Chí Đám rất ưa đất phù sa, loại này có nguồn gốc từ việc gây giống cây bưởi của nhà lão nông có tên là ông Sửu cách đây trên 200 năm, nên bưởi còn có tên gọi là bưởi Sửu.

    Hồng Gia Thanh có nguồn gốc ở Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, được dân di thực về trồng tại các vườn hộ gia đình thuộc xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh ít nhất từ 50 – 70 năm trở lại đây, có những cây đã gần 70 tuổi. Hiện trên địa bàn huyện Phù Ninh đang có khoảng 50ha diện tích trồng Hồng mang lại thu nhập cho người dân.

    Mỗi vùng đất với điều kiện thổ nhưỡng khác nhau nên đã đem lại cho sản phẩm chè Phú Thọ nhiều hương vị đặc trưng riêng. Đến nay, sản phẩm chè của Phú Thọ đã được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới và được đông đảo người tiêu dùng trong nước biết tới.

    Tìm trên Google:

    • các món ăn ngon ở Phú Thọ
    • đặc sản Phú Thọ làm quà
    • ăn gì khi du lịch Phú Thọ
    • các quán ăn ngon ở Phú Thọ
    • đến Phú Thọ nên ăn gì
    • địa điểm ăn uống Phú Thọ
    • ẩm thực Phú Thọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Oxford Dành Cho Người Mới Đến Lần Đầu
  • Khám Phá Những Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Osaka
  • Top 7 Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Osaka Nhật Bản Nên Đến Một Lần Trong Đời
  • 5 Địa Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Ở Osaka
  • Địa Điểm Du Lịch Miền Nam Mùa Hè Bạn Không Nên Bỏ Lỡ
  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Phú Thọ (Cập Nhật 01/2021)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Đồ Tỉnh Phú Thọ Về Du Lịch Và Quy Hoạch
  • Bản Đồ Du Lịch Phú Yên
  • Bản Đồ Du Lịch Phú Yên【Update 2022】
  • Bản Đồ Du Lịch Phú Yên: Đầy Đủ, Chi Tiết Nhất (Cập Nhật 2022)
  • Lịch Trình Đi Phượt Hà Giang (Cập Nhật 01/2021)
  • Các địa điểm du lịch ở Phú Thọ

    Cùng Phượt – Phú Thọ được biết đến là cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt, trung tâm sinh tụ của người Việt Cổ, thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nơi đây vẫn giữ được dấu ấn của những buổi đầu bình minh dựng nước của dân tộc. Với hệ thống các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú: 1.372 di tích lịch sử văn hóa (trong đó Khu di tích lịch sử Đền Hùng là Di tích quốc gia đặc biệt), cùng với “Hát Xoan Phú Thọ”, “Ca Trù”, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đến với các địa điểm du lịch ở Phú Thọ để được trải nghiệm nét văn hóa độc đáo với nhiều di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử, lễ hội dân gian, các loại hình nghệ thuật đặc sắc gắn liền thời đại các Vua Hùng, cội nguồn dân tộc Việt Nam.

    Đền Hùng là tên gọi khái quát của Khu di tích lịch sử Đền Hùng – quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

    Đền Quốc Tổ Lạc Long Quân

    Đền Quốc tổ Lạc Long Quân được xây dựng tại đồi Sim, cách núi Nghĩa Lĩnh khoảng 1 km, nơi có vị trí đắc địa, có thế “sơn chầu thuỷ tụ”. Đồi Sim có hình thế giống một con rùa lớn, hai bên có Thanh Long, Bạch Hổ, phía trước là hồ Hóc Trai và sông Hồng chảy xuôi về biển. Ngôi đền tọa lạc trên lưng rùa biểu hiện sự linh thiêng huyền diệu.

    Đền chính có diện tích 210m2, kiến trúc kiểu chữ đinh truyền thống, nội thất bằng gỗ lim, sơn son thếp vàng, mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch Bát Tràng, bó vỉa đá xanh. Hậu cung đặt tượng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân dáng vẻ uy nghiêm. Tượng được đúc bằng đồng, nặng 1,5 tấn, cao 1,98m ở tư thế ngồi trên ngai, đặt trên bệ đá chạm khắc hoa văn theo mô típ văn hóa Đông Sơn. Hai bên là tượng Lạc hầu và Lạc tướng ở tư thế đứng có chiều cao 1,80m, mỗi pho nặng 0,5 tấn.

    Cổng đền (nghi môn) cũng được xây dựng theo kiểu truyền thống, gồm có 4 cột, cổng chính rộng 4,2m, cổng phụ rộng khoảng 2m. Cổng được xây dựng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh chạm họa tiết hoa văn 4 mặt. Phía trước nghi môn là cổng biểu tượng cũng có kết cấu cột bê tông cốt thép ốp đá và chạm khắc. Hai bên sân đền là nhà tả vu, hữu vu xây dựng 5 gian, khung gỗ lim, lợp ngói mũi hài. Hai trụ biểu đối xứng nhau cũng bằng bê tông cốt thép, phía ngoài ốp đá xanh. Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân được Nhà nước đầu tư xây dựng đồng bộ các hạng mục công trình kiến trúc, các họa tiết trang trí được mô phỏng theo hoa văn trên trống đồng Đông Sơn được cách điệu như: Hình ảnh người giã gạo, hình ảnh chim lạc… thể hiện sinh động, độc đáo mang nét kiến trúc đặc trưng riêng của ngôi đền tôn thêm sự uy nghiêm, linh thiêng.

    Nằm trên đường Trần Phú, bên bờ hồ công viên Văn Lang – trung tâm của thành phố Việt Trì – Bảo tàng Hùng Vương được ví như một “cuốn sử bằng hiện vật” thu hút đông đảo du khách thập phương đến tham quan, tìm hiểu và khám phá các giá trị độc đáo, riêng có về lịch sử, văn hóa của vùng đất Tổ cội nguồn.

    Khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót

    Phường Bạch Hạc, phường Bến Gót nằm ở phía Nam thành phố Việt Trì, cửa ngõ nối liền giữa Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

    Bến Gót ngày nay thuộc phủ Tam Đới xưa, còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, các truyền thuyết, chuyện kể về quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta như: “Hoa Long Thiền Tự” xưa ở bến sông Thông, cạnh chùa có một tảng đá ven sông, trên mặt còn hằn vết gót chân. Tương truyền, đây là nơi Lạc Long Quân lập đàn tế trời và đã được tiên ông từ trên trời xuống, ngồi trên tảng đá này, đặt tên, phân định anh em cho một trăm người con do Âu Cơ sinh ra, sau nơi đây buôn bán kinh doanh sầm uất, trên bến dưới thuyền mới có tên là Bến Gót, Đình Bạch Hạc còn có tên là đình thôn Việt Trì là nơi thờ các vua Hùng, Đền Lang Đài là nơi hai chàng Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đấu võ, Miếu Hà Thần là nơi thờ thần Sông đã có công giúp vua Trần Minh Tông đánh Man Đà Giang dẹp yên bờ cõi, Đền Bạch Hạc là nơi thờ thổ lệnh có tên huý là Trần Lan và em là Thạch Khanh tên huý là Trần Bảo có phép thuật thần y, chữa được bách bệnh cho nhân dân, sau hoá thần ở Tam Thanh Quán bên bờ sông Bạch Hạc, được phong làm thần thiêng ở ngã ba sông Hạc….. Ngoài ra trên mảnh đất này còn tồn tại rất nhiều sự tích ly kỳ, nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Hội bơi chải, Hội giã bánh dầy,… nói lên sự hình thành tên làng, tên xóm, tên sông, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của của nhân dân ta gắn liền với nền văn minh sông Hồng và nền văn minh lúa nước.

    Với diện tích 100 ha, khu Du lịch Bến Gót được chia thành 2 phần ở bờ Bắc và bờ Nam sông Lô, trong đó phần lãnh thổ phía Bắc (thuộc phường Bến Gót) là chủ yếu. Khu du lịch có đặc trưng điển hình của vùng trung du Bắc Bộ, với địa hình nhấp nhô, phần đất phía Bắc có vị thế như một bán đảo quay về hướng Đông Nam, tạo nên hình ảnh về bến nước, dòng sông. Đặc biệt là sự gắn kết hài hoà giữa đồi núi, cây cối, sông nước tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, thích hợp để xây dựng khu du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, vọng cảnh. Khu du lịch Bến Gót bao gồm những thành phần chủ yếu như: vui chơi giải trí, thể thao, nhà vườn, cắm trại, khách sạn, nhà nghỉ, câu cá, trại sáng tác, lầu bình thơ,… được tổ chức tạo thành trục chủ đạo đi từ cổng chính đến khu lầu tưởng niệm và vọng cảnh phía bờ sông, kết thúc là Lầu Bạch Hạc.

    Lầu Bạch Hạc được xây dựng theo hướng vươn cao vừa tượng trưng cho đàn tế trời vừa là nơi du khách có thể ngắm cảnh xa xa, dưới tầng lầu có bia tưởng niệm 100 người con của Lạc Long Quân – Âu Cơ, giúp cho du khách hiểu rõ hơn nguồn gốc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh Lầu Bạch Hạc được tái dựng tảng đá lưu vết chân và hình dáng tiên ông phân định ngôi thứ, mở đầu cho sự hưng thịnh, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần đất phía Nam chủ yếu dành cho các di tích lịch sử và thể thao nước truyền thống, một phần dành cho các nhà nghỉ nhỏ dưới dạng vườn nông thôn, vườn sinh thái…

    Nằm trong địa phận của kinh đô Văn Lang xưa, đền Thiên Cổ uy nghiêm ngự trên một quả đồi nhỏ thuộc thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là ngôi đền thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang, người thầy giáo đầu tiên của dân tộc đã có công dạy dỗ hai công chúa Tiên Dung – Ngọc Hoa con vua Hùng Vương thứ 18.

    Tương truyền, thầy giáo Vũ Thê Lang quê ở Mộ Trạch, Hải Dương cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thục, quê ở Đông Ngàn, Kinh Bắc lên kinh đô Văn Lang dạy học từ thời Hùng Vương thứ 18. Hai người tạ thế cùng một giờ, một ngày mồng 2 tháng 2 năm Quý Dậu (năm 228 trước Công nguyên). Đến nay phần mộ của hai vợ chồng thầy cô vẫn còn được nhân dân giữ gìn và bảo vệ cẩn thận ở trong ngôi đền. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, ngôi đền vẫn được người dân thôn Hương Lan, xã Trưng Vương hết lòng bảo vệ.

    Đền Tam Giang – Chùa Đại Bi

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi thuộc phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Ngôi đền nằm bên tả ngạn nơi hợp lưu của ba dòng sông: sông Hồng, sông Lô, sông Đà mà xưa nay nhân dân vẫn quen gọi là ngã ba Hạc. Đây là một thắng cảnh đẹp của vùng đất Tổ, thu hút đông đảo du khách đến tham quan và lễ bái.

    Khu di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Tam Giang, chùa Đại Bi là cụm di tích hoàn chỉnh, thống nhất, gồm có: đền Tam Giang, đền Mẫu, chùa Đại Bi, vết chân Thổ lệnh Cao quan Bạch Hạc Đại Vương, bến bơi chải, tượng đài Chiêu Văn Vương Tả Thánh Thái Sư Trần Nhật Duật và bức phù điêu 18 ngôi chùa tiêu biểu của Phật Giáo Việt Nam.

    Đền Tam Giang thờ nhân vật lịch sử huyền thoại thời Hùng Vương dựng nước là thần Thổ Lệnh, ông là thần làng – thần sông Bạch Hạc đã có công chu du thiên hạ tìm phương thuốc quý chữa trị tật bệnh cho muôn dân, khi mất lại linh ứng giúp cho các tướng lĩnh đánh giặc ngoại xâm giữ nước. Chùa Đại Bi, ngôi chùa cổ do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật và cháu gái là công chúa Thiên Thụy xây dựng từ đời Trần (năm 1328) đã có gần 700 năm tuổi.

    Hùng Lô xưa là vùng đất trù phú, có lịch sử phát triển lâu đời. Đình Hùng Lô là quần thể di tích có giá trị văn hóa, lịch sử nổi bật trên vùng Đất Tổ, niên đại khoảng hơn 300 năm. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình vẫn bảo tồn được nguyên vẹn giá trị kiến trúc, văn hóa, lịch sử: Ngôi miếu cổ, tòa Đại đình, Long đình, nhà Tiền tế, lầu chuông, lầu trống, nhà thờ Phật, bệ thờ thần nông, nhà Văn chỉ và nhà Yến lão.

    Đình Hùng Lô, thuộc làng cổ Hùng Lô, nằm dọc ven sông Lô, cách Đền Hùng chừng 10km về phía Đông. Đình Hùng Lô được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1990. Tương truyền, đây là vùng đất thiêng, nơi Vua Hùng từng nghỉ chân trong một lần đi du ngoạn. Về sau, dân lập miếu thờ, đến đời Lê Hy Tông (1697), đình được xây dựng, hướng về núi Nghĩa Lĩnh…

    Một điểm đặc sắc đáng lưu ý nữa, đình Hùng Lô rất nổi tiếng về truyền thống trong lễ hội rước kiệu Đền Hùng từ xưa đến nay. Năm Mậu Ngọ (1918), đình Hùng Lô đã được thưởng “Kỷ niệm Hùng Vương đệ nhất hội”; hiện nay, biển thưởng này vẫn được trang trọng lưu giữ trong đình. Vào dịp lễ hội Đền Hùng hằng năm, đến đình Hùng Lô, du khách sẽ được hòa mình trong lễ rước kiệu quy mô rất hoành tráng của trên 200 nam trung, đi đến đâu náo động cả một vùng đến đó. Cuộc rước sẽ đi từ đình làng đến Đền Hùng; trở về từ Đền Hùng, các lễ tế tại đình làng mới được tiến hành, sau cùng là thụ lễ tại nhà Yến lão.

    Đền Tiên Cát và Chùa Cát Tường nằm bên bờ sông Hồng thuộc khu phố Anh Dũng, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì. Đền Tiên thờ Mẫu Thần Long Hồng Đăng Ngạn- Hoàng Hậu nước Xích Quỷ, vợ vua Kinh Dương Vương, mẹ đẻ của Vua Lạc Long Quân. Người đã sát cánh cùng chồng trong buổi đầu dựng nước, trong việc dạy dỗ nhân dân và người đã được vua Kinh Dương Vương phong làm “Vi Cung Chính Khổn” thưởng cho cung Tiên Cát. Khi người mất nơi đây được chuyển thành Tiên Cát lăng được nhân dân trông nom gìn giữ suốt mấy nghìn năm.

    Quần thể Lộc Vừng ở Cẩm Khê

    Quần thể lộc vừng được công nhận là cây di sản nằm tại Gò Thờ, xã Chương Xá, huyện Cẩm Khê. Từ xa, quần thể lộc vừng như một chậu cây cảnh khổng lồ hay một khu rừng rậm rạp. Quần thể lộc vừng này có hơn 80 cây, nằm trên một quả gò chỉ rộng chừng 500 m2, trên đầm Láng Chương, hay còn gọi là gò Vình. Rất ít tài liệu ghi chép chính xác số tuổi của quần thể lộc vừng này, nhưng nhiều người ước tính nó đã hơn 1.000 năm tuổi.

    Nằm trên khu vực của thị trấn ấm Thượng, xã Yên Sơn. Đầm Ao Châu có diện tích mặt nước trên 300 ha nổi lên giữa một vùng đồi trung du, tạo nên 99 ngách ăn sâu vào một vùng đồi gò rộng lớn với diện tích trên 1000ha. Nước trong đầm luôn trong xanh và sạch, độ sâu của nước trung bình từ 8 đến 10m, chỗ sâu nhất là 15m. Những quả đồi đất nổi lên giữa đầm nước mênh mông được trồng các loại cây bản địa như chè, cọ đặc biệt là các đồi vải chín đỏ vải vào mùa hè hàng năm tạo nên bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp. Vùng núi và đồi ven hồ là những rừng cây xanh tốt tạo nên một cảnh quan rất thơ mộng.

    Đầm Ao Châu đã được quy hoạch để xây dựng thành một khu du lịch sinh thái với hệ thống các khách sạn sang trọng, các khu nghỉ dưỡng với các trò vui chơi giải trí như bơi thuyền, đua thuyền trên mặt đầm.

    Đền nằm giữa một cánh đồng lúa bên dòng sông Thao thuộc xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà. Tương truyền trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi, người con cả dừng ở đất Phong Châu dựng kinh đô Văn Lang cai quản đất nước truyền ngôi được 18 đời, gọi là các vua Hùng. 49 người con theo mẹ tiếp tục ngược thượng nguồn sông Thao, đến vùng Hiền Lương thấy sơn thuỷ hữu tình, đất đai tươi tốt bèn hạ trại khai hoang lập ấp, dạy cho dân làng nghề trồng lúa, nuôi tằm…

    Lễ chính đền Mẫu Âu Cơ vào ngày 7-1, kéo dài trong ba ngày, sau khi tế nữ xong mới đến lễ Mẫu dâng hương sớ. Trong dịp này trước sân đền và tại đình làng có nhiều trò chơi dân gian địa phương như: cướp cờ, đánh phết, hát ghẹo, hát xoan… Đặc biệt có tục làm bánh vôi từ bột gạo nếp và nước mía là đặc sản ngon nổi tiếng của vùng Hạ Hoà.

    Ao Giời – Suối Tiên thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; hai bên đường tới Ao Giời – Suối Tiên có hàng trăm đỉnh núi lớn, nhỏ có độ cao trung bình từ 500 – 600m so với mặt biển. Với đỉnh cao 1.200m, núi Nả cao vượt lên sừng sững, trông thật hùng vĩ như điểm tựa của miền thượng vùng trung du rộng lớn, được phủ một màu xanh dày đặc của các loài cây nhiệt đới, chen chúc nhau tầng tầng, lớp lớp với khá nhiều loài cây quí hiếm như đinh, lim, gụ, vàng tâm… Trong rừng còn có các bầy khỉ, nai, hoẵng, lợn rừng, cầy hương…

    Dưới chân các thác nước cao là những phiến đá khổng lồ, trải qua thời gian dài bị xói mòn, đã thành những chiếc ao nhỏ mà đáy ao là cả một phiến đá, làm nên vẻ đẹp riêng có ở nơi đây. Theo truyền thuyết: “xưa kia chỉ có Giếng Tiên, hàng ngày có các nàng tiên thường tới đây tắm mát, Ngọc Hoàng đã cho nước giếng dâng lên tạo thành các thác nước đổ xuống, lâu dần tạo thêm các ao. Ai được tắm ở Ao Giời – Suối Tiên trong 3 năm sẽ có làn da trắng mịn như ngọc, khuôn mặt sáng đẹp như trăng rằm, tâm hồn thư thái, sáng láng”.

    Đầm Vân Hội có diện tích trên 200 ha, độ sâu của nước từ 7 m đến 8 m, chỗ sâu nhất đạt 20 m. Đầm có hệ thống cung cấp và thoát nước mở nên luôn giữ mực nước ổn định, mùa mưa và mùa cạn nước chỉ chênh lệch nhau khoảng 1,3 m. Nước trong Đầm rất trong và sạch. Xung quanh Đầm có hệ thống núi và đồi và rừng của các xã Quân Khê (Hạ Hòa), xã Vân Hội, xã Việt Cường (Văn Chấn, Yên Bái) vây bọc tạo nên cảnh quan thơ mộng. Trên mặt Đầm có khoảng 40 đảo, đảo lớn nhất có diện tích 10 ha, còn lại là đảo nhỏ từ 0,5 đến 1 ha với các loại cây như: Cọ, chè, keo… tạo nên phong cảnh hữu tình. Đầm Vân Hội cách Đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hòa) 1km, cách Ao Giời – Suối Tiên 3 km. Đầm Vân Hội được quy hoạch thành khu du lịch nghỉ dưỡng – vui chơi giải trí cao cấp.

    Cách Hà Nội khoảng 120km, Vườn quốc gia Xuân Sơn rộng hơn 15.000ha, đứng thứ 12 trong số 15 vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam. Vườn được ví là “lá phổi xanh,” là điểm du lịch hấp dẫn của Phú Thọ với độ che phủ rừng lên tới 84%, chất lượng các hệ sinh thái rừng ổn định và được bảo vệ tốt. Vườn được đánh giá là nơi có môi trường không khí, môi trường nước sạch sẽ, mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm từ 22-23ºC.

    Đặc biệt, một ngày ở Xuân Sơn, thời tiết có nét đặc trưng của 4 mùa: buổi sáng mát mẻ của mùa Xuân, buổi trưa ấm áp của mùa Hè, buổi chiều hiu hiu như mùa Thu, buổi tối trời se lạnh đặc trưng của mùa Đông. Đây là lợi thế của vườn trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng.

    Tại đây hiện có 365 loài động vật, trong đó có 46 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam và 18 loài ghi trong Sách đỏ Thế giới. Các loài đặc trưng cho hệ động vật Tây Bắc như voọc xám, vượn chó, cầy bạc má, sóc bụng đỏ đuôi trắng, gấu, báo,… về chim có: gà lôi, gà tiền, đại bàng đất,… riêng sơn dương có nhiều nhất toàn quốc. Bên cạnh đó, vườn còn có 726 loài thực vật bậc cao trong đó có 52 loài thuộc ngành quyết và ngành hạt trần. Nằm trong khu vực giao tiếp của hai luồng thực vật Mã Lai và Hoa Nam, hệ thực vật ở Xuân Sơn có các loài re, dẻ, sồi và mộc lan chiếm ưu thế.

    Ngoài ra, ở Xuân Sơn còn có các loài tiêu biểu cho khu vực Tây Bắc như táu muối, táu lá duối, sao mặt quỷ và chò chỉ, chò vảy, nghiến, dồi, vầu đắng, kim giao (rừng chò chỉ ở Xuân Sơn là một trong những rừng chò chỉ đẹp và giàu nhất miền Bắc). Xuân Sơn còn là kho giống bản địa, kho cây thuốc khổng lồ, đặc biệt là cây rau đắng mọc tự nhiên có mật độ cao nhất miền Bắc.

    Ngoài sức hấp dẫn của hệ động thực vật phong phú, Xuân Sơn còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Nằm trong quần thể vườn quốc gia Xuân Sơn có ba đỉnh núi cao trên 1.000m là: núi Voi, núi Ten và núi Cẩn với hàng trăm hang động; sông suối như suối Lấp, suối Thang; và nhiều thác nước có độ cao trên 50m, che phủ hang, hốc đá, hòa quyện màu thác bạc với màu xanh của rừng già làm cho phong cảnh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.

    Do quá trình phong hóa, thủy hóa tạo thành Xuân Sơn có 16 hang động đá với thạch nhũ đẹp, đa dạng, tạo nên muôn hình vạn trạng. Vào thăm hang động ở đây, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của các nhũ đá rủ xuống thành muôn hình kỳ lạ. Ðộng Tiên là một hang ngầm trong lòng núi đá cẩm thạch dài 10km. Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu. Hồ nước có nhiều loài cá lạ hấp dẫn.

    Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc nơi đây hiện vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc của mình như trang phục, lễ hội, các hoạt động đời sống sinh hoạt hàng ngày như đan lát đồ dùng thủ công, dệt thổ cẩm, thêu, lễ cấp sắc, múa đâm đuống, múa xòe, uống rượu hoẵng, cơm lam…, những nét đẹp văn hóa đặc trưng của vùng đất các vua Hùng. Quan trọng hơn, vườn nằm trong thế chân kiềng của tổng thể cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ Tam Đảo – Ba Vì – Xuân Sơn. Trong trục tâm linh của truyền thuyết lịch sử Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, Sơn Tinh – Thủy tinh, vua Hùng, tạo nên một Xuân Sơn kỹ vĩ và có nhiều lợi thế trong bảo tồn, phát triển bền vững kết hợp với du lịch.

    Đây là ngôi làng cổ xưa nhất của người Dao Tiền, bản cuối cùng của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Do có loài gà chín cựa, một loài vật tưởng như chỉ có trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh mà bản Cỏi hiện nay được nhiều người biết tới. Từ một khu dân cư heo hút nằm sâu trong vùng lõi Vườn Quốc gia Xuân Sơn, nay bản Cỏi biến thành địa điểm thu hút được nhiều khách du lịch cũng như các thương lái đến thu mua loại gà này để tiêu thụ.

    Phú Thọ đã từ lâu nổi tiếng là đất trồng chè, với diện tích trồng chè trên 12 ngàn ha và sản lượng chè búp tươi vô cùng lớn. Ai đã từng qua vùng đồi trung du Phú Thọ khu vực các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn sẽ không thể nào quên những đồi chè xanh mơn mởn, trông như những mâm xôi tầng tầng, lớp lớp ngút ngàn tạo nên cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Đồi chè Long Cốc ở Tân Sơn được xếp vào một trong những đồi chè đẹp nhất Việt Nam.

    Đèo Khế là ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Phú Thọ và Yên Bái. Từ Hà Nội qua địa phận xã Thu Cúc (Phú Thọ) đi thẳng tiếp là lên đến đèo Khế. Vượt qua đèo Khế sẽ sang tới địa phận của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Trước đây, đèo Khế từng là “nỗi sợ hãi” đối với cánh tài xế và những người đi đường đêm. Sau khi được tu sửa lại, con đường đèo dài gần 30km không chỉ giúp giao thông thuận tiện mà còn trở thành điểm lui tới quen thuộc của dân mê phượt.

    Thác Mây thuộc xã Hương Cần, nằm cách trung tâm huyện Thanh Sơn khoảng 25km. Trên đỉnh núi Hem có một hồ nước nhỏ, nước từ đó đổ xuống sườn núi tạo thành suối Hem và nhiều tầng thác liên hoàn kế tiếp nhau, gọi là thác Mây. Thác Mây gồm 13 thác nước lớn nhỏ, trong đó thác cao nhất là thác Thượng với nhiều cột nước tung bọt trắng xoá. Những ngày trong xanh, hoà cùng màu xanh của núi rừng và màu xanh của trời là những dòng thác như giải lụa mềm giữa trời. Nhiều thác nước lớn nhỏ đã tạo nên những cung bậc âm thanh khác nhau, có thác nước đổ rào rào, có thác nước chảy róc rách giống như những bản nhạc của thiên nhiên. Tới gần thác, không khí như dịu mát hẳn, khác biệt với không khí bên ngoài, du khách có thể đắm mình trong dòng nước suối trong mát sau khi khám phá bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.

    Thác Mơ thuộc xã Cự Thắng, cách trung tâm huyện 15km. Trước đây, thác có tên gọi khác là thác Vạn Mơ nhưng lâu dần người ta gọi thác là thác Mơ. Ngay từ tên gọi của thác đã tạo cho du khách hình dung được khung cảnh mộc mạc, mà nên thơ. Đường vào thác được bao bọc bởi màu xanh của núi rừng, các loại hoa dại hai bên đường, góp phần tạo nên vẻ đẹp hoang sơ cho khung cảnh nơi đây.

    Thác Mơ có đến 9 tầng khác nhau, từ xa, đã nghe tiếng thác nước đổ rì rào như lời hát của các sơn nữ. Men theo con suối nhỏ để đến chân thác, du khách sẽ được đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên còn hoang sơ của đại ngàn. Thác được vây quanh bởi những ngọn núi xanh mát, hệ động thực vật nguyên sinh phong phú, đa dạng. Sau khi khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, du khách có thể nghỉ ngơi tại nhà sàn, thưởng thức các món ăn dân giã đặc sắc của đồng bào các dân tộc Thanh Sơn.

    Suối khoáng nóng Thanh Thủy

    Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy nằm trên địa phận các xã La Phù và Bảo Yên huyện Thanh Thủy, cách thành phố Việt Trì hơn 40km, giáp với Hà Nội, nằm bên tả sông Đà, đối diện với núi Ba Vì. Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là khu vực đắc địa sở hữu nguồn nước khoáng nóng cùng với các cảnh quan đẹp được coi là những tài nguyên vô giá của tự nhiên ban tặng cho Thanh Thủy để phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Qua tài liệu nghiên cứu khoa học cho thấy, nước khoáng Thanh Thuỷ có nhiệt độ dao động trong khoảng từ 37ºC – 54ºC thuộc loại nước khoáng ấm – nóng. Trong nước khoáng có nhiều chất vi lượng như: Natri, Canxi, Magie, đặc biệt có hàm lượng chất Radon vừa phải để tạo nên một loại nước quý hiếm rất thích hợp cho việc tắm ngâm, phục hồi sức khoẻ và chữa bệnh.

    Sau khi ngăn đập, hồ Thượng Long hay còn gọi (hồ Ly) trở thành một trong 10 hồ có trữ lượng nước lớn nhất tỉnh, hồ có khả năng tưới cho trên 500ha lúa và cung cấp nước sinh hoạt cho hàng ngàn người dân ở xã Thượng Long, Nga Hoàng, Hưng Long, Phúc Khánh, Đồng Thịnh và thị trấn Yên Lập. Đập ngăn nước đã tạo nên một hồ nước xanh như viên ngọc giữa núi rừng.

    Hồ Ly được tạo từ hai khe nước là khe Ly và khe Chanh. Người dân địa phương đã lấy tên khe Ly đặt tên gọi cho hồ. Hồ Ly có vẻ đẹp non nước hữu tình mà thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nơi đây với cảnh đẹp yên bình thu hút nhiều bạn trẻ đến tham quan, chụp hình và trải nghiệm thú vị khi khám phá văn hóa dệt thổ cẩm, thưởng thức những đặc sản của bà con dân tộc người Dao, Mường tại địa phương.

    Tìm trên Google:

    • các địa điểm du lịch ở Phú Thọ
    • chơi gì khi đến Phú Thọ
    • phượt Phú Thọ có gì
    • cảnh đẹp Phú Thọ
    • danh lam thắng cảnh Phú Thọ
    • địa điểm du lịch tâm linh Phú Thọ
    • đến Phú Thọ nên đi đâu
    • địa điểm chụp ảnh đẹp ở Phú Thọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Đồ Du Lịch Và Hành Chính Tỉnh Phú Thọ Online 2022
  • Trình Làng Bản Đồ Phong Nha
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Phong Nha Kẻ Bàng (Cập Nhật 01/2021)
  • Đôi Nét Giới Thiệu Về Phố Cổ Hội An
  • Bản Đồ Du Lịch Manila Và Những Điềucần Biết Cho Người Du Lịch
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×