“việt Nam Ngày Nay”: Giới Thiệu Các Sản Phẩm Du Lịch Đẳng Cấp Thế Giới Của Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Đi Tìm Sản Phẩm Đặc Biệt Của Du Lịch Việt Nam
  • Các Sản Phẩm Văn Hóa Du Lịch Ở Hội An
  • Để Phát Huy Tốt Hơn Các Sản Phẩm Và Điểm Tham Quan Du Lịch Ở Huế
  • Thêm Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Mới Tại Thừa Thiên Huế
  • Phát Triển Phong Phú Các Sản Phẩm Du Lịch Ở Cà Mau
  • #VietnamNOW, thông điệp do TCDL hợp tác cùng Hội đồng Tư vấn Du lịch Việt Nam (TAB), cập nhật một góc nhìn mới trọn vẹn hơn về Việt Nam cho khách du lịch trên toàn thế giới. Chiến dịch nhấn mạnh vào các trải nghiệm hiện đại, các sản phẩm du lịch đẳng cấp thế giới Việt Nam mang đến cho du khách, bên cạnh những danh lam thắng cảnh, điểm đến du lịch, văn hóa vốn đã nổi tiếng.

    Theo ông Đinh Ngọc Đức, Vụ trưởng Vụ Thị trường du lịch “Với #VietnamNOW, chúng tôi muốn nới rộng hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế bằng cách cho thấy những trải nghiệm tuyệt vời cho du khách khi đến Việt Nam ngày nay” .

    “Việt Nam có vô số các lựa chọn du lịch đầy tiềm năng. Chúng tôi muốn giới thiệu những dịch vụ, sản phẩm xuất sắc nhất của du lịch Việt Nam qua thông điệp #VietnamNOW.”

    Được biết, ngoài việc quảng bá về ẩm thực Việt Nam, các di sản thế giới UNESCO, những truyền thống văn hóa lâu đời, và phong cảnh thiên nhiên, #VietnamNOW còn làm nổi bật các trải nghiệm du lịch hiện đại như những sân golf cao cấp, những khu nghỉ dưỡng sang trọng, những chuyến khám phá mạo hiểm, và những hoạt động thú vị khác trong thành phố. Nhiều sự kiện đặc biệt như các lễ hội, các cuộc đua chạy bộ đường trường và Giải Đua xe Công thức 1 tại Hà Nội sẽ được tận dụng để làm nổi bật các sản phẩm du lịch đa dạng của Việt Nam.

    Để khởi động chiến dịch này, Tổng cục Du lịch đã tổ chức cuộc thi ảnh #VietnamNOW trên trang Facebook chính thức: @vietnamtourismboard. Cuộc thi đang diễn ra cho đến ngày 18/10/2019. Các thí sinh gửi về những bức ảnh chụp #VietnamNOW đẹp nhất để có cơ hội thắng những kỳ nghỉ tại các điểm đến hàng đầu Việt Nam, cùng những phần quà #VietnamNOW khác. Hai bức ảnh thắng cuộc sẽ nhận được hai đêm nghỉ tại khu nghỉ dưỡng năm sao InterContinental Phu Quoc Long Beach Resort cùng vé máy bay nội địa đến Phú Quốc, hoặc một kỳ nghỉ qua đêm trên du thuyền Hạ Long với L’Azalée Ha Long Bay Cruises cùng chuyến bay ngắm vịnh với Hai Au Aviation. Cuộc thi diễn ra đến ngày 30/10/2019.

    Theo sau cuộc thi ảnh là các hoạt động do Tổng cục Du lịch và TAB đồng tổ chức để tăng độ nhận biết cho chiến dịch. Khách du lịch có thể tìm thông tin và cảm hứng cho hành trình đến Việt Nam trên website chính thức của Tổng cục Du lịch: www.vietnam.travel. Các cuộc thi với phần thưởng đến từ những thương hiệu Việt Nam đẳng cấp chờ đón những người theo dõi @vietnamtourismboard trên Facebook và Instagram hàng tháng. Ngoài ra, người dùng có thể sử dụng thẻ gắn và các nhãn dán #VietnamNOW khi chia sẻ về chuyến đi của mình trên Instagram.

    #VietnamNOW được Tổng cục Du lịch dự kiến ra mắt tại Hội chợ World Travel Market London vào tháng 11/2019,nhằm khuyến khích du khách Anh Quốc lên kế hoạch đến thăm Việt Nam. Bên cạnh đó, Tổng cục Du lịch sắp cho ra mắt 5 video về những trải nghiệm du lịch hàng đầu, cùng cuộc thi ‘I Wish I Was in #VietnamNOW’ với giải thưởng là vé máy bay đến Việt Nam, và các ấn phẩm hướng dẫn khách du lịch đến #VietnamNOW lần đầu tiên./.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Sách Các Nước Miễn Visa Cho Việt Nam 2022
  • Danh Sách Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Người Việt Nam
  • Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Việt Nam Năm 2022
  • Passport Việt Nam Đi Du Lịch Không Cần Visa Được Bao Nhiêu Nước ?
  • Các Điểm Du Lịch Không Cần Visa Cho Người Việt Nam
  • Đi Tìm Sản Phẩm Đặc Biệt Của Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Sản Phẩm Văn Hóa Du Lịch Ở Hội An
  • Để Phát Huy Tốt Hơn Các Sản Phẩm Và Điểm Tham Quan Du Lịch Ở Huế
  • Thêm Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Mới Tại Thừa Thiên Huế
  • Phát Triển Phong Phú Các Sản Phẩm Du Lịch Ở Cà Mau
  • Việt Nam Giới Thiệu Các Sản Phẩm Du Lịch Đến Người Dân Indonesia
  • Hầu như du lịch Việt Nam chỉ khai thác những gì đã có sẵn như tài nguyên thiên nhiên ưu đãi, du lịch lịch sử và tâm linh, và một số đặc trưng văn hoá truyền thống, nhưng bào mòn dần những gì thiên nhiên, lịch sử và văn hoá truyền thống để lại.

    Những sản phẩm du lịch sáng tạo thêm thì hầu như chỉ đơn lẻ, rải rác, nhằm phục vụ nhu cầu của khách đến nghỉ dưỡng là chính, chứ không phải được thiết kế để kéo khách đến và khách trở lại.

    Lễ hội pháo hoa Đà Nẵng, Festival Huế, Phố cổ Hội An… chừng đó còn rất khiêm tốn. Các lễ hội khác, đa phần giá trị là sự kiện giải trí tại chỗ, phục vụ người địa phương và khách du lịch ngẫu nhiên có mặt, chứ ít khi họ đến vì các lễ hội đó. Bài toán hấp dẫn khách du lịch và kéo họ trở lại nhiều lần là rất khó. Hiện tại, tỷ lệ khách quay lại chỉ đạt từ 5 – 6%.

    Đối với một điểm đến, cho dù đó là một điểm đến quốc gia, hay một điểm đến địa phương, bài toán luôn là giải pháp phát triển bền vững, có trọng tâm phát triển không những phải hấp dẫn mà còn phải khác biệt so với các điểm đến khác.

    Song song với chiến lược đó là một kế hoạch cụ thể, chi tiết, có tầm nhìn dài hạn. Mục tiêu là tạo một sức hút riêng biệt đối với khách du lịch, và khiến họ quay trở lại nhiều lần nữa, và sẵn sàng chi trả cho những trải nghiệm riêng có của điểm đến.

    Muốn cạnh tranh hiệu quả, bền vững, thì phải nhìn thẳng vào các yếu điểm mang tính chiến lược đó để xây dựng chiến lược cho ngành du lịch.

    Trước hết, chúng ta thử nhìn nhận cách thức đầu tư cho du lịch của cả khối dịch vụ công và doanh nghiệp trong thời gian qua. Đối với nhà nước, phần lớn sự tham gia là xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch như chính sách miễn visa cho 5 nước Tây Âu và một số khu vực truyền thống, quy hoạch hạ tầng, đầu tư nâng cấp mở rộng sân bay, đường xá, và chủ trì hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch. Đây là những nỗ lực khá lớn, xong chưa toàn diện và chưa đủ để tạo sức chuyển biến lớn, hỗ trợ thúc đẩy du lịch phát triển như kỳ vọng.

    Đối với khối doanh nghiệp, các dự án đầu tư chủ yếu tập trung vào các dự án lưu trú, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, sân golf, hoặc một số dự án khu phức hợp giải trí. Một vài hãng hàng không ra đời, cũng đóng góp thêm vào vận tải hàng không đang có nhu cầu tăng cao. Bên cạnh đó, các công ty lữ hành cũng có những sự phát triển nhất định. Cá biệt có những dự án sân bay do tư nhân đầu tư ở Cam Ranh và Vân Đồn.

    Tuy nhiên, nhìn chung, các dự án đầu tư đều không dựa trên một định hướng chiến lược phát triển điểm đến của từng địa phương, mà là các dự án đơn lẻ, không hoàn toàn kết nối với nhau để tạo thành một điểm nhất khác biệt trong chiến lược cạnh tranh.

    Thử điểm qua các thành phố, các địa phương khác trên thế giới phát triển như thế nào.

    Suốt từ năm 2003, thành phố Las Vegas với chiến lược xây dựng định vị là trung tâm của sự tự do không giới hạn, không bị kiểm soát, với câu khẩu hiệu “What Happens in Vegas, Stays in Vegas” – “Cái gì xảy ra ở Vegas sẽ ở lại với Vegas”. Thành phố Las Vegas được xây dựng thành một hệ sinh thái, phục vụ cho mục tiêu định vị trở thành trung tâm giải trí dành cho người lớn, trung tâm tổ chức sự kiện, hội họp và MICE.

    Họ xây dựng khách sạn nhưng phải kết hợp với các dịch vụ giải trí đa dạng, phục vụ nhiều tầng lớp khác du lịch. Các tiện ích, dịch vụ hỗ trợ xung quanh cũng tập trung phục vụ cho nhu cầu giải trí của du khách. Họ kết hợp với vùng phụ cận, khai thác các tour dài hơi, như dịch vụ bay trực thăng ở Grand Canyon, hoặc chuyến tour đập Hoover Dam, bên cạnh những khách sạn lung linh trên The Strip của đại lộ Las Vegas.

    Tổng cục Du lịch Singapore đổi mới tagline của họ thành “Passion Made Possible” – “Đam mê biến mọi điều thành có thể”, vào tháng 8 năm ngoái, để tiếp thị hình ảnh quốc tế của Singapore cho mục đích du lịch và kinh doanh. Thương hiệu mới nhằm mục đích cung cấp cơ hội và nền tảng cho người dân Singapore và cả những người định cư khác để thể hiện tinh thần cởi mở và kiên trì của họ đối với thế giới, và phục vụ như một thương hiệu thống nhất cho Singapore trên mặt trận quốc tế.

    Họ thể hiện điều đó bằng cách nào? Đó là những toà nhà kỳ vỹ, lấn biển, vươn lên trời cao, những công trình siêu tưởng, với công nghệ cao, nghệ thuật tuyệt đẹp. Và nhất là, họ trở thành chủ nhà của những sự kiện khổng lồ, đầy sức hấp dẫn, thu hút hàng trăm ngàn du khách, như giải đua Công thức 1 trên đường phố duy nhất vào ban đêm, hay chương trình World City Summit – hội nghị thượng đỉnh các thành phố trên thế giới. Giám đốc điều hành STB Lionel Yeo nói rằng, mega events – những đại sự kiện khổng lồ, là sức hút mạnh mẽ nhất đối với Singapore.

    Như vậy, một điểm đến phải bắt đầu được xây dựng hoặc là từ một ý tưởng phát triển định vị thương hiệu, một ý tưởng trung tâm, là cái lõi hình thành lên một hệ sinh thái bao quanh nó. Hoặc nó được xây dựng xung quanh một sản phẩm du lịch chiến lược lõi, và sự hình thành của điểm đến là xây dựng một hệ sinh thái bao quanh sản phẩm chiến lược đó.

    Hệ sinh thái của điểm đến

    Ở bình diện của một đất nước hay một địa phương, hệ sinh thái điểm đến có thể ít nhất bao gồm các lĩnh vực: dịch vụ lữ hành, vận chuyển, lưu trú, giải trí, mua sắm, hậu cần, các sản phẩm du lịch chiến lược và các sản phẩm du lịch hỗ trợ.

    Hệ sinh thái du lịch cần được bắt đầu từ sự lựa chọn một ý tưởng trung tâm để phát triển định vị thương hiệu. Nó phải là một ý tưởng mới lạ, khác biệt, hoặc ít nhất là có thể tổ chức theo cách khác một ý tưởng đã có ở đâu đó trên thế giới.

    Ý tưởng tổ chức đua xe Công thức 1 (Formula One) trên đường phố là không mới, nhưng tổ chức vào ban đêm là đặc sản của Singapore, cộng thêm một hệ thống các hoạt động hỗ trợ như là các sân khấu ca nhạc với các ngôi sao thượng thặng, hay hệ thống dịch vụ thương mại trải dài hàng chục cây số quanh trường đua. Người ta sẽ còn đến Singapore nhiều lần, mỗi năm đều quay lại vì Formula One, nhưng cũng là để chiêm ngưỡng những dự án, những công trình kỳ vỹ tạo nên từ sự đam mê, và những mega events khác.

    Đà Nẵng có lễ hội pháo hoa quốc tế. Nhưng nếu chỉ dừng ở một sự kiện lớn như vậy mỗi năm thì vẫn chưa rõ được định vị của Đà Nẵng là gì. Với một công trình cung hội nghị Ariyana – Furama phục vụ APEC 2022, có thể nghĩ đến một thành phố của hội nghị và sự kiện như Cannes được không?

    Khánh Hoà cần tìm ra một ý tưởng trung tâm riêng, một định vị riêng cho chiến lược phát triển du lịch. Nha Trang có thể là một điểm đến của các lễ hội biển được không? Những lễ hội định kỳ, được tổ chức chuyên nghiệp và bài bản, và nâng cấp dần để trở thành những sự kiện quốc tế.

    Tất nhiên, cùng với đó là hệ thống hạ tầng như sân bay, bến du thuyền, xe buýt hai tầng, dịch vụ lưu trú, y tế và du lịch biển.

    Một kỳ nghỉ, hai vùng di sản

    Khi có một hệ sinh thái đặc trưng, việc xây dựng thương hiệu cho điểm đến trở thành dễ dàng hơn, cụ thể hơn, truyền thông cho thương hiệu sẽ hiệu quả hơn. Và quan trọng nhất là chúng ta sẽ có một chiến lược phát triển điểm đến theo một quy hoạch nhất định, chủ động đầu tư vào các dự án làm giàu thêm hệ sinh thái.

    Với thế mạnh của một hệ sinh thái, với các dự án cơ sở lưu trú, dịch vụ lữ hành, vận chuyển hành khách và sản phẩm du lịch đặc trưng, Crystal Bay đang xây dựng một sản phẩm du lịch đặc biệt mà chúng tôi gọi là “Một kỳ nghỉ – hai vùng di sản”.

    Bản chất của khái niệm sản phẩm này là kết nối hai vùng di sản thiên nhiên của vùng Đông Bắc với khu vực miền Trung, kết nối vịnh Hạ Long với khu thánh địa Mỹ Sơn và cả vùng văn hoá Chăm của Nha Trang, Ninh Thuận. Khánh hàng quốc tế của chúng tôi, hiện tại đa phần là khách Nga, sẽ được mở rộng với chiến lược phát triển điểm đến sắp tới, khi đến Việt Nam, sẽ có thể tham gia vào hành trình trải nghiệm cả hai miền di sản này.

    Như vậy, chúng tôi đã đưa ra một khái niệm liên kết điểm đến, một bước mở rộng hơn chiến lược phát triển điểm đến ở mỗi vùng du lịch. Khái niệm này, có thể mở rộng thành sự liên kết của các điểm đến trong toàn quốc, khi mà mỗi điểm đến có một hệ sinh thái khác biệt sẽ cung cấp cho du khách những trải nghiệm khác nhau, làm phong phú thêm cho hành trình của họ, cũng là tạo sự hấp dẫn đặc biệt, lôi cuốn du khách.

    Một điểm đến, với một hệ sinh thái riêng, có chiến lược phát triển bền vững, bản thân nó đã là một sức hút mạnh mẽ cho du khách đến, ở lại dài hơn và quay trở lại trong tương lai. Nhưng hai hoặc ba điểm đến liên kết với nhau, sẽ là một sản phẩm du lịch hết sức đặc biệt, nơi du khách vừa có thể chiêm ngưỡng kỳ quan thiên nhiên vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long trên du thuyền, vừa có thể đắm mình trong trầm mặc của tháp Chàm và những bãi biển cát trắng của Nha Trang, Cam Ranh, Ninh Thuận.

    “Một kỳ nghỉ – Hai vùng di sản” khác hoàn toàn với các tour du lịch tuyến như “Con đường di sản miền Trung”. Với các tour tuyến, đó là hành trình thăm quan các di sản thiên nhiên và văn hoá trong một hành trình nhất định. Sản phẩm được thiết kế nhiều trải nghiệm khác nhau trong một khoảng thời gian du lịch nhất định, trong đó, các tour tuyết chỉ là một trong các sản phẩm được cung ứng. Như vậy, du khách sẽ có cớ kéo dài hơn thời gian dự định của họ tại Việt Nam, và cũng hưởng thụ sự đa dạng những sản phẩm du lịch trong hành trình thú vị này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • “việt Nam Ngày Nay”: Giới Thiệu Các Sản Phẩm Du Lịch Đẳng Cấp Thế Giới Của Việt Nam
  • Danh Sách Các Nước Miễn Visa Cho Việt Nam 2022
  • Danh Sách Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Người Việt Nam
  • Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Việt Nam Năm 2022
  • Passport Việt Nam Đi Du Lịch Không Cần Visa Được Bao Nhiêu Nước ?
  • Đánh Giá Khả Năng Cạnh Tranh Sản Phẩm Du Lịch Của Việt Nam Với Sản Phẩm Du Lịch Của Trung Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tour Du Lịch Thái Lan Vietravel
  • Đề Án Phát Triển Du Lịch Đồng Tháp Phát Huy Hiệu Quả
  • Địa Điểm Du Lịch Một Mình Gần Hà Nội
  • Du Lịch Gần Hà Nội 2 Ngày 1 Đêm Nên Đi Những Đâu?
  • Những Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Amsterdam
  • Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, với rất nhiều công trình văn hóa – lịch sử nổi tiếng trên thế giới. Trong vài năm trở lại đây, Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng và đang trở thành một trong những cường quốc về kinh tế và quân sự trên thế giới. Là người bạn gần gũi và quen thuộc với của nhân dân Việt Nam, có sự tương đồng về văn hóa nên nhiều sản phẩm du lịch văn hóa có tính tương đồng, nằm ngay sát với Việt nam nên ít nhiều các sản phẩm du lịch của Trung Quốc có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới thị trường khách du lịch đến Việt Nam. Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm du lịch Việt Nam với sản phẩm du lịch của Trung Quốc để ngành du lịch của chúng ta biết được cần phải làm những gì để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm du lịch của mình và ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam.

    * Một số chỉ tiêu kinh tế của hai nước

    Việt Nam là đất nước nhỏ bé so với Trung Quốc, theo thống kê năm 2005 thì dân số của Việt Nam chỉ bằng 6,8% dân số của Trung Quốc. Về diện tích thì Việt Nam chỉ bằng khoảng 3,5% diện tích của Trung Quốc. Điều đó cho thấy Trung Quốc là một đất nước rộng lớn và đông dân hơn rất nhiều so với Việt Nam.

    Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của Trung Quốc cũng rất ấn tượng, theo thống kê năm 2005 giá trị GDP của Trung Quốc đạt 2.234,1 tỷ USD trong khi đó chỉ số này ở Việt Nam mới chỉ là 51,4 tỷ USD chỉ bằng 2,3% tổng giá trị GDP mà Trung Quốc tạo ra. Trong đó tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc đạt 10,2% trong khi đó tóc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 8,4%. Những con số này cho thấy Trung Quốc là nền kinh tế lớn và phát triển hơn rất nhiều so với nền kinh tế của Việt Nam.

    * Một số chỉ tiêu du lịch:

    Năm 2005, giá trị GDP mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra là 63.424 triệu USD trong khi đó với chỉ tiêu này thì ngành du lịch Việt Nam tạo ra được 1.834 triệu USD chỉ chiếm khoảng 2,9% giá trị GDP mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra. Theo dự báo của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì trong giai đoạn 2007 đến 2022 thì tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc sẽ là 8,7% trong khi đó cũng theo dự báo của tổ chức này thì tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chỉ là 6,2%. Với quy mô rất lớn cộng với tốc độ tăng trưởng dự kiến lớn hơn nhiều so với Việt Nam thì trong giai đoạn 2007 đến 2022 thì du lịch Trung Quốc càng vượt rất xa so với du lịch của Việt Nam.

    Năm 2005, du lịch Trung Quốc đã tạo ra 17.383 ngàn việc làm trực tiếp từ các hoạt động du lịch, trong khi đó số lao động trực tiếp mà ngành du lịch Việt Nam tạo ra là 953 ngàn lao động chỉ chiếm 5,5% lực lượng lao động mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra, điều này càng khẳng định du lịch Trung Quốc có quy mô rất lớn so với du lịch Việt Nam. Lượng lao động mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra chiếm 10,3% lượng lao động của toàn bộ nền kinh tế trong khi đó lượng lao động mà ngành du lịch Việt Nam tạo ra chỉ chiếm 2,5% lượng lao động trong toàn bộ nền kinh tế. Điều đó cho thấy vai trò của ngành du lịch Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của Trung Quốc, còn du lịch Việt Nam thì mức độ ảnh hưởng là thấp hơn nhiều.

    Đánh giá một số tiêu chí cạnh tranh giữa sản phẩm du lịch của Trung Quốc với sản phẩm du lịch của Việt Nam:

    * Các yếu tố nội hàm:

    a- Tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch:

    a- Tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch:

    Tiêu chí về tài nguyên văn hóa thì Trung Quốc thực sự có lợi thế rất lớn so với Việt Nam. Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế năm 2007 thì Trung Quốc được xếp hạng thứ 60 và đạt số điểm 4,4 trong khi đó Việt Nam kém tới 24 bậc và được xếp hạng thứ 84 và chỉ đạt số điểm là 3,8 điểm.

    Tiêu chí đánh giá các khu vực được quốc gia bảo vệ thì Trung Quốc được đánh giá ở vị trí khá xếp thứ 56 trong khi đó du lịch Việt Nam được đánh giá ở mức thấp xếp thứ 88. Tiêu chí đánh giá về số lượng di sản thế giới thì Trung Quốc được đánh giá rất cao và đây là một trong 3 cường quốc có số lượng lớn về di sản thế giới, với tiêu chí này Việt Nam chỉ đứng thứ 48.

    Điều này cho thấy Trung Quốc có lợi thế vượt trội so với Việt Nam về tài nguyên du lịch văn hóa, với lợi thế to lớn này thì Việt Nam khó có thể cạnh tranh với du lịch Trung Quốc về loại sản phẩm du lịch mà dựa trên yếu tố tài nguyên du lịch văn hóa.

    b- Khả năng tiếp cận sản phẩm du lịch:

    Về tiêu chí thủ tục Visa, Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành thì tiêu chí này của Việt Nam và Trung Quốc là tương đương nhau và được xếp ở vị trí thứ 94.

    Tiêu chí về cơ sở vận chuyển hàng không: đây là tiêu chí khá quan trọng đối với hoạt động du lịch trong thời kỳ hội nhập và mở cửa với thế giới, nó rút bớt khoảng cách về mặt không gian, đồng thời có thể tiết kiệm về mặt thời gian và tiền bạc cho du khách. Với tiêu chí này thì Trung Quốc được đánh giá khá cao xếp thứ 36, trong khi đó tiêu chí này của Việt Nam chỉ được đánh giá ở mức yếu và được xếp ở hạng 90.

    Tiêu chí về cơ sở vận chuyển đường bộ: cũng là tiêu chí có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm du lịch của mỗi quốc gia. Tiêu chí này, Trung Quốc cũng được đánh giá là khá tốt, được xếp hạng 45 trong khi đó chỉ tiêu này của Việt Nam được đánh giá ở mức thấp xếp thứ 85.

    Tiêu chí về phương tiện vận chuyển đường sắt: cũng là một trong những tiêu chí có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ du lịch. Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì tiêu chí về phương tiện vận chuyển đường sắt của Trung Quốc được xếp thứ 33 trong khi đó tiêu chí này của Việt Nam là 70 điều này cho thấy khả năng cạnh tranh về phương tiện vận chuyển đường sắt của Việt Nam so với Trung Quốc là khó có thể cạnh tranh được trong thời gian ngắn.

    Tiêu chí về cơ sở hạ tầng hỗ trợ phát triển du lịch của Trung Quốc và Việt Nam đều bị đánh giá ở mức yếu kém, Trung Quốc xếp thứ 113 thì Việt Nam chỉ đứng trên có 3 nước xếp hạng thứ 121. Đây là tiêu chí cần phải được quan tâm để nâng cao lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm du lịch tại mỗi điểm đến.

    c- Giá cả:

    Tiêu chí về giá sản phẩm du lịch của Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức cao, Trung Quốc xếp thứ 11 thì tiêu chí này của Việt Nam xếp thứ 10. Điều đó cho thấy về giá thì sản phẩm du lịch của Việt Nam và Trung Quốc đều có lợi thế rất lớn về giá, mặc dù sản phẩm du lịch Việt Nam có lợi thế hơn một chút về giá so với sản phẩm du lịch Trung Quốc tuy nhiên tiêu chí cạnh tranh này chưa thực sự rõ ràng bởi lợi thế về giá giữa sản phẩm du lịch Trung Quốc và Việt Nam là gần như tương đương nhau. Có thể lấy ví dụ: giá vé vào các khu du lịch ở Trung Quốc không rẻ như ở Việt Nam vé vào cổng vạn Lý Trường thành hay vào Cố Cung giá tới 90 nhân dân tệ, tương đương với 170 ngàn đồng Việt Nam, nhưng bù lại, du khách lại được thong dong, ở khu du lịch nào cũng có hướng dẫn viên du lịch biết tiếng địa phương hay ngoại ngữ để du khách “thuê” hướng dẫn, được sử dụng toilet sạch sẽ và quan trọng nhất là một môi trường sạch, các khu du lịch có quy mô đồ sộ, nhưng không có rác trên đường. Điều này làm cho yếu tố về giá sản phẩm du lịch giữa hai nước là không có lợi thế vượt trội.

    d- Chất lượng phục vụ:

    Chi tiêu của du khách phần nhiều vào ăn nghỉ, thường chi phí này chiếm từ 20 đến 30% tổng chi phí cho toàn bộ chuyến du lịch, chính vì thế đối với du khách và những nhà nghiên cứu thì tiêu chí đánh giá về cơ sở vật chất ngành du lịch rất được quan tâm. Tiêu chí về hệ thống phòng khách sạn của Việt Nam và Trung Quốc được đánh giá tương đương nhau trong khi Trung Quốc được xếp hạng thứ 87 thì Việt Nam được xếp hạng thứ 88. Điều này cho thấy khả năng cạnh tranh về phòng khách sạn của 2 nước là tương đương nhau, không có sự trênh lệch nhiều.

    Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với hoạt động du lịch, nó có tính quyết định lớn tới chất lượng các loại hình dịch vụ du lịch và là nhân tố cần thiết đảm bảo khả năng thực thi các hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến. Theo đánh giá, về nguồn nhân lực của du lịch Trung Quốc đứng thứ 74/124 nước, số điểm đánh giá là 5 điểm. Trong khi đó nguồn lao động của Việt Nam đứng thứ 81 kém Trung Quốc 7 bậc và có được số điểm là 4,9 điểm.

    Về chất lượng giáo dục và đào tạo trong ngành du lịch thì Trung Quốc được xếp thứ 72 và có được số điểm là 4,6 điểm, cũng theo tiêu chí này thì Việt Nam chỉ đứng thứ 82 kém Trung Quốc 10 bậc và có được số điểm theo đánh giá là 4,3 điểm.

    Tiêu chí số lượng người lao động trong ngành du lịch được đào tạo sơ cấp thì Trung Quốc được đánh giá ở vị trí rất cao, xếp vị trí thứ nhất. Điều đó cho thấy sự phổ cập giáo dục về du lịch của Trung Quốc là rất tốt mà Việt Nam cần phải học tập để giáo dục du lịch tại các điểm đến. Trong khi đó giáo dục đào tạo sơ cấp về du lịch cho đội ngũ nhân viên du lịch của Việt Nam được đánh giá ở mức yếu chỉ đứng thứ 94.

    Đánh giá tiêu chí về các loại hình dịch vụ đào tạo và khả năng nghiên cứu du lịch tại mỗi điểm đến. Tiêu chí này thì Trung Quốc được đánh giá ở vị trí thứ 46 trong khi đó Việt Nam được đánh giá ở mức thấp hơn xếp vị trí thứ 76, kém Trung Quốc tới 30 bậc điều đó cho thấy những yếu kém và bất cập trong công tác nghiên cứu và đào tạo du lịch của Việt Nam so với Trung Quốc. Số lượng lao động trong ngành du lịch được đào tạo trung cấp về nghiệp vụ du lịch của Việt Nam được đánh giá cao hơn một chút so với Trung Quốc, song cả 2 nước đều đứng ở mức thấp, Việt Nam được xếp thứ 81 thì Trung Quốc được xếp thứ 83.

    Về tiêu chí trình độ chuyên môn nghiệp vụ du lịch thì du lịch Trung Quốc có tính chuyên nghiệp cao hơn so với Việt Nam, theo đánh giá xếp hạng thì tiêu chí này của Trung Quốc được xếp thứ 79 và đạt 6,0 điểm, còn Việt Nam chỉ đứng thứ 83 và số điểm chỉ đạt 5,9 điểm.

    Tiêu chí đánh giá thái độ của cộng đồng dân cư tại điểm đến đối với khách du lịch thì Việt Nam có lợi thế hơn hẳn so với Trung Quốc trong khi Việt Nam xếp ở vị trí thứ 66 thì Trung Quốc được đánh giá rất thấp xếp thứ 112.

    e- Khả năng được đầu tư, xúc tiến:

    Vai trò của chính phủ trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam trong mấy năm gần đây được cải thiện rất nhiều, đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong lĩnh vực du lịch đã có được nhiều tiến bộ lớn song do thời gian mở cửa nền kinh tế của Việt Nam chưa lâu do vậy mà tiêu chí này của Việt Nam còn thấp xếp thứ 73 trong khi đó tiêu chí này của Trung Quốc được đánh giá ở mức khá xếp thứ 42. Đây là tiêu chí khá quan trọng và cần thiết để tạo động lực to lớn cho hoạt động du lịch phát triển. Chính vì vậy mà chính phủ và ngành du lịch Việt Nam cần quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài có môi trường tốt để họ có thể đầu tư vào lĩnh vực du lịch của Việt Nam đồng thời nâng cao được khả năng cạnh tranh cho sản phẩm du lịch Việt Nam trên trường quốc tế.

    Tiêu chí đánh giá sự ưu tiên của chính phủ trong hoạt động du lịch, trong đó đánh giá sự ưu tiên của chính phủ đối với các hoạt động du lịch thì Trung Quốc và Việt Nam đều được đánh giá ở mức khá. Theo đánh giá thì tiêu chí này của Trung Quốc có phần trội hơn so với Việt Nam được xếp thứ 49 trong khi đó Việt Nam được xếp thứ 61.

    Trong tiêu chí cạnh tranh về khung pháp lý thì tiêu chí về chiến lược ưu tiên đối với phát triển du lịch tại mỗi điểm đến giữa Trung Quốc và Việt Nam được xếp hạng như sau: tiêu chí này thì Trung Quốc được xếp hạng thứ 33 trong khi đó tại Việt Nam thì tiêu chí này là 76, thấp hơn 43 bậc, điều đó cho thấy sự quan tâm, đầu tư của nhà nước và chiến lược ưu tiên phát triển du lịch của Trung Quốc rất được quan tâm.

    Tiêu chí đánh giá sự tham gia các hội trợ du lịch quốc tế nhằm quảng bá hình ảnh và thương hiệu sản phẩm du lịch cho một điểm đến. Đây là một tiêu chí nhằm đánh giá các hình thức quảng bá về đất nước con người và các sản phẩm du lịch đặc trưng của một điểm đến. Với tiêu chí này, Du lịch Trung Quốc được đánh giá rất cao, xếp hạng thứ 4 trong khi đó du lịch Việt Nam chỉ được đánh giá ở mức trung bình khá và xếp hạng thứ 48.

    f – Vấn đề tổ chức sản phẩm:

    Môi trường kinh doanh du lịch là nhân tố tác động đến đối tượng cung du lịch, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm du lịch tại mỗi điểm đến. Một điểm đến mà có môi trường kinh doanh thông thoáng, lành mạnh, đảm bảo sự kinh doanh công bằng và có sự bảo vệ của nhà nước trong hoạt động du lịch là yếu tố thực sự cần thiết và là cơ sở để cho các hoạt động du lịch tại điểm đến có cơ hội hoạt động và phát triển. Theo tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế đánh giá thì tiêu chí về sự nghiêm ngặt trong các quy định về môi trường kinh doanh du lịch thì Việt Nam được xếp hạng thứ 108 tức là ở mức yếu kém, trong khi đó cũng chỉ tiêu này thì Trung Quốc được xếp hạng thứ 97 tức là hơn Việt Nam 11 bậc. Tuy nhiên với tiêu chí này thì cả Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức yếu kém.

    Tiêu chí về sự ổn định và minh bạch trong các quy định về môi trường kinh doanh du lịch thì Trung Quốc được đánh giá ở mức 76 trong khi đó Việt Nam được đánh giá ở mức yếu kém về tính minh bạch và xếp ở mức 101.

    Tiêu chí về sức khỏe và vệ sinh an toàn thực phẩm tại mỗi điểm đến thì du lịch Trung Quốc được xếp hạng thứ 84 trong khi đó chỉ tiêu này của Việt Nam chỉ là 94 thấp hơn 10 bậc, điều này cho thấy vấn đề vệ sinh đảm bảo sức khỏe cho du khách tại mỗi điểm đến của Việt Nam cần phải được đầu tư và quan tâm nhiều hơn nữa để có thể cải thiện vệ sinh đảm bảo sức khỏe cho du khách tại mỗi điểm đến mới mong có thể cạnh tranh được với sản phẩm du lịch của Trung Quốc.

    Tiêu chí về các biện pháp của chính phủ nhằm làm giảm rủi ro về sức khỏe cho du khách từ các dịch bệnh, đây là một trong những tiêu chí khá quan trọng vì nó đảm bảo tính mạng cho du khách khi tham gia các hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến. Tiêu chí này mà cao thì du khách cảm thấy sẽ được an tâm trong hành trình du lịch của mình, chính điều này làm cho thương hiệu về sản phẩm du lịch được nâng cao hơn. Với tiêu chí này thì Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức tốt tuy nhiên với tiêu chí này Việt Nam được đánh giá cao hơn so với Trung Quốc. Việt Nam được xếp thứ 15 trong khi đó Trung Quốc được xếp ở hạng 24.

    Tiêu chí về các biện pháp của chính phủ và các địa phương nhằm cải thiện nguồn nước uống đây chính là một trong những tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mỗi điểm đến. Với tiêu chí này Việt Nam được xếp hạng thứ 83 cao hơn với cùng tiêu chí này của Trung Quốc là 6 bậc. Tiêu chí về mật độ bác sỹ thì Việt Nam được xếp ở vị trí thứ 92 trong khi đó Trung Quốc được đánh giá ở mức cao hơn 13 bậc và xếp ở vị trí thứ 79.

    Hệ thống các trạm ATM ngày nay càng trở nên cần thiết đối với du khách, đặc biệt là du khách quốc tế, với tiêu chí này thì Việt Nam được đánh giá ở mức thấp hơn nhiều so với Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc được xếp ở thứ 85 thì Việt Nam được xếp ở hạng 93, khoảng cách này cho thấy Việt Nam cũng bị mất lợi thế cạnh tranh về tiêu chí này so với Trung Quốc.

    Trong thời đại của công nghệ thông tin và truyền thông thì tiêu chí về cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc có ảnh hưởng nhiều tới hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến. Với tiêu chí này thì Trung Quốc được xếp ở mức trung bình xếp thứ 63 trong khi đó tiêu chí này của Việt Nam xếp ở mức 88 tức là ở mức yếu.

    Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ thông tin của Việt Nam trong mấy năm trở lại đây được bạn bè quốc tế đánh giá rất cao, song việc ứng dụng internet cho hoạt động du lịch của Việt Nam vẫn bị đánh giá thấp về quy mô sử dụng, Việt Nam chỉ được xếp hạng thứ 111 trong khi đó Trung Quốc được xếp hạng thứ 75. Hiện tại khả năng cạnh tranh của Việt Nam về tiêu chí này so với Trung Quốc là chưa thể, song với sự phát triển nhanh chóng và vượt bậc của ngành viễn thông của Việt Nam trong thời gian tới thì trong tương lai tiêu chí này của Việt Nam sẽ được cải thiện nhanh chóng và có thể đây sẽ là một lợi thế mà Việt Nam có thể cạnh tranh được với Trung Quốc.

    * Các yếu tố ảnh hưởng:

    a- Thương hiệu:

    a- Thương hiệu:

    Tiêu chí về quyền sở hữu là tiêu chí cho thấy sự đảm bảo của nhà nước và chính phủ của nước sở tại cho môi trường hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến, nó tạo ra sự bình đẳng và công bằng trong các hoạt động kinh doanh du lịch tại mỗi điểm đến. Theo tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì tiêu chí này của Việt Nam là khá tốt đứng thứ 69 trong khi đó tiêu chí này của Trung Quốc đứng thứ 82 đây là một lợi thế mà Việt Nam cần phải phát huy và nâng cao hơn nữa để có thể nâng cao lợi thế so sánh đối với sản phẩm du lịch của mình.

    Về tiêu chí đánh giá ấn tượng về thị trường và thương hiệu từ thị trường khách du lịch thì tiêu chí này của Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức khá tuy nhiên Việt Nam có nhỉnh hơn một chút. Việt Nam xếp thứ 56 trong khi Trung Quốc xếp thứ 57. Điều này cho thấy thị trường và thương hiệu sản phẩm du lịch của Trung Quốc và Việt Nam rất có triển vọng để phát triển du lịch.

    Có thể lấy ví dụ như du khách tìm hiểu lịch sử và thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên của đất nước Trung Hoa, Ngành du lịch từ trung ương tới địa phương luôn tạo ấn tượng cho du khách bằng cái tên ấn tượng cho mỗi điểm đến như: Bắc Kinh còn đó vàng son của quá khứ hay Bắc Kinh trái tim hồng của Trung Quốc, Vân Nam lẩn khuất mây trời hay vùng đất phía Nam những tầng mây, Nam Ninh hiện đại và giàu bản sắc, Côn Minh xa mà gần, Quế Lâm thành phố Quế Hoa, Thượng Hải xưa và nay đồng hiện, Tô Châu cổ kính và hiện đại,…

    b- Chu kỳ sống của sản phẩm:

    Trong khi đó ở Việt Nam các công trình văn hóa chưa được quan tâm nhiều, nhiều nơi còn để cho các di tích chuyển thành phế tích, công tác quy hoạch chưa được chú trọng, việc bảo vệ và tôn tạo các di tích cũng bị buông lỏng, làm cho nhiều tài nguyên du lịch văn hóa bị xuống cấp, nhiều di tích bị xâm hại nghiêm trọng, điều này làm rút ngắn chu kỳ sống đối với từng sản phẩm du lịch đơn lẻ. Từ những yếu tố đó cho thấy sản phẩm du lich Trung Quốc có được lợi thế hơn hơn nhiều về chu kỳ sống của sản phẩm du lịch.

    Việc khai thác sản phẩm du lịch như thế nào để không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm du lịch của một điểm đến. Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì tiêu chí đánh giá các hoạt động kinh doanh du lịch làm ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái tại mỗi điểm đến của Việt Nam được xếp hạng thứ 99 trong khi đó Trung Quốc lại được đánh giá cao hơn xếp ở vị trí thứ 85, điều này cho thấy việc bảo về môi trường sinh thái đối với các hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến của Trung Quốc là tốt hơn so với Việt Nam.

    Tiêu chí đánh giá về sự ô nhiễm môi trường do khí điôxit các bon gây ra thì Trung Quốc bị đánh giá ở mức thấp xếp thứ 104 trong khi đó Việt Nam được đánh giá ở mức cao hơn song cũng bị xếp vào những nước mà môi trường bị ô nhiễm nặng do hoạt động công nghiệp khai thác gây ra và xếp ở vị trí thứ 98. Tiêu chí này có thể đe dọa đến tuổi thọ của sản phẩm du lịch.

    c- Tính tương đồng với tâm lý thị trường:

    Khi đời sống của con người ngày càng cao, thì sự ham muốn khám phá những nền văn hóa lớn trên thế giới ngày càng nhiều, đó chính là điều kiện cần thiết để nảy sinh nhu cầu du lịch của du khách đến với các nền văn hóa lớn trên thế giới. Hầu hết các du khách đều muốn khám phá tất cả những “hương vị” tinh hoa văn hóa của loài người, sự khám phá này càng được rõ nét hơn nếu họ được tận mắt nhìn thấy những công trình lịch sử vĩ đại, với quy mô hoành tráng, nét điêu khắc tinh sảo, nghệ thuật kiến trúc và bản sắc dân tộc độc đáo…

    Trung Quốc là đất nước có nền văn hóa – lịch sử rất lâu đời và ít nhiều có ảnh hưởng đến văn minh của nhân loại. Đây là nền văn hóa có ảnh hưởng lớn tới văn hóa phương Đông đặc biệt là khu vực Châu Á. Văn hóa Trung Quốc mang đệm nét của văn minh Hoàng Hà còn văn hóa Việt Nam mang đậm nét văn minh Sông Hồng tuy nhiên đều có sự tương đồng đó là văn hóa mang phong cách phương Đông. Xét về khía cạnh lịch sử thì nền văn hóa của Trung Quốc được đánh giá lâu đời hơn so với Việt Nam thông qua các di tích lịch sử được lưu giữ, chính vì vậy mà đối với khách du lịch khi đánh giá sản phẩm du lịch dựa trên yếu tố văn hóa – lịch sử thì họ thường cho rằng sản phẩm này của Trung Quốc thường được đánh giá cao hơn so với Việt Nam.

    d – Tiêu chí nổi trội:

    Tiêu chí về an ninh, an toàn tại các điểm đến thì Việt Nam được đánh giá khá cao so với Trung Quốc, với tiêu chí này thì Việt Nam được xếp thứ 51 trong khi đó Trung Quốc được đánh giá xếp thứ 83. Đây có thể là một lợi thế mà sản phẩm du lịch Việt Nam cần tận dụng cho tốt để khai thác sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh với sản phẩm du lịch của Trung Quốc.

    * Kết luận:

    – Trung Quốc thực sự có lợi thế hơn hẳn so với Việt Nam về tài nguyên du lịch nhân văn. Chính vì thế để nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm du lịch của Việt Nam so với sản phẩm du lịch của Trung Quốc thì ngành du lịch Việt Nam cần phải lựa chọn các sản phẩm du lịch dựa trên các nguồn tài nguyên tự nhiên độc đáo mà sản phẩm du lịch Trung Quốc không có hoặc không có lợi thế như: sản phẩm du lịch biển, sản phẩm du lịch rừng ngập mặn, sản phẩm du lịch dựa trên các nguồn tài nguyên lịch sử trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Pháp và Mỹ,….

    – Chất lượng dịch vụ du lịch của Việt Nam cần được nâng cao, cần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch tại mỗi điểm đến, nâng cao tính chuyên nghiệp trong quản lý du lịch. Chính vì yếu tố dịch vụ kém mà làm cho hình ảnh của du lịch Việt Nam ngày càng đi xuống. Cần quan tâm tới vấn đề đào tạo nghiệp vụ chuyên môn về du lịch cho lực lượng lao động trong ngành du lịch đây là yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng dịch vụ du lịch.

    – Để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm du lịch của Việt Nam trong dài hạn thì điều cần quan tâm đó là phải xác định cho được vị trí và tầm quan trọng của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân. Xây dựng một chiến lược thực sự có tầm để phát triển du lịch trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn, điều này sẽ làm cho các hoạt động du lịch phát triển đúng hướng. Đầu tư vào du lịch có chọn lọc, trọng tâm và dựa vào lợi thế sẵn có về tài nguyên du lịch nổi trội để đem lại hiệu quả kinh tế cao tại các điểm đến, đồng thời nâng cao lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm du lịch của Việt Nam trong dài hạn.

    – Vấn đề vệ sinh, an ninh, an toàn thực phẩm tại mỗi điểm đến của Việt Nam cần phải được quan tâm đầu tư, giáo dục cộng đồng dân cư và du khách về giữ vệ sinh bảo đảm môi trường sinh thái của mỗi điểm đến.

    – Công tác xúc tiến quảng bá hình ảnh du lịch củaViệt Nam trên trường quốc tế cần được quan tâm, coi trọng. Phải có chiến lược quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam với từng loại thị trường khách, để làm sao nâng cao hiệu quả trong công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, tạo được ấn tượng tốt cho khách du lịch, ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế đến và quay trở lại Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Máy Ảnh Du Lịch Sony Cyber
  • Những Tiềm Năng Góp Phần Phát Triển Du Lịch Quảng Bình
  • 10 Kinh Nghiệm Hay Khi Đi Du Lịch Hàn Quốc
  • Việt Nam Chính Thức Có Tân Đại Sứ Du Lịch Tại Pháp
  • Đại Lý Du Lịch Ở Tại Quảng Ngãi
  • ‘sản Phẩm Lạ’ Của Du Lịch Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đến 2022, Xây Dựng Được Sản Phẩm Du Lịch Đặc Trưng Vùng Tây Nguyên
  • Quảng Ninh: Sản Phẩm Du Lịch Mới
  • Nhiều Sản Phẩm Hấp Dẫn Kích Cầu Du Lịch Cuối Năm
  • Séc (Cheque) Là Gì? Đặc Điểm Và Phân Loại Séc
  • Séc Du Lịch(Séc Của Lữ Khách)
  • (Chinhphu.vn) – Với điều kiện diện tích đất nông, lâm nghiệp lớn và hệ sinh thái đa dạng, nhiều làng nghề truyền thống thuộc tỉnh Quảng Nam đã và đang phát triển nhiều sản phẩm du lịch trải nghiệm nông nghiệp, nông thôn hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế.

    Khách du lịch nước ngoài trải nghiệm tại Hội An – Ảnh: VGP/Thế Phong

    Đến với Quảng Nam hiện nay, bên cạnh tham quan Phố cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn, đảo Cù Lao Chàm, du khách còn có thêm lựa chọn trải nghiệm các hoạt động nông nghiệp, ngư nghiệp như ở làng rau Trà Quế, làng rau Thanh Đông; làng gốm Thanh Hà; làng chài; rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh (TP. Hội An); làng Triêm Tây (thị xã Điện Bàn); làng trái cây Đại Bình (huyện Nông Sơn); làng cổ Lộc Yên (huyện Tiên Phước); làng bích họa Tam Thanh (TP. Tam Kỳ)…

    Những địa chỉ du lịch này giúp du khách được trải nghiệm, hoà mình vào cuộc sống thực tế sản xuất của người nông dân. Ngoài ra, du khách còn được tìm hiểu về lịch sử, văn hóa của làng nghề: Hiểu về nếp ăn, nếp ở, việc truyền nghề, dạy nghề, tham gia các ngày lễ hội của làng nghề…

    Theo UBND TP. Hội An, sản phẩm du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp tạo được thiện cảm lớn với du khách, nhất là du khách đến từ châu Âu, Đông Bắc Á. Trong đó, làng rau Trà Quế là sản phẩm du lịch nông nghiệp thu hút khách trong hơn 10 năm qua. Hằng năm, nơi đây đón hàng chục ngàn lượt khách đến tham quan, lưu trú và trải nghiệm. Các làng du lịch cộng đồng tại Hội An đã góp phần làm giảm áp lực quá tải tại phố cổ Hội An, tăng các sản phẩm trải nghiệm cho du khách.

    Khách du lịch trải nghiệm trồng rau – Ảnh: VGP/Thế Phong

    Du lịch nông nghiệp, nông thôn hiện nay còn được phát triển tại các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam với các điểm đến như: Quần thể Pơ mu có trên 1.200 cây (cây lớn có đường kính 2-2,5 m, cao trên 30 m); làng du lịch Pơning (huyện Tây Giang), làng du lịch Bho Hoong (huyện Đông Giang); làng du lịch cộng đồng Cơ Tu (huyện Nam Giang); điểm du lịch vườn sâm Ngọc Linh (huyện Nam Trà My)… Đây là những sản phẩm du lịch có sự kết hợp giữa du lịch nông nghiệp, du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số, mang đến nét độc đáo mới cho du lịch Quảng Nam.

    Có thể nói, du lịch nông nghiệp đang dần trở thành một “món ăn lạ”, bên cạnh các loại hình du lịch di sản văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng vốn là những thế mạnh của du lịch Quảng Nam. Phát triển du lịch trải nghiệm nông nghiệp, nông thôn bước đầu đem lại hiệu quả cả về kinh tế-xã hội lẫn môi trường ở Quảng Nam, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân nông thôn.

    Phát huy kết quả trên, trong thời gian tới, tỉnh Quảng Nam tiếp tục ưu tiên phát triển các hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống gắn với du lịch trải nghiệm nhằm khai thác các giá trị văn hóa truyền thống lâu đời, dân dã trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân ở nông thôn; phát triển các tour đưa khách du lịch đến các vùng nông thôn đã và đang thực hiện phong trào xây dựng khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu ở tỉnh Quảng Nam với tên gọi “Về với miền quê đáng sống”.

    Các tour này sẽ chú trọng phát triển các dịch vụ kèm theo như ăn uống, nghỉ ngơi, lưu trú, sinh hoạt tại nhà dân để tăng nguồn thu cho cư dân nông thôn.

    Thế Phong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghệ An: Lựa Chọn 35 Sản Phẩm Đặc Trưng Phục Vụ Du Lịch
  • Ninh Bình: Đầu Tư Hạ Tầng, Cơ Sở Vật Chất Kỹ Thuật, Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch
  • Ninh Bình Làm Mới Sản Phẩm Để “Giữ Chân” Du Khách
  • Mưa Huế Đã Thành Sản Phẩm Du Lịch Của Cố Đô
  • Sức Hấp Dẫn Từ Những Sản Phẩm Du Lịch Mới
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Tàu Du Lịch Trên Sông Sài Gòn Và Sông Mê Kông
  • Cho Thuê Tàu Du Lịch Theo Giờ Giá Rẻ Sông Sài Gòn
  • Top 5 Thành Phố Phải Đến Du Lịch Và Trải Nghiệm Ở Việt Nam
  • Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Hàn Quốc
  • Các Tổ Chức Mà Sinh Viên Ngành Du Lịch Nhất Định Cần Biết
  • Theo nhận định của các chuyên gia du lịch, Việt Nam có hệ thống sản phẩm du lịch khá đa dạng và có nhiều điểm mạnh: đa dạng về sản phẩm tại điểm đến (du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch mạo hiểm, du lịch thành phố…); giàu giá trị truyền thống văn hóa với hệ thống di sản, di tích, lễ hội đặc sắc; có thế mạnh nổi trội về du lịch biển đảo; chất lượng dịch vụ, cơ sở lưu trú du lịch ngày càng được nâng cao; giá cả hợp lý; thị trường du lịch nội địa ổn định, tạo cơ sở vững chắc cho việc phát triển du lịch bền vững; có thế mạnh trong việc liên kết phát triển các sản phẩm du lịch nội vùng và liên vùng…

    Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh, sản phẩm Du lịch Việt Nam vẫn tồn tại nhiều điểm yếu như: sản phẩm du lịch nghèo nàn, đơn điệu và trùng lặp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa được khai thác hiệu quả; chưa tạo ra được những sản phẩm du lịch chủ lực đặc thù, phù hợp cho từng phân khúc thị trường khách du lịch… Để khắc phục hạn chế này, các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp du lịch, du khách, cộng đồng dân cư… cần thực thi đồng bộ nhiều giải pháp nhằm phát huy điểm mạnh, hạn chế giảm thiểu những điểm yếu, phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng và thúc đẩy Du lịch Việt Nam phát triển bền vững.

    Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu và toàn diện, Du lịch Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen, sự tham gia của Du lịch Việt Nam trong hoạt động của các tổ chức, cơ chế khu vực và quốc tế như ASEAN, APEC, ASEM, UNWTO, PATA, GMS, Hành lang kinh tế Đông – Tây… ngày càng trở nên tích cực và hiệu quả. Đây là cơ hội để Việt Nam tiếp cận các thị trường du lịch quốc tế, tiếp nhận những cơ chế đào tạo nguồn nhân lực du lịch, từ đó đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Quan hệ ngoại giao tích cực của Việt Nam với thế giới cũng đang mở ra cơ hội thu hút đầu tư vốn và cộng nghệ vào Việt Nam nói chung và đầu tư du lịch nói riêng… Bên cạnh đó là những thách thức không nhỏ như: nguy cơ khủng khoảng kinh tế; diễn biến phức tạp an ninh, chính trị trên bình diện quốc tế; sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt… đòi hỏi Việt Nam phải nhạy bén, nắm bắt kịp thời và chính xác những xu hướng của du lịch thế giới; đồng thời, cần nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm du lịch với lợi thế quốc gia và sự độc đáo của văn hóa dân tộc để khẳng định mình trong quá trình hội nhập du lịch quốc tế và cạnh tranh toàn cầu.

    Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 xác định ưu tiên phát triển mạnh các sản phẩm du lịch theo ưu thế nổi trội về tài nguyên tự nhiên và văn hóa; mở rộng các loại hình du lịch mới (du thuyền, caravan, MICE, du lịch giáo dục, du lịch dưỡng bệnh, du lịch làm đẹp, du lịch ẩm thực); liên kết tạo sản phẩm du lịch vùng, liên kết ngành hàng không, đường sắt, tàu biển tạo sản phẩm đa dạng; phát triển sản phẩm du lịch theo đặc trưng 7 vùng lãnh thổ, bao gồm:

    Vùng trung du, miền núi Bắc Bộ: du lịch văn hóa, sinh thái gắn với tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.

    Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc: du lịch danh lam thắng cảnh biển, du lịch văn hóa, du lịch đô thị, du lịch MICE.

    Vùng Bắc Trung Bộ: tham quan tìm hiểu các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lịch sử và du lịch đường biên.

    Vùng duyên hải Nam Trung Bộ: du lịch nghỉ dưỡng biển đảo, tìm hiểu các di sản văn hóa thế giới, văn hóa biển và ẩm thực biển.

    Vùng Tây Nguyên: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa.

    Vùng Đông Nam Bộ: du lịch đô thị, du lịch MICE, du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo.

    Vùng đồng bằng sông Cửu Long: du lịch sinh thái, khai thác các giá trị văn hóa sông nước miệt vườn, nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo, du lịch MICE.

    Theo đó,cần có sự đầu tư nghiên cứu để tạo nên các sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, có tính đặc thù rõ nét; ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch có thế mạnh như: du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng…; ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, hướng tới thu hút khách chi trả cao và lưu trú dài ngày…

    Theo nhận định của Tổ chức Du lịch thế giới, trong những năm tới, du lịch vẫn là ngành có nhiều triển vọng. Xu thế dòng khách quốc tế sẽ tiếp tục chuyển dịch đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Đây sẽ là cơ hội để Du lịch Việt Nam bứt phá ngoạn mục về tăng trưởng khách; hình ảnh thương hiệu du lịch quốc gia, chất lượng sản phẩm, dịch vụ và nguồn nhân lực… Để làm được điều đó, ngành Du lịch cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau: kiên quyết xử lý các vấn nạn đang tồn tại trong hoạt động kinh doanh du lịch, như làm ăn chộp giật, chặt chém khách, tiến tới chấm dứt một loạt hình ảnh xấu của môi trường du lịch; huy động tổng hợp nguồn lực và đẩy mạnh hơn nữa công tác quảng bá, xúc tiến du lịch theo hướng chuyên nghiệp; thay đổi cách thức xây dựng sản phẩm du lịch để tạo ra các sản phẩm có chất lượng, giàu bản sắc, có sức cạnh tranh cao…

    Tài liệu tham khảo

    1. Chính phủ (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030;

    2. Nguyễn Trùng Khánh (2011), Phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế: kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á và gợi ý chính sách cho Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế;

    3. chúng tôi Phạm Trung Lương (2015), Phát triển Du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, V iện Nghiên cứu Phát triển Du lịch;

    4. Dwyer L, Forsyth P, Rao P (2000), The price competitiveness of travel and tourism: A comparison of 19 destinations, Tourism Management.

    5. J. R. Brent Ritchie, Geoffrey I. Crouch (2003), The competitive destination: A sustainable tourism perspective, CABI.

    6. Hassan SS (2000),

    Determinants of market competitiveness in an environmentally sustainable tourism industry, Journal of Travel.

    ThS. Nguyễn Đức Tân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sản Phẩm Du Lịch Gồm Những Gì? Những Sản Phẩm Du Lịch Tiêu Biểu
  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì
  • Thành Phố Hội An Phát Triển Đa Dạng Các Sản Phẩm Du Lịch
  • Củng Cố Sản Phẩm Du Lịch Hội An
  • Tổng Hợp Danh Sách Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Người Việt Nam
  • Việt Nam Giới Thiệu Các Sản Phẩm Du Lịch Đến Người Dân Indonesia

    --- Bài mới hơn ---

  • Đưa Các Sản Phẩm Du Lịch Việt Nam Đến Gần Hơn Với Người Séc
  • Cho Thuê Tàu Du Lịch Theo Giờ Giá Rẻ Trên Sông Sài Gòn
  • Top 5 Du Thuyền Ăn Tối Sông Sài Gòn
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Nga: Các Thành Phố Nổi Tiếng
  • Top 10 Thành Phố Nổi Tiếng Ở Nga
  • Đồng thời quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa nhằm thu hút ngày càng nhiều khách du lịch Indonesia đến Việt Nam.

    Mục tiêu của sự kiện này là tăng cường hợp tác chặt chẽ giữa Việt Nam và Indonesia trong lĩnh vực du lịch; giới thiệu tiềm năng du lịch Việt Nam với các cơ quan truyền thông Indonesia và các nhà khai thác du lịch…

    Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam Hà Văn Siêu, Việt Nam và Indonesia là hai nền kinh tế lớn của ASEAN, song số lượng khách du lịch qua lại giữa hai nước chưa nhiều do nhiều nguyên nhân.

    Đến nay, với nhiều cố gắng của chính phủ và các nhà đầu tư, doanh nghiệp, điều kiện hạ tầng đã từng bước được giải quyết, tạo điều kiện tăng lượng khách du lịch Indonesia sang Việt Nam, đặc biệt khi Vietjet mở đường bay thẳng Thành phố Hồ Chí Minh – Jakarta.

    Việt Nam còn có nhiều di sản thế giới nổi tiếng và hấp dẫn được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận gồm 10 Di sản hữu hình và 10 Di sản vô hình; các làng nghề, các lễ hội đậm chất văn hóa đặc sắc…

    Ẩm thực Việt Nam cũng đa dạng và độc đáo với những món ăn đã trở nên nổi tiếng thế giới như nem, phở…

    Tiềm năng đa dạng giúp Việt Nam phát triển nhiều loại hình du lịch phong phú như du lịch văn hóa, ẩm thực, giải trí, khám phá, mạo hiểm… đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của du khách.

    Bà Magdalena Atmadja, Giám đốc Maketing công ty lữ hành Platinum của Indonesia, cho biết: “Chúng tôi thường đưa khách Indonesia sang du lịch Việt Nam đến Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, trong tương lai chúng tôi sẽ khai thác thêm các địa điểm khác như Hạ Long, Phong Nha, Ninh Bình…”.

    Trong khi đó, ông Akhmad Dani, Giám đốc Goodway, một công ty Indonesia đã hoạt động trong lĩnh vực du lịch được 17 năm, cho biết mỗi năm công ty đưa khoảng 300-500 khách sang Việt Nam.

    Những khó khăn chính trong việc đưa khách du lịch Indonesia sang Việt Nam là hướng dẫn viên du lịch biết tiếng Indonesia rất ít, khách du lịch Hồi giáo lại yêu cầu đồ ăn Halah.

    Tuy nhiên, theo ông, Việt Nam có nhiều hải sản nên cũng đáp ứng được đồ ăn Halah cho người Hồi giáo.

    Với các sản phẩm du lịch hấp dẫn và độc đáo, sự thân thiện của người Việt Nam, các chính sách tăng cường an ninh và an toàn cho khách du lịch, miễn thị thực cho công dân thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các thị trường trọng điểm khác, cũng như sự hỗ trợ của các đại lý du lịch Indonesia và các cơ quan truyền thông, dự kiến số lượng khách du lịch Indonesia đến Việt Nam sẽ tăng đáng kể, tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Việt Nam, cũng như sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Phong Phú Các Sản Phẩm Du Lịch Ở Cà Mau
  • Thêm Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Mới Tại Thừa Thiên Huế
  • Để Phát Huy Tốt Hơn Các Sản Phẩm Và Điểm Tham Quan Du Lịch Ở Huế
  • Các Sản Phẩm Văn Hóa Du Lịch Ở Hội An
  • Đi Tìm Sản Phẩm Đặc Biệt Của Du Lịch Việt Nam
  • Đưa Các Sản Phẩm Du Lịch Việt Nam Đến Gần Hơn Với Người Séc

    --- Bài mới hơn ---

  • Cho Thuê Tàu Du Lịch Theo Giờ Giá Rẻ Trên Sông Sài Gòn
  • Top 5 Du Thuyền Ăn Tối Sông Sài Gòn
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Nga: Các Thành Phố Nổi Tiếng
  • Top 10 Thành Phố Nổi Tiếng Ở Nga
  • Tour Du Lịch Nga Bằng Du Thuyền Trên Sông Volga
  • Phát biểu khai mạc Diễn đàn doanh nghiệp, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam, ông Nguyễn Văn Tuấn, nhắc lại mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Tiệp Khắc trước đây, nhấn mạnh tới những tiềm năng hợp tác du lịch giữa Việt Nam và Cộng hòa Séc còn chưa được khai thác hết.

    Ông cho biết du lịch là một trong những mũi nhọn kinh tế của Việt Nam. Nếu như năm 1995 Việt Nam mới đón được 1 triệu lượt khách du lịch quốc tế thì đến năm nay con số dự báo sẽ là 16 triệu.

    Trong 2 triệu lượt khách châu Âu chỉ có hơn 17.000 lượt khách Séc – là một con số khiêm nhường. Việt Nam có nhiều thế mạnh để thu hút khách Séc như hơn 3.000km bờ biển ấm áp quanh năm, vịnh Hạ Long đẹp hàng đầu thế giới, hệ thống hang động Phong Nha-Kẻ Bàng kỳ vĩ bậc nhất toàn cầu, vùng văn hóa miệt vườn Nam Bộ độc đáo…

    Bên cạnh Diễn đàn doanh nghiệp là các cuộc gặp trực tiếp giữa các công ty du lịch lữ hành Việt Nam và Séc nhằm trao đổi thông tin, tìm kiếm cơ hội hợp tác. Các diễn viên của Nhà hát Múa rối Trung ương đã giới thiệu với bạn bè Séc những nét đẹp văn hóa Việt Nam thông qua loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo.

    Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam Nguyễn Văn Tuấn và Phó Chủ tịch Hiệp hội các công ty du lịch lữ hành Séc Jan Papez đều có chung quan điểm cho rằng sản phẩm du lịch của Việt Nam và Cộng hòa Séc hoàn toàn đáp ứng được đòi hỏi của khách du lịch hai bên, sự hợp tác du lịch song phương chưa đạt được kỳ vọng là do rào cản thị thực, chưa có đường bay thẳng Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh tới Prague, khâu xúc tiến, quảng bá du lịch chưa tốt…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Việt Nam Giới Thiệu Các Sản Phẩm Du Lịch Đến Người Dân Indonesia
  • Phát Triển Phong Phú Các Sản Phẩm Du Lịch Ở Cà Mau
  • Thêm Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Mới Tại Thừa Thiên Huế
  • Để Phát Huy Tốt Hơn Các Sản Phẩm Và Điểm Tham Quan Du Lịch Ở Huế
  • Các Sản Phẩm Văn Hóa Du Lịch Ở Hội An
  • Đánh Giá Khả Năng Cạnh Tranh Sản Phẩm Du Lịch Của Việt Nam Với Sản Phẩm Du Lịch Của Trung Quốc – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Đà Nẵng – Nơi Hội Tụ Của Tiềm Năng Du Lịch – Cổng Du Lịch Thành Phố Đà Nẵng
  • Đánh Giá Hiện Trạng Một Số Thị Trường Khách Du Lịch Quốc Tế Đến Đà Nẵng – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Chuyên Gia Quốc Tế Đánh Giá Thế Nào Về Du Lịch Việt Nam
  • Cùng Nhau Thăm Thú Tại Top 6 Hòn Đảo Ở Singapore Nổi Tiếng
  • Khu Vui Chơi Giải Trí Quốc Tế Tuần Châu Hạ Long
  • Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, với rất nhiều công trình văn hóa – lịch sử nổi tiếng trên thế giới. Trong vài năm trở lại đây, Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng và đang trở thành một trong những cường quốc về kinh tế và quân sự trên thế giới. Là người bạn gần gũi và quen thuộc với của nhân dân Việt Nam, có sự tương đồng về văn hóa nên nhiều sản phẩm du lịch văn hóa có tính tương đồng, nằm ngay sát với Việt nam nên ít nhiều các sản phẩm du lịch của Trung Quốc có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới thị trường khách du lịch đến Việt Nam. Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm du lịch Việt Nam với sản phẩm du lịch của Trung Quốc để ngành du lịch của chúng ta biết được cần phải làm những gì để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm du lịch của mình và ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam.

    * Một số chỉ tiêu kinh tế của hai nước

     

    Việt Nam là đất nước nhỏ bé so với Trung Quốc, theo thống kê năm 2005 thì dân số của Việt Nam chỉ bằng 6,8% dân số của Trung Quốc. Về diện tích thì Việt Nam chỉ bằng khoảng 3,5% diện tích của Trung Quốc. Điều đó cho thấy Trung Quốc là một đất nước rộng lớn và đông dân hơn rất nhiều so với Việt Nam.

    Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của Trung Quốc cũng rất ấn tượng, theo thống kê năm 2005 giá trị GDP của Trung Quốc đạt 2.234,1 tỷ USD trong khi đó chỉ số này ở Việt Nam mới chỉ là 51,4 tỷ USD chỉ bằng 2,3% tổng giá trị GDP mà Trung Quốc tạo ra. Trong đó tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc đạt 10,2% trong khi đó tóc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 8,4%. Những con số này cho thấy Trung Quốc là nền kinh tế lớn và phát triển hơn rất nhiều so với nền kinh tế của Việt Nam.

    * Một số chỉ tiêu du lịch:

     

    Năm 2005, giá trị GDP mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra là 63.424 triệu USD trong khi đó với chỉ tiêu này thì ngành du lịch Việt Nam tạo ra được 1.834 triệu USD chỉ chiếm khoảng 2,9% giá trị GDP mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra. Theo dự báo của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì trong giai đoạn 2007 đến 2022 thì tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc sẽ là 8,7% trong khi đó cũng theo dự báo của tổ chức này thì tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chỉ là 6,2%. Với quy mô rất lớn cộng với tốc độ tăng trưởng dự kiến lớn hơn nhiều so với Việt Nam thì trong giai đoạn 2007 đến 2022 thì du lịch Trung Quốc càng vượt rất xa so với du lịch của Việt Nam.

    Năm 2005, du lịch Trung Quốc đã tạo ra 17.383 ngàn việc làm trực tiếp từ các hoạt động du lịch, trong khi đó số lao động trực tiếp mà ngành du lịch Việt Nam tạo ra là 953 ngàn lao động chỉ chiếm 5,5% lực lượng lao động mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra, điều này càng khẳng định du lịch Trung Quốc có quy mô rất lớn so với du lịch Việt Nam. Lượng lao động mà ngành du lịch Trung Quốc tạo ra chiếm 10,3% lượng lao động của toàn bộ nền kinh tế trong khi đó lượng lao động mà ngành du lịch Việt Nam tạo ra chỉ chiếm 2,5% lượng lao động trong toàn bộ nền kinh tế. Điều đó cho thấy vai trò của ngành du lịch Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của Trung Quốc, còn du lịch Việt Nam thì mức độ ảnh hưởng là thấp hơn nhiều.

    Đánh giá một số tiêu chí cạnh tranh giữa sản phẩm du lịch của Trung Quốc với sản phẩm du lịch của Việt Nam:

    * Các yếu tố nội hàm:

    a- Tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch:

     

    a- Tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch:

    Tiêu chí về tài nguyên văn hóa thì Trung Quốc thực sự có lợi thế rất lớn so với Việt Nam. Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế năm 2007 thì Trung Quốc được xếp hạng thứ 60 và đạt số điểm 4,4 trong khi đó Việt Nam kém tới 24 bậc và được xếp hạng thứ 84 và chỉ đạt số điểm là 3,8 điểm.

    Tiêu chí đánh giá các khu vực được quốc gia bảo vệ thì Trung Quốc được đánh giá ở vị trí khá xếp thứ 56 trong khi đó du lịch Việt Nam được đánh giá ở mức thấp xếp thứ 88. Tiêu chí đánh giá về số lượng di sản thế giới thì Trung Quốc được đánh giá rất cao và đây là một trong 3 cường quốc có số lượng lớn về di sản thế giới, với tiêu chí này Việt Nam chỉ đứng thứ 48.

    Điều này cho thấy Trung Quốc có lợi thế vượt trội so với Việt Nam về tài nguyên du lịch văn hóa, với lợi thế to lớn này thì Việt Nam khó có thể cạnh tranh với du lịch Trung Quốc về loại sản phẩm du lịch mà dựa trên yếu tố tài nguyên du lịch văn hóa.

    b- Khả năng tiếp cận sản phẩm du lịch:

     

    Về tiêu chí thủ tục Visa, Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành thì tiêu chí này của Việt Nam và Trung Quốc là tương đương nhau và được xếp ở vị trí thứ 94.

    Tiêu chí về cơ sở vận chuyển hàng không: đây là tiêu chí khá quan trọng đối với hoạt động du lịch trong thời kỳ hội nhập và mở cửa với thế giới, nó rút bớt khoảng cách về mặt không gian, đồng thời có thể tiết kiệm về mặt thời gian và tiền bạc cho du khách. Với tiêu chí này thì Trung Quốc được đánh giá khá cao xếp thứ 36, trong khi đó tiêu chí này của Việt Nam chỉ được đánh giá ở mức yếu và được xếp ở hạng 90.

    Tiêu chí về cơ sở vận chuyển đường bộ: cũng là tiêu chí có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm du lịch của mỗi quốc gia. Tiêu chí này, Trung Quốc cũng được đánh giá là khá tốt, được xếp hạng 45 trong khi đó chỉ tiêu này của Việt Nam được đánh giá ở mức thấp xếp thứ 85.

    Tiêu chí về phương tiện vận chuyển đường sắt: cũng là một trong những tiêu chí có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ du lịch. Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì tiêu chí về phương tiện vận chuyển đường sắt của Trung Quốc được xếp thứ 33 trong khi đó tiêu chí này của Việt Nam là 70 điều này cho thấy khả năng cạnh tranh về phương tiện vận chuyển đường sắt của Việt Nam so với Trung Quốc là khó có thể cạnh tranh được trong thời gian ngắn.

    Tiêu chí về cơ sở hạ tầng hỗ trợ phát triển du lịch của Trung Quốc và Việt Nam đều bị đánh giá ở mức yếu kém, Trung Quốc xếp thứ 113 thì Việt Nam chỉ đứng trên có 3 nước xếp hạng thứ 121. Đây là tiêu chí cần phải được quan tâm để nâng cao lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm du lịch tại mỗi điểm đến.

    c- Giá cả:

     

    Tiêu chí về giá sản phẩm du lịch của Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức cao, Trung Quốc xếp thứ 11 thì tiêu chí này của Việt Nam xếp thứ 10. Điều đó cho thấy về giá thì sản phẩm du lịch của Việt Nam và Trung Quốc đều có lợi thế rất lớn về giá, mặc dù sản phẩm du lịch Việt Nam có lợi thế hơn một chút về giá so với sản phẩm du lịch Trung Quốc tuy nhiên tiêu chí cạnh tranh này chưa thực sự rõ ràng bởi lợi thế về giá giữa sản phẩm du lịch Trung Quốc và Việt Nam là gần như tương đương nhau. Có thể lấy ví dụ: giá vé vào các khu du lịch ở Trung Quốc không rẻ như ở Việt Nam vé vào cổng vạn Lý Trường thành hay vào Cố Cung giá tới 90 nhân dân tệ, tương đương với 170 ngàn đồng Việt Nam, nhưng bù lại, du khách lại được thong dong, ở khu du lịch nào cũng có hướng dẫn viên du lịch biết tiếng địa phương hay ngoại ngữ để du khách “thuê” hướng dẫn, được sử dụng toilet sạch sẽ và quan trọng nhất là một môi trường sạch, các khu du lịch có quy mô đồ sộ, nhưng không có rác trên đường. Điều này làm cho yếu tố về giá sản phẩm du lịch giữa hai nước là không có lợi thế vượt trội.

    d- Chất lượng phục vụ:

     

    Chi tiêu của du khách phần nhiều vào ăn nghỉ, thường chi phí này chiếm từ 20 đến 30% tổng chi phí cho toàn bộ chuyến du lịch, chính vì thế đối với du khách và những nhà nghiên cứu thì tiêu chí đánh giá về cơ sở vật chất ngành du lịch rất được quan tâm. Tiêu chí về hệ thống phòng khách sạn của Việt Nam và Trung Quốc được đánh giá tương đương nhau trong khi Trung Quốc được xếp hạng thứ 87 thì Việt Nam được xếp hạng thứ 88. Điều này cho thấy khả năng cạnh tranh về phòng khách sạn của 2 nước là tương đương nhau, không có sự trênh lệch nhiều.

    Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với hoạt động du lịch, nó có tính quyết định lớn tới chất lượng các loại hình dịch vụ du lịch và là nhân tố cần thiết đảm bảo khả năng thực thi các hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến. Theo đánh giá, về nguồn nhân lực của du lịch Trung Quốc đứng thứ 74/124 nước, số điểm đánh giá là 5 điểm. Trong khi đó nguồn lao động của Việt Nam đứng thứ 81 kém Trung Quốc 7 bậc và có được số điểm là 4,9 điểm.

    Về chất lượng giáo dục và đào tạo trong ngành du lịch thì Trung Quốc được xếp thứ 72 và có được số điểm là 4,6 điểm, cũng theo tiêu chí này thì Việt Nam chỉ đứng thứ 82 kém Trung Quốc 10 bậc và có được số điểm theo đánh giá là 4,3 điểm.

    Tiêu chí số lượng người lao động trong ngành du lịch được đào tạo sơ cấp thì Trung Quốc được đánh giá ở vị trí rất cao, xếp vị trí thứ nhất. Điều đó cho thấy sự phổ cập giáo dục về du lịch của Trung Quốc là rất tốt mà Việt Nam cần phải học tập để giáo dục du lịch tại các điểm đến. Trong khi đó giáo dục đào tạo sơ cấp về du lịch cho đội ngũ nhân viên du lịch của Việt Nam được đánh giá ở mức yếu chỉ đứng thứ 94.

    Đánh giá tiêu chí về các loại hình dịch vụ đào tạo và khả năng nghiên cứu du lịch tại mỗi điểm đến. Tiêu chí này thì Trung Quốc được đánh giá ở vị trí thứ 46 trong khi đó Việt Nam được đánh giá ở mức thấp hơn xếp vị trí thứ 76, kém Trung Quốc tới 30 bậc điều đó cho thấy những yếu kém và bất cập trong công tác nghiên cứu và đào tạo du lịch của Việt Nam so với Trung Quốc. Số lượng lao động trong ngành du lịch được đào tạo trung cấp về nghiệp vụ du lịch của Việt Nam được đánh giá cao hơn một chút so với Trung Quốc, song cả 2 nước đều đứng ở mức thấp, Việt Nam được xếp thứ 81 thì Trung Quốc được xếp thứ 83.

    Về tiêu chí trình độ chuyên môn nghiệp vụ du lịch thì du lịch Trung Quốc có tính chuyên nghiệp cao hơn so với Việt Nam, theo đánh giá xếp hạng thì tiêu chí này của Trung Quốc được xếp thứ 79 và đạt 6,0 điểm, còn Việt Nam chỉ đứng thứ 83 và số điểm chỉ đạt 5,9 điểm.

    Tiêu chí đánh giá thái độ của cộng đồng dân cư tại điểm đến đối với khách du lịch thì Việt Nam có lợi thế hơn hẳn so với Trung Quốc trong khi Việt Nam xếp ở vị trí thứ 66 thì Trung Quốc được đánh giá rất thấp xếp thứ 112.

    e- Khả năng được đầu tư, xúc tiến:

     

    Vai trò của chính phủ trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam trong mấy năm gần đây được cải thiện rất nhiều, đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong lĩnh vực du lịch đã có được nhiều tiến bộ lớn song do thời gian mở cửa nền kinh tế của Việt Nam chưa lâu do vậy mà tiêu chí này của Việt Nam còn thấp xếp thứ 73 trong khi đó tiêu chí này của Trung Quốc được đánh giá ở mức khá xếp thứ 42. Đây là tiêu chí khá quan trọng và cần thiết để tạo động lực to lớn cho hoạt động du lịch phát triển. Chính vì vậy mà chính phủ và ngành du lịch Việt Nam cần quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài có môi trường tốt để họ có thể đầu tư vào lĩnh vực du lịch của Việt Nam đồng thời nâng cao được khả năng cạnh tranh cho sản phẩm du lịch Việt Nam trên trường quốc tế.

    Tiêu chí đánh giá sự ưu tiên của chính phủ trong hoạt động du lịch, trong đó đánh giá sự ưu tiên của chính phủ đối với các hoạt động du lịch thì Trung Quốc và Việt Nam đều được đánh giá ở mức khá. Theo đánh giá thì tiêu chí này của Trung Quốc có phần trội hơn so với Việt Nam được xếp thứ 49 trong khi đó Việt Nam được xếp thứ 61.

    Trong tiêu chí cạnh tranh về khung pháp lý thì tiêu chí về chiến lược ưu tiên đối với phát triển du lịch tại mỗi điểm đến giữa Trung Quốc và Việt Nam được xếp hạng như sau: tiêu chí này thì Trung Quốc được xếp hạng thứ 33 trong khi đó tại Việt Nam thì tiêu chí này là 76, thấp hơn 43 bậc, điều đó cho thấy sự quan tâm, đầu tư của nhà nước và chiến lược ưu tiên phát triển du lịch của Trung Quốc rất được quan tâm.

    Tiêu chí đánh giá sự tham gia các hội trợ du lịch quốc tế nhằm quảng bá hình ảnh và thương hiệu sản phẩm du lịch cho một điểm đến. Đây là một tiêu chí nhằm đánh giá các hình thức quảng bá về đất nước con người và các sản phẩm du lịch đặc trưng của một điểm đến. Với tiêu chí này, Du lịch Trung Quốc được đánh giá rất cao, xếp hạng thứ 4 trong khi đó du lịch Việt Nam chỉ được đánh giá ở mức trung bình khá và xếp hạng thứ 48.

    f – Vấn đề tổ chức sản phẩm:

     

    Môi trường kinh doanh du lịch là nhân tố tác động đến đối tượng cung du lịch, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm du lịch tại mỗi điểm đến. Một điểm đến mà có môi trường kinh doanh thông thoáng, lành mạnh, đảm bảo sự kinh doanh công bằng và có sự bảo vệ của nhà nước trong hoạt động du lịch là yếu tố thực sự cần thiết và là cơ sở để cho các hoạt động du lịch tại điểm đến có cơ hội hoạt động và phát triển. Theo tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế đánh giá thì tiêu chí về sự nghiêm ngặt trong các quy định về môi trường kinh doanh du lịch thì Việt Nam được xếp hạng thứ 108 tức là ở mức yếu kém, trong khi đó cũng chỉ tiêu này thì Trung Quốc được xếp hạng thứ 97 tức là hơn Việt Nam 11 bậc. Tuy nhiên với tiêu chí này thì cả Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức yếu kém.

    Tiêu chí về sự ổn định và minh bạch trong các quy định về môi trường kinh doanh du lịch thì Trung Quốc được đánh giá ở mức 76 trong khi đó Việt Nam được đánh giá ở mức yếu kém về tính minh bạch và xếp ở mức 101.

    Tiêu chí về sức khỏe và vệ sinh an toàn thực phẩm tại mỗi điểm đến thì du lịch Trung Quốc được xếp hạng thứ 84 trong khi đó chỉ tiêu này của Việt Nam chỉ là 94 thấp hơn 10 bậc, điều này cho thấy vấn đề vệ sinh đảm bảo sức khỏe cho du khách tại mỗi điểm đến của Việt Nam cần phải được đầu tư và quan tâm nhiều hơn nữa để có thể cải thiện vệ sinh đảm bảo sức khỏe cho du khách tại mỗi điểm đến mới mong có thể cạnh tranh được với sản phẩm du lịch của Trung Quốc.

    Tiêu chí về các biện pháp của chính phủ nhằm làm giảm rủi ro về sức khỏe cho du khách từ các dịch bệnh, đây là một trong những tiêu chí khá quan trọng vì nó đảm bảo tính mạng cho du khách khi tham gia các hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến. Tiêu chí này mà cao thì du khách cảm thấy sẽ được an tâm trong hành trình du lịch của mình, chính điều này làm cho thương hiệu về sản phẩm du lịch được nâng cao hơn. Với tiêu chí này thì Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức tốt tuy nhiên với tiêu chí này Việt Nam được đánh giá cao hơn so với Trung Quốc. Việt Nam được xếp thứ 15 trong khi đó Trung Quốc được xếp ở hạng 24.

    Tiêu chí về các biện pháp của chính phủ và các địa phương nhằm cải thiện nguồn nước uống đây chính là một trong những tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mỗi điểm đến. Với tiêu chí này Việt Nam được xếp hạng thứ 83 cao hơn với cùng tiêu chí này của Trung Quốc là 6 bậc. Tiêu chí về mật độ bác sỹ thì Việt Nam được xếp ở vị trí thứ 92 trong khi đó Trung Quốc được đánh giá ở mức cao hơn 13 bậc và xếp ở vị trí thứ 79.

    Hệ thống các trạm ATM ngày nay càng trở nên cần thiết đối với du khách, đặc biệt là du khách quốc tế, với tiêu chí này thì Việt Nam được đánh giá ở mức thấp hơn nhiều so với Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc được xếp ở thứ 85 thì Việt Nam được xếp ở hạng 93, khoảng cách này cho thấy Việt Nam cũng bị mất lợi thế cạnh tranh về tiêu chí này so với Trung Quốc.

    Trong thời đại của công nghệ thông tin và truyền thông thì tiêu chí về cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc có ảnh hưởng nhiều tới hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến. Với tiêu chí này thì Trung Quốc được xếp ở mức trung bình xếp thứ 63 trong khi đó tiêu chí này của Việt Nam xếp ở mức 88 tức là ở mức yếu.

    Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ thông tin của Việt Nam trong mấy năm trở lại đây được bạn bè quốc tế đánh giá rất cao, song việc ứng dụng internet cho hoạt động du lịch của Việt Nam vẫn bị đánh giá thấp về quy mô sử dụng, Việt Nam chỉ được xếp hạng thứ 111 trong khi đó Trung Quốc được xếp hạng thứ 75. Hiện tại khả năng cạnh tranh của Việt Nam về tiêu chí này so với Trung Quốc là chưa thể, song với sự phát triển nhanh chóng và vượt bậc của ngành viễn thông của Việt Nam trong thời gian tới thì trong tương lai tiêu chí này của Việt Nam sẽ được cải thiện nhanh chóng và có thể đây sẽ là một lợi thế mà Việt Nam có thể cạnh tranh được với Trung Quốc.

    * Các yếu tố ảnh hưởng:

    a- Thương hiệu:

     

    a- Thương hiệu:

    Tiêu chí về quyền sở hữu là tiêu chí cho thấy sự đảm bảo của nhà nước và chính phủ của nước sở tại cho môi trường hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến, nó tạo ra sự bình đẳng và công bằng trong các hoạt động kinh doanh du lịch tại mỗi điểm đến. Theo tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì tiêu chí này của Việt Nam là khá tốt đứng thứ 69 trong khi đó tiêu chí này của Trung Quốc đứng thứ 82 đây là một lợi thế mà Việt Nam cần phải phát huy và nâng cao hơn nữa để có thể nâng cao lợi thế so sánh đối với sản phẩm du lịch của mình.

    Về tiêu chí đánh giá ấn tượng về thị trường và thương hiệu từ thị trường khách du lịch thì tiêu chí này của Việt Nam và Trung Quốc đều được đánh giá ở mức khá tuy nhiên Việt Nam có nhỉnh hơn một chút. Việt Nam xếp thứ 56 trong khi Trung Quốc xếp thứ 57. Điều này cho thấy thị trường và thương hiệu sản phẩm du lịch của Trung Quốc và Việt Nam rất có triển vọng để phát triển du lịch.

    Có thể lấy ví dụ như du khách tìm hiểu lịch sử và thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên của đất nước Trung Hoa, Ngành du lịch từ trung ương tới địa phương luôn tạo ấn tượng cho du khách bằng cái tên ấn tượng cho mỗi điểm đến như: Bắc Kinh còn đó vàng son của quá khứ hay Bắc Kinh trái tim hồng của Trung Quốc, Vân Nam lẩn khuất mây trời hay vùng đất phía Nam những tầng mây, Nam Ninh hiện đại và giàu bản sắc, Côn Minh xa mà gần, Quế Lâm thành phố Quế Hoa, Thượng Hải xưa và nay đồng hiện, Tô Châu cổ kính và hiện đại,…

    b- Chu kỳ sống của sản phẩm:

     

    Trong khi đó ở Việt Nam các công trình văn hóa chưa được quan tâm nhiều, nhiều nơi còn để cho các di tích chuyển thành phế tích, công tác quy hoạch chưa được chú trọng, việc bảo vệ và tôn tạo các di tích cũng bị buông lỏng, làm cho nhiều tài nguyên du lịch văn hóa bị xuống cấp, nhiều di tích bị xâm hại nghiêm trọng, điều này làm rút ngắn chu kỳ sống đối với từng sản phẩm du lịch đơn lẻ. Từ những yếu tố đó cho thấy sản phẩm du lich Trung Quốc có được lợi thế hơn hơn nhiều về chu kỳ sống của sản phẩm du lịch.

    Việc khai thác sản phẩm du lịch như thế nào để không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm du lịch của một điểm đến. Theo đánh giá của tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế thì tiêu chí đánh giá các hoạt động kinh doanh du lịch làm ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái tại mỗi điểm đến của Việt Nam được xếp hạng thứ 99 trong khi đó Trung Quốc lại được đánh giá cao hơn xếp ở vị trí thứ 85, điều này cho thấy việc bảo về môi trường sinh thái đối với các hoạt động du lịch tại mỗi điểm đến của Trung Quốc là tốt hơn so với Việt Nam.

    Tiêu chí đánh giá về sự ô nhiễm môi trường do khí điôxit các bon gây ra thì Trung Quốc bị đánh giá ở mức thấp xếp thứ 104 trong khi đó Việt Nam được đánh giá ở mức cao hơn song cũng bị xếp vào những nước mà môi trường bị ô nhiễm nặng do hoạt động công nghiệp khai thác gây ra và xếp ở vị trí thứ 98. Tiêu chí này có thể đe dọa đến tuổi thọ của sản phẩm du lịch.

    c- Tính tương đồng với tâm lý thị trường:

     

    Khi đời sống của con người ngày càng cao, thì sự ham muốn khám phá những nền văn hóa lớn trên thế giới ngày càng nhiều, đó chính là điều kiện cần thiết để nảy sinh nhu cầu du lịch của du khách đến với các nền văn hóa lớn trên thế giới. Hầu hết các du khách đều muốn khám phá tất cả những “hương vị” tinh hoa văn hóa của loài người, sự khám phá này càng được rõ nét hơn nếu họ được tận mắt nhìn thấy những công trình lịch sử vĩ đại, với quy mô hoành tráng, nét điêu khắc tinh sảo, nghệ thuật kiến trúc và bản sắc dân tộc độc đáo…

    Trung Quốc là đất nước có nền văn hóa – lịch sử rất lâu đời và ít nhiều có ảnh hưởng đến văn minh của nhân loại. Đây là nền văn hóa có ảnh hưởng lớn tới văn hóa phương Đông đặc biệt là khu vực Châu Á. Văn hóa Trung Quốc mang đệm nét của văn minh Hoàng Hà còn văn hóa Việt Nam mang đậm nét văn minh Sông Hồng tuy nhiên đều có sự tương đồng đó là văn hóa mang phong cách phương Đông. Xét về khía cạnh lịch sử thì nền văn hóa của Trung Quốc được đánh giá lâu đời hơn so với Việt Nam thông qua các di tích lịch sử được lưu giữ, chính vì vậy mà đối với khách du lịch khi đánh giá sản phẩm du lịch dựa trên yếu tố văn hóa – lịch sử thì họ thường cho rằng sản phẩm này của Trung Quốc thường được đánh giá cao hơn so với Việt Nam.

    d – Tiêu chí nổi trội:

     

    Tiêu chí về an ninh, an toàn tại các điểm đến thì Việt Nam được đánh giá khá cao so với Trung Quốc, với tiêu chí này thì Việt Nam được xếp thứ 51 trong khi đó Trung Quốc được đánh giá xếp thứ 83. Đây có thể là một lợi thế mà sản phẩm du lịch Việt Nam cần tận dụng cho tốt để khai thác sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh với sản phẩm du lịch của Trung Quốc.

    * Kết luận:

     

    – Trung Quốc thực sự có lợi thế hơn hẳn so với Việt Nam về tài nguyên du lịch nhân văn. Chính vì thế để nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm du lịch của Việt Nam so với sản phẩm du lịch của Trung Quốc thì ngành du lịch Việt Nam cần phải lựa chọn các sản phẩm du lịch dựa trên các nguồn tài nguyên tự nhiên độc đáo mà sản phẩm du lịch Trung Quốc không có hoặc không có lợi thế như: sản phẩm du lịch biển, sản phẩm du lịch rừng ngập mặn, sản phẩm du lịch dựa trên các nguồn tài nguyên lịch sử trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Pháp và Mỹ,….

    – Chất lượng dịch vụ du lịch của Việt Nam cần được nâng cao, cần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch tại mỗi điểm đến, nâng cao tính chuyên nghiệp trong quản lý du lịch. Chính vì yếu tố dịch vụ kém mà làm cho hình ảnh của du lịch Việt Nam ngày càng đi xuống. Cần quan tâm tới vấn đề đào tạo nghiệp vụ chuyên môn về du lịch cho lực lượng lao động trong ngành du lịch đây là yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng dịch vụ du lịch.

    – Để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm du lịch của Việt Nam trong dài hạn thì điều cần quan tâm đó là phải xác định cho được vị trí và tầm quan trọng của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân. Xây dựng một chiến lược thực sự có tầm để phát triển du lịch trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn, điều này sẽ làm cho các hoạt động du lịch phát triển đúng hướng. Đầu tư vào du lịch có chọn lọc, trọng tâm và dựa vào lợi thế sẵn có về tài nguyên du lịch nổi trội để đem lại hiệu quả kinh tế cao tại các điểm đến, đồng thời nâng cao lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm du lịch của Việt Nam trong dài hạn.

    – Vấn đề vệ sinh, an ninh, an toàn thực phẩm tại mỗi điểm đến của Việt Nam cần phải được quan tâm đầu tư, giáo dục cộng đồng dân cư và du khách về giữ vệ sinh bảo đảm môi trường sinh thái của mỗi điểm đến.

    – Công tác xúc tiến quảng bá hình ảnh du lịch củaViệt Nam trên trường quốc tế cần được quan tâm, coi trọng. Phải có chiến lược quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam với từng loại thị trường khách, để làm sao nâng cao hiệu quả trong công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, tạo được ấn tượng tốt cho khách du lịch, ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế đến và quay trở lại Việt Nam.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Tựu Nổi Bật Về Phát Triển Du Lịch
  • 7 Kênh Bán Tour Tốt Nhất 2022
  • Tổ Chức Cưới Trọn Gói Tại Khu Du Lịch
  • Tổ Chức Đám Cưới Du Lịch – Hiện Đại Hay Hoang Phí?
  • Noo Phước Thịnh Làm Đại Sứ Du Lịch Thiện Chí Nhật Bản
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Sáng Tạo Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Sản Phẩm Du Lịch
  • Quảng Ninh: Thêm Những Sản Phẩm Du Lịch Mới, Đẳng Cấp
  • Quảng Ninh: Tiếp Tục Phát Triển Các Loại Hình Sản Phẩm Du Lịch Có Thế Mạnh Của Tỉnh
  • Tạo Ra Các Sản Phẩm Văn Hóa Đặc Trưng, Thu Hút Khách Du Lịch Đến Thủ Đô
  • 8 Sản Phẩm Du Lịch Cho Năm Du Lịch Quốc Gia 2022
  • Vậy đâu mới thực sự là vấn đề, tôi cho rằng nó nằm ở chiến lược xúc tiến cho những khẩu hiệu, biểu tượng ấy. Ở các nước bạn, họ tung ra khẩu hiệu đi kèm với một loạt chiến lược xúc tiến sản phẩm du lịch thế mạnh của mình, khách du lịch tiếp nhận hình ảnh về du lịch của một quốc gia và hình ảnh về sản phẩm du lịch cụ thể cùng một lúc, xác lập trong tâm trí họ một ấn tượng thống nhất. Việc chọn ra được sản phẩm du lịch thế mạnh để tập trung xúc tiến rất khó khăn. Nhưng, giữa những loại hình/sảnphẩm du lịch phổ biến mà các nước xung quanh đang dần xác lập ưu thế, có một loại hình/sản phẩm du lịch tương đối mới và quan trọng, mang những đặc điểm thích hợp để phát triển ở Việt Nam – không phụ thuộc mùa vụ, phát triển dựa trên bản sắc văn hóa của cư dân bản địa, bền vững cao, không yêu cầu cơ sở vật chất cao cấp,phức tạp… – đó chính là “du lịch sáng tạo”! Loại hình hay sản phẩm nàyhứa hẹn góp phần phát triển thương hiệu du lịch nước nhà nếu được quan tâm áp dụng một cách có hệ thống ở Việt Nam.

    Du lịch sáng tạo có phù hợp với Việt Nam?

    Du lịch sáng tạo dễ bị nhầm lẫn với du lịch homestay hay du lịch trải nghiệm (experimental tourism). Có thể thấy, du lịch sáng tạo và du lịch homestay có rất nhiều điểm tương đồng, cả hai loại hình du lịch đều đề cao yếu tố tương tác với người dân bản địa, tuy nhiên, du lịch homestay nhấn mạnh vào phương thức trải nghiệm (“ba cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt), còn du lịch sáng tạo nhấn mạnh vào kết quả của quá trình trải nghiệm và tương tác, đó là khám phá bản thân, có cơ hội tìm hiểu, học hỏi từ nền văn hóa bản địa. Du lịch sáng tạo và du lịch trải nghiệm cùng đề cao trải nghiệm và khuyến khích du khách thử thách bản thân. Tuy nhiên, du khách của du lịch trải nghiệm tìm kiếm kinh nghiệm ý nghĩa và đáng nhớ thông qua những trải nghiệm trực tiếp; với mục tiêu ấy, nhà cung cấp dịch vụ du lịch hướng du khách tới những hoạt động mang lại trải nghiệm, trong đó, việc tiếp xúc, học hỏi với cộng đồng địa phương chỉ là một khía cạnh nhỏ. Chất lượng, mức độ trải nghiệm của tour trải nghiệm là một kết quả được chia đều trách nhiệm cho cả 2 bên (cả nhà cung cấp dịch vụ và du khách). Du khách chi trả tiền và thời gian. Nhà cung cấp chịu trách nhiệm dựa trên những kinh nghiệm có được tạo điều kiện cho du khách có những trải nghiệm thú vị, đáng nhớ. Trong khi đó, du lịch sáng tạo “tô đậm” mối tương tác giữa du khách và cộng đồng địa phương hơn.

    Du lịch sáng tạo mang rất nhiều đặc điểm phù hợp để phát triển ở Việt Nam, thậm chí có thể nói là khắc phục những hạn chế đang tồn tại của du lịch nước ta.

    Không phụ thuộc mùa vụ: du khách của du lịch sáng tạo đến với cộng đồng bản địa để học hỏi kinh nghiệm, trải nghiệm bản sắc, tính mùa vụ nhìn chung không ảnh hưởng sâu sắc tới du lịch sáng tạo.

    Khắc phục tính cạnh tranh kém: du lịch sáng tạo nhấn mạnh tính “đặc trưng”, tính đặc trưng là điều kiện tiên quyết và sống còn của du lịch sáng tạo, đây là điểm mạnh của Du lịch Việt Nam, chắc chắn, nếu khai thác hiệu quả, bản sắc văn hóa của 54 dân tộc sẽ là nguồn tài nguyên dồi dào cho du lịch sáng tạo Việt Nam. Chính vì nhấn mạnh tính đặc trưng, nên sản phẩm du lịch sáng tạo khó lòng sao chép, tài nguyên cho loại hình du lịch này chính là văn hóa bản địa vốn khó bị lặp lại. Không có vùng đất nào không có riêng cho mình những giá trị độc đáo trong nghệ thuật, thủ công, mỹ nghệ, nghi lễ… Sức hấp dẫn của nó phụ thuộc vào mức độ khác biệt. Có những khác biệt thú vị nổi tiếng toàn thế giới, có những khác biệt có mức thu hút vừa phải. Đối với du lịch sáng tạo, vùng đất nào cũng có thể có điểm thú vị, trở thành tài nguyên của du lịch sáng tạo nếu biết cách khai thác.

    Du khách không giới hạn lứa tuổi: Công nghiệp hóa nhanh chóng vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 làm những kiến thức về công nghệ, đồ thủ công, mỹ thuật… trong quá khứ bị mai một hoặc quên lãng. Những người thuộc tuổi của “thế hệ bùng nổ dân số”, với ý thức về phát triển bền vững mạnh mẽ hơn những lớp đi trước, có nhu cầu tìm hiểu để phục hồi cho các thế hệ mai sau những kỹ năng và công nghệ bị mất đó. Bên cạnh quá trình công nghiệp hóa, đó chính là xu hướng dân số già ngày càng phổ biến ở các nước, nhất là các nước phát triển. Có nhiều người già ở tuổi nghỉ hưu hơn, nghĩa là xuất hiện nhiều hơn những người có đủ cả nguồn lực tài chính và quỹ thời gian dành cho việc khám phá những vùng đất, những hoạt động mà trước kia họ không có thời gian để làm.

    Thời gian áp dụng linh hoạt: Thời gian du khách nước ngoài lưu lại Việt Nam thường ngắn, điều kiện cơ sở hạ tầng lưu trú ở Việt Nam cũng khó cho phép du khách lưu lại lâu dài. Nhưng với đặc trưng của mình, du lịch sáng tạo vẫn có thể thực hiện được hết vai trò của nó, dù diễn ra trong 4 giờ hay 4 ngày.

    Bền vững cao: Ở khía cạnh phát triển bền vững, cả du lịch văn hóa và du lịch sáng tạo đều là những loại hình du lịch có trách nhiệm, song nếu như tài nguyên để khai thác và phát triển du lịch văn hóa có những yếu tố không tái tạo được, không bảo tồn được, thì du lịch sáng tạo lại khai thác những giá trị văn hóa, tri thức, kinh nghiệm sống và làm việc của cư dân bản địa, một nền tảng tài nguyên vô cùng vững chắc, song lại vận động, biến đổi và không ngừng phát triển.

    Không chú trọng cơ sở vật chất cao cấp: du lịch sáng tạo phát triển phụ thuộc vào giá trị cốt lõi của văn hóa, không dựa trực tiếp vào điều kiện cơ sở vật chất cao cấp, phức tạp. Hơn nữa, du khách của du lịch sáng tạo là những người không thích những điều “đại chúng”, đôi khi họ thích khám phá những nơi khách du lịch thông thường không hay lui tới, ở những nơi này, dấu ấn đầy tự nhiên của văn hóa bản địa quan trọng hơn những tòa nhà cao hiện đại hay cơ sở lưu trú tiện nghi.

    Vì sao du lịch sáng tạo chưa phát triển ở Việt Nam?

    Phù hợp và nhiều ưu điểm như vậy, du lịch sáng tạo vẫn chưa hình thành ở Việt Nam một cách rõ ràng. Thực ra, đối với những loại hình du lịch văn hóa như thế này, nơi nào có tài nguyên văn hóa đặc sắc, phong phú sẽ tỏa ra một sức hút tự thân, khách du lịch sẽ tự tìm tới. Việt Nam không phải ngoại lệ, ở nhiều nơi, đã xuất hiện sản phẩm du lịch có đặc điểm của du lịch sáng tạo nhưng chưa nhận dạng/ gọi tên là “sản phẩm du lịch sáng tạo”. Ví dụ như, những năm gần đây, Hội An nổi lên như một điểm sáng với mô hình tour mới “Một ngày làm cư dân phố cổ”. Trong những ngày sống với gia đình nghệ nhân làng nghề, du khách được chủ nhà giải thích cặn kẽ về những công đoạn làm nên chiếc đèn lồng, rồi được tự tay làm từ khâu chọn vải, cắt dán đến vuốt nan làm khung; ra đồng trồng rau với người nông dân ở làng rau Trà Quế, hoặc thậm chí là được trực tiếp lênh đênh trên sông nước tập chèo thuyền, thả lưới, phán đoán cá mắc mồi rồi trải qua những bữa cơm cá tự nướng với cư dân làng chài Thanh Nam. Tương tự, sản phẩm đã định danh “Một ngày làm dân chài” ở làng chài Vung Viêng (Hạ Long) cũng cho khách cơ hội hiểu văn hóa “làng trên nước”, các cách thức kiếm sống và khai thác nguồn lợi từ biển thông qua trải nghiệm bắt cá, các sinh hoạt tinh thần của dân cư làng chài thông qua những câu hò vùng vịnh, ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường với một giờ chèo thuyền kayak và nhặt rác quanh làng chài… Không chỉ ở Hội An, Hạ Long, những hoạt động cho phép du khách trực tiếp học hỏi nghề thủ công tại một số làng nghề Hà Nội và vùng phụ cận như làng tranh dân gian Đông Hồ, làng gốm sứ Bát Tràng, Tò he Xuân La, khảm trai Chuôn Ngọ… khi mang đối chiếu với khái niệm và đặc điểm của du lịch sáng tạo cũng chính là những sản phẩm của du lịch sáng tạo.

    Nhưng chính vì mới chỉ phát triển tự phát, manh mún nên các sản phẩm này bộc lộ không ít những hạn chế: sản phẩm du lịch sáng tạo vẫn chưa khai thác và thể hiện được tính đặc trưng văn hóa vốn có của sản phẩm, vẫn tiềm tàng những hiện tượng đẩy giá cao đối với khách du lịch nước ngoài, chèo kéo khách, bán phá giá… tạo nên một diện mạo không chuyên nghiệp của Du lịch Việt Nam. Các hộ gia đình làm du lịch tự phát, hoạtđộng tự do nên độ bền vững kém, gây bất ổn cho thị trường cung cấp sản phẩm du lịch địa phương. Chương trình du lịch vẫn chưa chú trọng tới yếu tố tuyên truyền văn hóa, các “lớp học” vẫn chưa cung cấp được cho khách những thông tin sâu sắc về nghề cũng như văn hóa làng nghề. Điểm tựa quan trọng nhất của du lịch sáng tạo là con người, nhưng con người ở các điểm làm du lịch sáng tạo này vẫn chưa ý thức được vai trò “sứ giả văn hóa” của mình, họ thường chỉ đơn thuần bán sản phẩm dịch vụ chứ chưa biết cách lôi cuốn, góp phần tạo nên sự hài lòng cho khách hàng.

    “Du lịch sáng tạo” là một loại hình của du lịch văn hóa, nhưng khác với du lịch văn hóa nhấn mạnh yếu tố “quan sát”, “thưởng ngoạn”, “suy ngẫm” thì du lịch sáng tạo chú trọng vào “trải nghiệm”, “tham gia”, “học hỏi”. Khách du lịch không chỉ dừng lại ở những hoạt động chiêm ngưỡng, tham quan, ngắm nhìn như những hình thái du lịch trước đây, mà còn trực tiếp tham gia, hòa nhịp vào cuộc sống nơi đến, trải nghiệm với vai trò như là một thành viên của vùng đất – họ không chỉ là người thụ hưởng, họ đồng sản xuất sản phẩm du lịch mà mình trải nghiệm. Hình thức du lịch này nhấn mạnh sự kết nối, tương tác giữa khách du lịch và văn hóa, đặc biệt là với cư dân bản địa. Đặc trưng của du lịch sáng tạo là nâng cao nhận thức, học hỏi những kinh nghiệm sống mới mẻ, tiếp cận những tri thức độc đáo của cư dân bản địa.

    ThS. Trịnh Lê Anh & Trần Thùy Linh

    (Nguồn: Tạp chí Du lịch)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tây Nguyên Phát Triển Thị Trường, Sản Phẩm Du Lịch
  • Hội An Với Sản Phẩm Du Lịch Đặc Trưng
  • Ninh Bình Giới Thiệu Sản Phẩm Du Lịch
  • “mưa Huế” Trở Thành Sản Phẩm Du Lịch Tại Festival Huế 2012
  • Đến Huế Trải Nghiệm Du Lịch Mưa
  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Thành Phần Cơ Bản Của Sản Phẩm Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Các Yếu Tố Cấu Thành Sản Phẩm Du Lịch Là Gì?
  • Những Sản Phẩm Du Lịch Đặc Trưng Của Phú Quốc, Kiên Giang
  • Những Sản Phẩm Du Lịch Đặc Trưng Của Đà Nẵng
  • Hà Giang: Xây Dựng Những Sản Phẩm Du Lịch Đặc Thù
  • Hà Giang Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Đặc Trưng Trong Liên Kết Vùng
  • Sản phẩm du lịch là các dịch vụ hàng hóa cung cấp cho người du lịch, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.

    2. Thành phần cơ bản của sản phẩm du lịch

    Dịch vụ vận chuyển là một phần cơ bản của sản phẩm du lịch. Bao gồm các phương tiện đưa đón khách đến và thăm quan các địa điểm du lịch bằng các phương tiện giao thông hiện nay như : ô tô , xe máy, xe đạp, máy bay, tàu hỏa, thuyền…..

    Đây là thành phần chính cấu thành sản phẩm du lịch. Nó bao gồm các dịch vụ nhắm đáp ứng các nhu cầu của người du lịch như: Khách sạn, lều trại, nhà hàng …

    • Dịch vụ tham quan giải trí: Điểm tham quan, công viên, di tích hội chợ, cảnh quan…
    • Hàng hóa tiêu dùng và các đồ lưu niệm
    • Các dịch vụ khác hỗ trợ khách du lịch: thủ tục hộ chiếu, visa…..

    3. Đặc trưng của sản phẩm du lịch

    Đặc trưng sản phẩm du lịch đầu tiên là tính vô hình

    • Sản phẩm du lịch không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật chất, do đó không thể sờ, không thể thử và không thể thấy sản phẩm kiểm tra chất lượng khi mua.
    • Không nhận thức một cách tường minh
    • Do tính vô hình nên khách du lịch đánh giá chất lượng sản phẩm thông qua địa điểm, người phục vụ, trang thiết bị, thông tin, thương hiệu,…. Trước khi họ cần được cung cấp thông tin đầy đủ, tin cậy, cũng như tư vẫn một cách chuyên nghiệp.
    • Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên rất dễ dàng bị sao chép, bắt chước và việc làm khác biệt hóa sản phẩm manh tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hoá.

    Đặc trưng thứ hai của sản phẩm du lịch là tính không tách rời

      Quá trình sản xuất phục vụ và quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra gần như đồng thời trong cùng một thời gian và không gian.

    Cùng thời gian : thời gian hoạt động của máy bay, tàu , khách sạn, nhà hàng phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, hoạt động phục vụ khách diễn ra một cách liên tục không có ngày nghỉ và giờ nghỉ.

    Cùng không gian: khách du lịch phải đến tận nơi để tiêu dùng sản phẩm chứ không thể vận chuyển sản phẩm đến nơi có khách như sản phẩm hàng hóa bình thường. Như vậy sản phẩm du lịch không thể tách rời nguồn gốc tạo ra dịch vụ.

      Không chuyển giao sở hữu, chuyển giao sử dụng

    Sản phẩm du lịch chỉ thực hiện quyền sử dụng mà không thực hiện quyền sở hữu, bởi khi đã sử dụng thì mất đi giá trị chi trở thành các trải nghiệm của bản thân(yếu tố phi vật chất), không thể sang tên, đổi chủ được.

  • Tính vô hình của sản phẩm du lịch khiến cho các sản phẩm du lịch thường có chất lượng không lặp lại.
  • Chỉ khi tiêu dùng sản phẩm, khách mời mới cảm nhận được.
  • Khó lượng hóa
  • Đặc trưng sản phẩm du lịch là tính không dự trữ ,tồn kho:

      Sản phẩm du lịch không thể lưu kho và cất trữ

    Để thực hiện được sản phẩm du lịch, công ty lữ hành phải đặt trước các dịch vụ: vận chuyển , ăn uống, ngủ nghỉ, máy bay, tàu, khách sạn…..Không thể để tồn kho một ngày buồng và một chỗ trong nhà hàng vì không tiêu thụ được sẽ mất không một khoản thu nhập.

      Cung bị thụ động, khó đáp ứng khi cầu bị biến động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Và Quy Trình Sale Tour Du Lịch Giúp Tăng Đơn Hàng
  • Chia Sẻ Kỹ Năng Sale Tour Du Lịch Cho Bạn
  • Kỹ Năng Sale Tour Trong Du Lịch
  • Phim Sakura Và Chuyến Du Lịch Hongkong (Movie) Phần 1 Full
  • Việt Nam Văn Hóa Và Du Lịch
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100