Di Sản Thế Giới Tại Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Hà Nội Sau Một Năm Gia Nhập Wto
  • Thiệt Hại Của Ngành Du Lịch Việt Nam Năm 2022 Khoảng 23 Tỷ Usd
  • Công Ty Cổ Phần Du Lịch Việt Nam – Hà Nội
  • Những Biểu Tượng Du Lịch Việt Nam Trong Mắt Bạn Bè Quốc Tế
  • Ấn Tượng Việt Nam 2022 Trong Mắt Bạn Bè Quốc Tế
  • Di sản thế giới tại Việt Nam 1 Hoàng Thành Thăng Long, ảnh Hoàng Thành Thăng Long xưa và nay  nguồn BQLDT Hà Nội, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    DI SẢN THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM

    Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim

    Học tiếng Trung Việt, thu thập tổng hợp biên soạn

    Di sản thế giới là danh hiệu cao quý và lâu đời nhất trong các danh hiệu của UNESCO. Di sản thế giới gồm ba loại hình di sản văn hóa thế giới, di sản thiên nhiên thế giới và di sản hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên thế giới. Việt Nam hiện có 8 di sản được UNESCO công nhận di sản thế giới gồm 5 di sản văn hóa thế giới là Hoàng Thành Thăng Long,  cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Quần thể danh thắng Tràng An, Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Thành Nhà Hồ. Ngoài 8 di sản thế giới ở Việt Nam được UNESCO công nhận còn có 1 di sản thế giới Cao nguyên đá Đồng Văn công viên địa chất toàn cầu thuộc Vườn Quốc Gia ở Việt Nam với 11 di sản văn hóa thế giới phi vật thể và 6 di sản tư liệu. Tổng cộng có 26 di sản thế giới tại Việt Nam.

    Hoàng Thành Thăng Long di sản thế giới tại Việt Nam di tích Đoan Môn.  Ngày 10 tháng 12 năm 1427 nhằm ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi tại Đoan Môn Hoàng Thành Thăng Long thủ đô Hà Nội ngày nay, Hội thề Đông Quan được tổ chức giữa thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn Lê Lợi và chủ tướng quân Minh là Vương Thông,  Đại Việt giành lại độc lập hoàn thành cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Vua Minh sai La Nhữ Kính mang thư sang phong Trần Cảo làm An Nam Quốc Vương, bãi bỏ quân nam chinh, ra lệnh cho Vương Thông trở về Bắc, trả lại đất cho An Nam, cho sứ thần đi lại, việc triều cống thực hiện theo lệ cũ năm Hồng Vũ.  Quân Minh tổng cộng 10 vạn người đã được hồi hương an toàn. Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi viết theo ý chỉ của Lê Lợi đã khẳng định: Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc, Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run. Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Chẳng những mưu kế kì diệu Cũng là chưa thấy xưa nay…

    1. HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

    Hoàng thành Thăng Long Hà Nội khu di tích Trung tâm được Ủy ban di sản thế giới (thuộc UNESCO) chính thức công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 31-07-2010 tại Hội nghị lần thứ 34, tổ chức tại thủ đô Brasilia của Braxin. Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội nằm trong khu vực thuộc quận Ba Đình – Hà Nội với tổng diện tích là 18,395 ha. Trong đó bao gồm khu khảo cổ học được khai quật (ở số 18 đường Hoàng Diệu) và các di tích còn lưu giữ được trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như: cột cờ Hà Nội, Đoan Môn, Điện Kính thiên, Hậu Lâu, Bắc Môn cùng phần tường bao và 8 cổng hành cung được xây dựng thời Nguyễn. Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội được hình thành từ thời nhà Lý, từ sau những năm 1011 cùng với kinh thành Thăng Long. Kinh thành Thăng long được xây dựng theo mô hình “Tam Trùng Thành Quách”, bao gồm có 3 vòng thành: La thành hay còn gọi là Kinh thành bao quanh kinh đô men theo 3 con sông: sông Hồng, Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Tiếp đến là Hoàng thành (vòng thành thứ 2) và trong cùng là Tử Cấm thành (vòng thành thứ 3). Trải qua hơn 10 thế kỷ với nhiều triều đại phong kiến cũng như bao biến cố thăng trầm trong lịch sử Việt Nam, Hoàng thành Thăng Long đã có nhiều sự thay đổi, song riêng khu vực Tử Cấm thành hầu như không thay đổi, chỉ có các kiến trúc bên trong là có sự tu sửa, xây dựng thêm. Vì vậy các di tích ở đây đã có mối liên hệ liên kết khá chặt chẽ tạo nên một tổng thể liên hoàn rất phức tạp nhưng rất phong phú và có sức hấp dẫn đặc biệt trong việc nghiên cứu về vấn đề quy hoạch đô thị và không gian kiến trúc tiếp nối giữa các triều đại trong lịch sử Việt Nam. Đây cũng chính là giá trị độc đáo nhất của khu di tích.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 2 Cố đô Huế, ảnh tư liệu nguồn BQLDT Cố đô Huế, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    2. CỐ ĐÔ HUẾ

    Quần thể di tích cố đô Huế được  tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 03/7/1993 tại hội nghị tổ chức ở Colombia. Đây là di sản văn hóa đầu tiên của Việt Nam được vinh danh là Di sản văn hóa thế giới. Quần thể di tích cố đô Huế được phân bố dọc theo tả ngạn và hữu ngạn sông Hương, thuộc thành phố Huế và một vài vùng ngoại ô thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi đây là kinh đô của Việt Nam thời  Phong kiến – Triều đại nhà Nguyễn từ năm 1802 đến 1945.  Trải qua 143 năm dưới sự trị vì của 13 đời vua, kinh đô Huế đã hình thành một hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ quân chủ trung ương tập quyền Nhà Nguyễn ở Việt Nam thời bấy giờ. Đó là một hệ thống thành quách mẫu mực, những công trình kiến trúc, lịch sử văn hóa vừa mang đậm dấu ấn của nghệ thuật kiến trúc phương Đông vừa có sự giao thoa với nghệ thuật kiến trúc phương Tây. Tất cả được sắp đặt ở những vị thế đặc biệt lồng trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng toát  lên một vẻ đẹp cổ kính, uy nghiêm nhưng vẫn rất trữ tình. Một vẻ  đẹp độc đáo của kinh đô “rất Việt Nam” với những công trình tiêu biểu như: Hoàng Thành, Tử Cấm Thành, Nghinh Lương Đình, Phu Văn Lâu, Kỳ Đài, Ngọ Môn và các ngôi điện Thái Hòa, Cần Chánh, Kiến Trung,..Ngoài ra còn có 7 cụm lăng tẩm của 9 vị vua, Đàn Nam Giao, Hổ quyền, cùng nhiều kiến trúc đình, điện, chùa phật giáo cổ kính và nhiều địa danh thiên nhiên kỳ thú, thơ mộng như chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén, Lăng Cô, núi Ngự, sông Hương,…đã góp phần tô điểm thêm vẻ đẹp rất đặc trưng của cố đô Huế.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 3 Vịnh Hạ Long, ảnh tư liệu nguồn BQLDT Vịnh Hạ Long, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    3. VỊNH HẠ LONG

    Di sản thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long  Việt Nam được tổ chức UNESCO 2 lần công nhận là Di sản thiên nhiên Thế giới. Lần 1 vào ngày 17/12/1994, lần 2 vào ngày 02/12/2000 với giá trị ngoại hạng về thẩm mỹ và giá trị địa chất, địa mạo. Vịnh Hạ Long là một phần của Vịnh Bắc bộ, nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Vịnh có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo lớn, nhỏ. Trong đó vùng di sản được công nhận bao gồm 775 hòn đảo có diện tích là 434km2. Đây là di sản độc đáo được đánh gía độc nhất vô nhị trên thế giới. Nó không những chứa đựng nhiều dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ mà còn là một tuyệt tác nghệ thuật của thiên nhiên với hàng trăm, nghìn đảo đá “muôn hình vạn trạng”, cùng nhiều hang động kỳ bí tuyệt đẹp có tuổi kiến tạo địa chất cách đây từ 250-28 triệu năm. Vịnh Hạ Long không những là kỳ quan thiên nhiên của thế giới mà còn là một bảo tàng địa chất quý giá được gìn giữ ngoài trời đến 300 triệu năm. Bên cạnh đó Vịnh còn là nơi tập trung đa dạng sinh học với các hệ sinh thái của vùng biển nhiệt đới rất phong phú, đa dạng trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới. Vịnh Hạ Long còn là vùng đất được coi là cái nôi của loài người với nền văn hóa Hạ Long qua những di chỉ khảo cổ nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Thoi Giếng cùng nhiều địa danh gắn với lịch sử đấu tranh oanh liệt, hào hùng của dân tộc như thương cảng Ba Đồn, núi Bài Thơ, sông Bạch Đằng.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 4 Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng, Động Phong Nha Quảng Bình, ảnh tư liệu nguồn BQLDT VQGPNKB, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    4. VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA KẺ BÀNG

    Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng nằm trên địa bàn các huyện Bố Trạch, Quảng Ninh, Minh Hóa của tỉnh Quảng Bình, có tổng diện tích 343.300 ha. Nơi đây được ví như một bảo tàng địa chất khổng lồ bởi cấu trúc địa hình, địa mạo rất phức tạp trải qua quá trình kiến tạo địa chất từ 4 triệu năm trước của trái đất với những cảnh quan thiên nhiên kỳ bí cùng hơn 300 hang động lớn nhỏ đẹp nổi tiếng như Phong Nha, Tiên Sơn, Thiên Đường. Đặc biệt là hang Sơn Đoòng được đánh giá là hang động lớn và dài nhất thể giới (hang cao 250m, rộng 200m, dài 8,5km). Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn là nơi có hệ động thực vật phong phú, đa dạng và độc đáo với 2400 loài thực vật bậc cao, 140 loài thú, 356 loài chim và hàng trăm loài lưỡng thể cá côn trùng trong đó có nhiều loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và IUCN của thế giới như: sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, Voọc Hà Tĩnh … Có thể nói, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng vừa là một bảo tàng địa chất và cũng là một bảo tàng sinh học khổng lồ ở Việt Nam. Nó có nhiều giá trị to lớn không những đối với Việt Nam mà còn mang ý nghĩa toàn cầu. Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng cũng từng được UNESCO công nhận 2 lần là  Di sản thiên nhiên Thế giới (Lần 1 vào ngày 3/7/2003 tại Hội nghị Pari – Pháp; lần 2 vào tháng 7/2015 tại Hội nghị họp tại Bon- Đức).

    Di sản thế giới tại Việt Nam 5 Quần thể danh thắng Tràng An, ảnh HK (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    5. QUẦN THỂ DANH THẮNG TRÀNG AN

    Quần thể danh thắng Tràng An Bái Đính là di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam được UNESCO chính thức công nhận vào ngày 23/6/2014 dựa trên 3 tiêu chí về văn hóa, thẩm mỹ và các giá trị địa chất, địa mạo. thuộc địa bàn các huyện Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan và Thành phố Ninh Bình, với tổng diện tích khoảng 10.000 ha trong đó vùng lõi của di sản gồm: khu sinh thái Tràng An, cố đô Hoa Lư, Tam Cốc – Bích Động, ở đây có khoảng 100 hang động vừa là động khô, vừa là động nước. Các hang động xuyên thủy thông giữa các thung được thiên nhiên tạo tác muôn hình muôn vẻ, xung quanh được bao bọc bởi những ngọn núi đá vôi dựng đứng với những hình thù ký thú. Mỗi địa danh hang động nơi đây đều mang ý nghĩa gắn với những câu chuyện, sự kiện lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông từ triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Xen lẫn giữa các tuyệt tác thiên nhiên còn có cả những công trình kiến trúc cổ kính do bàn tay con người tạo nên, chúng hòa quyện với nhau trong một không gian huyền ảo, thơ mộng tạo nên vẻ đẹp linh thiêng, huyền bí cho Tràng An. Với sự đa dạng về địa chất địa mạo, về hệ thống cảnh quan hang động được kiến tạo trong thời gian kéo dài hàng triệu năm, Tràng An cũng là khu vực có hệ sinh thái phong phú, đa dạng, vừa trên cạn, vừa dưới nước. ở đây có hàng trăm đến hàng nghìn loài động thực vật khách nhau tropng đó có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới. Không những chỉ có môi trường thiên nhiên đa dạng, cảnh quan kỳ bí, thơ mộng, Tràng An còn mang trong mình nhiều giá trị lịch sử văn hóa vô giá với những di tích lịch sử thời nguyên thủy đến các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Tràng An đã từng là nơi cu trú của người tiền sử, là mảnh đất vua Đinh chọn xây dựng kinh đô đầu tiên của nhà nước Việt Nam phong kiến độc lập: Đại Cồ Việt. Nơi đây cũng từng là thủ đô kháng chiến của vua tôi nhà Trần trong 2 lần chống quân Nguyên xâm lược.  Qua đó có thể nói thật hiếm thấy một di sản văn hóa nào hội đủ các giá trị lịch sử, khoa học, thẩm mỹ, sinh thái và môi truờng như Quần thể danh thắng Tràng An của Việt Nam. 

    Di sản thế giới tại Việt Nam 6 Thánh địa Mỹ Sơn, ảnh VietHa (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    6. THÁNH ĐỊA MỸ SƠN

    Khu đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 01-12-1999.  Khu đền tháp Mỹ Sơn được phân bố tập trung trong một thung lũng được bao bọc xung quanh là đồi núi có đường kính khoảng 2km, từ Đông Trường Sơn đến kinh đô Trà Kiệu (nay thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Đây chính là khu thánh địa Ấn Độ giáo của vương quốc Chăm Pa được xây dựng và tồn tại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII. Đền tháp ở Mỹ Sơn được xây theo từng cụm. Mỗi cụm thường có một đền thờ chính và bao quanh có nhiều tháp nhỏ hoặc một số công trình phụ. Đền tháp được xây bằng gạch, có ghép những mảng trang trí bằng sa thạch. Với kỹ thuật xây tường rất độc đáo (kỹ thuật mài chập xếp khít). Sau khi xây xong tường mới điêu khắc chạm trổ hình hoa lá, người, thú linh lên tháp. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì Mỹ Sơn là nơi nghệ thuật kiến trúc Chăm Pa hội tụ một cách đầy đủ nhất. Các phong cách được phát triển liên tục mà chủ yếu nhất là từ thế kỷ VII – XIII. Mỹ Sơn tập trung đến 70 đền tháp, 32 bia ký tồn tại ở nhiều dạng khác nhau.  Mặc dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử và tác động của mưa nắng, thời gian chúng không còn được hoàn toàn nguyên vẹn nhưng đây vẫn là những cứ liệu tốt và rất quan trọng để nghiên cứu tìm hiểu về nghệ thuật Chăm. Đặc biệt là nghệ thuật điêu khắc Chăm, một nền nghệ thuật độc đáo chịu ảnh hưởng sâu sắc của Ấn Độ giáo có vẻ đẹp mang đậm nét văn hóa dân tộc hấp dẫn đến lạ kỳ.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 7 Phố cổ Hội An, ảnh tư liệu nguồn BQLDT Hội An, (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    7. PHỐ CỔ HỘI AN

    Đô thị cổ Hội An được Ủy ban di sản thế giới (thuộc UNESCO) chính thức công nhận là Di sản văn hóa thế giới ngày 04-12-1999 tại Hội nghị thứ 23 tổ chức ở Maroc. Đô thị cổ Hội An nằm ở vùng hạ lưu ngã ba sông Thu Bồn, cách thành phố Đà Nằng 30km về phía Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam. Đây là một cảng thị truyền thống Đông Nam Á duy nhất ở Việt Nam và hiếm có trên thế giới. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì “các kiến trúc cổ của đô thị cổ Hội An hầu hết được làm mới từ thế kỷ XIX mặc dù năm khởi dựng xưa hơn nhiều”. Ở đây còn lưu giữ và bảo tồn gần như nguyên vẹn được trên 1000 di tích kiến trúc cổ bao gồm: các khu phố, nhà cửa, các hội quán, nhà thờ họ tộc, đình chùa, miếu mạo, giếng cổ,… Các kiến trúc cổ ở đây hầu hết được xây bằng vật liệu truyền thống như gạch, gỗ, phong cách kiến trúc vừa mang yếu tố nghệ thuật Việt Nam vừa có sự tiếp thu tinh hoa kiến trúc của các nước phương Đông( như Nhật Bản, Trung Hoa) và phương Tây. Điều đặc biệt của Hội An là mặc dù đã trải qua bao thế kỷ nhưng những phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng lễ hội, những món ăn truyền thống, nghề thủ công truyền thống vẫn được người dân gìn giữ, bảo tồn và lưu truyền qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay. Hội An từng là một thương cảng, nơi có điều kiện giao lưu với nhiều nền văn hóa khác nhau nên người Hội An ngoài những giá trị văn hóa truyền thống đã tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa các dân tộc khác hình thành nên một bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng rất riêng và độc đáo. Người Hội An hồn hậu, dễ gần và rất mến khách. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn đối với du khách khi tới khám phá khu đô thị cổ Hội An.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 8: Thành nhà Hồ, cổng Nam ảnh Geoff Steven, nguồn BQLDT, Bảo tàng Thanh Hóa (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    8. THÀNH NHÀ HỒ

    Thành nhà Hồ được Ủy ban di sản thế giới (thuộc UNESCO) chính thức công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 27-06-2011 tại hội nghị lần thứ 35 tổ chức tại Paris (Pháp). Phạm vi phân bố của Thành nhà Hồ gồm các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc thuộc huyện Vĩnh lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thành nhà Hồ là kinh đô của Việt Nam giai đoạn từ 1398 đến 1407. Thành được Hồ Quý Ly xây dựng năm 1397. Trong lịch sử Thành còn có nhiều tên gọi khác như: Thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai. Khu di tích Thành nhà Hồ bao gồm: khu Thành nội, Hào thành, La thành và Đàn tế Nam Giao. Trong đó Thành nội được xây dựng hình vuông, tất cả phần tường thành và 4 cổng chính được xây dựng bằng đá phiến xanh với kỹ thuật xây dựng và điêu khắc rất tinh xảo. Hào thành được đào đắp bao quanh khu Thành nội có 4 cửa đá bắc vào 4 cửa của Thành nội. La thành của Thành nhà Hồ dài khoảng 10km là vòng thành ngoài được xây dựng để che chắn, bảo vệ cho thành nội được dựa theo địa hình sông núi tự nhiên và chủ yếu là đắp bằng đất, tường tre gai bao vệ. Đàn tế Nam Giao được xây dựng năm 1402, đây là một kiến trúc cung đình quan trọng – nơi các vua tế lễ tạ ơn trời đất, cầu quốc thái dân an. Đàn Nam Giao có diện tích khoảng 43.000m2, có 5 nền đất với 5 bậc cấp. Từ nền Đàn cao nhất đến nền thấp nhất có độ chênh lệch nhau tới 7,80m. Thành nhà Hồ được đánh giá là “một công trình kỳ vĩ bởi  kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn và sự kết hợp các truyền thống xây dựng độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong thời kỳ cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV”.

    9. CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN

    Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn là công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam và thứ 2 ở khu vực Đông Nam Á được Hội đồng tư vấn mạng lưới công viên địa chất toàn cầu  (GGN) công nhận là công viên địa chất toàn cầu ngày 3/ 10/ 2010,  nằm ở độ cao trung bình từ 1000-1600m so với mực nước biển, có diện tích gần 2356km2 thuộc địa bàn 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ của tỉnh Hà Giang, Cao nguyên đá Đồng Văn mang trong mình nhiều di sản về địa chất, địa tầng, kiến trúc phong phú, đa dạng: điển hình như các vườn đá, rừng đá Khâu Vai, Lũng Pù (Mèo Vạc). Cao nguyên đá Đồng Văn được đánh giá là một trong những vùng có hệ địa sinh thái núi đá đẹp, độc đáo và đa dạng nhất trên thế giới. Đặc biệt nơi đây còn phát hiện được 4 di chỉ khảo cổ thời tiền sử thuộc thời kỳ đồ đá cách đây hàng vạn năm. Đây cũng là nơi sinh sống lâu đời cử 17 dân tộc thiểu số vùng cao Bắc Việt Nam có nhiều nét văn hóa độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền.

    10. TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG

    Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương  ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 6/12/2012. Phạm  vi công nhận của di sản này được xác định gồm: 109 làng có đình, đền thờ vua Hùng thuộc địa phận Tp.Việt Trì, thị xã Phú Thọ và các huyện Cẩm Khê, Đoan Hùng, Hạ Hòa, Lâm Thao, Phú Ninh, Tam Nông, Thanh Sơn, Thanh Ba, Thanh Thủy, Yên Lộc của tỉnh Phú Thọ. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được khởi nguồn từ thời đại các vua Hùng sau đó đã được phát triển mạnh và rất được chú trọng ở các triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, đặc biệt thời Hậu Lê, Tây Sơn, nhà Nguyễn đã liên tục sắc phong cho các đền thờ tại Phú Thọ, pháp điển hóa nghi thức thờ cúng, cấp ruộng đất để thu hoa lợi phục vụ cho việc thờ cúng, coi sóc. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được gắn với truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ “bọc trăm trứng”, cả dân tộc cùng chung giống nòi, nguồn cội. đồng thời thể hiện đạo lý “uống nuớc nhớ nguồn”, sự gắn kết cộng đồngcũng như tinh thần đoàn kết dân tộc của người Việt Nam. Hàng năm lễ Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức ở các đền thờ vua Hùng trên khắp cả nước trong đó nghi lễ lớn nhất diễn ra tại khu di tích lịch sử đền Hùng tại Phú Thọ. Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian truyền thống như bịt mắt, bát dê, Kéo co, bắt vịt, bắt chạch thi bơi… Ngày nay Đảng và nhà nước ta cũng rất quan tâm đến công tác bảo tồn các di sản văn hóa đặc biệt là tín ngưỡng thờ Quốc tổ Hùng vương và đã đưa vào Quốc lễ. hằng năm cứ vào ngày 10/3 âm lịch nhân dân cả nước đều được nghỉ lễ để tham gia các hoạt động giỗ tổ được tổ chức trọng thể tại các đình, đền thờ vua Hùng ở các địa phương và nô nức hành hương về đất tổ Phú Thọ để tham dự nghi lễ tại khu di tích lịch sử đền Hùng.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 11: Nhã nhãc âm nhạc cung đình Việt Nam, ảnh Nhã nhạc,  Ban Đại nhac cung đình Huế đang trình tấu tại sân Thế Tổ Miếu, nguồn Bảo tàng cổ vật Huế (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    11. NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ

    Nhã nhạc – âm nhạc cung đình Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại tại một phiên họp được tổ chức tại Paris nước Pháp ngày 07-11-2003. Nhã nhạc – âm nhạc cung đình Huế bao gồm nhiều thể loại khác nhau: Nhạc lễ nghi sử dụng riêng cho việc cúng tế và triều chính, các ngày quốc lễ và Yến nhạc dùng cho sinh hoạt vui chơi giải trí trong cung của vua chúa và hoàng tộc. Trong đó có cả thể loại ca nhạc đi kèm với múa và kịch hát (múa cung đình, tuồng cung đình). Nhạc cung đình Huế xưa có nhiều thể loại: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ Tự nhạc dùng trong các dịp cúng tế trời đất; tổ tông; Đại triều nhạc dùng trong dịp lễ lớn, nghênh tiếp sứ thần; Triều nhạc và Yến nhạc phục vụ nội cung.  Múa cung đình Huế tiêu biểu có: Bát Dật, Lục Cung, Tam Tinh, Đấu Chiến Thắng Phật, Tứ Linh, Trình Tường,Tập Khách, Lục Triệt Hoa Mã Đăng… được phân định và sử dụng phù hợp vào các dịp, mục đích khác nhau. Các dàn nhạc và các bản nhạc cung đình triều Nguyễn cũng rất phong phú được biên soạn khá công phu bao gồm nhiều loại có biên chế khác nhau nhằm phục vụ các Nghi lễ và nhu cầu giải trí trong cung như: Nhã Nhạc, Huyền Nhạc, Ti Trúc Tế Nhạc, Tiểu nhạc, Đại nhạc, Nhạc Thiểu, Cổ Xúy Đại Nhạc, … Có thể nói “Nhã nhạc Huế là di sản văn hóa âm nhạc cổ điển bác học Việt Nam” được hình thành trên cơ sờ kế thừa thành tựu của dòng nhạc cung đình, các triều đại quân chủ trước đó ở Việt Nam và có sự sáng tạo phát triển lên một đỉnh cao mới, đây cũng chính là những giá trị vô giá và trường tồn của dân tộc Việt Nam . 

    12. KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

    Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 25- 11- 2005. Đây là một di sản văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc Vùng Tây Nguyên Việt Nam. Phạm vị phân bố của “ Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh: Từ KonTum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng. Chủ nhân của di sản văn hóa độc đáo này là 12 dân tộc tụ cư lâu đời nơi đây: Bana, Ê đê, Xê Đăng, Mơ Nông, Rơ Măm, Mạ, Cơho, Gia Rai…  Cồng Chiêng Tây Nguyên là một loại nhạc cụ độc đáo được chế tác chủ yếu bằng đồng có pha thêm một số kim loại khác như vàng, bạc, đồng đen.  Các tộc người Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng làm nhạc cụ nhưng không tự đúc được Cồng Chiêng mà phải mua của các dân tộc láng giềng. Nhưng sau khi mua về với bàn tay khéo léo, óc sáng tạo, đôi tai thính các nghệ nhân đã biết chỉnh âm lại phù hợp theo hàng âm của tộc người. Chiêng sau khi đã được chỉnh âm sẽ được tổ chức một lễ hiến sinh mời thần Chiêng về trú ngụ trong Chiêng và từ đó “Chiêng mới thật sự là của cải vật chất và tinh thần của con người”,vì vậy Cồng Chiêng mang đậm bản sắc văn hóa tộc người. Đối với người Tây Nguyên, cồng chiêng là cầu nối giao tiếp giữa con người với thần linh. Vì vậy nó được sử dụng nhiều trong các nghi lễ và lệ hội. Thường mỗi tộc người Tây Nguyên đều có một biên chế dàn Chiêng riêng, bản nhạc riêng tùy theo tính chất đặc trưng của từng nghi Lễ mà có nhưng dàn chiêng và bài chiêng phù hợp. Dàn Chiêng và bài Chiêng dùng trong các nghi thức cúng thần khác với dàn Chiêng và bài Chiêng dùng trong nghi thức cầu màu, cầu sức khỏe… Đối với các tộc người Tây Nguyên cồng chiêng là biểu tượng cho sự quyền lực và sự giàu có. Người sở hữu nhiều cồng chiêng không chỉ là người giàu có của cải mà hơn thế còn là người có sức mạnh linh thiêng lớn hơn người khác. Bởi có thần chiêng làm bạn.Chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao.  Tự lâu đời, cồng Chiêng có sự gắn bó mật thiết và không thể thiếu trong đời sống tinh thần  của người Tây Nguyên. Cồng Chiêng và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là tài sản vô giá về văn hóa lẫn âm nhạc, là di sản văn hóa độc đáo của nhân loại.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 13: Ca trù Việt Nam, ảnh Ca trù, nguồn BQLDT Hà Nội (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    13. CA TRÙ

    Ca trù là di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp vào ngày 01-10-2009. Đây là một di sản văn hóa phi vật thể có phạm vi ảnh hưởng lớn nhất, nó có mặt ở 15 tỉnh thành trong cả nước nhưng nhiều nhất ở phía Bắc Việt Nam. Tiêu biểu như ở Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Tp. Hồ Chí Minh. Được khởi nguồn từ trong dân ca dân vũ dân nhạc Việt Nam, Ca trù là “một bộ môn nghệ thuật tổng hợp với nét độc đáo là sự phối hợp đa dạng tinh tế, nhuần nhuyễn giữa thi ca và âm nhạc, đôi khi có cả múa”. Nó được ra đời từ thế kỉ XI và được phát triển rộng rãi từ thế kỉ XV nhưng mãi đến cuối thể kỷ XX mới được thế giới biết đến và được các nhà Nhạc gia, nhạc sĩ nước ngoài tìm hiểu, nghiên cứu giới thiệu tại nhiều trường đại học nổi tiếng trên thế giới. Ca trù còn được gọi là hát Ả đào, hát Cô Đầu, hát Cửa Đình, hát Nhà Trò, … hát Ca trù thường có 5 không gian trình diễn chính, mỗi không gian đều có lối hát và cách thức trình diễn riêng. Để biểu diễn ca trù ít nhất phải có 3 người: một “Đào nương” hay còn gọi là “Ca Nương” vừa hát vừa gõ phách, một “Kép” (Nam nhạc Công) đệm đàn đáy cho người hát và một “Quan Viên” là người điểm trống chầu. Trong đó ca nương là người được đánh giá cao nhất nhưng cũng là người phải khổ luyện và trải qua nhiều thử thách mới được công nhận. Ca trù xưa được tổ chức khá chặc chẽ và có những quy định cụ thể về sự truyền nghề, học đàn, hát, chọn đào nương đi thi hát…  Ca trù là một bộ môn nghệ thuật độc đáo uyên bác. Ca Trù phong phú về lối hát, tinh tế, công phu trong kĩ thuật hát. Ca trù là một trong những kết tinh, nghệ thuật văn hóa tinh tế của tâm hồn người Việt Nam qua bao thế kỷ. Nó mãi là niềm tự hào và xứng đáng là Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền Khẩu của Việt Nam và nhân loại.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 13: Quan họ Bắc Ninh, ảnh Quan họ Bắc Ninh nguồn Sở VHTT& DL Bắc Ninh (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    14. QUAN HỌ BẮC NINH

    Quan họ Bắc Ninh được tổ chức UNESCO công nhận là: Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 30-9-2009. Phạm vi được công nhận chính thức gồm có 49 làng quan họ ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, nhưng tập trung nhiều nhất là ở Bắc Ninh (có 44 làng quan họ). Quan họ Bắc Ninh là những làn điệu dân ca mượt mà, trữ tình của người dân vùng đồng bằng Bắc bộ, với lối hát giao duyên dân dã mộc mạc nhưng mang đậm nghĩa tình của trai gái thông qua những “Liền Anh” “Liền Chị” hát quan họ. Quan Họ Bắc Ninh cũng là môn nghệ thuật được hợp thành từ những yếu tố như: âm nhạc, lời ca, trang phục và lễ hội. Đây cũng là một trong những thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong dân ca Việt Nam. Hát quan họ là hình thức hát đối đáp nam nữ giữa làng này với làng kia mà người ta còn gọi là “Bọn nam” “ Bọn nữ”. Một làng quan họ thường có nhiều “Bọn nam” và “Bọn nữ”. Khi hát có sự phân công hát dẫn, hát cặp để tạo được sự tương hợp về giọng ca. Việc truyền dạy dân ca quan họ cũng rất khác biệt so với các loại dân ca khác đó là tục “ngủ bọn”. Thường thiếu niên nam nữ trong làng từ 9-17 tuổi thường rủ nhau buổi tối tập trung tại nhà ông trùm để học cách nói năng, ứng đối và luyện giọng ghép đôi giữa “Liền anh” và “Liền chị” cho hợp giọng để đi hát. Trang phục và ẩm thực trong Quan họ Bắc Ninh cũng đặc biệt ấn tượng: vừa đẹp và trang trọng, thể hiện tình cảm thắm thiết của chủ nhà đối với khách cũng như tập quán của mỗi làng quê. Đó là trầu têm cánh phượng cánh quế, chè Thái, mâm son, thịt gà, giò lụa. Trang phục liền chị nổi bật với nón ba tầm, quai thao, khăn mỏ quạ, yếm váy… Liền anh áo the khăn xếp, ô lục soạn, áo the dài nâu thâm đi với quần, dép. Quan họ Bắc Ninh là nét văn hóa tiêu biểu của người dân vùng Kinh Bắc và là một trong những thể loại dân ca có làn điệu phong phú nhất trong kho tàng dân ca Việt Nam.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 15: Hội Gióng, ảnh Hội Gióng nguồn BQL di tích Hà Nội (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    15. HỘI GIÓNG

    Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO công nhận chính thức vào ngày 16-11-2010 tại Hội nghị lần thứ V của Uỷ Ban Liên Chính Phủ theo Công ước năm 2003 tổ chức tại thành phố Nairobi – thủ đô của Kenya. Hội Gióng hằng năm được tổ chức ở đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) từ ngày 6-8 tháng Giêng âm lịch và ở đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội) từ ngày 6-12 tháng tư âm lịch. Đây là hai địa danh theo truyền thuyết là nơi sinh ra người anh hùng Thánh Gióng và là nơi dừng chân cuối cùng sau khi dẹp tan giặc Ân ông bay về trời. Đây là lễ hội truyền thống để ca ngợi chiến công và tưởng nhớ công ơn của người anh hùng Thánh Gióng. Trong lễ hội có sự tái hiện lại một cách sinh động cảnh các trận đấu giao tranh quyết liệt giữa Thánh Gióng và nhân dân Văn Lang với giặc Ân theo hình thức chiến tranh giữa các bộ lạc cổ xưa. Lễ hội nhằm giáo dục lòng yêu nước và truyền thống đoàn kết cộng đồng và tinh thần thượng võ, ý chí đấu tranh kiên cường đồng thời cũng thể hiện khát vọng độc lập tự do của dân tộc.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 16: Hát xoan ở Phú Thọ, ảnh Đào kép các phường Xoan biểu diễn hát đúm tại đình Lâu Thượng nguồn Bảo tàng Phú Thọ (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    16. HÁT XOAN Ở PHÚ THỌ

    Hát Xoan ở Phú Thọ Việt Nam được UNESCO chính thức công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 24-11-/2011. Hát Xoan còn được gọi là khúc môn đình (hát cửa đình) được xuất hiện từ thời đại Hùng Vương cách ngày nay khoảng hơn 2000 năm. Đây là lối hát thờ thần xưa thường được tổ chức hát vào mùa Xuân. Hát Xoan có 3 hình thức: hát thờ cúng các vua Hùng, thành Hoàng làng, hát cầu mùa, cầu sức khỏe, hát lễ hội (giao duyên nam nữ). Phạm vi phân bố của Hát Xoan tập trung chủ yếu từ những làng cổ thuộc địa bàn trung tâm Văn Lang xưa thời vua Hùng ở Phú Thọ, tiêu điểm như An Thái, Phù Đức, Kim Đới  ở hai xã Kim Đức và Phương Lâu (Phú Thọ) và sau được lan tỏa ra một số làng quê dọc theo hai bên bờ sông Lô, sông Hồng và tỉnh Vĩnh Phúc. Trong Hát Xoan khi biểu diễn thể hiện nhiều dạng thức như: hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và ca khúc, đồng ca nữ, đồng ca nam, tốp ca, đối ca, hát đối đáp, hát xen, hát đuổi, hát có lĩnh xướng…Về sắc thái âm nhạc cũng rất phong phú đa dạng. Múa và hát luôn đi cùng và kết hợp với nhau. Nội dung lời ca có phần khấn nguyện, chúc tụng và mô tả sản xuất, sinh hoạt, ca ngợi cảnh vật thiên nhiên, kể nói về truyện xưa. Hát Xoan là một di sản văn hóa phi vật thể chưa đựng nhiều giá trị lịch sử văn hóa nghệ thuật độc đáo của dân tộc Việt Nam. Nó có một sức sống mãnh liệt được lưu truyền gìn giữ qua bao thế hệ và sẽ mãi trường tồn, đồng hành cùng cộng đồng dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại.

    Di sản thế giới tại Việt Nam 17: Đờn ca tài tử Nam Bộ, ảnh Cảnh sinh hoạt đờn ca tài tử Bảo tàng Bạc liêu cung cấp (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    17. ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ

    18. DÂN CA VÍ DẶM NGHỆ TĨNH

    Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 27-11-2014. Đây là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân ca khá phổ biến và chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Nó mang đậm bản sắc, tâm hồn cũng như cốt cách của người dân Nghệ Tĩnh. Dân ca Ví dặm được người dân nơi đây hát trong mọi hoạt động của đời sống như khi  ru con, dệt vải, gặt lúa, chèo thuyền… Nội dung lời ca của dân ca Ví dặm ca ngợi những giá trị nhân văn sâu sắc như tinh thần yêu nước, tôn sư trọng đạo, hiếu kính với cha mẹ, lòng chung thủy, cách ứng xử, sống có nghĩa có tình…kêu gọi gắn kết cộng đồng chống áp bức bất công trong xã hội. Hát ví thường là hát tự do, ngẫu hứng theo lối hát ví von để đối đáp hai bên nam nữ. Có nhiều loại ví khác nhau như: ví phường cấy, phường gặt, phường nón, phường vải, ví đò đưa…  Hát dặm là thể hát nói bằng thơ ngụ ngôn thường có tiết tấu rõ ràng. Dặm mang tính tự sự, tự tình, khuyên răng, giải bày. Nhiều khi lại dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng. Hát dặm Nghệ Tĩnh cũng có rất nhiều loại khác nhau: dặm nói, dặm kể, dặm vè, dặm ru, dặm nam nữ, dặm cửa quyền, dặm xẩm… Dân ca ví dặm có lối hát rất gần gũi, mộc mạc đặc biệt sử dụng nhiều từ ngữ và ngữ điệu phương ngữ Nghệ Tĩnh có khả nặng biểu đạt tư tưởng tình cảm của người dân xứ Nghệ Tĩnh đồng thời góp phần giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống, lòng yêu nước, gắn kết cộng đồng. Nó có một sức sống mãnh liệt và là nguồn cảm hứng âm hưởng dân ca cho các nghệ sĩ kế thừa và phát huy trong các tác phẩm đương đại, góp phần làm giàu thêm di sản văn hóa tinh thần và sự phát triển bền vững của xã hội thời hiện đại.

     19. KÉO CO

    20. TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TAM PHỦ

    Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt được tổ chức UNESCO chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại ngày 01-12-2016. Đây là một tín ngưỡng dân gian thờ các thần linh thiên nhiên có từ lâu đời của người Việt được xuất hiện từ thời tiền sử với khái niệm Thánh Mẫu, sau dần phát triển thành tín ngưỡng Tam Phủ (Thiên phủ, Địa phủ, Thoại phủ). Đến thế kỷ XVI cùng với sự xuất hiện của Thánh mẫu Liễu Hạnh một tín ngưỡng bản địa mới được hình thành đó là đạo Mẫu. Tín ngưỡng thờ Mẫu còn gắn liền với nghệ thuật hát chầu văn (hát hầu đồng) – một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo của người Việt. Nghi lễ hầu đồng là nghi thức tín ngưỡng tiêu biểu của đạo Mẫu. Đây là nghi thức giao tiếp với thần linh, các vị thánh thông qua các ông đồng, bà đồng. Thường các vị thánh sẽ hóa thân vào nhân vật dùng nhạc thơ, lời kể lại chuyện. Đồng thời thể hiện quyền lực như trừ ma, phán bệnh, ban phúc lộc… Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ là một phong tục tập quán thờ cúng nữ thần và những nhân vật anh hùng có trong lịch sử, những người có công với đất nước là một nét văn hóa đặc sắc trong văn hóa tâm linh của người Việt và một số dân tộc khác như Mường, Dao, Nùng…Đây là loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo có lối trình diễn kết hợp nhiều yếu tố như: âm nhạc, trang phục, múa và diễn xướng. 

    21. MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN

    Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu của Việt Nam được Uỷ ban tư vấn quốc tế (IAC) thuộc UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới vào ngày 31/7/2009. Đây là một loại hình tài liệu đặc biệt quý hiếm không chỉ ở Việt Nam mà còn hiếm có trên toàn thế giới. Mộc bản triều Nguyễn là những văn bản chữ Hán – Nôm được khắc trên gỗ để in các loại sách lưu hành tại Việt Nam vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Mộc bản triều Nguyễn hiện còn lưu giữ được 34.619 tấm trong đó bao gồm cả những ván khắc in thu được ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội đua vào Huế lưu trữ. Tài liệu được khắc trên mộc bản rất tinh xảo và sắc nét với nội dung ghi lại các sự kiện lịch sử, các cuộc tiểu trừ giặc giã, công danh sự nghiệp của các bậc quân vương. Đồng thời nhân bản các bộ luật, các quy định về chuẩn mực xã hội để phổ biến bắt buộc mọi thần dân phải tuân thủ. Tất cả các bản thảo nói trên đều phải qua sự ngự lãm và phê duyệt bằng bút tích của Hoàng đế trước khi chuyển giao cho những nghệ nhân tài hoa trong ngự xưởng của cung đình khắc lên các loại gỗ quý như gỗ thị, nha đồng… Tài liệu Mộc bản triều Nguyễn là những bản khắc in các tác phẩm chính văn, chính sử được hình thành trong quá trình hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và cuộc đời, hoạt động của những nhân vật lịch sử có ảnh hưởng lớn tới những biến cố xã hội cũng như tiến trình lịch sử của một dân tộc, của một đất nước. Hiện nay những tài liệu này rất hiếm có trên thế giới. Nó đặc biệt có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam nói riêng và thể giới nói chung.

    22. BIA TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU

    Bia đá các khoa tiến sĩ triều Lê – Mạc (1442 – 1779) Bia đá các khoa tiến sĩ triều Lê – Mạc (gồm 82  tám bia tiến sĩ) được Uỷ ban ký ức thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương công nhận là di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNÉSCO vào ngày 09/3/2010. Bia tiến sĩ tại Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội là di sản tư liệu độc đáo duy nhất trên thế giới “không chỉ lưu danh các tiến sĩ đỗ đạt trong các kỳ thi suốt gần 300 năm (1442 – 1779) mà còn ghi lại lịch sử các khoa thi và triết lý của triều đại về nền giáo dục và đào tạo, sử dụng nhân tài”. Trên các bia còn ghi rõ người viết văn bia, người dựng bia, ngày tháng dựng bia. Những điều này đã có tác động tích cực đối với xã hội đương thời và hậu thế cũng như khẳng định về tính xác thực, nguyên gốc và duy nhất của tư liệu. Nội dung văn bia đều do các nhà trí thức, danh nhân văn hóa biên soạn. Chữ viết và hoa văn trang trí trên các tấm bia sắc sảo, cầu kỳ mang tính nghệ thuật cao. Có thể nói mỗi tấm bia vừa là một tác phẩm thư pháp vừa là một tác phẩm thuật điêu khắc tinh tế và độc đáo với phong cách trang trí mang đậm dấu ấn của nghệ thuật đương thời. Với những giá trị lịch sử, văn hóa. nghệ thuật cũng như tính duy nhất, hiếm có của 82 tấm bia tiến sĩ, bia đá các khoa tiến sĩ triều Lê – Mạc tại Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) là di sản tư liệu vô giá, là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam và nhân loại trên toàn thế giới.

    23. MỘC BẢN KINH PHẬT

    Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm được Ủy ban UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày 16-05-2012. Đây là bộ Mộc bản gốc, duy nhất của Phật phái Trúc Lâm còn lưu giữ được đến ngày nay tại chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Ở đây còn lưu giữ được 3.050 bản khắc với hơn 10 đầu sách kinh phật. Trong đó chủ yếu là kinh sách, luật giới nhà Phật, trước tác của Tam Thế Tổ: Điếu Ngư Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Thiền Sư Pháp Loa Đồng Kiên Cương, Thiền Sư Huyền Quang Lý Đạo Tái và một số bản in sớ điệp của Phật phái Trúc Lâm, mộc thư ghi chép lại cách chữa bệnh bằng châm cứu, bằng các loại thảo dược (thuốc nam). Các mộc bản này được san khắc vào giai đoạn vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chùa Vĩnh Nghiêm là một trong những trung tâm đào tạo và ấn hành xuất bản lớn nhất của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Đồng thời cũng là nơi lưu giữ hồ sơ các tăng ni trên toàn quốc. Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm đều được làm bằng gỗ thị, chữ được khắc ngược trên cả hai mặt. Kỹ thuật khắc và trang trí thực hiện đúng theo quy chuẩn in của Việt Nam. Chữ khắc chủ yếu là chữ Hán cổ, chữ Nôm và một số ít có khắc xen cài thêm chữ Phạn. Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm là một di sản văn hóa phi vật thể vô giá của Việt Nam và của nhân loại bởi nó không những hàm chứa những giá trị tư tưởng, giáo lý của Phật phái Trúc Lâm mà còn có tính độc bản, nguyên gốc mang tính nghệ thuật cao. Đồng thời đây cũng là nguồn cung cấp thông tin phong phú và đáng tin cậy khi người xem có nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như: tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa, y học, mỹ thuật. 

    24. CHÂU BẢN NHÀ NGUYỄN

    Châu bản triều Nguyễn được công nhận là Di sản tư liệu thế giới thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày 14-05-2014 tại Hội nghị lần thứ 6 của Uỷ Ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (MOW CAP). Đây là những văn bản triều chính mà trong quá trình điều hành được các vua triều Nguyễn tự phê bằng mực son đỏ (từ 1802-1945). Toàn bộ khối Châu bản triều Nguyễn có 773 tập với khoảng 85.000 văn bản của 11 triều vua thời Nguyễn từ Gia Long đến Bảo Đại (không có của một vài vị vua không tại vị lâu). Các châu bản hầu hết được viết tay trên giấy dó và có nội dung khá phong phú về loại hình: chiếu, dụ, chỉ, sớ, tấu, khải, phúc, phiếu trình, phiếu nghỉ…Trong đó quy định rất rõ và chặt chẽ về chức năng và thẩm quyền. Nội dung phản ánh các vấn đề trong đời sống xã hội, các biến động về lịch sử, chính sách đối nội, đối ngoại của Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XIX đến nữa đầu thế kỷ XX. Các sự kiện ghi chép trong Châu bản có tính xác thực cao bởi đó là những thông tin được tiếp nhận và xử lý của các vua triều Nguyễn trong công tác quản lý xã hội. Đây cũng là nguồn sử liệu quan trọng để biên soạn các bộ sách sử và các sách điển lệ chính thống như: Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam nhất thống chí, Quốc Triều chính biên…Châu bản triều Nguyễn còn là tư liệu lịch sử có giá trị đặc biệt quan trọng trong việc minh chứng chủ quyền của Việt Nam về hai quần đào Trường Sa và Hoàng Sa. Ngoài ra các bút tích phê duyệt của các vua triều Nguyễn và hệ thống chữ viết trên Châu bản (sử dụng bốn loại chữ viết: chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp, chữ Quốc ngữ) đã phản ánh sự biến động của hệ tư tưởng xã hội và sự tác động du nhập của văn hóa phương Tây cũng như hoạt động giao thương của Việt Nam đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay toàn bộ số Châu bản này đang được gìn giữ bảo quản tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I (tại tòa nhà số 16 đường Vũ Phạm Hàm, phường Yên Hòa, Cầu Giấy – Hà Nội). 

    Di sản thế giới tại Việt Nam 25: Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, ảnh Thơ văn trên kiến trúc Huế nguồn Bảo tàng cổ vậ , Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế (trích dẫn bởi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim 2022)

    25. THƠ VĂN TRÊN KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ

    Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế được Ủy ban chương trình ký ức thế giới khu vực Châu Á  Thái Bình Dương (MOW CAP- thuộc UNESCO) chính thức công nhận là di sản tư liệu thế giới vào ngày 19-05-2016. Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế bao gồm toàn bộ hệ thống văn tự chữ Hán chủ yếu là các bài văn, thơ được khắc chạm rất công phu và sắc sảo trên gỗ các kiến trúc thuộc quần thể kiến trúc cố đô Huế trong giai đoạn 1802-1945. Theo sự đánh giá của các chuyên gia và các nhà nghiên cứu thì Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế là “di sản tư liệu độc đáo, là những bản gốc duy nhất hiện chỉ có ở Việt Nam và có giá trị nổi bật toàn cầu”.

    26. MỘC BẢN TRƯỜNG HỌC PHÚC GIANG HÀ TĨNH

    Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) đã chính thức được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc chương trình ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày  19-05-2016 cùng với thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế. Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) là những bản khắc gỗ chữ Hán ngược dùng đề in sách do dòng họ Nguyễn Huy, làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện Thiên Lộc (nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh biên soạn và khắc in để phục vụ việc dạy và học. Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh), được hình thành trong quá trình hoạt động giáo dục văn hóa từ giữ thế ký XIIX đến đầu thế kỷ XX. Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) là di sản tư liệu hiện có 383 bản được làm bằng gỗ những cây thị “đực”, nét chữ khắc tinh xảo với nhiều dạng chữ khác nhau như: Lệ thư, Thảo thư, Giản tự, Cô tự, … Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) là khối mộc bản cổ nhất và duy nhất về văn hóa giáo dục của một dòng họ còn được lưu giữ ở Việt Nam. Với những giá trị đặc biệt về hình thức, nội dung cũng như tính xác thực, độc đáo di sản tư liệu này đã có tầm ảnh hưởng tới cả khu vực và quốc tế. Hiện nay khối Mộc bản này đang được bảo quản tại tư gia dòng họ Nguyễn Huy và Bảo tàng Hà Tĩnh.

    TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

    CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

    PDF và Video yêu thích

    Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy

    Run away with me

    Liên Khúc Cha Cha (Trữ Tình Cực Hay)

    Ban Mai; Chỉ tình yêu ở lại

    Ngày hạnh phúc của em

    Giúp bà con cải thiện mùa vụ

    Quà tặng cuộc sống yêu thích

    Kỷ yếu Khoa Nông Học 65 năm thành lập Khoa

    Bài học chăm sóc sức khỏe

    Secret Garden, Bí mật vườn thiêng 

    Phim vua Solomon

    KimYouTube

    Trở về trang chính

    Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Quà Lưu Niệm Nên Mua Ở Việt Nam Cho Người Nước Ngoài – Hướng Dẫn Du Lịch 2022
  • Đừng Để Khách Du Lịch “Một Đi Không Trở Lại”
  • Nhân Lực Du Lịch Việt Nam Trước Bối Cảnh Hội Nhập Khu Vực Asean
  • Hội Nhập Du Lịch Việt Nam Trong Cộng Đồng Văn Hóa
  • Thị Trường Nội Địa Là ‘bệ Đỡ’ Cho Du Lịch Việt
  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn
  • Tour Du Lịch Đà Nẵng Với Giá Rẻ Chỉ Từ 2.050.000 Vnđ
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Cuba Cực Bổ Ích Và “siêu” Tiết Kiệm
  • Cách Làm Thủ Tục Xin Visa Du Lịch Nhật Bản Tự Túc
  • Du Lịch Khoang Xanh Suối Tiên 2 Ngày 1 Đêm Thoả Sức Tận Hưởng Thiên Nhiên Trong Lành
  • PHẦN MỞ ĐẦU

    1.

    Lí do chọn đề tài

    Du lịch là ngành công nghiệp không khói có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình

    phát triển kinh tế bởi mang lại lợi ích kinh tế cao. Đặc biệt với các quốc gia đang

    trong quá trình hội nhập và phát triển như Việt Nam thì việc đẩy mạnh phát triển du

    lịch là một vấn đề quan trọng. Để phát triển du lịch đòi hỏi phải có sự hợp thành của

    nhiều yếu tố. Trong đó tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm

    du lịch. Chính sự phong phú đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên sự

    phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch.

    Trải dài trên lãnh thổ hình chữ S, Việt Nam có rất nhều các tài nguyên du lịch,

    từ những tài nguyên du lịch tự nhiên đến tài nguyên du lịch nhân văn với vô vàng

    danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Những điểm đến là khu du lịch sinh thái, vườn quốc

    gia, vịnh biển, hệ thống các đảo và quần đảo làm cho tài nguyên thiên nhiên thêm

    phong phú. Bên cạnh đó là tài nguyên du lịch nhân văn với nhiều di tích mang đậm

    giá trị lịch sử và không ít công trình là “Di sản văn hóa của nhân loại”. Với tài

    nguyên vô cùng đa dạng đó việc khai thác các thế mạnh, tính toán đến tác động môi

    trường khác nhau trong quá trình khai thác là vấn đề hết sức khó khăn, đặc biệt là tài

    nguyên du lịch nhân văn.

    Xuất phát từ mâu thuẫn đó, tôi nghiên cứu vấn đề: “Thế mạnh tài nguyên du

    lịch nhân văn và tác động đến phát triển kinh tế xã hội”. Đề tài tạo điều kiện đánh

    giá giá trị tài nguyên du lịch nhân văn, xác định mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch

    nhân văn và việc khai thác các tài nguyên đó để phục vụ phát triển du lịch.

    2.

    Mục tiêu của đề tài

    Đánh giá thế mạnh tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam nhằm xây dựng định

    hướng khai thác phù hợp và đề xuất các giải pháp khai thác có hiệu quả.

    3.

    Nhiệm vụ của đề tài

    Tổng hợp một số vấn đề lí luận về du lịch nói chung và tài nguyên du lịch

    nhân văn nói riêng.

    Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh thổ Việt Nam

    Nghiên cứu đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn Việt

    Nam nhằm xây dựng định hướng khai thác phù hợp.

    4.

    Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch nhân văn tác động trên các mặt

    Kinh tế – xã hội – môi trường.

    Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn trên lãnh

    thổ Việt Nam.

    5.

    Các phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp phân tích số liệu thống kê: thu thập các tài liệu thông kê liên

    quan từ các cơ trung ương đến địa phương tỉnh, huyện, xã,…

    Kế thừa những kết quả nghiên cứu có trước, hệ thống hóa cơ sở lí luận, thực

    tiễn và vận dụng vào đề tài một cách hợp lý.

    6.

    Nội dung bài tiểu luận

    Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, đề tài gồm các nội dung

    chính sau:

    Chương 1. Một số vấn đề lí luận cơ bản về du lịch và tài nguyên du lịch nhân

    văn.

    Chương 2. Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở Việt Nam.

    Chương 3. Tác động của tài nguyên du lịch nhân văn đến Kinh tế – Xã hội –

    Môi trường của Việt Nam.

    Chương 4. Giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam.

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH

    VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

    1.1.

    Một số vấn đề lí luận

    1.1.1. Khái niệm du lịch

    Dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, hoàn cảnh không gian, thời gian

    khác nhau, mỗi tổ chức cá nhân có những cách hiểu về du lịch khác nhau.

    Với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại

    ROMA (Italia) năm 1963, các chuyên gia đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là

    tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc

    hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên

    của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến du lịch không phải nơi

    làm việc của họ.”

    Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization) lại định nghĩa: “Du

    lịch là tổng thể các hiện tượng và các mối quan hệ xuất phát từ sự giao lưu với du

    khách, các nhà kinh doanh, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quá

    trình thu hút và đón tiếp khách du lịch.”

    1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch

    Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng

    lượng và thông tin trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử

    dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.

    Tài nguyên du lịch theo Pirojnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự

    nhiên văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục

    hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của

    họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kĩ

    thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất những dịch vụ du

    lịch và nghỉ ngơi.”

    Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm

    này luôn gắn liền với khái niệm du lịch.

    – Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các qui

    định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ.

    1.2.

    Phân loại tài nguyên du lịch:

    Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm sau:

    Tài nguyên tự nhiên:

    Tài nguyên nhân văn:

     Tài nguyên nhân văn vật thể

    Di sản văn hoá thế giới

    Các Di tích lịch sử văn hoá, thắng cảnh đẹp cấp quốc gia và địa phương

     Tài nguyên nhân văn phi vật thể

    Di sản văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

    Các lễ hội

    Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

    Văn hoá nghệ thuật

    Văn hoá ẩm thực

    Thơ ca và văn học

    Văn hoá ứng xử và những phong tục, tập quán tốt đẹp

    Tài nguyên du lịch gắn với văn hoá các tộc người

    Các hoạt động mang tính sự kiện

    1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

    Theo khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy

    định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí

    hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể

    được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.

    Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên không tồn tại độc lập mà luôn luôn tồn

    tại, phát triển trong cùng một không gian lãnh thổ nhất định, nó có mối quan hệ qua

    lại, tương hỗ chặt chẽ theo những quy luật của tự nhiên cũng như các điều kiện văn

    hoá, kinh tế – xã hội và thường được phân bố gần các tài nguyên du lịch nhân văn.

    Thực tế, khi tìm hiểu và nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên, các nhà nghiên

    cứu thường nghiên cứu theo từng thành phần tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên có

    điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch, các di sản thiên nhiên thế giới và các

    điểm tham quan tự nhiên.

    1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

    a. Khái niệm

    Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn

    hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình

    lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có

    thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng xã hội cùng các

    giá trị văn hoá, lịch sử của chúng có sức hấp dẫn du khách và được khai thác để kinh

    doanh du lịch. Trong số các tài nguyên du lịc nhân văn thì các di sản văn hoá có vị

    trí đặc biệt.

    Trong Luật di sản văn hoá của Việt nam thì di sản văn hoá được chia làm 2

    loại, đó là di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể.

     Di sản văn hoá vật thể

    “Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa

    học,bao gồm các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật

    quốc gia”.

    “Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng và các di vật, cổ vật,bảo vật

    quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”

    “Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp

    giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mĩ, khoa

    học”.

    “Di vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”.

    “Cổ vật là hiện tượng được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu vè lịch sử, văn

    hoá, khoa học từ một trăm năm tuổi trở lên”.

    “Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm

    của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học”.

     Di sản văn hoá phi vật thể

    “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử – văn hoá,

    khoa học, được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được truyền miệng, truyền nghề,

    trình diễn và các hình thức lưu truyền khác bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm

    văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống,

    lễ hội, bí quyết nghề nghiệp thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, văn

    hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian”.

    b. Đặc điểm

    Do những nét đặc trưng và tính chất của mình, tài nguyên du lịch nhân văn có

    những đặc điểm khác với tài nguyên du lịch tự nhiên:

    Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn tác dụng giải trí

    Việc tìm hiểu các đối tượng nhân văn diễn ra trong thời gian ngắn, nó có thể

    kéo dài một vài giờ, cũng có thể một vài phút. Do vậy trong một chuyến du lịch

    người ta có thể hiểu từ nhiều giá trị nhân văn.

    Số người quan tâm đến tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá hơn,

    thu nhập và yêu cầu cao hơn.

    Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở những điểm quần cư và

    những thành phố lớn.

    Ưu thế to lớn của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính

    mùa, không bị phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng và điều kiện tự nhiên khác.

    Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và

    rất khác nhau. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân

    văn. Cơ sở để đánh giá nguồn tài nguyên này chủ yếu dựa vào cơ sở định tính, xúc

    cảm và trực cảm. Đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng mạnh của các nhân tố như: Độ

    tuổi, trình độ văn hoá,, hứng thú, trình độ nghề nghiệp, thành phần dân tộc,…

    1.2.2.1.

    Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

    a. Di sản văn hoá thế giới

    Ủy ban Di sản Thế giới đã xác định và liệt kê danh sách các di sản là các cảnh

    quan văn hóa có giá trị lớn đối với nhân loại. Để được đưa vào danh sách di sản thế

    giới, các khu vực đề cử phải có giá trị nổi bật toàn

    cầu và đáp ứng được ít nhất 1 trong 10 tiêu chí.

    Trong bản hướng dẫn năm 2002, trong bộ tiêu chí

    lựa chọn có 6 tiêu chí về văn hóa và 4 tiêu chí về

    tự nhiên. Năm 2005, Ủy ban Di sản Thế giới đưa

    ra bộ tiêu chí mới gồm 10 tiêu chí lựa chọn như

    sau:

    Hình 1.1: Biểu tượng Di sản Thế giới

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    Tiêu chuẩn văn hóa

    (I) – là một tuyệt tác về tài năng sáng tạo của con người.

    (II) – Thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong

    một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các

    bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô

    thị hoặc thiết kế cảnh quan.

    (III) – Là một bằng chứng độc đáo hoặc duy nhất hoặc ít ra cũng là một bằng

    chứng đặc biệt về một truyền thống văn hoá hay một nền văn minh đang tồn tại hoặc

    đã biến mất.

    (IV) – Là một ví dụ nổi bật về một kiểu kiến trúc xây dựng hoặc một quần thể

    kiến trúc cảnh quan minh hoạ cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong lịch sử

    nhân loại.

    (V) – Là một ví dụ tiêu biểu về sự định cư của con người hoặc một sự chiếm

    đóng lãnh thổ mang tính truyền thống và tiêu biểu cho một hoặc nhiều nền văn hóa,

    nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể

    đảo ngược được.

    (VI) – Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với những sự kiện hoặc truyền thống sinh

    hoạt với các ý tưởng, hoặc các tín ngưỡng, các tác phẩm văn học nghệ thuật có ý

    nghĩa nổi bật toàn cầu. (tiêu chuẩn này chỉ duy nhất được sử dụng trong những

    trường hợp đặc biệt và áp dụng đồng thời với các tiêu chuẩn khác).

    Tiêu chuẩn tự nhiên

    (VII) – Chứa đựng các hiện tượng, địa điểm tự nhiên hết sức nổi bật hoặc các

    khu vực có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và tầm quan trọng về thẩm mỹ.

    (VIII) – Là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn lớn trong lịch

    sử của Trái Đất, trong đó có lịch sử về sự sống, các quá trình địa chất quan trọng

    Những di tích lịch sử là những địa điểm, những công trình kỷ niệm, những vật

    kỷ niệm, những cổ vật ghi dấu bằng những sự kiện lịch sử, những cuộc chiến đấu,

    những danh nhân, anh hùng dân tộc của một thời kỳ nào đó trong quá trình lịch sử

    của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.

     Loại hình di tích văn hoá nghệ thuật:

    Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nên còn gọi là di tích

    kiến trúc nghệ thuật. Những di tích này không chỉ chứa đựng những giá trị kiến trúc

    mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hoá xã hội, văn hoá tinh thần.

    Sự phân biệt các dạng tài nguyên du lich nói chung chỉ mang tính tương đối.

    Vì trong tài nguyên du lịch nhân văn vật thể lại chứa đựng cả tài nguyên nhân văn

    phi vật thể và ngược lại. Trong các di tích kiến trúc nghệ thuật lại thường mang

    trong mình cả những giá trị lịch sử, vì vậy nhiều nhà nghiên cứu thường gọi chung là

    Di tích Lịch sử Văn hoá nghệ thuật.

     Các danh lam thắng cảnh:

    Theo Luật Di sản Văn hoá của Việt Nam năm 2003: “Danh lam thắng cảnh là

    cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với

    công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học”.

    Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ,

    thoáng đãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay khối óc của con người tạo dựng

    nên.

    Các danh lam thắng cảnh thường chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di

    tích lịch sử – văn hoá. Bởi thế nên nó có giá trị đặc biệt quan trọng đối với sự phát

    triển du lịch ngày nay.

     Các công trình đương đại:

    Là các công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ hiện đại, có giá trị

    kiến trúc, mỹ thuật, khoa học, kỹ thuật xây dựng, kinh tế, văn hoá thể thao hấp dẫn

    du khách có thể là đối tượng thăm quan nghiên cứu, vui chơi giả trí, chụp ảnh kỷ

    niệm,… đối với khách du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

    a. Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

    Năm 1989 tại phiên họp Đại hội đồng UNESCO đã đưa ra hai chính sách:

    Công nhận một danh hiệu cho một sản phẩm văn hoá phi vật thể, danh hiệu đó

    gọi là “kiệt tác Di sản Văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại”.

    Di sản Văn hoá phi vật thể và truyền miệng luôn luôn được giữ gìn trình diễn,

    bổ sung truyền lại cho lớp trẻ thông qua trí nhớ và tài năng của nghệ nhân.

    b. Các lễ hội

    Ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, bất cứ mùa nào cũng đều có lễ hội,

    bởi lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá tập thể của nhân dân sau thời gian lao

    động mệt nhọc, hoặc đây là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại:

    ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc giải quyết những nỗi lo âu, những khao

    khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.

    Cấu trúc lễ hội thường bao gồm 2 phần:

     Phần lễ:

    Các lễ hội dù lớn hay nhỏ cũng đều có phần nghi lễ với những nghi thức

    nghiêm túc, trọng thể để mở đầu ngày hội theo không gian và thời gian.

    Tùy vào tính chất của lễ hội mà phần lễ có ý nghĩa riêng. Thông thường phần

    lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự

    kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát

    triển của xã hội. Bên cạnh đó cũng có những lễ hội mà phần lễ thực hiện những

    nghi lễ tôn kính, dâng hiến lễ vật cho các vị thiên thần, thánh nhân, cầu mong

    những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nghi lễ trong lễ hội mang ý nghĩa đặc biệt

    thiêng liêng, nó chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống, giá trị thẩm mỹ và tư

    duy triết học của cộng đồng.

     Phần hội:

    Trong phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm

    lý cộng đồng, văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực

    tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên.

    Trong hội thường tổ chức những trò vui chơi giải trí, biểu diễn văn hoá nghệ

    thuật. Yếu tố cấu thành và nuôi dưỡng lễ hội là kinh tế – xã hội và tự nhiên nên nội

    dung của phần hội không chỉ giữ nguyên những giá trị văn hoá truyền thống mà nó

    luôn có xu hướng bổ sung thêm những thành tố văn hoá mới. Chính đặc điểm này đã

    tạo cho lễ hội thêm sống động, vui nhộn và phong phú. Tuy nhiên nếu yếu tố này

    không được chọn lọc và giám sát chặt chẽ cũng như tuyên truyền, giáo dục, đầu tư

    bảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống thì sẽ làm cho những giá trị đó

    bị lai tạp, mai một và suy thoái.

    Tuỳ vào quy mô và giá trị văn hoá truyền thống còn được bảo tồn, ý nghĩa của

    lễ hội đối với quốc gia hay địa phương mà các lễ hội được xếp hạng làm lễ hội quốc

    tế hay lễ hội địa phương. Các lễ hội có sức hấp dẫn cao đối với du khách là đối

    tượng để triển khai nhiều loại hình du lịch văn hoá, đặc biệt là loại hình du lịch lễ

    hội.

     Thời gian tổ chức lễ hội:

    Các lễ hội thường được tổ chức nhiều vào sau mùa vụ sản xuất, mùa mà thời

    tiết, phong cảnh đẹp là mùa xuân và mùa thu. Các giá trị văn hoá lịch sử của lề hội là

    nguồn tài nguyên du lịch quý giá để tổ chức triển khai các loại hình tham quan,

    nghiên cứu chuyên đề lễ hội hoặc kết hợp với các loại hình du lịch tham quan,

    nghiên cứu và mua sắm.

    c. Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

     Nghề thủ công truyền thống:

    Là những nghề có những bí quyết về công nghệ sản xuất ra các sản phẩm

    mang những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng triết học, tâm tư tình cảm và những ước vọng

    của con người.

    Nghề thủ công truyền thống là nghề sản xuất ra nghệ thuật do những nghệ

    nhân dân gian sáng tạo, gìn giữ và phát triển từ đời này qua đời khác cho những

    người cùng huyết thông hoặc cùng làng bản. Các sản phẩm thủ công cổ truyền này

    không chỉ mang những giá trị sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà nó còn chứa

    đựng bên trong những giá trị về mỹ thuật, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài

    nghệ, tâm tư, ước vọng của người làm ra chúng. Chính những tính hữu ích và giá trị

    văn hoá của chúng mà theo dòng chảy của lịch sử, đến nay nhiều nước trên thế giới

    nói chung và Việt Nam nói riêng đã hình thành và bảo tồn được những giá trị tốt đẹp

    của tài nguyên này.

     Làng nghề:

    “Là những làng có các nghề sản xuất hàng hoá bằng các công cụ thô sơ và sức

    lao động của con người đã được hình thành một thời gian dài trong lịch sử, nghệ

    thuật sản xuất hàng hoá được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở trong làng. Sản

    phẩm hàng hoá được sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong làng mà còn bán ở

    thị trường trong nước và quốc tế”.

    d.

    Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác

    Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các

    thư viện lớn, bảo tàng… đều có sức hấp dẫn rất lớn du khách tới tham quan và nghiên

    cứu. Những hoạt động mang tính sự kiện: các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm

    thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc

    tế… cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch. Thông thường những đối tượng văn

    hoá tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn. Vì vậy những thành phố lớn đương

    nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực

    và là hạt nhân của các trung tâm du lịch.Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát

    triển du lịch.

    1.3.

    Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn với phát triển du lịch

    Du lịch là ngành kinh tế mà trong sự phát triển hoạt động của ngành vai trò

    của tài nguyên rất quan trọng. TNDL nhân văn là một trong hai yếu tố, cùng với tài

    nguyên du lịch tự nhiên tạo thành các sản phẩm du lịch.

    Ta có thể tạo lập công thức như sau:

    T = A + B +C

    S=T+D

    Trong đó

    T: Tài nguyên du lịch

    A: Tài nguyên du lịch nhân văn

    B: Tài nguyên du lịch tự nhiên

    C: Tài nguyên kinh tế kĩ thuật và bổ trợ

    S: Sản phẩm du lịch

    D: Các dịch vụ và hàng hóa du lịch

    Đối với mỗi vùng miền lãnh thổ, có sự tập trung đa dạng, phong phú tài

    nguyên du lịch nhân văn thì hướng phát triển du lịch của vùng miền đó cũng theo

    quy luật lấy tài nguyên nhân văn hiện có làm cơ sở để tạo ra sản phẩm du lịch đặc

    trưng. Tài nguyên du lịch nhân văn có mối quan hệ qua lại mật thiết với các yếu tố

    khác, nó thể hiện lịch sử văn hóa vùng miền, thông qua đó tác động tới lối sống của

    dân cư địa phương, tới nghề và truyền thống văn hóa xã hội khác. Do vậy, tài nguyên

    du lịch nhân văn là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên sản phẩm du lịch.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du

    lịch văn hoá. Các hình thức du lịch được đưa ra trên cơ sở của nguồn tài nguyên. Tài

    nguyên du lịch nhân văn cần phải được khai thác sao cho xứng đáng với tiềm năng

    mà không làm mất đi các giá trị truyền thống sẵn có.

    Tài nguyên du lịch nhân văn là một phần của tài nguyên du lịch, một bộ phận

    quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch. Các phân hệ của hệ thống lãnh thổ du lịch

    gồm: Khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du

    lịch, đội ngũ cán bộ nhân viên và bộ máy tổ chức điều hành, quản lí du lịch. Các

    phân hệ này đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và với môi trường kinh tế xã hội

    cũng như các phân hệ khác.

    Như vậy, có thể nói rằng tài nguyên du lịch nhân văn là nhân tố quan trọng

    trong sự phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn góp phần định hướng phát

    triển du lịch của địa phương, là nguồn tài nguyên có khả năng bền vững cao nếu biết

    quan tâm, bảo tồn tôn tạo một cách hợp lí. Vì vậy, trước những đặc điểm của tài

    nguyên du lịch nhân văn sẵn có mỗi địa phương hãy đưa ra các chính sách phù hợp

    để vừa phát triển du lịch, lại vừa bảo tồn được tài nguyên.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG DU LỊCH NHÂN VĂN Ở VIỆT NAM

    2.1.

    Tài nguyên du lịch nhân văn Việt Nam

    2.1.1. Các di tích văn hóa – lịch sử

    Gía trị văn hóa – lịch sử là yếu tố cốt lõi tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo của sản

    phẩm du lịch, có sức lôi cuốn du khách đến tìm hiểu một nền văn hóa khác lạ. Việt

    Nam là đất nước của những di tích văn hóa – lịch sử lâu đời, có giá trị cao đối với du

    lịch. Ở nước ta, 1 di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích

    cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt. Tính đến năm 2014, Việt

    Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cả nh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng

    di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di

    tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di

    tích của Việt Nam. Trong số di tích quốc gia có 62 di tích quốc gia đặc biệt và trong

    số đó có 8 di sản thế giới.

    2.1.1.1.

    Thống kê di tích Việt Nam

    Các tỉnh có số lượng di tích lớn hơn 1500 gồm: Hà Nội: 5175 di tích; Bắc

    Giang: 2237 di tích,Bắc Ninh 1859 di tích,Ninh Bình: 1879 di tích, Đồng Nai: 1800

    di tích; Hà Nam: 1784 di tích; Nam Định: 1655 di tích; Thanh Hóa: 1535 di tích.

    Các tỉnh có mật độ di tích lớn nhất gồm: Hà Nam 2,07 di tích/km2; Hà Nội:

    1,56 di tích/km2; Bắc Ninh: 1,96 di tích/km2; Ninh Bình: 1,36 di tích/km2 và Hưng

    Yên: 1,31 di tích/km2.

    Bảng 2.1: Thống kê di tích Việt Nam

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    STT

    Tên tỉnh

    Tổng di tích

    1287

    1

    An Giang

    2

    Bà Rịa Vũng Tàu

    31

    14

    150

    2014

    3

    Bạc Liêu

    10

    35

    130

    2014

    4

    Bắc Giang

    99

    539

    2237

    2014

    5

    Bắc Kạn

    12

    33

    160

    2014

    Bắc Ninh

    297

    726

    1859

    2014

    7

    Bến Tre

    15

    22

    8

    Bình Dương

    12

    38

    500

    2015

    9

    Bình Định

    33

    50

    231

    2008

    10

    Bình Phước

    9

    3

    12

    2009

    11

    Bình Thuận

    24

    20

    300

    2012

    12

    Cà Mau

    9

    17

    13

    Cao Bằng

    26

    36

    226

    2008

    14

    Cần Thơ

    4

    16

    20

    2009

    15

    Đà Nẵng

    16

    37

    200

    2011

    16

    Đăk Lăk

    12

    4

    58

    2012

    17

    Đăk Nông

    9

    1

    2014

    18

    Điện Biên

    7

    10

    2014

    19

    Đồng Nai

    27

    19

    1800

    2013

    20

    Đồng Tháp

    13

    50

    91

    2015

    21

    Gia Lai

    13

    3

    30

    2009

    22

    Hà Giang

    15

    2

    36

    2010

    23

    Hà Nam

    69

    54

    1784

    2010

    24

    Hà Nội

    1196

    1156

    5175

    2015

    25

    Hà Tĩnh

    75

    393

    500

    2015

    26

    Hải Dương

    146

    89

    1098

    2009

    27

    Hải Phòng

    110

    208

    236

    2009

    28

    Hậu Giang

    9

    6

    188

    2015

    29

    Hòa Bình

    41

    27

    295

    2015

    30

    Hưng Yên

    159

    88

    1210

    2010

    31

    Khánh Hòa

    13

    98

    1091

    2009

    32

    Kiên Giang

    22

    13

    200

    2009

    33

    Kon Tum

    5

    8

    2014

    34

    Lai Châu

    4

    14

    2014

    35

    Lạng Sơn

    23

    95

    581

    2013

    36

    Lào Cai

    15

    11

    50

    2015

    37

    Lâm Đồng

    20

    10

    38

    Long An

    16

    65

    2015

    2015

    2009

    Nam Định

    74

    125

    1655

    2010

    40

    Nghệ An

    50

    70

    1000

    2010

    41

    Ninh Bình

    103

    235

    1879

    2015

    42

    Ninh Thuận

    14

    27

    233

    2014

    43

    Phú Thọ

    73

    218

    1372

    2014

    44

    Phú Yên

    18

    21

    45

    Quảng Bình

    45

    34

    150

    2010

    46

    Quảng Nam

    60

    300

    500

    2015

    47

    Quảng Ngãi

    28

    76

    199

    2014

    48

    Quảng Ninh

    60

    44

    626

    2010

    49

    Quảng Trị

    29

    160

    489

    2010

    50

    Sóc Trăng

    8

    22

    300

    2010

    51

    Sơn La

    11

    34

    64

    2010

    52

    Tây Ninh

    22

    54

    365

    2010

    53

    Thái Bình

    91

    349

    1400

    2007

    54

    Thái Nguyên

    36

    70

    780

    2010

    55

    Thanh Hóa

    136

    441

    1535

    2009

    56

    Thừa Thiên Huế

    32

    88

    902

    2010

    57

    Tiền Giang

    20

    86

    106

    2010

    58

    TP. Hồ Chí Minh

    54

    91

    400

    2010

    59

    Trà Vinh

    12

    16

    533

    2015

    60

    Tuyên Quang

    88

    55

    498

    2010

    61

    Vĩnh Long

    10

    36

    450

    2014

    62

    Vĩnh Phúc

    68

    222

    1264

    2010

    63

    Yên Bái

    10

    34

    500

    2013

    2.1.1.2.

    2014

    Phân loại di tích

    Căn cứ Điều 4 Luật di sản văn hoá, Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐCP ngày

    11/11/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

    Di sản văn hoá, các di tích được phân loại như sau:

     Di tích lịch sử văn hoá

    Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,

    bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.

    Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

    Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình

    dựng nước và giữ nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa,

    Hình 2.1: Du lịch – Atlat Địa lý Việt nam

    Nguồn: onthidialy.files.wordpss.com

    Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ… Công trình xây dựng, địa điểm

    gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di

    tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần

    thể di tích danh thắng Yên Tử, Lam Kinh, đền Đồng Nhân…

    Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ

    cách mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiến

    thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó, Phòng

    tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo… Năm 2010, di tích

    lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng. Các di tích này không những có giá trị

    lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là

    kinh tế du lịch.

     Di tích kiến trúc nghệ thuật

    Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến

    trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến

    trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có

    giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Các di

    tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội An, nhà thờ Phát Diệm, chùa

    Keo, đình Tây Đằng,Chùa Phật Tích. Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm

    44.2% tổng số di tích được xếp hạng.

     Di tích khảo cổ

    Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai

    đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

    Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người Xưa,

    thánh địa Mỹ Sơn. Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng.

     Di tích thắng cảnh

    Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa

    điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch

    sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

    Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên

    với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu

    biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng Tây Thiên, Tràng An

    Tam Cốc Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha.

    Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng

    sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật

    chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như

    vịnh Hạ Long, Cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển

    thế giới ở Việt Nam. Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp

    hạng.

     Di tích lịch sử cách mạng

    Di tích cách mạng kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích

    lịch sử văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng

    như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc

    có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp

    với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể,

    nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong

    phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ

    biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích

    này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt.

    Một số di tích lịch sử cách mạng như: Chiến khu Tân Trào, Chiến khu Quỳnh Lưu,

    Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ,…

    2.1.1.3.

    Phân cấp di tích

    Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ

    tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề

    nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích

    tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới. Di tích quốc gia đặc biệt ở Việt

    Nam được xếp hạng các đợt đầu gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập,

    Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK

    Thái Nguyên, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn Kiếp Bạc,

    Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu

    di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể

    di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An Tam

    Cốc Bích Động, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng,

    Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An và Đền Hùng.

    Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là

    không đủ tiêu chuẩn hoặc bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm

    quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định huỷ bỏ xếp hạng đối

    với di tích đó.

    2.1.1.4.

    Di sản thế giới văn hóa thế giới

    Việt Nam với bề dày lịch sử hang nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã hun

    đúc nên biết bao nét đẹp văn hóa truyền thống, trong đó có giá trị văn hóa được cả thế

    giới tôn vinh. NQ TW5 (khóa VII) của Đảng ta khẳng định: “Di sản văn hóa là tài

    sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc và cơ sở để sáng

    tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Cần phải hết sức coi trọng bảo tồn, kế

    thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc (bác học và nhân

    gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể”. Tại

    thời điểm cập nhật, trên cả nước có 17 di sản văn hóa được UNESCO công nhận.

    Trong đó 8 di sản văn hóa vật thể, 9 di sản là kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của

    nhân loại. Các di sản có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách và là niềm tự hào, là tài

    sản vô giá của quốc gia và nhân loại.

    Bảng 2.2: Di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận

    Nguồn: vi.wikipedia.org

    STT

    Di sản

    1

    Quần thể di tích Cố đô Huế

    Hạng mục

    Di sản văn hóa:

    (III), (IV)

    Địa phương Năm

    Huế

    1993

    Di sản

    2

    Vịnh Hạ Long

    Di sản thiên nhiên:

    (VII), (VIII)

    Quảng Ninh 1994

    3

    Phố cổ Hội An

    Di sản văn hóa:

    (II), (V)

    Quảng Nam 1999

    4

    Thánh địa Mỹ Sơn

    Di sản văn hóa:

    (II), (III)

    Quảng Nam 1999

    5

    Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ

    Bàng

    Di sản thiên nhiên:

    (VIII)

    Quảng Bình 2003

    6

    Trung tâm Hoàng thành

    Thăng Long

    Di sản văn hóa:

    (II), (III), (VI)

    7

    Thành nhà Hồ

    Di sản văn hóa:

    (II), (IV)

    Thanh Hóa 2011

    Di sản hỗn hợp:

    (V), (VII), (VIII)

    Ninh Bình

    8

    Quần thể danh thắng

    Tràng An

    Hạng mục

    Địa phương Năm

    Hà Nội

    2010

    2014

    Bảng 2.3: Di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam

    Nguồn: Samthienha.com phương Năm

    STT

    Di sản

    Hạng mục

    1

    Nhã nhạc cung đình Huế

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    khẩu của nhân loại

    Huế

    2003

    2

    Không gian văn hóa Cồng Chiêng

    Tây Nguyên

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    khẩu của nhân loại

    Tây Nguyên

    2005

    3

    Dân ca Quan họ

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại

    Bắc Ninh

    2008

    4

    Ca trù

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại cần bảo vệ gấp

    Bắc Bộ

    2009

    5

    Hội Gióng tại đền Phù Đổng và

    đền Sóc, Hà Nội

    Di sản phi vật thể

    Hà Nội

    2009

    6

    Hát xoan

    Di sản phi vật thể

    Phú Thọ

    2010

    7

    Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

    Di sản phi vật thể đại diện cho

    nhân loại

    Phú Thọ

    2011

    8

    Đờn ca tài tử Nam Bộ

    Kiệt tác phi vật thể và truyền

    Nam Bộ

    2012

    Kiệt tác phi vật thể và truyền Nghệ An –

    khẩu của nhân loại

    Hà Tĩnh

    Di sản vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận

    Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

    2.2. Quần thể di tích Cố đô Huế

    vietnamtourism.gov.vn

    2.4. Thánh địa Mỹ Sơn

    vietnamtourism.gov.vn

    2013

    2.3. Vịnh Hạ Long

    vietnamtourism.gov.vn

    2.5. Phố cổ Hội An

    vietnamtourism.gov.vn

    2.7. Hoàng Thành Thăng Long

    2.6. Phong Nha-Kẻ Bàng

    thiennhien.net

    2.8. Thành Nhà Hồ

    www.dulichvn.org.vn

    vietnamtourism.gov.vn

    2.9. Quần thể danh thắng Tràng An

    vietnamtourism.gov.vn

    2.1.2. Lễ hội

    Là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. “Lễ” là hệ thống những

    hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh

    những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có

    khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng,

    xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.

    2.1.2.1. Thống kê lễ hội

    Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039

    lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo

    (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác

    (chiếm 0,5%). Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải

    Dương và Phú Thọ.

    Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch sử. Cũng như nhiều quốc

    gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng. Chính

    những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

    Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là vùng văn hóa

    rất đặc trưng. Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian hầu như có mặt ở khắp mọi

    miền đất nước. Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫn được duy

    trì. Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn

    là nhân thần hay nhiên thần. Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp

    nhất của con người. Giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng

    một cuộc sống tốt lành, yên vui.

    Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa Xuân và số ít vào mùa

    Thu là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông có thời gian nhàn

    rỗi. Trong số các lễ hội Việt Nam thì phải kể đến những lễ hội chi phối hầu hết các gia

    đình trên mọi miền tổ quốc, đó là Tết Nguyên Đán, Lễ Vu Lan và tết Trung Thu. Gần

    đây một số lễ hội được nhà nước và nhân dân quan tâm như: Lễ hội đền Hùng,Lễ hội

    Tịch điền Đọi Sơn,Giáng Sinh, Hội Phật Tích.

    Một số lễ hội lớn ảnh hưởng cả một vùng rộng lớn, tiêu biểu như: hội

    Gióng (xứ Kinh Bắc), lễ hội đền Hùng (Xứ Đoài), lễ hội chùa Bái Đính, Hội Lim

    (Kinh Bắc) phủ Dày,(xứ Sơn Nam), lễ hội Yên Tử, lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), Lễ

    hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng)…

    2.1.2.2. Phân cấp lễ hội

    Khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phân cấp theo quy định, các

    lễ hội ở Việt Nam chưa được quy định phân cấp bài bản. Có những lễ hội bị biến

    tướng, trần tục hoá, mở hội tràn lan… nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm kê các lễ hội

    trên toàn quốc để tiến tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ hội cấp quốc gia, lễ hội cấp

    tỉnh, lễ hội cấp huyện và lễ hội cấp làng. Theo bà Lê Thị Minh Lý – Phó Cục trưởng

    Cục Di sản Văn hoá, điểm yếu trong việc quản lý lễ hội hiện nay đó là chưa có cơ sở

    dữ liệu khoa học và quan điểm tiếp cận đúng. Không nên đánh đồng giữa lễ hội và

    festival.

    Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều

    cấp khác nhau. Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốc gia 5 năm/

    lần. Những năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh. Các lễ hội thường được

    tổ chức ở quy mô cấp tỉnh như hội Lim, lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễ hội đền

    Trần (Nam Định)… Các lễ hội ở quy mô cấp huyện tiêu biểu như lễ hội đền Nguyễn

    Công Trứ ở Kim Sơn (Ninh Bình) vàTiền Hải (Thái Bình) để tưởng niệm người chiêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Sông Cầu Phú Yên Có Gì Đẹp?
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sông Cầu, Phú Yên (Cập Nhật 08/2020)
  • Du Lịch Thái Lan Nên Đi Tour Hay Đi Tự Túc?
  • Nên Đi Du Lịch Thái Lan Theo Tour Hay Tự Túc?
  • Khám Phá Du Lịch Bắc Kinh Vào Mùa Xuân
  • “việt Nam Ngày Nay”: Giới Thiệu Các Sản Phẩm Du Lịch Đẳng Cấp Thế Giới Của Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đi Tìm Sản Phẩm Đặc Biệt Của Du Lịch Việt Nam
  • Các Sản Phẩm Văn Hóa Du Lịch Ở Hội An
  • Để Phát Huy Tốt Hơn Các Sản Phẩm Và Điểm Tham Quan Du Lịch Ở Huế
  • Thêm Nhiều Sản Phẩm Du Lịch Mới Tại Thừa Thiên Huế
  • Phát Triển Phong Phú Các Sản Phẩm Du Lịch Ở Cà Mau
  • #VietnamNOW, thông điệp do TCDL hợp tác cùng Hội đồng Tư vấn Du lịch Việt Nam (TAB), cập nhật một góc nhìn mới trọn vẹn hơn về Việt Nam cho khách du lịch trên toàn thế giới. Chiến dịch nhấn mạnh vào các trải nghiệm hiện đại, các sản phẩm du lịch đẳng cấp thế giới Việt Nam mang đến cho du khách, bên cạnh những danh lam thắng cảnh, điểm đến du lịch, văn hóa vốn đã nổi tiếng.

    Theo ông Đinh Ngọc Đức, Vụ trưởng Vụ Thị trường du lịch “Với #VietnamNOW, chúng tôi muốn nới rộng hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế bằng cách cho thấy những trải nghiệm tuyệt vời cho du khách khi đến Việt Nam ngày nay” .

    “Việt Nam có vô số các lựa chọn du lịch đầy tiềm năng. Chúng tôi muốn giới thiệu những dịch vụ, sản phẩm xuất sắc nhất của du lịch Việt Nam qua thông điệp #VietnamNOW.”

    Được biết, ngoài việc quảng bá về ẩm thực Việt Nam, các di sản thế giới UNESCO, những truyền thống văn hóa lâu đời, và phong cảnh thiên nhiên, #VietnamNOW còn làm nổi bật các trải nghiệm du lịch hiện đại như những sân golf cao cấp, những khu nghỉ dưỡng sang trọng, những chuyến khám phá mạo hiểm, và những hoạt động thú vị khác trong thành phố. Nhiều sự kiện đặc biệt như các lễ hội, các cuộc đua chạy bộ đường trường và Giải Đua xe Công thức 1 tại Hà Nội sẽ được tận dụng để làm nổi bật các sản phẩm du lịch đa dạng của Việt Nam.

    Để khởi động chiến dịch này, Tổng cục Du lịch đã tổ chức cuộc thi ảnh #VietnamNOW trên trang Facebook chính thức: @vietnamtourismboard. Cuộc thi đang diễn ra cho đến ngày 18/10/2019. Các thí sinh gửi về những bức ảnh chụp #VietnamNOW đẹp nhất để có cơ hội thắng những kỳ nghỉ tại các điểm đến hàng đầu Việt Nam, cùng những phần quà #VietnamNOW khác. Hai bức ảnh thắng cuộc sẽ nhận được hai đêm nghỉ tại khu nghỉ dưỡng năm sao InterContinental Phu Quoc Long Beach Resort cùng vé máy bay nội địa đến Phú Quốc, hoặc một kỳ nghỉ qua đêm trên du thuyền Hạ Long với L’Azalée Ha Long Bay Cruises cùng chuyến bay ngắm vịnh với Hai Au Aviation. Cuộc thi diễn ra đến ngày 30/10/2019.

    Theo sau cuộc thi ảnh là các hoạt động do Tổng cục Du lịch và TAB đồng tổ chức để tăng độ nhận biết cho chiến dịch. Khách du lịch có thể tìm thông tin và cảm hứng cho hành trình đến Việt Nam trên website chính thức của Tổng cục Du lịch: www.vietnam.travel. Các cuộc thi với phần thưởng đến từ những thương hiệu Việt Nam đẳng cấp chờ đón những người theo dõi @vietnamtourismboard trên Facebook và Instagram hàng tháng. Ngoài ra, người dùng có thể sử dụng thẻ gắn và các nhãn dán #VietnamNOW khi chia sẻ về chuyến đi của mình trên Instagram.

    #VietnamNOW được Tổng cục Du lịch dự kiến ra mắt tại Hội chợ World Travel Market London vào tháng 11/2019,nhằm khuyến khích du khách Anh Quốc lên kế hoạch đến thăm Việt Nam. Bên cạnh đó, Tổng cục Du lịch sắp cho ra mắt 5 video về những trải nghiệm du lịch hàng đầu, cùng cuộc thi ‘I Wish I Was in #VietnamNOW’ với giải thưởng là vé máy bay đến Việt Nam, và các ấn phẩm hướng dẫn khách du lịch đến #VietnamNOW lần đầu tiên./.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Sách Các Nước Miễn Visa Cho Việt Nam 2022
  • Danh Sách Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Người Việt Nam
  • Các Nước Miễn Visa Du Lịch Cho Việt Nam Năm 2022
  • Passport Việt Nam Đi Du Lịch Không Cần Visa Được Bao Nhiêu Nước ?
  • Các Điểm Du Lịch Không Cần Visa Cho Người Việt Nam
  • Bản Đồ Việt Nam, Bản Đồ Thế Giới, Bản Đồ Các Tỉnh Và Các Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Cẩm Nang Du Lịch Anh Quốc Từ A – Z
  • Bản Đồ Bà Nà Hills
  • Sơ Đồ Bà Nà Hill 2022 Chi Tiết Cập Nhật Nhất
  • 20 Khu Du Lịch Resort Villa Homestay Lớn Nhỏ
  • Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Bắc Giang Khổ Lớn Năm 2022
  • Giới thiệu về bản đồ nước Anh

    Về mặt địa lý: trên bản đồ nước Anh thể hiện rõ, Anh là một quốc gia thuộc Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Vương quốc Anh nằm tại miền trung và miền nam của đảo Anh và chiếm khoảng 5 phần 8 diện tích của toàn đảo; ngoài ra còn có trên 100 đảo lớn, nhỏ ven bờ như quần đảo Scilly và đảo Wight. Vương quốc Anh có đường biên giới với hai quốc gia khác trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đó là: phía bắc giáp với Scotland và phía tây giáp Wales. Anh là nơi gần lục địa châu Âu nhất tại đại lục Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Vương quốc Anh cách biệt với quốc gia Pháp qua eo biển Manche rộng khoảng 34km, song hai quốc gia này vẫn được liên kết với nhau thông qua đường hầm xuyên gần Folkestone. Vương quốc Anh cũng có đường bờ biển ven biển Ireland, biển Bắc và Đại Tây Dương. Anh tách biệt khỏi lục địa châu Âu qua biển Bắc về phía đông và tách biệt với eo biển Manche về phía nam.

    Về địa hình: ta thấy hầu hết địa hình của Anh là đồi thấp và đồng bằng thông qua bản đồ nước Anh đã thể hiện rất rõ, đặc biệt địa hình này phổ biến tại miền trung và miền nam nước Anh. Tuy nhiên, tại miền bắc và tây nam có các vùng núi cao.

    Về khí hậu: vương quốc Anh có kiểu khí hậu đại dương ôn hòa, vào mùa đông nhiệt độ không thấp hơn nhiều mức 0°C và không cao hơn nhiều mức 32 °C vào mùa hè. Thời tiết thường xuyên ẩm thấp và tương đối dễ thay đổi. Tháng 1 và tháng 2 là các tháng lạnh nhất trong năm (riêng vùng ven biển là tháng 2 lạnh nhất), tháng 7 thường là tháng ấm nhất. Các tháng có thời tiết êm dịu cho đến ấm là tháng 5-6 và tháng 9-10.

    Bản đồ hành chính nước Anh

    Thủ đô của vương quốc Anh là Luân Đôn, thuộc khu vực đại đô thị lớn nhất tại Anh Quốc cũng như Liên minh châu Âu.

    Phần lớn dân cư tập trung xung quanh thủ đô Luân Đôn, vùng đông nam và các khu thành thị khác như tại Midlands, Tây Bắc, Đông Bắc và Yorkshire. Đây là những nơi phát triển nhanh chóng thành các vùng công nghiệp lớn trong thế kỷ XIX.

    Theo số liệu thống kê mới nhất từ Liên Hợp Quốc ngày 26/11/2018, dân số hiện tại của Vương quốc Anh là 66.730.354 người, hiện chiếm 0,87% dân số thế giới. Vương quốc Anh được xếp thứ 21 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ. Tổng diện tích đất của Vương quốc Anh là 241.959 km2 với mật độ dân số là 276 người/km2.

    Nhìn chung trên bản đồ hành chính nước Anh, nước Anh được chia thành 9 vùng và 48 hạt nghi lễ, mặc dù chúng chỉ có một vai trò hạn chế trong chính sách công. Đối với các mục đích của chính quyền địa phương, nước Anh được chia thành các hạt, huyện và các xã. Trong một số khu vực hạt, huyện thành lập một cơ cấu hành chính hai tầng, trong khi ở những nơi khác chúng lại được kết hợp dưới một cơ quan đơn nhất. Các xã chỉ bao gồm một phần của vương quốc Anh.

    Phân vùng tại Anh gồm có bốn cấp, được lập nên vì mục đích cai quản địa phương và được kiểm soát thông qua nhiều kiểu thực thể hành chính. Cấp chính quyền địa phương cao nhất là chín vùng của Anh đó là North East, North West, Yorkshire and Humber, East Midlands, West Midlands, East, South East, South West và thủ đô London.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Đồ Du Lịch Việt Nam Phân Chia Trải Dài Từ Bắc Vào Nam
  • Bản Đồ Hướng Dẫn Du Lịch Đảo Phú Quốc Đầy Đủ Chi Tiết 2022 ❤️❤️❤️
  • Bản Đồ Du Lịch Phú Quốc 2022
  • Balo Du Lịch Hải Phòng Giá Rẻ. Tnbags.vn
  • Túi Du Lịch Giá Rẻ Tại Hà Nội. Gia Công Balo – Túi Xách – Đồng Phục Chỉ 65K
  • Tài Nguyên Du Lịch Là Gì? Các Cách Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Đà Nẵng
  • Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang
  • Địa Du Lịch An Giang
  • Vĩnh Phúc Phát Triển Du Lịch Đặc Trưng Bền Vững
  • Liên Hiệp Các Hội Khkt Tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Theo Pirojnik, 1985: “Tài nguyên du lịch là tổng thệ tự nhiên, văn hoá và lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế – kỹ thuật cho phép.”

    Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Tài nguyên du lịch là cơ sở để phát triển ngành du lịch. Đó là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

    Theo Pirojnik, 1985: “Tài nguyên du lịch là tổng thệ tự nhiên, văn hoá và lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế – kỹ thuật cho phép.”

    Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch của một địa phương. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển du lịch. Vì vậy, sức hấp dẫn của một địa phương phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên du lịch của địa phương đó.

    2. Các cách phân loại tài nguyên du lịch

    2.1 Phân loại tài nguyên du lịch theo WTO:

    WTO phân loại tài nguyên du lịch thành 3 nhóm như sau:

    • Cung cấp tiềm năng (VH kinh điển, TN kinh điển, vận động vui chơi)
    • Cung cấp hiện tại (giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể)
    • Tài nguyên kĩ thuật (khả năng hoạt động, cách thức và tiềm lực khu vực)

    2.2 Phân loại theo tác giả Bùi Thị Hải Yến

    Theo Tác giả Bùi Thị Hải Yến thì tài nguyên du lịch của nước ta được phân thành 3 nhóm chính là:

      Tài nguyên du lịch nhân văn:
    • TNDL nhân văn vật thể (DSVH thế giới, di tích khảo cổ,di tích lịch sử, di tích kiến trúc, danh lam thắng cảnh, công trình đương đại, vật kỉ niệm và cổ vật).
    • TNDL nhân văn phi vật thể (DSVH phi vật thể, lễ hội, nghề và làng nghề, ẩm thực, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, sự kiện thể thao văn hóa).
      Tài nguyên kinh tế – kĩ thuật và bổ trợ: (đường lối chính sách phát triển du lịch, tổ chức quản lý, quy hoạch du lịch, nguồn lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật, xúc tiến quảng bá, kết cầu hạ tầng).
    • Thiên nhiên (cảnh quan địa văn, cảnh quan thủy văn, khí hậu và sinh vật, cảnh quan tự nhiên khác)
    • Nhân văn (di tích lịch sử, điểm nhân văn hiện đại, điểm hấo dẫn nhân văn trừu tượng, hấp dẫn nhân văn khác).
    • Dịch vụ (dịch vụ du lịch, các dịch vụ khác)

    2.3 Phân loại theo Ngô Tất Hổ

    Cũng giống với tác giả Bùi Thị Hải Yên, Tác giả Ngô Tất Hổ phân tích tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:

      Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, nguồn nước, thực vật và động vật.

    Dựa vào các cách phân loại trên, tài nguyên du lịch được chia làm 2 nhóm chính là:

    2.4 Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:

    • Các di tích lịch sử-văn hoá, kiến trúc; các lễ hội;
    • Các đối tượng gắn liền với yếu tố dân tộc học;
    • Các làng nghề thủ công truyền thống;
    • Các đối tượng văn hoá, thể thao và hoạt động nhận thức khác.
    • Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ, nghỉ ngơi, du lịch.
    • Thời gian khai thác xác định tính mùa vụ của du lịch và nhịp điệu của dòng khách. Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó.
    • Vốn đầu tư tương đối thấp, chi phí sản xuất không cao, xây dựng tương đối nhanh và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên.
    • Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các quy định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết.

    2.5 Tài nguyên du lịch nhân văn là gì?

    Tài nguyên du lịch nhân văn là:

    Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao.

    + Khái niệm du lịch và sản phẩm du lịch hiện nay

    + Khái niệm, đặc điểm và các loại sản phẩm du lịch biển đảo

    Nguồn: trithuccongdong.net

    Top từ khóa tìm kiếm: khái niệm tài nguyên du lịch, các loại tài nguy ên du lịch, điểm tài nguyên du lịch là gì

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khai Thác Tài Nguyên Du Lịch Vùng Tây Bắc
  • Những Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Tại Sơn La
  • Ba Lĩnh Vực Hứa Hẹn “hái Ra Tiền” Của Du Lịch Nghệ An
  • Luận Văn Thu Hút Khách Du Lịch Quốc Tế: Nghiên Cứu Cho Trường Hợp Việt Nam
  • Dịch Vụ Sửa Máy Ảnh, Sửa Máy Quay Uy Tín, Giá Rẻ Nhất Tại Hà Nội
  • Tập Đoàn Banyan Tree Giới Thiệu Khu Nghỉ Dưỡng Đẳng Cấp Thế Giới Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Địa Điểm Du Lịch Ở Lai Châu (Cập Nhật 11/2020)
  • Khu Du Lịch Sinh Thái Lái Thiêu (Đà Nẵng)
  • Kinh Nghiệm Đi Ăn Chơi Ở Kdl Sinh Thái Lái Thiêu Đà Nẵng
  • Dự Án Lấn Biển Cần Giờ 2870Ha Khu Đô Thị Du Lịch Hiện Đại
  • Vinhomes Long Beach Cần Giờ, Dự Án Đô Thị Du Lịch Lấn Biển (Cập Nhật)
  • Tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam, tháng 6 năm 2012 – Tập đoàn Banyan Tree thông báo chuẩn bị khai trương khu nghỉ dưỡng phức hợp đẳng cấp thế giới đầu tiên tại Việt Nam – Laguna Lăng Cô – vào ngày 1 tháng 11 năm 2012. Nằm nép mình dọc theo bờ biển yên bình tại miền Trung Việt Nam, Laguna Lăng Cô là bước đột phá đầu tiên của Banyan Tree tại thị trường trong nước, mô phỏng lại nhiều nét đặc trưng của Laguna Phuket, khu nghỉ dưỡng phức hợp hàng đầu của Tập đoàn tại miền Nam Thái Lan.

    Bao quanh bởi bờ biển dài 3 ki-lô-mét và miền thôn quê tươi đẹp của miền Trung, khu nghỉ dưỡng rộng 280 héc-ta này tọa lạc tại Chân Mây, nối liền với vịnh Lăng Cô hướng ra biển Đông; đây là một khu vực nổi tiếng với bờ biển nguyên sơ, những cánh rừng nhiệt đới và các rặng núi cheo leo. Laguna Lăng Cô tiếp giáp với Khu di sản văn hóa thế giới đã được UNESCO công nhận, như Cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Laguna Lăng Cô nằm trọn vẹn trên vịnh biển hình lưỡi liềm, một địa thế độc đáo tạo nên sự riêng tư hiếm có cho toàn khu nghỉ dưỡng. Dự án bao gồm các khách sạn, khu dịch vụ Spa mang thương hiệu Banyan Tree và Angsana, sân golf 18 lỗ do Ngài Nick Faldo thiết kế, các biệt thự riêng biệt và khu dân cư cao cấp sẵn sàng được chào bán, trung tâm hội nghị và hàng loạt các hoạt động giải trí cho khách hàng ở mọi lứa tuổi. Laguna Lăng Cô hội tụ đủ các yếu tố để trở thành điểm đến nghỉ dưỡng đẳng cấp quốc tế, đồng thời là sự lựa chọn hàng đầu cho nhu cầu sở hữu “ngôi nhà thứ hai” trong khu vực Đông Nam Á.

    Giai đoạn 1 của dự án có vốn đầu tư 200 triệu đô la Mỹ được đầu tư bởi quỹ Banyan Tree Indochina Hospitality, quỹ bất động sản đầu tiên của Tập đoàn được thành lập vào năm 2008.

    Ông Ho KwonPing, Chủ tịch Tập đoàn Banyan Tree đã phát biểu rằng: “Tập đoàn Banyan Tree từ lâu đã rất quan tâm đến việc phát triển thương hiệu của mình tại Việt Nam, với nguyện vọng giới thiệu đến du khách Việt Nam và thế giới mô hình khu nghỉ dưỡng phức hợp đẳng cấp quốc tế mà chúng tôi đã triển khai rất thành công tại Phuket, Thái Lan”.

    Ông cũng cho biết thêm: “Miền Trung Việt Nam, với vẻ đẹp tự nhiên và các địa danh giàu truyền thống lịch sử như Cố đô Huế và phố cổ Hội An, là một vùng đất lý tưởng để Banyan Tree đặt nền móng cho sự phát triển của Tập đoàn trong khu vực Đông Dương. Chúng tôi tin tưởng rằng Laguna Lăng Cô sẽ nhanh chóng trở thành một điểm đến du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn với khu biệt thự và căn hộ đẳng cấp phục vụ cho khách du lịch trong và ngoài nước.”

    Angsana Lăng Cô, một thương hiệu khách sạn khác của Tập đoàn Banyan Tree, là khu nghỉ dưỡng với 229 phòng mang phong cách đương đại độc đáo (diện tích từ 52 mét vuông đến 179 mét vuông) trong đó có 100 phòng được thiết kế đặc biệt với hồ bơi riêng. Tất cả các phòng đều có hướng nhìn ra vùng núi non, vùng vịnh hoặc vùng biển đẹp như tranh vẽ và kết hợp hài hòa với các vật liệu truyền thống địa phương như tre hoặc khảm xà cừ; cùng nghệ thuật truyền thống như bện thừng, đèn lồng, hay các bức thư pháp được đóng khung một cách tinh tế.

    Điểm đến nghỉ dưỡng Laguna Lăng Cô

    Ẩn mình trong thôn Cù Dù thuộc huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi ghi dấu trong lịch sử là điểm nghỉ ngơi ưa thích của hoàng gia Việt Nam xưa. Nơi này nổi tiếng với các huyền thoại và vẻ đẹp hoang sơ tự nhiên mà chỉ cách sân bay Đà Nẵng và Huế một giờ lái xe. Vịnh Lăng Cô được đánh giá là một trong những vịnh đẹp nhất trong Câu lạc bộ Các Vịnh Đẹp Nhất Thế Giới.

    Bãi biển cát trắng nguyên sơ và làn nước ngọc lam lấp lánh, được bao quanh bởi những ngọn đồi xanh tươi, những ngọn núi cao vút tận mây xanh; tất cả góp phần tạo nên một trong những khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp nhất Việt Nam. Laguna Lăng Cô tọa lạc tại một vị trí đắc địa, là điểm kết nối trên Con đường Di sản Miền Trung với các di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận như Cố đô Huế bên dòng sông Hương, phố cổ Hội An duyên dáng và thánh địa Mỹ Sơn, một khu bảo tồn gồm nhiều đền thờ và di tích được chạm trổ tinh vi.

    Biệt thự Nghỉ Dưỡng

    Khu biệt thự nghỉ dưỡng mang đến cơ hội sở hữu những biệt thự và các căn hộ sang trọng có tầm nhìn hướng biển tuyệt mỹ. Lấy cảm hứng từ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam, các biệt thự (từ một, đến hai, ba phòng ngủ với diện tích từ 158 mét vuông tới 236 mét vuông) mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa. Mỗi căn biệt thự biển Banyan Tree Residences đều có hồ bơi riêng, tiện nghi đẳng cấp quốc tế, đi cùng với những dịch vụ vượt trội vốn nổi danh của tập đoàn. Với số lượng biệt thự bán ra hạn chế, chủ sở hữu Banyan Tree sẽ là một thành viên của cộng đồng dân cư sang trọng Banyan Tree toàn cầu.

    Angsana Residences Lăng Cô là sự hòa quyện tinh tế giữa văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại. Đây là dự án căn hộ cao cấp ba tầng sát biển đầu tiên và độc nhất tại Việt Nam, mỗi căn hộ tại khu căn hộ Angsana Lăng Cô có từ một đến hai phòng ngủ (diện tích từ 88 mét vuông đến 254 mét vuông) được thiết kế theo quan điểm thẩm mỹ đương đại với hồ bơi riêng và hướng nhìn ra biển tuyệt đẹp.

    Chủ sở hữu của Banyan Tree và Angsana Residences Lăng Cô cũng sẽ được hưởng những đặc quyền thuộc các chương trình trao đổi toàn cầu, thẻ thành viên Câu lạc bộ golf và các dịch vụ khác trong khu nghỉ dưỡng phức hợp Laguna Lăng Cô.

    Các dịch vụ tham quan & hoạt động giải trí

    Laguna Lăng Cô cung cấp hàng loạt các hoạt động giải trí đáp ứng nhu cầu của nhóm khách du lịch, các cặp đôi và gia đình thuộc mọi lứa tuổi. Trung Tâm Hải Dương mang đến những hoạt động giải trí trên biển như mô tô nước, dù lượn, lướt thuyền buồm, chèo thuyền kayak và chèo thuyền chuối. Bên cạnh đó, Trung Tâm Thể Thao có các hoạt động như bắn cung, xe đạp leo núi, xe vượt mọi địa hình (ATV) cho người lớn và trẻ em, ô tô mini hai chỗ ngồi và cưỡi ngựa. Trung Tâm Thủ Công Mỹ Nghệ mê hoặc du khách qua các lớp học về các bộ môn nghệ thuật thủ công vô cùng phong phú của Việt Nam dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của các nghệ nhân địa phương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khởi Công Dự Án Khu Du Lịch Laguna
  • Coco Beach Camp Lagi Hàm Tân
  • Khu Du Lịch Là Gì? Điều Kiện Được Công Nhận Là Khu Du Lịch
  • Du Lịch Một Huyện Miền Núi Kỳ Sơn, Hòa Bình
  • Kỳ Sơn Hòa Bình,ky Son Hoa Binh, Du Lich Tay Bac
  • Việt Nam Lọt Top 10 Các Điểm Nghỉ Dưỡng Sang Trọng Nhất Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Việt Nam Sở Hữu Khu Nghỉ Dưỡng Sang Trọng Nhất Thế Giới
  • Cặp Đôi Được Đi Du Lịch Khắp Thế Giới Nhờ… Chăm Sóc Chó Mèo Cho Người Lạ!
  • Năm Tồi Tệ Nhất Trong Lịch Sử Ngành Du Lịch Thế Giới
  • Tải Hình Nền Địa Điểm Thế Giới Du Lịch Miễn Phí Cho Máy Tính Pc Windows Phiên Bản
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thế Giới Miễn Phí (Phần 2)
  • Danh sách của Kuonio không khiến nhiều người bất ngờ vì những địa danh này vốn luôn được biết đến với vẻ đẹp cuốn hút.

    Malpes vẫn giữ vị trí đứng đầu. Tiếp theo là Mauritius, Thái Lan và Sri Lanka lần lượt xếp ở vị trí thứ hai, ba, và bốn. Bali quay trở lại danh sách ở vị trí thứ năm. Hòn đảo này đã từng luôn là điểm du lịch tuần trăng mật nổi tiếng nhưng hàng loạt các trận động đất xảy ra ở đảo Lombok, Bali vào tháng 8/2018 đã khiến dòng khách đến đây bị giảm sút. 460 người bị chết cùng hàng nghìn tòa nhà bị hư hại đã gây tổn hại nặng nề đến ngành du lịch của đất nước Indonesia.

    Italy là quốc gia châu Âu duy nhất lọt vào Top 10, ở vị trí thứ 6. Các quốc gia khác như Hy Lạp và Tây Ban Nha cùng đứng ở Top 20.

    Theo nghiên cứu của Kuonio, nhu cầu về các tour du lịch nhóm nhỏ được hỗ trợ bởi hướng dẫn chuyên nghiệp đã tăng 10%, điều này dẫn tới sự vươn lên của Việt Nam. Quốc gia Đông Nam Á đã đánh bật Ấn Độ để lọt vào Top 10, đứng ở vị trí thứ 8. Các điểm đến như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã dần trở nên phổ biến trong các tour ghép.

    Pháp: Khu cách ly dịch virus corona như… ‘thiên đường nghỉ dưỡng’

    TGVN. Những người từ Thành phố Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc trở về đều được cách ly tại khu nghỉ dưỡng ven biển, nơi …

    “Choáng” với khu nghỉ dưỡng dành cho giới siêu giàu

    Nằm trên quần đảo Palawan ở Philippines, thiên đường trên mặt đất này chỉ dành cho các nhà triệu phú đôla. Khu nghỉ dưỡng sang …

    Việt Nam – Điểm đến hấp dẫn đối với du khách Canada

    Hội chợ Du lịch và Nghỉ dưỡng tại Ottawa năm nay diễn ra trong hai ngày 30-31/3, với sự góp mặt của hơn 200 gian …

    (theo Dân trí/Daily Mail)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gói Nghỉ Dưỡng Dành Cho Giới Thượng Lưu Ở Kdl Sang Trọng Bậc Nhất Thế Giới Xa Xỉ Đến Mức Nào?
  • Việt Nam Có Khu Nghỉ Dưỡng Sang Trọng Nhất Thế Giới
  • 10 Bãi Biển Đẹp Nhất Hành Tinh
  • 12 Điểm Đến Du Lịch Nguy Hiểm Nhất Trên Thế Giới
  • Điểm Du Lịch Nổi Tiếng Nhất Thế Giới
  • Những Thuận Lợi Về Tài Nguyên Du Lịch Tự Nhiên Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Thiền, Thế Mạnh Chưa Được Khai Thác Ở Việt Nam
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà Tự Túc Ngày Cuối Tuần
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà Từ A Đến Z
  • Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà
  • “bật Mí” Top Những Kinh Nghiệm Đi Du Lịch Thiên Sơn Suối Ngà Tự Túc Từ A Đến Z
  • Đối với mỗi một đất nước lại có một tài nguyên du lịch khác nhau. Thậm chí ở mỗi vùng miền cũng có thể phân chia rõ ràng.

    Cụ thể như tài nguyên du lịch vùng trung du miền núi bắc bộ là những đồi núi trùng trùng điệp điệp hùng vĩ. Còn tài nguyên du lịch vùng đông nam bộ thì lại là các vườn quốc gia, hệ sinh thái nước mặn/nước ngọt đa dạng. Nhưng duy nhất một điều có thể thấy rõ ràng rằng tài nguyên du lịch tự nhiên việt nam cực kỳ phong phú.

    Tìm hiểu về tài nguyên du lịch

    Tài nguyên du lịch tự nhiên là gì ?

    Tài nguyên du lịch tự nhiên là gồm các cảnh quan thiên nhiên (rừng, biển, đồi, núi…). Và những yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch như là khí hậu, địa chất, hệ sinh thái,…

    Tài nguyên du lịch nhân văn là gì ?

    Tài nguyên du lịch nhân văn hay văn hóa chính là các di tích lịch sử – văn hóa, di tích cách mạng. Chúng bao gồm các giá trị về khảo cổ, kiến trúc, văn hóa, lịch sử, truyền thống. Và cả những phong tục tập quán truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian. Có thể nói chung là các công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.

    Vai trò của tài nguyên du lịch

    Dù là tài nguyên du lịch tự nhiên hay tài nguyên du lịch nhân văn, thì chúng cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng với đất nước. Nhờ vào những tài nguyên sẵn có hoặc nhân tạo này mà ngành du lịch nước nhà mới có thể phát triển đến ngày hôm nay.

    Những tài nguyên du lịch việt nam

    Đất nước Việt Nam xinh đẹp có lợi thế sát biển cho nên có nền khí hậu cực kỳ đa dạng và phong phú.

    Thuận lợi của du lịch vùng biển

    Với bờ biển dài 3.260 km dọc theo chiều dài đất nước. Tổng cộng có đến 125 bãi tắm biển được khai thác du lịch, đây quả là con số “trong mơ” đối với nhiều quốc gia khác. Từ bắc đến nam, các bãi biển trải dài để khách du lịch dễ dàng lựa chọn nơi thích hợp cho bản thân. Một vài bãi biển thuộc TOP yêu thích như: Hạ Long, Sầm Sơn, Cát Bà, Cửa Lò, Cô Tô, Thiên Cầm, Ðà Nẵng, Nha Trang, Bình Ba, Lý Sơn, Vũng Tàu, Côn Đảo, Phú Quốc…

    Đặc biệt không ai là không biết đến Vịnh Hạ Long xinh đẹp được công nhận là di sản văn hóa thế giới. Bãi biển trong xanh cùng những núi đá vôi rải rác tạo nên một kỳ quan hùng vĩ khiến ai cũng phải thán phục.

    Đi kèm với du lịch biển Việt Nam không chỉ là về cảnh quan mà là nét ẩm thực hải sản tươi ngon. Những loại hải sản quý gia như bào ngu, tu hài, tôm hùm,.. lúc nào cũng làm hài lòng cách thực khách. Hải sản khô hoặc tươi sống là món quà mà ai cũng rất yêu thích khi du lịch biển.

    Thuận lợi của du lịch vùng núi

    Với bãi biễn trải dài vô tận là vậy. Nhưng Việt Nam lại gây bất ngờ khi có cả những ngọn núi cực kỳ hùng vĩ và cao lớn. Đỉnh Phan xi păng được mệnh danh là “Nóc nhà của Đông Dương” cũng là một tài nguyên đáng chú ý. Khi mà rất nhiều người mong muốn được chinh phục ngọn núi cao 3143m này.

    Tuy là đất nước chúng ta có khí hậu nhiệt đới nhưng vẫn có nơi mang khí hậu ôn đới khác biệt. Mang lại trải nghiệm thú vị cho khách du lịch. Những điểm dừng chân nổi tiếng như là Sa Pa, Tam Ðảo, Bạch Mã, Bà Nà, Ðà Lạt… Các địa điểm du lịch này thường ở độ cao trên 1000 m so với mặt biển nên khí hậu mát mẻ và ôn hòa. Đặc biệt có thể làm nơi tránh cái nóng mùa hè ở Việt Nam và các nước lân cận.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thiên Nhiên Là Gì? Các Vườn Quốc Gia Ở Và Mục Đích Của Các Khu Bảo Tồn
  • Trốn Khói Bụi Thành Phố Với 5 Resort Thiên Nhiên Ngay Gần Hà Nội
  • Phát Triển Du Lịch Gần Gũi Thiên Nhiên
  • Thiên Nhiên Đà Nẵng Có Gì Hấp Dẫn? Chuyến Du Lịch Khám Phá
  • Vân & Veo & Du Lịch Thiện Nguyện
  • Khai Thác Và Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Và Khí Hậu Phát Triển Du Lịch Vùng Nam Bộ, Hay
  • Các Lí Do Vì Sao Tôi Yêu Thích Du Lịch Thái Lan
  • Vì Sao Du Lịch Việt Nam Mãi Chậm Phát Triển?
  • Vì Sao Du Lịch Việt Nam Chưa Bứt Phá?
  • Tại Sao Nên Đi Du Lịch Côn Đảo Tháng 10, Du Lịch Côn Đảo Tháng 12?
  • Tài nguyên du lịch được coi là một phân hệ du lịch quan trọng, mang tính quyết định của hệ thống lãnh thổ du lịch, là mục đích khám phá của du khách, là cơ sở quan trọng để hình thành, phát triển du lịch ở một khu, điểm du lịch ở các địa phương hoặc quốc gia.

    Tổng quan về tài nguyên du lịch

    Theo Luật Du lịch Việt Nam 2005 thì Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

    Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn lớn đối với du khách; tài nguyên du lịch là những tài nguyên gồm hai giá trị: giá trị hữu hình và giá trị vô hình; tài nguyên du lịch thường dễ khai thác; tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau; tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch; tài nguyên du lịch có thể sử dụng được nhiều lần.

    Khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch

    Để khai thác và bảo vệ hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn cần đánh giá hiện trạng khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo ngành và theo lãnh thổ, đưa ra một số nguyên tắc khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng phát triển bền vững.

    Một số dấu hiệu nhận biết khai thác và bảo vệ hiệu quả tài nguyên du lịch: Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo, bảo vệ; số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch; áp lực môi trường tại các khu, điểm du lịch được quản lý; cường độ hoạt động tại các khu, điểm du lịch được quản lý; mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho nỗ lực bảo tồn phát triển tài nguyên, bảo vệ môi trường.

    Để khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng phát triển du lịch bền vững chúng ta cần thực hiện một số giải pháp:

    Một là: khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch một cách hợp lý và giảm thiểu chất thải ra môi trường.

    Hai là: phát triển du lịch phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng của tài nguyên.

    Ba là: phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội vì du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng cao nên mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng và địa phương.

    Bốn là: nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm, sự tham gia, ý kiến đóng góp của các đối tượng tham gia du lịch trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch.

    Năm là: tăng cường tính có trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch.

    ( Nguồn: LV)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Di Sản Văn Hóa Là Nguồn Tài Nguyên Độc Đáo Của Du Lịch
  • Liên Hiệp Các Hội Khkt Tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Vĩnh Phúc Phát Triển Du Lịch Đặc Trưng Bền Vững
  • Địa Du Lịch An Giang
  • Tìm Hiểu Du Lịch Tỉnh An Giang
  • Tài Nguyên Văn Hóa Là Đặc Sắc Của Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Đi Du Lịch Hà Giang Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Top 20 Khách Sạn Nên Ở Khi Đi Du Lịch Tại Singapore Từ Cao Cấp Đến Bình Dân
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Tam Đảo 1 Ngày
  • Du Lịch Tổng Hợp: Những Địa Điểm Du Lịch Lý Tưởng Gần Seoul
  • Tour Du Lịch Hải Phòng Nha Trang 3 Ngày 2 Đêm Khởi Hành Hằng Ngày
  • Văn hóa là khái niệm rất rộng, bao trùm mọi hành vi, ứng xử của con người trong cuộc sống; trong đó có du lịch. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa.

    Tài nguyên du lịch tự nhiên cũng phục vụ nhu cầu văn hóa của con người. Ở nghĩa hẹp hơn, người ta nói nhiều đến văn hóa du lịch. Không có thuật ngữ du lịch văn hóa như một loại hình, bên cạnh du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng…

    Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên thế giới (World Wide Fund For Nature – WWF), Việt Nam xếp 30/140 quốc gia về tài nguyên văn hóa.

    Tổ chức giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards – WTA) đề cử Việt Nam là điểm đến văn hóa hàng đầu của du lịch toàn cầu. Đa phần du khách, cả trong nước và quốc tế, đều mong muốn được trải nghiệm những khác biệt về văn hóa Việt Nam và chưa được thỏa mãn.

    Du khách có phần ấm ức, thất vọng. Người trong cuộc thì vò đầu, bứt tai than “Lực bất tòng tâm” hoặc “Quân ta hại quân mình”; kiểu một người xây, mấy kẻ phá. Người xưa từng dạy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Phải nhấn mạnh vế đầu, vế sau không đáng kể. Vấn đề là có dám nhìn thẳng vào những sự thật hay không.

    Những sự thật trần trụi

    Du lịch vốn là một phần tất yếu (chứ không phải tất cả) của văn hóa. Tổng cục Du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch. Thể thao cũng là văn hóa. Chữ văn hóa ở đây được hiểu theo nghĩa là nghệ thuật. Tiếng Việt phong phú đến rối ren do cách dùng tùy tiện. Trong lý lịch cá nhân, có phần “Trình độ văn hóa” thay vì “Trình độ học vấn”. Tương tự, các cụm từ “Học văn hóa”, “Bổ túc văn hóa”; phải được thay bằng “học chữ”, “học nghề” (đủ thứ).

    Trong kinh doanh, ngoài chất lượng thì yếu tố quyết định thành công là sự khác biệt tích cực. Phải viết như vậy để phân biệt với sự khác biệt dị hợm, tiêu cực. Ngon và đẹp thì tùy cảm nhận của từng người, từng vùng nhưng lạ thì dễ dàng thống nhất. “Nửa ký của lạ bằng mấy tạ của quen” là vậy. Việt Nam có rất nhiều cái lạ. Đáng tiếc là cái lạ bản sắc, tích cực thì ít được giữ gìn và phát triển. Cái lạ tiêu cực thì cứ sinh sản vô tính.

    Ai cũng biết, các cửa khẩu là ấn tượng đầu tiên của du khách về bộ mặt quốc gia cần được chăm chút. Đáng buồn vì Việt Nam vẫn có nhiều nơi đang đón khách bằng thủ tục hành chính rườm rà. Cả thái độ lẫn tinh thần phục vụ của nhân viên đều có vấn đề, chưa kể trình độ ngoại ngữ; khác hẳn với sự thân thiện của người dân và truyền thống hiếu khách của dân tộc. Cứ tưởng là mấy chuyện nhỏ nhưng tác hại lớn, tạo nên những khó chịu, bực dọc và thành kiến tiếp theo, nhất là những ai lần đầu đến Việt Nam.

    Vào “nhà” thì rối ren đủ thứ. Trái với các nước phát triển, xe cộ ở Việt Nam là hung thần của người đi bộ. Giao thông hỗn loạn, không kiểm soát được, dù cảnh sát giao thông mai phục khắp chốn. Ở Samthienha.com còn có lực lượng áo xanh đông đảo phất cờ làm kiểng. An ninh của du khách thường xuyên bị đe dọa. Từ vấn nạn chặt chém của taxi, nhà hàng đến giựt dọc trên đường phố. Du khách bị khủng bố tinh thần vì thiếu nhà vệ sinh hoặc có mà dơ bẩn, vì phập phồng cướp giật, vì vệ sinh môi trường lẫn vệ sinh thực phẩm. Chất lượng các dịch vụ chưa thể so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.

    Vì những ý muốn chủ quan của các nhà quản lý, không ít di sản văn hóa bị xóa sổ. Chùa Bái Đính cổ gần như biến mất. Thay vào đó là chùa mới, to vật vã nhưng dường như…vô hồn. Đường xe lửa răng cưa Phan Rang – Đà Lạt bị tháo dỡ, các đầu máy được bán sắt vụn cho Thụy Sĩ. Họ mua về làm du lịch, vẫn lịch sự giữ nguyên dòng chữ “Toa xe Đà Lạt”. Ngay cả cầu Bến Hải cũng bị tháo dỡ. Báo chí và dư luận lên tiếng, cầu được phục chế.

    Đáng tiếc nhất là việc di dời chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp (Hậu Giang), đã xóa sổ thương hiệu lừng danh hơn trăm năm của cả khu vực Đông Nam Á. Gần nhất là việc tháo dỡ cầu Gành (Đồng Nai) hơn trăm tuổi. Rồi thì hàng ngàn biệt thự cổ biến mất khó hiểu ở khắp đất nước, nhiều nhất là ở Hà Nội và TP.HCM…

    Những dị biệt tiêu cực này lấn áp các khác biệt tích cực. Đó là ẩm thực phong phú, món ngon đường phố đa dạng. Là internet phổ cập miễn phí và dễ dàng. Là dịch vụ “Door to door” của vận chuyển liên tỉnh. Là cảnh quan và di sản đẹp, lạ. Là những phong tục tập quán đặc thù. Là lịch sử sôi động và bi tráng. Đất nước rất ổn định về chính trị nhưng lại… chưa dám mở cửa cho du khách vui chơi và tiêu tiền thoải mái. Mọi thứ cứ khác thiên hạ. Thứ gì các nước chặt thì ta lỏng và ngược lại.

    Việt Nam tự hào với lịch sử mấy ngàn năm văn hiến nhưng cách chào lai căng đủ kiểu. Cũng không có quốc phục riêng và những giai điệu dân gian đặc trưng được thừa nhận. Không có kiến trúc đặc thù…Ẩm thực Việt Nam rất phong phú nhưng văn hóa ẩm thực thì hổ lốn. Chẳng nơi nào có kiểu vừa ăn vừa xem ca múa nhạc tạp kỹ phổ biến như Việt Nam. Nhiều nơi, vừa du thuyền trên sông, vừa ăn uồng và thưởng thức nghệ thuật tổng hợp. Tác phong làm việc lề mề nhưng ăn rất nhanh, vừa ăn ngồm ngoàm vừa nói chuyện ồn ào. Văn hóa gắp đồ ăn cho khách lậm vào trong kinh doanh lẫn cuộc sống, cứ thích làm theo ý mình, nhất là lãnh đạo. Thói quen dùng đũa, muỗng chung; vừa mất vệ sinh vừa kỳ cục.

    Nhà vệ sinh, nơi thể hiện tính cách cá nhân rõ nét nhất, nơi thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất của con người luôn bị xem nhẹ. Ngược lại là thói khoa trương, bệnh thành tích, sính bằng cấp và coi thường thực tiễn. Hiệu ứng ghiền bê tông, thích xây mới lòe loẹt vô hồn đang phá vỡ cảnh quan nhiều danh thắng và cả vườn quốc gia.

    Các di tích bị xâm hại nghiêm trọng. Bảo tồn và trùng tu mà như phá hoại. Các công trình kiến trúc cổ xuống cấp, ngày càng bị xâm lấn và xóa sổ dần. Thời bao cấp ấu trĩ đành chịu, mất mát vô kể. Thời đổi mới mở cửa, vẫn tồn tại nghịch lý bảo tồn và phát triển. Việc xâm hại và xóa sổ di tích không trắng trợn mà tinh vi, núp dưới nhiều chiêu bài và danh nghĩa. Bản sắc văn hóa Việt đang ngày càng mai một!

    Đôi điều góp ý

    Nếu áo dài, cả nam lẫn nữ, được công nhận là quốc phục chính thức bằng văn bản pháp luật của Quốc hội thì đã không có chuyện nhà tạo mẫu ở Trung Quốc ăn cắp mẫu mã, vơ vào của mình. Áo dài, từng là quốc phục, bị phê phán và tẩy chay thời bao cấp. Có lãnh đạo từng cho rằng đó là tàn dư phong kiến, rườm rà, “một áo dài may được hai áo ngắn”. Việt Nam cũng từng có cách chào đặc thù nhưng bị xóa sổ vì ấu trĩ.

    Việc đầu tiên là phải xác định lại quốc phục và cách chào Việt Nam như tổ tiên mình từng công nhận. Việc quan trọng nhất là thay đổi nhận thức về văn hóa dân tộc, gạn đục khơi trong, lấy truyền thống làm nền tảng cho hiện đại. Đoạn tuyệt với tư duy “Lãnh đạo đồng nghĩa với khoa học” và “Quản không được thì cấm”. Loại bỏ văn hóa gắp đồ ăn cho khách; dùng đũa, muỗng chung; vừa ăn vừa nghe xem đủ thứ…

    Chống quan điểm cực đoan trong bảo tồn và phát triển. Cặp phạm trù này không hề có mâu thuẫn đối kháng. Thực tế cho thấy chỉ có mâu thuẫn giữa các chủ đầu tư và cộng đồng. Muốn bảo tồn phải biết trùng tu và phát triển. Ngược lại muốn phát triển bền vững phải biết bảo tồn. Tuyên chiến với vấn nạn bê tông hóa mọi nơi mọi lúc.

    Truyền thống thân thiện, hiếu khách của người Việt phải được thể hiện rõ nhất tại các cửa ngõ của đất nước cho đến các cơ quan công quyền, các cơ sở dịch vụ. Như nhân viên cửa khẩu Đài Loan, Myanmar…luôn tươi cười, tận tình hỗ trợ du khách và không ngừng nói lời cảm ơn.

    Campuchia mở cửa Hoàng Cung cho khách tham quan với giá vé 10 USD mỗi người trong ngày. Buổi nào quốc vương tiếp khách thì đóng cửa. Nhà khách vua Sihanouk ở Siem Riep được biến thành khách sạn cổ sang trọng Grand Angkor Hotel với tấm thảm đỏ in dấu chân nhiều nguyên thủ quốc gia. Nhà khách mới của Quốc vương Sihamoni nhỏ và đơn giản hơn nhiều. Việt Nam có thể làm tương tự với Phủ Chủ tịch, trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố và nhiều tỉnh thành khác.

    Hoàng cung Brunei được chuyển thành phức hợp The Empire Hotel Country Club tương đương 6 sao. Phòng ở của vua Bokiah trước đây có giá bán tới hơn 20.000 USD/đêm. Xu thế các nước là ưu tiên cho phát triển du lịch và tận dụng mọi thứ để du lịch phát triển vì đây là ngành công nghiệp xuất khẩu tại chỗ rất hiệu quả.

    Các tỉnh thành Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển các trụ sở hoành tráng để làm du lịch. Baan Tong Luang (Chieng Mai, Thái Lan), Mari – Mari (Kinabalu, Malaysia) là làng văn hóa các dân tộc đúng nghĩa; là những mô hình có thể vận dụng tại Việt Nam thay cho những công viên văn hóa các dân tộc, hoành tráng mà tốn kém (tốn tiền, kém hiệu quả). Hai cường quốc du lịch dẫn đầu thế giới là Pháp và Tây Ban Nha đều hấp dẫn và thu hút khách bằng những trải nghiệm văn hóa khác biệt, đa dạng.

    Có thể thay đường hoa Nguyễn Huệ bằng sông hoa Sài Gòn/TPHCM. Mở rộng các chợ đêm và phố đi bộ như ở Đài Loan, Thái Lan; tạo thành những công viên văn hóa sống động vào buổi tối. Tổ chức cho du khách trải nghiệm ẩm thực, học cách chế biến các món ngon Việt Nam và các sự kiện gia đình như “Thôi nôi”, “Đám hỏi”, “Đám cưới”, “Đám giỗ”, các hoạt động Tết…

    Xây dựng homestay chuẩn quốc gia theo mô hình các homestay A Chu (Sơn La), Minh Thơ (Hòa Bình), Xuân Diện (Lào Cai)…Phát triển các lễ hội tích cực như Đua bò (An Giang); Trái cây Nam bộ, Ẩm thực đường phố, Món ngon các nước, Áo dài (Sài Gòn); Bánh dân gian (Cần Thơ), Ook om bok – Đua ghe ngo (Sóc Trăng), Minh thề (Hải Phòng), Tịch điền (Hà Nam), Trâu rơm bò rạ (Vĩnh Phúc)…

    Chấm dứt các lễ hội dã man như Đâm trâu (thật ra là tế trâu hay khóc trâu – Tây Nguyên và Quảng Nam), Chém lợn (Bắc Ninh), Chọi trâu (Hải Phòng)… Chấn chỉnh những lễ hội biến tướng thành dịp buôn bán, hối lộ thần thánh như “cướp ấn, cướp lộc” và các lễ hội chùa, các festival thực chất chỉ có tính hình thức…Để tận dụng và phát tiển tài nguyên văn hóa một cách hiệu quả, cần có qui hoạch khoa học, dài hơi và đồng bộ.

    Làm du lịch là làm kinh tế chứ không phải làm phong trào, chạy theo số lượng và hình thức để báo cáo. Dĩ nhiên không làm kinh tế bằng mọi giá mà phải cân nhắc chọn lọc để phát triển bền vững. Nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản…sau nhiều thập niên kinh tế tăng trưởng nóng đã chấp nhận chậm lại. Họ hạn chế phát triển sản xuất nội địa, ưu tiên xuất khẩu công nghiệp, đẩy mạnh các dịch vụ du lịch để xuất khẩu tại chỗ và lấy văn hóa đặc thù làm nền tảng.

    Sự “dốt nát chân thật” (Trần Việt Phương) là lời cảnh báo về cách làm tùy tiện của nhiều địa phương, đã vô tình cản trở du lịch. Nguy hại hơn, đó là những hành động hủy diệt văn hóa dân tộc. Một dân tộc sẽ tiêu vong khi đánh mất bản sắc văn hóa. Chúng ta phải tự hào rằng: bản sắc Việt vẫn vững vàng với trang phục, chữ viết, ngôn ngữ và nhiều phong tục khác biệt và đặc sắc sau hàng ngàn năm bị đô hộ, qua nhiều cuộc chiến khốc liệt để giữ nước.

    Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ để phát triển du lịch. Đó còn là cách tốt nhất để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ mà tổ tiên người Việt đã làm rất tốt mấy ngàn năm nay.

    (*) Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả Nguyễn Vũ Mộc Thiêng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khu Du Lịch Gáo Giồng Cao Lãnh: Địa Chỉ
  • Du Lich Đài Loan 5 Ngày Từ Đà Nẵng
  • Top 50 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Mới Và Đẹp Nhất Tháng 9/2020 * Du Lịch Số
  • Du Lịch Phú Yên Đẹp Qua Từng Thắng Cảnh
  • Khám Phá Khu Du Lịch Sinh Thái Quốc Tế Cà Mau
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100