Các Vùng Du Lịch Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Siêu Hấp Dẫn
  • 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Trong 1 Ngày Vô Cùng Lý Tưởng
  • Top 4 Địa Điểm Du Lịch Biển Gần Hà Nội Đẹp Rẻ Nên Đến Nhất
  • Gợi Ý 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội 2 Ngày 1 Đêm Cho Gia Đình
  • 4 Địa Điểm Du Lịch Đẹp Gần Gia Lâm Hà Nội
  • Bạn đã từng đi hết lãnh thổ Việt Nam sẽ thấy mỗi vùng du lịch có những đặc sắc riêng tạo ra bản sắc vùng không thể trộn lẫn.

    Lược đồ các vùng du lịch Việt Nam

    Với tiềm năng của mình, Việt Nam đề ra chiến lược phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp,hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh.Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việcbảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môitrường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; đảm bảo hài hòa tương tác giữa khai thác phát triển du lịch với bảo vệ giá trị tài nguyên tựnhiên và nhân văn. Để đặt được mục tiêu đó, các chính sách về du lịch đã được đề ra và trong đó lãnh thôt nước ta được chia làm 7 vùng du lịch trọng điểm (Theo văn bản số 210/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 22 tháng 1 năm 2013 “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch VIệt Nam năm 2022, tầm nhìn năm 2030”).

    Ruộng bậc thang, khí hậu trong lành là hai đặc điểm nỏi bật của vùng du lịch Trung du, miền núi Bắc Bộ (ảnh ST)

    2. Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc gồm 11 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, TháiBình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh.

    Quảng Ninh, điểm nhấn của vùng du lịch đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc (ảnh ST)

    3. Vùng Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố: ThanhHóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.

    Huế, điểm du lịch quen thuộc của vùng Bắc Trung Bộ – Ảnh chúng tôi

    gồm 8 tỉnh, thànhphố: Thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa,Ninh Thuận, Bình Thuận.

    Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ với Đà Nẵng là điểm nhấn (ảnh ST)

    Đây là vùng với văn hóa đặc sắc của bà con dân tộc Tây Nguyên (ảnh ST)

    gồm 6 tỉnh, thành phố: Thành phốHồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh.

    Thành Phố Hồ Chí Minh, trái tim của miền Nam trung bộ một địa danh du lịch hết sức lí thú (ảnh ST)

    gồm 13 tỉnh, thànhphố: Thành phố Cần Thơ, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, BạcLiêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang.

    Đây là cùng nước nổi với những chợ nổi thu hút đông đảo khách du lịch (ảnh ST)

    Nếu bạn là người đam mê du lịch, thích trải nghiệm và đam mê khám phá thì Phòng vé máy bay Việt Nam VHA sẵn sàng đồng hành cùng bạn trên tất cả mọi chuyến bay để thỏa sức khám phá các vùng du lịch Việt Nam. Hãy gọi đến số Hotline 1900 58 58 90 của chúng tôi bất cứ lúc nào bạn cần hộ trợ về dịch vụ hàng không.

    Bạn có thể săn vé máy bay giá rẻ hoặc vé máy bay 0 đồng đến bất cứ nơi đâu từ phòng vé máy bay giá rẻ trực tuyến Việt Nam VHA để bắt đầu cuộc hành trình chinh phục và khám phá khắp nơi bạn muốn.

    Website BÁN VÉ MÁY BAY TRỰC TUYẾN : http://vha.vn

    FANPAGE : https://www.facebook.com/PHONGVEMAYBAYVHA/

    CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VHA VIỆT NAM

    Add : Số 5/3 Lệ Mật Str., Hà Nội

    Add : P103 TT Bô Công An, Lane 198 Xã Đàn Str., Hà Nội

    Add : 232 Nguyễn Thái Bình Str., Hồ Chí Minh

    Add : 680 Bình Giã, phường 10, TP Vũng Tầu

    Hotline : 1900585890

    Tel HAN: (84-24)32058989

    Tel SGN: (84-8) 88 14 33 88

    Fax : (84-24) 36.950.283

    Mail : [email protected]

    Map : https://goo.gl/maps/gBZFFe8o6jRLnHyaA

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Đặc Sắc Nhất Đến Từ 7 Vùng Du Lịch Việt Nam
  • Đặc Sắc Ba Vùng Du Lịch Của Kiên Giang
  • Vùng Du Lịch Của Việt Nam
  • 20 Khoảnh Khắc Cho Thấy Ran
  • 20 Địa Điểm Du Lịch Thú Vị Tại Đà Nẵng Và Gần Đà Nẵng
  • Các Vùng Du Lịch Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Du Lịch Iran Tự Túc
  • Quy Hoạch Chung Xây Dựng Khu Du Lịch Quốc Gia Mộc Châu
  • Du Lịch Hà Nội Nên Ở Khách Sạn Nào
  • Du Lịch Huế Ăn Gì “ngon
  • Cho Thuê Xe Du Lịch Giá Rẻ Đi Tam Đảo Từ Hà Nội
  • Các vùng du lịch Việt Nam là tiêu chí phân vùng trên cơ sở tuyến hay điểm du lịch và dựa trên sự liên kết những điểm tương đồng hay các điểm du lịch. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022 chia ra 7 vùng du lịch thay vì 3 vùng như chiến lược đến năm 2010, các vùng du lịch gồm: Trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ.

    Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030” đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011

    Các tiêu chí phân vùng du lịch (Việt Nam)

    • Loại hình sản phẩm du lịch độc đáo.
    • Điều kiện môi trường tự nhiên về du lịch.
    • Điều kiện môi trường nhân văn, đặc biệt là các di sản văn hóa, lịch sử, các lễ hội truyền thống.
    • Định hướng phát triển kinh tế – xã hội, phát triển đô thị hóa và mức thu nhập bình quân đầu người.
    • Điều kiện kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành, đặc biệt là hệ thống khách sạn, nhà hàng, tổ chức vui chơi giải trí, đi lại, thông tin liên lạc.

    “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030” ngày 22/1/2013 xác định rõ Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trung tâm du lịch như sau:

    Bao gồm 14 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang. Vùng này có 5 trọng điểm du lịch là:

    1. Sơn La – Điện Biên: gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.
    2. Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.
    3. Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.
    4. Thái Nguyên – Lạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.
    5. Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang…

    Gồm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh, gồm 3 trọng điểm du lịch là:

    1. Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.
    2. Quảng Ninh – Hải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long – Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.
    3. Ninh Bình gắn với Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc – Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.

    Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

    1. Thanh Hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.
    2. Nam Nghệ An – Bắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng – sông Lam, Xuân Thành…
    3. Quảng Bình – Quảng Trị gắn với Phong Nha – Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng – Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.
    4. Thừa Thiên Huế

    Gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

    1. Đà Nẵng – Quảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…
    2. Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…
    3. Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…

    gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch là:

    1. Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia – Suối Vàng.
    2. Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
    3. Gia Lai – Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.

    Gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch:

    1. Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.
    2. Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.
    3. Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.

    Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Vùng này có 4 trọng điểm du lịch:

    1. Tiền Giang – Bến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.
    2. Cần Thơ – Kiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.
    3. Đồng Tháp – An Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.
    4. Cà Mau gắn với U Minh – Năm Căn – mũi Cà Mau.
    • Theo viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam – Tài liệu Quy hoạch Du lịch.
    • Quy hoạch du lịchTrần Văn Thông – Đại học Văn Lang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Thái Lan Ghép Đoàn
  • Bản Đồ Tham Quan Phố Cổ Hội An Kèm Điểm Du Lịch Hấp Dẫn Nhất
  • Cẩm Nang Du Lịch Biển Vũng Tàu Bạn Cần Biết
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Vũng Tàu Mà Bạn Cần Biết
  • Du Lịch Yogyakarta Indonesia Nên Tham Quan Gì?
  • Các Tiểu Vùng Đặc Trưng Của Đồng Bằng Sông Cửu Long

    --- Bài mới hơn ---

  • Đạp Xe Khám Phá 11 Nước Đông Nam Á
  • Đồng Tháp Có Gì Thú Vị? Nên Chọn Đi Du Lịch Đồng Tháp Hay Không?
  • Tour Đồng Tháp 2 Ngày 1 Đêm Chất Lượng Giá Siêu Ưu Đãi
  • Sở Văn Hóa Thể Thao Du Lịch Đồng Tháp
  • Thực Hiện Có Hiệu Quả Đề Án Phát Triển Du Lịch Tỉnh Đồng Tháp – Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại, Du Lịch Và Đầu Tư Đồng Tháp
  • Xét trên yếu tố tự nhiên và đặc thù văn hóa, xã hội, không gian du lịch Miền Tây Nam Bộ có thể chia thành 4 tiểu vùng: Vùng duyên hải phía Đông gồm Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh với sản phẩm chủ đạo là du lịch sông nước miệt vườn gắn với làng nghề, nghỉ tại nhà dân, di tích lịch sử văn hóa, cách mạng. Vùng Đồng Tháp Mười gồm Long An, Đồng Tháp với sản phẩm chủ đạo là du lịch sinh thái rừng đặc dụng ngập nước điển hình. Vùng Tứ Giác Long Xuyên gồm Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang với sản phẩm nổi trội là du lịch tham quan sông nước, du lịch với mục đích thương mại, du lịch tâm linh lễ hội và du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp. Cuối cùng là vùng bán đảo Cà Mau gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng với sản phẩm du lịch chủ lực là tham quan điểm cực Nam tổ quốc, du lịch sinh thái rừng ngập mặn và du lịch văn hóa, lễ hội gắn với dân tộc Khmer.

    Vùng duyên hải phía Đông

    Cụm duyên hải phía Đông Đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh đây là bốn địa phương gắn liền nhau chung một điểm đến. Vùng đất này được bao bọc bởi các nhánh sông: sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và sông Hậu. Những dòng sông uốn lượn thơ mộng chở nặng phù sa đã bồi đắp cho miền duyên hải này nên những ruộng đồng bao la thẳng cánh cò bay, những vườn cây ăn trái bạt ngàn, bốn mùa trĩu quả. Du khách đến đây sẽ cảm nhận không gian rộng lớn của màu xanh cây trái, ruộng đồng, với không khí trong lành của đồng quê thanh bình.

    Hành trình từ thành phố Hồ Chí Minh đến cụm liên kết bốn tỉnh rất dễ dàng khi hạ tầng giao thông vùng quê sông nước đã được đầu tư khang trang và thuận lợi. Du khách đi ô tô theo đường cao tốc từ chúng tôi -Trung Lương chỉ mất khoảng 1 giờ, nếu đi theo quốc lộ 1A thì mất khoảng 1 giờ 20 phút là đến.

    Tiền Giang

    Tỉnh Tiền Giang (68km) là tỉnh đầu tiên của cụm vựa trái cây lớn nhất Đồng Bằng Sông Cửu Long. Nơi đây hội tụ của ba vùng sinh thái; nước ngọt phù sa, rừng ngập mặn và vùng ngập phèn Đồng Tháp Mười, Tiền Giang có ưu thế và thuận lợi riêng để phát triển du lịch sinh thái, sông nước miệt vườn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương.

    Bến Tre

    Cầu Rạch Miễu xây dựng xong vào năm 2009, đi qua sông Tiền là đến huyện Châu Thành – tỉnh Bến Tre. Bến Tre được mệnh danh là quê hương xứ dừa cũng là vương quốc cây trái, hoa kiểng, cây giống cung cấp cho cả nước và các nước lân cận. Quê hương Bến tre còn giữ được nét hoang sơ đặt trưng của đồng bằng Nam bộ với hệ thống nhiều cồn nổi như: Cồn Phụng, cồn Quy (Tân Thạch- Châu Thành), cồn phú Đa (Chợ Lách), cồn Ốc (Hưng Phong), …Du khách đến đây, không chỉ tham quan cảnh sông nước, thưởng thức trái cây ngon và đặc sản trên cồn mà còn được trải nghiệm làng nghề thủ công truyền thống.

    Trà Vinh

    Trên đường đi Trà Vinh, đến đỉnh cầu Hàm Luông, đây là cây cầu được bắt qua sông Hàm Luông, là một nhánh của dòng sông Mêkong hiền hòa, mọi người sẽ vô cùng thú vị và đầy ngạc nhiên khi mình đang ở trong giữa một rừng dừa bạt ngàn; tiếp theo Quốc lộ 60 khoảng 30 km qua sông Cổ Chiên sẽ đến địa phận tỉnh Trà Vinh.

    Vĩnh Long

    Xuôi về tỉnh Vĩnh Long, du khách chỉ mất một giờ đồng hồ là đến thành phố Vĩnh Long (60 km) đây là một trong bốn tỉnh liên kết không có du lịch biển nhưng với du lịch sông nước miệt vườn đã nổi tiếng lâu nay.  Vĩnh Long có vị trí nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt cùng những vườn cây ăn trái rất đa dạng như: Chôm chôm, măng cụt, sầu riêng, bưởi… Bên cạnh đó, cảnh quan sông nước và khí hậu mát mẻ trong lành quanh năm nên Vĩnh Long là địa phương thu hút rất đông du khách. Các sản phẩm du lịch Vĩnh Long chủ yếu là du lịch sinh thái miệt vườn ở cù lao Dài (huyện Vũng Liêm), cù lao Mây (huyện Trà Ôn) và cù lao An Bình (huyện Long Hồ). Tham quan các di tích văn hóa, lịch sử tâm linh nổi tiếng ở Vĩnh Long như: Đình Long Thanh (phường 5, thành phố Vĩnh Long), Văn Thánh Miếu (phường 4, thành phố Vĩnh Long), Chùa Phật Ngọc Xá Lợi (xã Tân Ngãi, TP. Vĩnh Long), khu tưởng niệm Cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng (xã Long Phước, huyện Long Hồ)… Du lịch làng nghề tại làng nghề bánh tráng Cù lao Mây huyện Trà Ôn, làng nghề sản xuất gạch – gốm huyện Long Hồ – Mang Thít, làng mai Phước Định huyện Long Hồ…

    Đến đây du khách sẽ tiếp tục đi về các tỉnh của cụm phía Tây đồng bằng sông Cửu Long theo quốc lộ 1A như Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang hay Đồng Tháp. Từ đây du khách có thể đi đường thủy theo dòng Mêkông đi Châu Đốc và sang Nongpenh Campuchia hoặc sang sông hậu về các tỉnh cụm phía Tây Đồng Bằng Sông Cửu Long đến mũi Cà Mau.

    Đồng Tháp Mười

    Vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa bàn 3 tỉnh Long An, Đồng Tháp, và một phần tỉnh Tiền Giang. Ngày nay tiểu vùng này chỉ còn Khu Bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười (Tiền Giang), Vườn Quốc gia Tràm Chim, Khu Du lịch sinh thái Gáo Giồng (Đồng Tháp), Khu Bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Khu Du lịch làng nổi Tân Lập, Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười (Long An) là giữ được phần nào cảnh quan vùng đất phèn trũng với cây tràm là chủ yếu cùng vài trăm loài chim, loài cá vốn có của sông Me Kông, của Đồng bằng sông Cửu Long. Dù không nhiều, nhưng những khu bảo tồn cảnh quan thiên nhiên ấy là vô cùng quý giá, là sản phẩm du lịch sinh thái không thể thiếu của Đồng Tháp Mười. Môi trường sinh thái Đồng Tháp Mười đã ban tặng sản vật hết sức đa dạng và phong phú cho cư dân địa phương. Ẩm thực Đồng Tháp Mười gắn liền với lịch sử khai mở vùng đất này. Với phong cách hoang dã dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên các món ăn du khách phải thưởng thức: mắm kho bông súng, cá rô đồng kho tộ, cá gói lá sen nướng, cá hấp lá duối, chuột đồng quay lu, chuột đồng luộc cơm mẻ, rắn hầm tỏi, lẩu lươn… rồi nhấm nháp ly rượu sen, rượu mật ong tinh khiết…

    Long An

    Nằm ở khu vực giao thoa giữa vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam bộ, Long An được xem là một trong những địa phương có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng, đặc biệt là du lịch sinh thái vùng Đồng Tháp Mười. Đừng chân ở Long An du khách sẽ tham quan làng nổi Tân Lập, khu Ramsar Láng Sen, Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười. Khi đến nơi đây vào mùa nước nổi, du khách sẽ được đắm chìm trong không gian của vương quốc chim cò với mật độ dày đặc, thực vật mênh mông. 

    Đồng Tháp

    Điểm kết thúc hành trình là Đồng Tháp – quê hương đất Sen hồng. Du lịch Đồng Tháp khách tham quan Khu Di tích lịch sử văn hóa khảo cổ quốc gia đặc biệt Gò Tháp, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, nổi bật nhất là Vườn Quốc gia Tràm Chim – Khu Ramsar 2000 của thế giới, thứ 4 của Việt Nam nơi bảo tồn nhiều loài chim quý hiếm. Ngoài ra Đồng Tháp còn có các điểm du lịch hấp dẫn như: khu di tích mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Khu di tích Xẻo Quýt (Cao Lãnh), Chùa Kiến An Cung , nhà cổ Huỳnh Thủy Lê, vườn quýt hồng Lai Vung

    Vùng Tứ Giác Long Xuyên

    Các địa phương thuộc Tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên gồm: An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang và TP Cần Thơ. Đây là vùng trũng tự nhiên, nằm ở phía đầu nguồn đồng bằng sông Cửu Long hiện cũng là vựa lúa lớn nhất cả nước. Chỉ cần du lịch Miền Tây quanh vùng tứ giác Long Xuyên, du khách sẽ có những trải nghiệm thú vị của đồng bằng sông Cửu Long thu nhỏ: có sông, có núi, có rừng, có biển đảo, có chợ nổi, làng bè, cù lao, có văn hóa Kinh, Chăm, Hoa, Khmer…

    Thành phố Cần Thơ

    Cần Thơ là thành phố trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long, đầu mối giao thông nối liền giữa các địa phương trong vùng. Được thiên nhiên ưu đãi, Cần Thơ có nguồn tài nguyên rất đặc trưng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt bao phủ xung quanh với những điểm du lịch hấp dẫn.

    Quận Cái Răng nổi tiếng với chợ nổi Cái Răng, một trong những nền văn hóa chợ nổi độc đáo và đặc trưng của thành phố miền sông nước, đã được giới thiệu, bình chọn trên nhiều tạp chí du lịch có uy tín của thế giới (Rough Guide, Youramazingplaces). Đây cũng là sản phẩm du lịch đặc thù, tạo điểm nhấn đặc trưng cho ngành du lịch Cần Thơ. Trong các Tour Cần Thơ thì hoạt động chủ yếu hiện nay của loại hình này gồm có: đi thuyền thưởng ngoạn cảnh quan, tìm hiểu, trải nghiệm đời sống, sinh hoạt của cộng đồng thương hồ, thưởng thức ẩm thực…

    Quận Bình Thủy phát triển các loại hình du lịch văn hóa – lịch sử với hệ thống làng cổ, nhà cổ, đình, chùa cổ như: nhà cổ Bình Thủy, Đình Bình Thủy, Chùa Hội Linh, Chùa Nam Nhã, Chùa Long Quang, Cơ quan Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng Hậu Giang, Mộ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa… Đặc biệt, thời gian qua, mô hình du lịch cộng đồng ở Cồn Sơn gồm các hoạt động độc đáo như: biểu diễn cá lóc bay, tham quan vườn trái cây, tìm hiểu sinh kế, trải nghiệm cuộc sống cùng cư dân địa phương, homestay… để lại những ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách.

    Quận Thốt Nốt được biết đến với hệ sinh thái tự nhiên độc đáo Vườn cò Bằng Lăng – một trong những sân chim lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long, với hàng chục ngàn cá thể chim, cò sinh sống. Cù lao Tân Lộc được mệnh danh là “đảo ngọt” với những vườn mận An Phước trĩu quả, nhiều loại hoa kiểng, hệ thống nhà cổ hàng trăm năm. Thốt Nốt cũng thu hút du khách với những làng nghề lâu đời như làng lưới Thơm Rơm, bánh tráng Thuận Hưng, xóm thúng Thuận An…

    Miệt vườn Phong Điền nổi danh với những vườn trái cây xum xuê trĩu quả, có nhiều khu du lịch sinh thái, điểm vườn, homestay, là sự lựa chọn lý tưởng cho những ai yêu thiên nhiên. Ngoài ra, huyện còn có các điểm du lịch khác rất được du khách quan tâm như: Chợ nổi Phong Điền, Khu di tích Giàn Gừa, Thiền Viện Trúc Lâm Phương Nam

    An Giang

    Đi theo quốc lộ 91, từ trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng 65km là đến TP Long Xuyên – tỉnh An Giang. Trong 4 địa phương thuộc tứ giác Long Xuyên thì An Giang có diện tích lớn nhất và là nơi tiếp giáp với nước bạn Campuchia có khá nhiều điểm tham quan đặc sắc.

    Ngược lên TP. Châu Đốc có miếu Bà Chúa Xứ núi Sam trung tâm hành hương lớn nhất Miền Tây Nam Bộ cực kỳ linh thiêng, làng nổi cá bè Châu Đốc ở ngã 3 sông Châu Đốc giao với sông Hậu. Du lịch Châu Đốc còn có các danh thắng tuyệt đẹp như: lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, chùa Phước Điền… Nơi đây nổi tiếng với các mặt hàng khô, mắm truyền thống.

    Rẽ qua xứ lụa Tân Châu du khách trong và ngoài nước sẽ bị thu hút từ nét văn hóa đặc sắc làng Chăm An Giang hay kiến trúc của ngôi thánh đường Hồi Giáo, thưởng thức những món ăn truyền thống của người Chăm như: tung lò mò, cà ri, bánh bò…

    Về cù lao Giêng (Chợ Mới) những vườn cây trái san sát, thấp thoáng vang vọng những tiếng chuông cổ của nhà thờ cù lao Giêng, tham quan các công trình văn hóa và mỹ thuật tiêu biểu xứ Nam Bộ và Tây phương như Tu viện Chúa Quan Phòng, Tu viện Phanxico, Chùa Phước Thành ….

    Vào Tịnh Biên khách thăm rừng tràm Trà Sư hoang sơ, đi cáp treo núi Cấm, đi chợ biên giới Tịnh Biên, xem đua bò…Sau đó khách tiếp tục đến huyện Tri Tôn thăm lại Khu di tích lịch sử nhà mồ Ba Chúc, đồi Tức Dụp, Ô Tà Sóc. Từ đây, du khách có thể sang TP. Hà Tiên (Kiên Giang) tắm biển.

    Tại các điểm du lịch An Giang: Châu Đốc, Tịnh Biên, Tri Tôn, An Phú, TX. Tân Châu, Chợ Mới… còn có những đặc sản, làng nghề truyền thống độc đáo để du khách làm quà cho người thân và bạn bè như: đường thốt nốt, khô mắm, sản phẩm vải thổ cẩm đặc trưng của đồng bào Chăm, Khmer…

    Kiên Giang

    Kiên Giang là địa phương phát triển du lịch mạnh nhất hiện nay. Với điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng gồm rừng, núi, sông, suối, bờ biển dài, nhiều bãi tắm đẹp, hàng trăm hòn đảo và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Kiên Giang cũng là tỉnh duy nhất ở miền nam có nhiều núi đá vôi chạy tới sát biển tạo nên cảnh quan thiên nhiên hết sức kỳ thú, độc đáo, riêng có. Du lịch Kiên Giang phân thành 4 vùng trọng điểm gồm Phú Quốc, Hà Tiên – Kiên Lương, Rạch Giá – Kiên Hải – Hòn Đất và U Minh Thượng.

    Về vùng Hà Tiên – Kiên Lương đầy ắp tình đất – tình người, “đẹp như xứ thơ” với Tao đàn Chiêu Anh Các mở hội vào Rằm tháng Giêng hằng năm. Cảnh đẹp thiên nhiên nơi vùng biên ải này, với danh thắng Mũi Nai, Hòn Trẹm, chùa Hang, núi Bình San, đầm Đông Hồ, núi Tô Châu, Đá Dựng, Thạch Động… tạo ấn tượng trong lòng người khi tận mắt nhìn. Cùng với đó, những hang động trên núi đá vôi, hệ thống các quần đảo Hải Tặc, quần đảo Bà Lụa… gắn với nhiều chuyện kể, tích xưa tạo nên những giá trị nhân văn cho Hà Tiên – Kiên Lương, lay động lòng người khi đặt chân đến.

    Đến với Rạch Giá – Kiên Hải, mọi người không khỏi ngạc nhiên trước công trình lấn biển đã hoàn thành, đang xây dựng khu đô thị ven biển hiện đại đầu tiên vùng Tây Nam bộ. Nơi thành phố biển này, rất nhiều di tích văn hóa, lịch sử có giá trị, những công trình kiến trúc độc đáo kết hợp hài hòa giữa 3 dân tộc Kinh, Hoa và Khmer, thông qua các lễ hội dân gian thu hút hàng triệu lượt khách du lịch mỗi năm như: Đình thần Nguyễn Trung Trực, chùa Tam Bảo, chùa Phật Quang, chùa Quan Đế, chùa Khmer… Tiếp đến, quần đảo Nam Du, đảo Hòn Tre, huyện đảo Kiên Hải với cảnh quan thiên nhiên còn hoang sơ, môi trường trong lành đang được nhiều du khách tìm đến khám phá, thưởng ngoạn.

    Ghé Vườn Quốc gia U Minh Thượng nằm trong hệ thống Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang, du khách có dịp khám phá hệ sinh thái rừng nhiệt đới ngập nước, đầm lầy than bùn còn lại ở Việt Nam thuộc loại hiếm trên thế giới. Nơi đây phát triển nguồn tài nguyên động thực vật đa dạng, phong phú, nhiều loài động vật được ghi trong sách Đỏ Việt Nam và thế giới như: rái cá lông mũi, mèo cá, bồ nông chân xám, già đãy Java, tê tê…

    Hậu Giang

    Hậu Giang nằm ở phía Tây Nam sông Hậu, nơi trung chuyển giao lưu giữa các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Kiên Giang với trung tâm của vùng là thành phố Cần Thơ. Hậu Giang là tỉnh mới chia tách, ngành du lịch Hậu Giang còn khá non trẻ so với các tỉnh khác. Vì vậy mà cảnh vật nơi đây vẫn còn nguyên vẻ hoang sơ chưa bị du lịch hóa. Điểm nổi bật của Hậu Giang là những đồng lúa bạt ngàn, một vùng quê ngọt ngào hoa trái và sản vật như: Khóm Cầu đúc, Bưởi năm roi Phú Thành, quýt đường Long Trị, cam xoàn Phụng Hiệp, cá thát lát Hậu Giang. Người Hậu Giang chất phát, đôn hậu, hiền hòa và giàu lòng mến khách. Vùng đất này có sự cộng cư của các dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer… nên có sự giao thoa về văn hóa, đa dạng, phong phú về tín ngưỡng, phong tục, tập quán. Hậu Giang còn được biết đến với những nét họp chợ độc đáo “chợ nổi Ngã Bảy”, hay với viên ngọc xanh Lung Ngọc Hoàng, Thiền viện Trúc Lâm, rừng tràm Vị Thủy. Đồng thời, Hậu Giang còn là nơi ghi dấu chiến công vang dội như: Di tích Căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, di tích lịch sử văn hóa Chiến thắng Cái Sình, di tích lich sử văn hóa Tầm Vu… Hậu Giang còn có Kênh xáng Xà No huyền thoại – Con đường lúa gạo lớn sầm uất nhất Đông Dương.

    Bán Đảo Cà Mau

    Tiểu vùng Bán đảo Cà Mau bao gồm các địa phương Sóc Trăng; Bạc Liêu; Cà Mau. Đây đều là những tỉnh nằm sát với biển và có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất nước. Một vùng đất giàu tiềm năng, lợi thế; người dân thì thân thiện, phóng khoáng, đậm khí chất miền Tây sẽ là một lực hút không nhỏ đối với du khách khi đặt chân đến đây.

    Sóc Trăng

    Từ Ngã Bảy – tỉnh Hậu Giang theo Quốc lộ Quản Lộ – Phụng Hiệp là đến thị xã Ngã Năm – tỉnh Sóc Trăng hoặc theo quốc lộ 1A sẽ tới thành phố Sóc Trăng.

    Sóc Trăng là một tỉnh ven biển nằm ở cuối hạ lưu sông Hậu sông Hậu, cùng hệ thống sông ngòi chằng chịt với các cù lao lớn, nhỏ nối tiếp nhau dài hơn 50 km dọc theo bờ sông Hậu. Trên những cù lao ấy là những vườn cây trái sum suê, trĩu quả. Tiêu biểu là cồn Mỹ Phước (huyện Kế Sách), khu du lịch sinh thái biển Hồ Bể (thị xã Vĩnh Châu), biển Mỏ Ó (huyện Trần Đề)… là những nơi hấp dẫn du khách trong và ngoài tỉnh.

    Bạc Liêu

    Bạc Liêu hấp dẫn du khách cả từ những di tích lịch sử, điểm du lịch sinh thái, du lịch tâm linh gắn liền với cảnh quan và các câu chuyện cổ xưa. Khu Quán âm Phật đài, Khu lưu niệm nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu, quảng trường Hùng Vương, nhà hát Cao Văn Lầu (nhà ba nón lá), cánh đồng điện gió Bạc Liêu, vườn chim, vườn nhãn cổ, chùa Xiêm Cán hay nhà thờ Tắc Sậy … là những điểm tham quan luôn hút khách. Bạc Liêu còn là vùng đất nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh thông qua những giai thoại ăn chơi của công tử Bạc Liêu. Ngày nay, với cụm nhà công tử Bạc Liêu với kiến trúc độc đáo cùng những địa điểm du lịch Bạc Liêu nêu trên, mảnh đất này càng hấp dẫn đối với du khách.

    Từ Bạc Liêu, du khách chỉ mất khoảng 1 tiếng 30 phút để đến đất mũi Cà Mau. Cà Mau là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, có rừng, có biển, có hệ sinh thái rừng ngập mặn phong phú, là những điều kiện rất thuận lợi để tỉnh phát triển mạnh loại hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch ẩm thực, du lịch văn hóa với những nét đặc trưng của người dân vùng sông nước. Đã đặt chân đến đây, bạn nhất định phải check-in tại Mũi Cà Mau, nơi đặt cột mốc tọa độ GPS 0001 (cây số 0). Bạn có thể tiếp tục hành trình cuả mình đến Rừng U Minh, sân chim Ngọc Hiển hay trải nghiệm du ngoạn trên sông Trẹm….

    Chắc hẳn sau khi trở về từ miền Tây, du khách sẽ khó quên được những con đường làng bình yên, cánh đồng lúa bát ngát và những con sông lênh đênh cùng điệu hò ngọt ngào sâu lắng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Bền Vững Du Lịch Vùng Đông Nam Bộ
  • Top 10 Bãi Biển Đẹp Đông Nam Á
  • Các Nước Người Việt Nam Tự Do Du Lịch Không Cần Visa
  • 10 Xe Ô Tô Đắt Khách Nhất Việt Nam Tháng 12/2020
  • Điểm Tham Quan Du Lịch Ở Đảo Nam Du
  • Vùng Du Lịch Của Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Sắc Ba Vùng Du Lịch Của Kiên Giang
  • Những Điều Đặc Sắc Nhất Đến Từ 7 Vùng Du Lịch Việt Nam
  • Các Vùng Du Lịch Việt Nam
  • 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Siêu Hấp Dẫn
  • 4 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Trong 1 Ngày Vô Cùng Lý Tưởng
  • 7 vùng du lịch của Việt Nam

    1. Vùng trung du, miền núi phía Bắc

    Bao gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang gắn với các hành lang kinh tế và các cửa khẩu quan trọng với Trung Quốc và Thượng Lào

    Các địa bàn trọng điểm: TP. Lào Cai – Sa Pa – Phan Xi Păng; TP. Điện Biên Phủ và phụ cận; TP. Lạng Sơn và phụ cận Đền Hùng, vùng ATK.

    2. Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc

    Gồm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.

    Các địa bàn trọng điểm: tứ giác du lịch của vùng được xác định gồm: Hà Nội – Quảng Ninh – Ninh Bình và Hải Phòng

    3. Vùng bắc Trung Bộ

    Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế gắn với hệ thống cửa khẩu quốc tế với Lào, với du lịch hành lang Đông Tây và hệ thống biển, đảo Bắc Trung Bộ.

    Các địa bàn trọng điểm: Huế và phụ cận; Kim Liên – Vinh – Cửa Lò – Cầu Treo.

    4. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

    Gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận gắn với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với hệ thống biển đảo Nam Trung Bộ.

    Các địa bàn trọng điểm: Đà Nẵng – Quảng Nam, Nha Trang – Ninh Chữ, Phan Thiết – Mũi Né.

    5. Vùng Tây Nguyên

    Gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng gắn với Tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia

    Các địa bàn trọng điểm: TP Đà Lạt và phụ cận, TP. Buôn Mê Thuột và phụ cận; Khu vực Bờ Y- TX. Kon Tum – TP. Pleiku.

    6. Vùng Đông Nam Bộ

    Gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và hành lang du lịch xuyên Á.

    Các địa bàn trọng điểm: Thành phố Hồ Chí Minh – Tây Ninh, Vũng Tàu – Côn Đảo.

    7. Vùng Tây Nam Bộ

    Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ gắn với du lịch tiểu vùng sông Mêkông.

    Các địa bàn trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL gồm Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, đồng thời cũng là tứ giác du lịch của châu thổ sông Cửu Long

    --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Khoảnh Khắc Cho Thấy Ran
  • 20 Địa Điểm Du Lịch Thú Vị Tại Đà Nẵng Và Gần Đà Nẵng
  • Địa Điểm Du Lịch Đà Nẵng Hội An
  • Top 20 Địa Điểm Tổ Chức Du Lịch Mice Tại Đà Nẵng Lý Tưởng
  • Những Địa Điểm Du Lịch Ở Đà Nẵng Không Thể Bỏ Qua 2022
  • Vùng Tây Bắc (Việt Nam)

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Sihanoukville: Đi Lại, Ăn Ở & Chơi Gì?
  • Du Lịch Bụi Penang Malaysia
  • 11 Điểm Du Lịch Mùa Hè Ở Việt Nam Không Thể Bỏ Qua
  • Các Địa Điểm Hút Khách Du Lịch Nhất Tại Đảo Bali,cac Dia Diem Hut Khach Du Lich Nhat Tai Dao Bali
  • Hàng Loạt Các Địa Điểm Check
  • Vùng Tây Bắc hay Tây Bắc Bộ là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc. Vùng này là một trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng).

    Không gian địa lý của vùng Tây Bắc hiện còn chưa được nhất trí. Một số ý kiến cho rằng đây là vùng phía nam (hữu ngạn) sông Hồng. Một số ý kiến lại cho rằng đây là vùng phía nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn. Nhà địa lý học Lê Bá Thảo cho rằng vùng Tây Bắc được giới hạn ở phía đông bởi dãy núi Hoàng Liên Sơn và ở phía tây là dãy núi Sông Mã.

    Địa hình Tây Bắc núi cao và chia cắt sâu, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m. Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà). Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã. Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản. Cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh.

    Lịch sử hình thành vùng Tây Bắc bắt đầu từ cách đây 500 triệu năm và đến bây giờ vẫn tiếp tục. Thuở ban đầu, vùng này là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã là nổi lên trên mặt biển. Biển liên tục rút ra xa rồi lại lấn vào suốt hàng trăm triệu năm. Trong quá trình ấy, đã có những sự sụt lún mạnh, góp phần hình thành các tầng đá phiến và đá vôi. Vào cuối đại Cổ sinh (cách đây chừng 300 triệu năm), dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã đã được nâng hẳn lên. Địa máng sông Đà lúc đó vẫn chìm dưới biển. Cho đến cách đây 150 triệu năm, chu kỳ tạo núi Indochina làm cho hai bờ địa máng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp uốn khổng lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên trên tầng đá phiến, tạo thành những cao nguyên đá vôi ngày nay. Trong quá trình tạo núi, còn có sự xâm nhập của macma. Kết quả là, vùng Tây Bắc được nâng lên với một biên độ đến 1000 mét.

    Vì là địa máng, vùng vỏ rất động của trái đất, nên Tây Bắc là vùng có nguy cơ động đất cao nhất Việt Nam.

    Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhưng sự biểu hiện của nó không giống nhau theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng. Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngăn không cho gió mùa đông (hướng đông bắc – tây nam) vượt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùng Đông bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam. Vì vậy, trừ khi do ảnh hưởng của độ cao, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc, chênh lệch có thể đến 2-3 O C. Ở miền núi, hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườn đón gió (sườn đông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi sườn tây tạo điều kiện cho gió “phơn” (hay quen được gọi là “gió lào”) được hình thành khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc. Nhìn chung, trong điều kiện của trung du và miền núi, việc nghiên cứu khí hậu là rất quan trọng vì sự biến dạng của khí hậu xảy ra trên từng khu vực nhỏ. Những biến cố khí hậu ở miền núi mang tính chất cực đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủ thổ nhưỡng bị thoái hoá. Mưa lớn và tập trung gây ra lũ nhưng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ quét; hạn vào mùa khô thường xảy ra nhưng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối.

    Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc hiện nay gồm 6 tỉnh với diện tích trên 5,645 triệu ha (tỷ lệ 10,5% so với tổng diện tích cả nước) với 4.713.048 dân (tỷ lệ 15,5% so với tổng dân số cả nước), bình quân khoảng 88 người trên 1 cây số vuông.

      Mục dân số và diện tích ghi theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam trên trang Wikipedia của các tỉnh thành Việt Nam.

    Một số phần của Phú Thọ và 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái nằm ở hữu ngạn sông Hồng, do dòng sông chảy qua giữa địa phận các tỉnh này, song phạm vi hành chính của vùng Tây Bắc không bao gồm Phú Thọ, đôi khi 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái cũng được xếp vào Đông Bắc Bộ. Tuy nhiên, hiện nay trụ sở của Ban chỉ đạo Tây Bắc nằm ở thành phố Yên Bái, tỉnh lỵ của tỉnh Yên Bái.

    Về cơ bản, vùng Tây Bắc là không gian văn hóa của dân tộc Thái, nổi tiếng với điệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi tiếng được nhiều người biết đến. Mường là dân tộc có dân số lớn nhất vùng. Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H’Mông, Dao, Tày, Kinh, Nùng,… Ai đã từng qua Tây Bắc không thể quên được hình ảnh những cô gái Thái với những bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho Tây Bắc. tây bắc là vùng có sự phân bố dân cư theo độ cao rất rõ rệt: vùng rẻo cao(đỉnh núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao, Tạng Miến,với phương thức lao động sản xuất chủ yếu là phát nương làm rẫy, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên; vùng rẻo giữa(sườn núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, phương thức lao động sản xuất chính là trồng lúa cạn, chăn nuôi gia súc và một số nghề thủ công; còn ở vùng thung lũng, chân núi là nơi sinh sống của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, Thái – Kadai,điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn để phát triển nông nghiệp và các ngành nghề khác. sự khác biệt về điều kiện sinh sống và phương thức lao động sản xuất cũng gây ra sự khác biệt văn hóa rất lớn! mặc dù văn hóa chủ thể và đặc trưng là văn hóa dân tộc Mường.

    Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long và châu Đô Kim (nay thuộc Tuyên Quang), vua Lý Thái Tổ sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sáp nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Cồ Việt.

    Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Thái (châu Văn Bàn, châu Thủy Vĩ) ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.

    Năm 1294, thượng hoàng Trần Nhân Tông, cùng Phạm Ngũ Lão, đi đánh bại Ai Lao thu nạp đất đai. Năm 1297, Trần Anh Tông sai Trần Nhật Duật đánh A Lộc (Ai Lao), Trần Quốc Tảng đánh Sầm Tử, Phạm Ngũ Lão đánh tan Ai Lao thu lại đất cũ ở sông Chàng Long. Năm 1301, Phạm Ngũ Lão đánh Ai Lao ở Mường Mai (Châu Mai, nay là đất Mai Châu). Các vùng đất thu nạp được thời kỳ này nhà Trần đặt làm huyện Mông đạo Đà Giang, đến đời thuộc Minh là đất hai huyện Mông và Tư Mang, sang thời nhà Lê sơ là toàn bộ châu Mộc (Mộc Châu (nay là Mộc Châu, Vân Hồ), Đà Bắc, Mã Nam (nay là huyện Sop Bao Lào)), và châu Mai phủ Gia Hưng.

    Năm 1329, thượng hoàng Trần Minh Tông đi đánh mán Ngưu Hống, thổ tù Mường Mỗi, tại Mang Việt đạo Đà Giang thu nạp đất châu Yên (Mang Việt), Phù Hoa, Mường Mỗi (châu Thuận) là các vùng đất nay là các huyện Yên Châu, Phù Yên, Thuận Châu, Tuần Giáo, Sơn La, Mai Sơn tỉnh Sơn La.

    Theo Minh sử, năm 1405, Đèo Cát Hãn dâng sớ lên triều đình nhà Minh tố cáo nhà Hồ đánh chiếm 7 trại Mãnh Man thuộc châu Ninh Viễn dưới quyền Đèo Cát Hãn, vốn thuộc phủ Lâm An của tỉnh Vân Nam, giết con rể của ông, bắt con gái của ông để khống chế. Trong các nguyên do mà nhà Minh viện ra khi sang đánh nhà Hồ có lý do này. Nhà Hồ lúc đó yếu thế phải trả lại Đèo Cát Hãn các trại này. Châu Ninh Viễn đến thời Lê sơ gọi là Mường Lễ.

    Đến năm 1431, Lê Lợi thu phụ Đèo Cát Hãn, có thêm châu Phục Lễ (Mường Lễ), vùng thượng lưu sông Đà do Đèo Cát Hãn cai quản, từng là châu Ninh Viễn của Vân Nam, nhập về. Mường Lễ sau đổi Thành Phục Lễ phủ An Tây gồmː đất Mường Lễ (châu Lai), Tuy Phụ (Mường Tè), Hoàng Nham (Mường Toong, Mường Nhé), Chiêu Tấn (Phong Thổ), Lễ Tuyền (Mường Boum), Hợp Phì (Xiềng My, nay là Giả Mễ huyện Kim Bình, Vân Nam), Khiêm Châu (Mường Tinh), Quảng Lăng (Mường La, nay là Mường Lạp huyện Kim Bình, Vân Nam), Tung Lăng (Phù Phang), Luân Châu (Mường Báng), Quỳnh Nhai (Mường Chăn).

    Năm 1467 Lê Thánh Tông thu nạp vùng sách Câu Lộng (Mã Giang) từ Ai Lao (nay là khoảng huyện Sông Mã tỉnh Sơn La).

    Năm 1478, vua Lê Thánh Tông, sau khi thu phục tiểu vương quốc Bồn Man đã sáp nhập vùng phía tây Sơn La (thượng lưu sông Mã, nay là khoảng các huyện Sốp Cộp, Sông Mã tỉnh Sơn La), các huyện phía tây Thanh Hóa, Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn của Lào ngày nay vào đất Đại Việt. Đến thời Lê Thánh Tông, cơ bản vùng Tây Bắc Việt Nam đã hình thành và thuộc vào lãnh thổ Đại Việt. Và từ đây cho đến cuối thế kỷ 19, toàn bộ vùng Tây Bắc Việt Nam đều tương đương với cương vực của một địa danh duy nhất mang tên Hưng Hóa, ban đầu là thừa tuyên Hưng Hóa, rồi đến xứ Hưng Hóa, sau đó là trấn Hưng Hóa và cuối cùng là tỉnh Hưng Hóa.

    Đến cuối triều Lê trung hưng, trong những năm 1684- 1777, khoảng 7 châu của trấn Hưng Hóa Đại Việt, giáp giới với tỉnh Vân Nam đã bị mất về lãnh thổ Trung Quốc, gồm: Mường La-Quảng Lăng, Mường Tè-Tuy Phụ, Mường Tong-Hoàng Nham, Phong Thổ-Chiêu Tấn, Mường Boum hoặc M.Léo-Lễ Tuyền, Tché My (Xiềng My)-Hợp Phì, Khiêm Châu – Mường Tinh (M.Tía), Tung Lăng – Phù Phang (Pou Fang gần Mường Nhé (M.Nhié)) hoặc Quảng Lăng (Ta Leng Po).

    Năm 1768-1769, quân nhà Lê- Trịnh, tiến đánh Hoàng Công Chất cát cứ Mường Thanh của Lào Lung, thu nạp đất này lập ra châu Ninh Biên ( Điện Biên Phủ) thuộc trấn Hưng Hóa.

    Cũng cuối nhà Lê trung hưng, triều Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng 36 (1776), châu Mộc chia tách thành 3 châu làː châu Đà Bắc, châu Mộc (nay là huyện Mộc Châu và Vân Hồ), châu Mã Nam. Sau đó khoảng những năm 1780 đến đầu thời nhà Tây Sơn, Thổ tù các châu này vốn là anh em họ Xa, bất hòa. Thổ tù châu Mã Nam về theo châu Xiềng Khô của Vương quốc Luang Phrabang (Lào Lung). Từ đó vùng lãnh thổ của trấn Hưng Hóa Đại Việt nằm bên bờ nam sông Mã là châu Mã Nam (nay là khoảng huyện Sop Bao) tiếp giáp phía nam tỉnh Sơn La ngày nay trở thành lãnh thổ Lào, mà không còn thuộc Tây bắc Việt Nam nữa.

    Sang thời nhà Nguyễn vùng Tây Bắc Việt Nam là vùng lãnh thổ thuộc trấn Hưng Hóa (1802-1831) sau là tỉnh Hưng Hóa (1831-1884). Tuy nhiên, thời này vùng Tây Bắc Việt Nam không bao gồm các vùng lãnh thổ Hưng Hóa mất sang nhà Thanh Trung Quốc (7 châuː Tung Lăng, Quảng Lăng, Tuy Phụ, Hoàng Nham, Lễ Tuyền, Hợp Phì, Khiêm) và châu Mã Nam mất về Lào).

    Tháng Tư năm 1884 quân Pháp dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Brière de l’Isle mở cuộc hành chinh đánh lấy thành Hưng Hóa. Quân nhà Nguyễn cùng quân Cờ Đen thấy không giữ được nên nổi lửa đốt thành rồi bỏ ngỏ đồn lũy, rút lên mạn ngược (khu vực sau là các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái). Chiếm được Hưng Hóa, người Pháp cho phân định lại địa giới, cắt thêm những tỉnh mới cùng tiểu quân khu để dễ dàng cai trị: tháng 5 năm 1886 thành lập tỉnh Chợ Bờ (tức tỉnh Mường, sau đổi thành tỉnh Hòa Bình); ngày 7 tháng 1, 1899 thành lập đạo quân binh IV bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai, Tiểu quân khu Vạn Bú… Lào Cai là đạo lỵ (về sau đổi thành các tỉnh dân sự như: tỉnh Yên Bái (1895), tỉnh Vạn Bú (1895, sau đổi thành tỉnh Sơn La), tỉnh Lào Cai (tháng 7 năm 1907) và tỉnh Lai Châu (tháng 6 năm 1909)…

    Sau khi cắt đi 16 châu, 4 phủ và hai huyện Trấn Yên, Văn Chấn để thành lập đạo quan binh IV với các tiểu quân khu, khu quân sự… Tỉnh Hưng Hoá chỉ còn lại huyện Tam Nông và huỵện Thanh Thuỷ. Toàn quyền Đông Dương đã điều chỉnh một số huyện của tỉnh Sơn Tây sang, cộng với 2 huyện còn lại để thành lập tỉnh Hưng Hoá mới.

    Năm 1887, Pháp ký kết với nhà Thanh công ước Pháp-Thanh hoạch định biên giới, quy định cắt toàn bộ khu vực lãnh thổ châu Chiêu Tấn phủ An Tây tỉnh Hưng Hóa nhà Nguyễn (tức là khu vực các huyện Sìn Hồ, Phong Thổ, Tam Đường, Nậm Nhùn tỉnh Lai Châu, huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai) về cho nhà Thanh. Khu vực này cùng với khu vực 6 châu phủ An Tây Đại Việt đã mất vào thời nhà Lê là Mường Tè (Tuy Phụ), Mường Nhé (Hoàng Nham), Mường Chà (Khiêm Châu), Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tung Lăng, Mường La (Quảng Lăng) vốn là đất thế tập tự trị của dòng họ Đèo người Thái trắng. Châu Chiêu Tấn, đương thời do Đèo Văn Trị cần vương kháng Pháp cai quản, bị Pháp chuyển cho nhà Thanh.

    Ngày 8 tháng 9 năm 1891, ba huyện Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây nhập vào tỉnh Hưng Hoá.

    Ngày 9 tháng 12 năm 1892 huyện Cẩm Khê thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây nằm trong địa bàn tiểu quân khu Yên Bái nhập về tỉnh Hưng Hoá.

    Ngày 5 tháng 6 năm 1893, huyện Hạ Hòa thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây nằm trong địa bàn tiểu quân khu Yên Bái được nhập vào tỉnh Hưng Hoá.

    Năm 1895, cùng với sự đầu hàng của Đèo Văn Trị và sự suy yếu của nhà Thanh, Pháp đã ký kết với nhà Thanh công ước hoạch định biên giới sửa đổi, quy định lấy lại phần đất tỉnh Hưng Hóa cũ đã mất cho nhà Thanh trong công ước năm 1887, và lấy thêm các phần đất nay là các huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu, Mường Nhé, Mường Chà tỉnh Điện Biên về cho xứ Bắc Kỳ thuộc Pháp. Phần đất các huyện Mường Tè, Mường Nhé, Mường Chà này là một phần (3/6 châu) của 6 châu (Tuy Phụ, Hoàng Nham, Khiêm Châu, Tung Lăng, Lê Tuyền, Hợp Phì) đã mất cho nhà Thanh Trung Quốc từ thời nhà Lê trung hưng, đến suốt thời nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn độc lập chưa lấy lại được. Các phần đất này sau nhập vào tỉnh Lai Châu thời Pháp thuộc. Tuy nhiên, đổi lại Pháp cắt cho Trung Quốc phần còn lại sau công ước 1887 của vùng đất Tụ Long Hà Giang, nơi có nhiều mỏ khoáng sản quý.

    Ngày 17 tháng 7 năm 1895, hai châu Thanh Sơn và Yên Lập thuộc khu quân sự Đồn Vàng chuyển về tỉnh Hưng Hoá.

    Ngày 24 tháng 8 năm 1895 hai huyện Hùng Quan và Ngọc Quan của phủ Đoan Hùng thuộc tiểu quân khu Tuyên Quang; đạo quan binh 3 Yên Bái nhập vào tỉnh Hưng Hoá.

    Như vậy tỉnh Hưng Hóa mới gồm 2 phủ 10 huyện và 2 châu. Trong đó 2 huyện Tam Nông, Thanh Thủy và 2 châu Thanh Sơn, Yên Lập vốn là đất cũ của tỉnh Hưng Hoá; phủ Đoan Hùng với 2 huyện Hùng Quan và Ngọc Quan, phủ Lâm Thao và 6 huyện: Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Hạc Trì là những phủ, huyện mới từ tỉnh Sơn Tây chuyển sang. Tỉnh lỵ tỉnh Hưng Hoá đặt tại thị xã Hưng Hóa (thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1895, vốn là thành Hưng Hóa), đóng tại xã Trúc Khê, huyện Tam Nông (nay là thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ).

    Ngày 5 tháng 5 năm 1903 tỉnh Hưng Hóa mới (phần còn lại) được đổi tên thành tỉnh Phú Thọ.

    Tại vùng Tây Bắc thời Pháp thuộc đã lập ra xứ Thái tự trị. Năm 1955, Khu tự trị Thái-Mèo được thành lập, gồm 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ, và đến năm 1962 gọi là Khu tự trị Tây Bắc. Khu tự trị này giải thể năm 1975.

    Vùng Tây Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng Tây Bắc do Quân khu 2, Quân khu 3 bảo vệ.

    Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây đã diễn ra nhiều trận đánh và chiến dịch quân sự ác liệt mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngoài ra còn có trận Nà Sản cũng trong thời kì Chiến tranh Đông Dương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Georgia Tự Túc
  • Đi Du Lịch Cát Bà Cần Chuẩn Bị Những Gì
  • Tổng Hợp Kinh Nghiệm Du Lịch Georgia 2022
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Lagi Bình Thuận 2022: Giá Vé, Chơi Gì, Ăn Gì,…
  • Tìm Hiểu Lịch Sử Của Du Lịch Y Tế Và 3 Loại Hình Du Lịch Y Tế
  • Tiểu Luận Marketing Du Lịch Biển Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Du Lịch Biển Tân Thành
  • Tây Ban Nha Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững
  • Tour Bình Ba 2 Ngày 1 Đêm
  • Du Lịch Bình Ba 2 Ngày 1 Đêm Từ Cảng Cam Ranh
  • Tour Đảo Bình Ba 2 Ngày 1 Đêm【Trực Tiếp Tổ Chức】
  • ĐỀ TÀI: DU LỊCH BIỂN

    Nhóm : Laughing Out Loud

    Du lịch ngày càng có vai trò quan trọng tại Việt Nam. Đối với khách du lịch balô, những người du lịch khám phá văn hóa và thiên nhiên,Việt Nam là một đất nước có

    tiềm năng rất lớn về du lịch tuy nhiên theo thống kê thì du lịch Việt Nam mặc dù có rất

    nhiều lợi thế nhưng lượng du khách kém hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực

    như Thái Lan, Singapo và lượng khác từng đến Việt Nam và quay trở lại chỉ có 17%,

    trong khi ở Thái Lan là 70% vậy Việt Nam cần những chiến lược mới để phát triển

    ngành du lịch để sánh ngang với ngành du lịch ở các nước trong khu vực.Việt Nam là

    một đất nước có bờ biển trải dài khắp đất nước , bãi biển Việt Nam đang trở thành một

    địa điểm du lịch mới ở Đông Nam Á. Phát triển du lịch biển là ưu tiên hàng đầu của

    ngành du lịch Việt Nam. Việt Nam sẽ hình thành được 5 khu vực du lịch biển có sức

    cạnh tranh cao trong khu vực, đó là khu Hạ Long-Cát Bà; Lăng Cô-Sơn Trà-Hội An;

    Nha Trang-Cam Ranh, Phan Thiết-Mũi Né, khu du lịch Phú Quốc.

    Du lịch biển Việt Nam có rất nhiều tiềm năng phát triển. Sau khi tìm hiểu một

    số tài liệu về du lịch biển nhóm LOL xin đưa ra một số phân tích về quản trị marketing

    trong việc phát triển du lịch biển ở Việt Nam.

    I. Ma trận SWOT

    1. Điểm mạnh

    Việt Nam có hơn 3260km bờ biển, biển VN có hệ sinh thái rất phong phú,

    thuộc top những vùng biển đẹp nhất Châu Á. Điều này rất thuận lợi cho việc phát triển

    du lịch biển.

    Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp như: Trà Cổ, Bãi cháy (Quảng Ninh), Đồ Sơn

    (Hải Phòng), Sầm Sơn(Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Lăng Cô(Thừa Thiên Huế) ,

    Non nước(Đà Nẵng), Nha Trang(Khánh Hòa),Vũng Tàu.

    Ngoài ra vùng biển Việt Nam có khoảng 4000 hòn đảo, trong đó Vịnh bắc bộ

    đã có khoảng 3000 hòn đảo lớn nhỏ. Gần bờ biển Trung Bộ có hàng trăm đảo lớn như

    Hòn Mê, Hòn Mát, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Cù Lao Xanh, Hòn Tre, Phú Quý… Xa hơn

    là các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

    An Ninh, Chính trị của Việt Nam khá ổn định, không có nhiều biến động. Điều

    này cũng là 1 yếu tố thuận lợi cho Việt Nam phát triển.

    Tài nguyên du lịch vùng ven biển rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả tài

    nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc có giá

    trị cao với hoạt động du lịch. Cho đến nay toàn bộ 06 di sản thế giới ở Việt Nam đều

    nằm trên địa bàn vùng ven biển. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển nhiều loại hình

    du lịch biển hấp dẫn bao gồm: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao-mạo hiểm, du lịch

    sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch thăm quan-nghiên cứu, du lịch tàu biển, du lịch hội

    nghị-hội thảo…

    Tài nguyên du lịch biển có mức độ tập trung cao, tạo điều kiện thuận lợi cho

    phát triển du lịch biển. Mỗi lãnh thổ dọc chiều dài bờ biển có thế mạnh đặc thù về tài

    nguyên du lịch biển, có khả năng liên kết tạo ra những sản phẩm du lịch biển hấp dẫn,

    có sức cạnh tranh. Điều này tạo khả năng và cơ hội cho việc hình thành các điểm, cụm,

    tuyến, trung tâm du lịch biển và tổ chức xây dựng một số khu du lich biển tầm cỡ khu

    vực và quốc tế, làm đòn bẩy cho phát triển du lịch biển Việt Nam nói riêng và du lịch

    cả nước nói chung.

    2. Điểm yếu

    Loại hình và sản phẩm du lịch chưa phong phú, chất lượng không đồng đều,

    khả năng cạnh tranh thấp.Việc phát triển du lịch mới ở hình thức khám phá tài nguyên;

    du lịch biển chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch so với những lãnh

    thổ khác trong cả nước; còn tình trạng trùng lặp về sản phẩm du lịch trong vùng và

    giữa các khu vực.

    Thiếu những khu du lịch, sản phẩm du lịch đặc sắc, có tầm cỡ, có sức cạnh

    tranh trong khu vực và quốc tế và tạo đầu tàu làm động lực thúc đẩy du lịch của vùng

    và cả nước phát triển.

    Hiệu quả kinh doanh du lịch chưa cao, khả năng cạnh tranh yếu, còn một số

    biểu hiện cạnh tranh thiếu lành mạnh, đặc biệt ở những khu vực ven biển có nhiều sản

    phẩm du lịch trùng lặp. Công tác marketing, xúc tiến quảng bá du lịch chưa đáp ứng

    yêu cầu của thị trường, phát huy giá trị tài nguyên và sản phẩm du lịch biển và ven

    biển Việt Nam.

    Sản phẩm du lịch và các dịch vụ bao quanh chưa có đồng bộ về tổ chức , và

    3. Cơ hội

    Du lịch biển sẽ đóng góp 10% GDP năm 2011.

    Du lịch biển Việt Nam còn nhiều tiềm ẩn. Hiện nay còn nhiều vùng biển chưa

    phát triển các dịch vụ du lịch. Đây cũng là một điều kiện tốt để quảng bá du lịch biển

    Việt Nam với du khách .

    Hầu hết những nguồn tài nguyên du lịch biển nước ta còn nằm trong dạng

    nguyên sơ chưa được khai thác. Do vậy trong quá trình quy hoạch phát triển, chúng ta

    có thể học hỏi được những bài học kinh nghiệm từ các nước láng giềng để tránh lặp lại

    những sai lầm các nước này đã gặp phải, nhằm khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn

    tài nguyên, bảo đảm môi trường và phát triển bền vững.

    Hiện nay Việt Nam đã gia nhập WTO nên đã có nhiều chính sách mở cửa hỗ

    trợ 1 cách đáng kể cho phát triển du lịch Việt Nam. Các chuyên gia cho rằng nền kinh

    tế Việt Nam đang phát triển rất ổn định.Điều này có thể cho thấy lượng đầu tư từ nước

    ngoài vào Việt Nam đang không ngừng tăng .Trong đó có đầu tư vào du lịch.

    Nhà nước cũng đang có những chiến lược đầu tư phát triển du lịch mạnh mẽ.

    Đây cũng là một động lực thúc đẩy du lịch phát triển, sánh ngang tầm khu vực.

    Lượng khách, thu nhập và GDP du lịch, tỷ trọng dịch vụ du lịch trong thu nhập

    quốc dân tăng hàng năm thúc đẩy các ngành kinh tế, xã hội phát triển, góp phần

    chuyển đổi cơ cấu kinh tế của từng địa phương, vùng và cả nước, tạo thêm nhiều việc

    làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, góp phần xóa đói giảm

    nghèo, trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội, tạo tiền đề đưa du lịch trở thành

    ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương vùng ven biển.

    4. Thách thức

    Du lịch Việt Nam tuy nhiều tiềm năng nhưng chưa phát triển 1 cách chuyên

    nghiệp, còn chưa biết tận dụng các lợi thế. Đây cũng chính là 1 trong những lý do

    khiển Du lịch Viêt Nam vẫn còn thua kém với các nước trong khu vực. Điển hình là

    Thái Lan,Singapore…

    Cơ sở hạ tầng Việt Nam chưa phát triển 1 cách đồng bộ.Đây cũng là 1 thách

    thức lớn với ngành du lịch, trong đó có du lịch biển.

    Du lịch Biển Việt Nam vẫn chưa được đánh giá , đầu tư, phát triển 1 cách triệt

    để.Hiên nay chủ yếu vẫn tập trung vào giao thông đường thủy, khai thác thủy sản và

    khai thác dầu mỏ……..

    Việt Nam còn chưa chú trọng phát triển những dịch vụ đi kèm theo du lịch biển.

    Ví dụ như : Kiến trúc sư Nejiat Atay đến từ Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng do chưa khai thác

    được tiềm năng nên chỉ mới tính riêng cho các môn thể thao trên biển, thì VN cũng đã

    mất đi hàng trăm triệu USD mỗi năm.

    Đội ngũ làm du lịch còn yếu kém nhiều so với các nước lân cận như Thái Lan

    và MaLaysia.

    Vấn đề môi trường là 1 thách thức lớn với du lịch biển Việt Nam. Chúng ta phải

    tính đên trường hợp 1 khi ngành du lịch phát triển thì nó cũng kéo theo tính trạng ô

    nhiễm môi trường càng xấu đi. Chính phủ cần có những biện pháp bảo vệ môi trường ,

    và thêm nữa là vấn đề biến đổi khí hậu , trái đất đang ngày 1 nóng lên mực nước biển

    dâng cao sẽ làm mất đi rất nhiều bãi tắm cũng như cảnh quan du lịch của Việt Nam ,

    thêm nữa biến đối khí hậu cũng gây ra các thiên tai bão lụt bất thường cũng ảnh hưởng

    không nhỏ tới các tour du lịch cũng như chất lượng dịch vụ.

    Công tác bảo tồn, tôn tạo tài nguyên và bảo vệ môi trường của hoạt động du

    lịch biển ở vùng ven biển và vùng biển, hải đảo còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến sự

    phát triển bền vững chung ở khu vực này.

    Vấn đề tranh chấp trên Biển Đông cũng là 1 yếu tố khiến du lịch biển chưa phát

    huy được hết tiềm năng của mình.

    Du lịch phát triển trong môi trường nhiều biến động khó lường của tình hình

    thế giới, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt; trình độ phát triển kinh tế của đất nước,

    mức sống của người dân nhìn chung còn thấp so với nhiều nước trong khu vực, ảnh

    hưởng đến việc phát triển thị trường du lịch trong nước và quốc tế.

    II. Phân đoạn thị trường

    Xác định thị trường mục tiêu với phân đoạn thị trường theo nhóm địa lý bởi vì

    do đặc thù mức độ phát triển của các quốc gia nên các quốc gia trong cùng 1 khối có

    thể có cùng mức thu thập và mức sống cao ví dụ khu vực châu Âu tập hợp đa số các

    nước phát triển và khu vực bắc mỹ cũng là nơi tập trung nhóm các nước phát triển nhất

    thế giới họ và họ có mục đích du lịch và khả năng thanh toán; ưu tiên thu hút khách du

    lịch có khả năng chi trả cao, có mục đích du lịch thuần tuý, lưu trú dài ngày sở dĩ có

    được phân đoạn này là do nghiên cứu thông tin khách du lịch của các năm trước đấy,

    tỷ lệ các khách đến từ 2 vùng này là cao, sau đó là xét tiếp đến thị trường chung của

    khu vực, và Việt Nam có khả năng là điểm đến trong chuỗi lịch trình của khách du lịch

    và kết quả lượng khách đến từ 2 vùng này chiếm tỷ lệ lớn và do họ ở vùng các quốc

    gia phát triển nên họ có khả năng chi trả cao và có nhận thức về môi trường.

    Tăng cường khai thác thị trường khách cao cấp đến từ Tây Âu (Pháp, Đức,

    Anh, Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha, Scandinavia), Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) và Đông Âu

    (Nga, Ucraina); mở rộng thị trường mới từ Trung Đông. Vùng ven biển là khu vực thu

    hút phần lớn khách du lịch quốc tế. Đồng thời tăng cường khai thác thị trường nội địa.

    Đặc điểm nhóm khách hang mục tiêu : họ có khả năng chi trả , do họ có mức

    sống cao nên yêu cầu dịch vụ đối với họ cũng khắt khe , họ ưa thích môi trường , cảnh

    quan cũng như ăn uống phải sạch sẽ và an toàn . Sau đó tiếp tục phân đoạn những

    nhóm đối tượng này theo độ tuổi và giới tính , độ tuổi sẽ có 4 đoạn chia : thứ 1 : đối

    tượng trẻ em có độ tuổi dưới 14 , thứ 2 : đối tượng thanh niên có độ tuổi từ 15 đến 30 ,

    thứ 3: là từ 30 đến 50 , thứ 4 : là từ 50 đến về sau.

    Đặc điểm nhóm 1 : nhóm này tiêu dùng dịch vụ phụ thuộc vào bố mẹ , chưa có

    sự độc lập về hành vi tiêu dùng , hơn nữa nếu đi du lịch khả năng đi cùng gia đình là

    cao nên có thể hướng tới các dịch vụ an toàn, vui chơi giải trí , ăn uống không chú ý

    lắm tới chất lượng.

    Đặc điểm nhóm 2 : nhóm này là đối tượng thanh niên có tính độc lập về tiêu

    dùng , ưa thích sự mới lạ nên yêu cầu sự đa dạng trong dịch vụ đi kèm , thích các dịch

    vụ du lịch vui chơi giải trí mang tính mạo hiểm và khám phá hơn 1 chút , có cá tính ,

    có khả năng chi trả tương đối tốt , đã có khả năng đánh giá chất lượng dịch vụ và tính

    hợp lý trong giá cả.

    Đặc điểm nhóm 3 : nhóm đối tượng trung niên có vai trò quyết định trong việc

    chi tiêu , họ thực dụng và lý trí , họ để ý tới chất lượng dịch vụ và rất để ý về sự phù

    hợp của gia cả , nhu cầu của họ thiên về du lịch nghỉ dưỡng , ăn uống , chăm sóc sức

    khỏe , các dịch vụ chất lượng phục vụ cao cấp khác , đặc biệt là phụ nữ trung niên , họ

    rất quan tâm đến sự thực dụng và lợi ích đem lại của dịch vụ , họ cũng chú ý rất nhiều

    đến thái độ của người cung cấp dịch vụ.

    Đặc điểm nhóm 4 : nhóm người cao tuổi ,khi đi du lịch họ thích dịch vụ tiện

    lợi, chăm sóc tận tình , rất chú trọng đến dịch vụ bảo vệ sức khỏe và khó xuất hiện

    hứng thú với các dịch vụ mới.

     Đánh giá : theo phân tích ở trên và đối chiếu với các điểm mạnh điểm yếu

    của du lịch Việt Nam chúng tôi có đánh giá tiềm năng với từng nhóm như sau :

    – Nhóm 1: nhu cầu đơn giản dễ đáp ứng nhưng lại bị phụ thuộc bởi nhóm 3

    – Nhóm 2 :với điều kiện cảnh quan của biển Việt Nam có thể thỏa mãn nhưng

    không thực sự tốt nhất , biển ở Việt Nam sóng nhẹ , để làm 1 địa điểm giải trí cảm giác

    mạnh mang tính phiêu lưu thì cần phải cạnh tranh với rất nhiều nơi khác , mặc dù vậy

    nhóm này yêu cầu chất lượng dịch vụ không quá khắt khe

    – Nhóm 3: đây là nhóm có đặc điểm rất phù hợp với đặc điểm du lịch ở Việt

    Nam với cảnh vật khá nên thơ bà bình yên , phù hợp với du lịch kiểu nghỉ dưỡng chăm

    sóc sức khỏe hay các dịch vụ chất lượng cao khác

    – Nhóm 4: cũng tương đối phù hợp , do đặc điểm dân số ở các nước châu âu

    nên cũng chiếm tỷ lệ cao , khả năng chi trả có hạn hơn người trẻ đang có thu nhập

     Kết luận : chúng tôi nhắm vào nhóm khách hàng thứ 3 , họ có khả năng chi

    trả cao và có yêu cầu cao về chất lượng dịch vụ , như thế đáp ứng đc số lượng ít mà

    doanh thu của ngành vẫn cao , như thế vừa có thể phát triển , vừa có thể bảo vệ được

    môi trường.

    Định vị sản phẩm dịch vụ du lịch:

    Định vị sản phẩm là một bước quan trọng vì nó giúp khách hàng nhận thức

    được sản phẩm dịch vụ du lịch của Việt Nam để nhìn nhận ra nó khác so với các sản

    phẩm dịch vụ khác do đó chúng quyết định đến tính cạnh tranh so với các khu vực

    khác , dựa vào các phân tích ở trên chúng tôi xin đưa ra 3 giai đoạn định vị gồm :

     Phát hiện ra các điểm khác biệt về cảnh quan , dịch vụ và nhân sự : về cảnh

    quan , Việt Nam có bờ biển dài mỗi nơi lại mang đặc điểm khác nhau , nhiều bãi biển

    vẫn chưa được khai thác nên cảnh vật vẫn rất tự nhiên , mộc mạc , yên tĩnh mang nét

    hoang sơ , vùng biển có nhiều dải san hô đẹp và quý hiếm , có nhiều vịnh , đảo nhỏ rất

    đẹp .Về dịch vụ , do đối tượng chúng ta nhắm đến là có khả năng chi trả , nhưng yêu

    cầu về chất lượng là cao nên ngoài việc phải tuân theo quy tắc chặt chẽ trong quy trình

    dịch vụ ra , chúng ta phải kết hợp các yếu tố truyền thống vào trong dịch vụ đó là đưa

    các món ăn ngon truyền thống đặc sắc của từng vùng miền cho du khách thưởng thức ,

    kết hợp các lễ hội đặc trưng của địa phương vào dịch vụ vui chơi của khách ví dụ như

    hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng … lế hội truyền thống của Việt Nam rất phong

    phú đa dạng vì vậy , nếu chúng ta kết hợp thành công thì không những có thể tăng

    được lượng khách du lịch và còn có thể kéo được khách du lịch quay trở lại Việt Nam

    và hơn thế nữa thương hiệu du lịch Việt Nam đã dần được nhận diện trong tâm trí

    khách hàng . Về nhân sự , ngoài thái độ đúng mực lịch sự theo tiểu chuẩn dịch vụ đặt

    ra , chúng ta cũng nên trang bị thêm cho họ các kiến thức để hiểu biết về văn hóa các

    nước để nắm được sở thích hay những điều khách không hài lòng , về cách ứng xử có

    thể thân thiện hơn với khách hàng , thể hiện rằng người Việt Nam rất mến khách và rất

    friendly , đảm bảo sự tin cậy với khách du lịch bằng việc các dịch vụ đúng lịch trình

    và chính xác , nhiệt tình và nhanh chóng xử lý các vấn đề của khách hàng. Về hình ảnh

    , chúng ta nên tạo ra hình ảnh thuần việt nhất có thể ,ví dụ các nhân viên hướng dẫn có

    thể mặc trang phục truyền thống như áo dài , áo bà ba … cách bài trí không gian có thể

    đậm chất đồng quê Việt ,để tao ra hình ảnh thống nhất trong cả quy trình dịch vụ

     Dựa vào các phân tích trên thì việc xây dựng một sảm phẩm dịch vụ du lịch

    chất lượng cao và mang đậm yếu tố truyền thống chính là mục tiêu của chúng tôi , vì

    đặc điểm văn hóa truyền thống của mỗi vùng là khác nhau nên chúng sẽ khó có thể

    đem ra so sánh vì vậy nó là đặc điểm nhận dạng sự khác biệt của du lịch Việt Nam với

    các nước khác

     Tạo ra tín hiệu có hiệu quả để khách hàng mục tiêu có thể phân biệt được

    với đối thủ cạnh tranh.

    1.1. Khách du lịch quốc tế:

    Về lượng khách: Đối với cả nước, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong

    thập kỷ vừa qua, từ năm 1990 đã đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm là 22,5%/năm, mức

    tăng trưởng tương đối cao so với các nước khu vực Đông Nam Á.

    Thị trường khách theo khu vực địa lý: thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt

    Nam rất đa dạng, đến từ nhiều nguồn khác nhau kể từ các thị trường gần đến các thị

    trường xa. Các thị trường khách quốc tế chủ yếu đến Việt Nam bao gồm Tây Âu,

    Đông Bắc Á, Bắc Mỹ, châu Úc và Đông Nam Á.

    Thị trườg khách theo mùa vụ: vùng biển và ven biển Việt Nam thu hút quanh

    năm khách quốc tế. Khách đến vào các tháng 2 là dịp tết Nguyên đán chiếm trung bình

    10% thị phần; tháng 12 và tháng 5 – 9%. Các tháng còn lại chiếm 7 – 8% mỗi tháng.

    Tháng tập trung khách du lịch là mùa hè, tháng 7,8.

    Theo mục đích du lịch: khách quốc tế đến vùng biển và ven biển Việt Nam nói

    riêng và Việt Nam nói chung theo nhiều loại hình du lịch đa dạng: tham quan di tích

    văn hoá, lịch sử cách mạng; tham quan thắng cảnh thiên nhiên; nghỉ dưỡng biển, du

    lịch thương mại và tham dự hội thảo, hội nghị. Một số khác kết hợp thăm người thân

    với tham quan nghỉ dưỡng. Với tốc độ tăng trưởng ổn định vùng biển và ven biển Việt

    Nam tiếp tục là điểm du lịch thu hút khách từ nhiều nơi đến với mục đích nghỉ dưỡng,

    tham quan.

    1.2. Thị trường khách du lịch nội địa:

    Vùng ven biển trong những năm qua đã thu hút tới trên 50% số lượt khách du

    lịch nội địa trong cả nước.

    Các khu du lịch biển có sức hấp dẫn nhiều khách nghỉ dưỡng theo mùa vào dịp

    hè ở phía Bắc và vào mùa khô ở phía Nam; các hoạt động du lịch lễ hội khu vực ven

    biển ngày càng phát triển; các khu, điểm du lịch được đầu tư, phát triển và đưa vào

    khai thác ngày một nhiều, với chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao. Nhu cầu

    của khách nội địa đa dạng, có nhu cầu hưởng thụ các dịch vụ vui chơi giải trí gắn với

    du lịch biển nhiều hơn trước.

    III. Marketing cho du lịch biển

    Marketing du lịch hiện nay đã trở thành một tổng hợp các phương pháp quảng

    cáo du lịch ngày càng hoàn chỉnh để sử dụng vào việc đầu tư và cải tạo những thị

    trường du lịch, đặc biệt những thị trường giàu tiềm năng và sức phát triển như Việt

    Nam. Marketing đã thực sự trở nên cần thiết hơn bao giờ hết để đáp ứng nhu cầu đi du

    lịch của mọi người. Đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào được hoàn chỉnh bao

    quát được toàn bộ ý nghĩa và nội dung của Marketing du lịch.Nhưng chúng tôi xin

    được đưa ra chiến lược dựa vào 7P cơ bản :

    * Product services : như đã phân tích đặc điểm đối tượng khách hàng ở trên

    chung tôi xác định phải thiết kế được một quy trình dịch vụ đồng bộ, chất lượng cao,

    lấy yếu tố con người làm chủ đạo , phục vụ hết sức tận tình và lịch sự theo đúng yêu

    cầu mà quy trình đặt ra , các dịch vụ bao quanh cũng nằm phải tuyệt đối tuân thủ các

    yêu cầu của quy trình để đảm bảo tính đồng bộ và hướng tới sư hài long của khách

    hàng.

    * Price : chúng tôi đưa ra mức giá cao nhưng tập trung vào dịch vụ cơ bản và

    miễn phí các dịch vụ đi kèm ,vì nhóm khách hàng chúng ta nhắn đến có tính thực dụng

    và để ý lợi ích đem lại có xứng đáng với đồng tiền bỏ ra hay không như thế tâm lý

    chung khách hàng sẽ cảm thấy mình bỏ ra món tiền đó là xứng đáng và đạt được sự

    hài lòng khi chi trả.

    * Plece : đây là hoạt động giao tiếp dịch vụ giữa nhân viên cung cấp dịch vụ

    du lịch và khách hàng có thể cuộc tiếp xúc giữa hướng dẫn viên du lịch và khách

    hàng , đây là 1 điểm cực kỳ quan trọng và mang tính quyết định về mức độ hài lòng

    dịch vụ ,nhất là nhóm khách hàng mục tiêu rất coi trọng thái độ của nhân viên cũng

    như chất lượng phục vụ do đó nếu làm tốt có thể giữ chân khách hàng và mang khách

    hàng quay trở lại đây 1 lần nữa , ngược lại nếu không làm tốt thì vừa không giữ chân

    được khách hàng và gây ác cảm và điều này sẽ lan tỏa có thể làm mất đi các khách

    hàng tiềm năng , do đó các nhân viên tiếp xúc trực tiếp cần phải được đào tạo bài bản

    và chuyên nghiệp luôn tuân thủ nguyên tắc ” khách hàng luôn đúng” , “khách hàng là

    thượng đế”…

    * Promotion : phân phối , do chúng ta lựa chọn vùng thị trường châu âu và

    bắc mỹ tương đối xa xôi và tiềm lực có hạn nên phân phối chúng ta nên phân phối gián

    tiếp , có nghĩa là tìm một doanh nghiệp trung gian để phân phối và tât nhiên là chấp

    nhận chia lợi nhuận.

    * People : cá nhân tham gia sản xuất dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ được thực

    hiện bởi những con người có hiệu suất làm việc tốt, ảnh hưởng đến chất lượng của

    dịch vụ.

    * Processes : quá trình dịch vụ đảm bảo các khâu trước , trong và cuối quá

    trình luôn phải có sự tuân thủ , tôn trọng trong quy định của quá trình và đảm bảo chất

    lượng của từng phần trong quá trình dịch vụ du lịch phải luôn luôn đảm bảo.

    * Physical Evidence : nhưng thứ tác động đến uy tín mà khách hàng có thể

    cảm nhận được qua quan sát như trang phục nhân viên , cơ sở hạ tầng , trang thiết bị…

    những thứ này cần liên tục nâng cao ngày càng tốt lên để tạo ấn tượng và lòng tin

    trong tâm trí khách du lịch và cùng với chất lượng khách du lịch nhận được nó góp

    phần tạo nên một định vị tốt trong khách du lịch.

    Để hoạt động quảng bá mang tính hiệu quả cao, du lịch Việt Nam cần thực hiện

    đồng bộ 4 giải pháp cơ bản.

    Thứ nhất là quảng bá du lịch Việt Nam ra thế giới bằng các phương thức quảng

    bá và cung cấp thông tin thông qua cấp lãnh đạo và các cơ quan chuyên trách, thuê

    công ty PR chuyên nghiệp của nước ngoài quảng bá về du lịch Việt Nam.

    Theo đó, một chiến lược quảng bá tổng thể, dài hơn tại các thị trường khách

    trọng điểm, thông tin phải được đưa đến cho du khách một cách đầy đủ, thường xuyên

    và mọi lúc mọi nơi.

    Thứ hai là nhóm giải pháp quảng bá qua các công cụ chính. Quảng bá qua

    Website, E-mail nhằm giới thiệu chung về hình ảnh đất nước, con người, những cảnh

    quan thiên nhiên, phong tục tập quán, lễ hội, sự kiện văn hóa du lịch nổi tiếng, hấp dẫn

    của Việt Nam; kết nối các đoạn chương trình giới thiệu của các doanh nghiệp du lịch,

    trình bày bằng nhiều ngôn ngữ và hình ảnh để khách hàng dễ dàng truy cập, nắm bắt

    thông tin, liên kết với nhau và với các trang Web nổi tiếng như Google, MSN,

    infoseek,… để du khách nước ngoài dễ dàng tìm kiếm.

    Thứ ba là giải pháp quảng bá qua các lễ hội, sự kiện có chọn lọc trong và ngoài

    nước (các sự kiện thể thao lớn của khu vực, thế giới, các hội nghị của lãnh đạo cấp cao

    các nước: ASEM, APEC,…).

    Thứ tư là việc xây dựng thương hiệu Việt Nam qua đó tạo điều kiện quảng bá

    du lịch. Cần phải nhận thức đúng đắn và nắm bắt cơ hội để xây dựng hình ảnh về đất

    nước Việt Nam.

    IV. Một số phương hướng đưa du lịch biển trở nên phát triển hơn

    Trong quá trình phát triển du lịch biển, đã hình thành nếp nghĩ: những nơi này

    chủ yếu dành cho khách sang trọng, khách quốc tế. Quan điểm này không sai, nhưng

    không đủ đối với công nghệ du lịch biển, nhất là khi đặt trong bối cảnh văn hóa Việt.

    Lợi ích từ du lịch biển trước hết phải mang lại cho cộng đồng địa phương và du khách

    trong nước vì họ là chủ của những di sản này, sau đó mới tính đến việc “chiêu đãi”

    khách quốc tế. Biển – vừa là địa điểm tham quan vừa là không gian nghỉ dưỡng, mang

    lại và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng sau những giờ phút lao động mệt nhọc. Vì

    vậy, trong quá trình quy hoạch, bên cạnh chú trọng xây dựng những resort đẳng cấp

    quốc tế (tránh trường hợp diện tích quá nhỏ xây dựng kiểu khách sạn bê tông nhà

    phố…), phần lớn còn lại không gian dành cho sinh hoạt, vui chơi giải trí tập thể.

    Các tuyến điểm du lịch biển Việt Nam nên mạnh dạn chọn hướng đi riêng vừa

    tạo ra sự khác biệt vừa góp phần tạo sự đa dạng du lịch nước nhà. Ví dụ, Vũng Tàu có

    thể mạnh dạn chọn mô hình du lịch biển kết hợp những sự kiện sinh động, nhất là các

    môn thể thao, văn hóa giải trí…; Côn Đảo, đặc biệt Phú Quốc trở thành tuyến điểm du

    lịch biển nghỉ dưỡng cao cấp; Nha Trang, Phan Thiết du lịch kết hợp mua sắm, hội

    nghị hội thảo (MICE); Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Hội An, Quảng Ngãi, Quy

    Nhơn, Ninh Thuận thích hợp mô hình du lịch biển kết hợp tìm hiểu lịch sử, văn hóa

    truyền thống Việt Nam khi có điểm nhấn các di sản được UNESCO công nhận, văn

    hóa Sa Huỳnh, Champa độc đáo.

    Có như thế, mới mong nâng “tầm” biển Việt Nam, đưa biển Việt Nam đạt vị trí

    cao trên bản đồ biển thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Lý Do Bạn Nên Đi Du Lịch Biển Tại Thái Lan
  • Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Ven Biển Sóc Trăng
  • Hấp Dẫn Vẻ Hoang Sơ Của Biển Mỏ Ó Và Hồ Bể
  • Khu Du Lịch Cửa Biển Quy Nhơn
  • Du Lịch Biển Quy Nhơn
  • Tiểu Vùng Du Lịch Duyên Hải Đông Bắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Phát Triển Du Lịch Các Tỉnh Vùng Đông Bắc Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Tìm Hiểu 7 Địa Điểm Du Lịch Gần Hà Nội Và Tphcm Phù Hợp Cho Dịp 30 Tháng 4
  • Tìm Hiểu Về Du Lịch Malaysia
  • Tìm Hiểu Toàn Bộ Kinh Nghiệm Du Lịch Malaysia
  • Tìm Hiểu Bản Đồ Du Lịch Malaysia
  • Tiểu Vùng Du Lịch Duyên Hải Đông Bắc

    GVHD: ThS Lê Thanh Binh

    SVTH: Nhóm 2

    LỚP: CĐĐỊA09B

    Du Lịch Việt Nam

    Phạm Nguyễn Nhựt Trường

    Mai Văn Nghĩa

    Lê Thị Bé Phi

    Đỗ Thị phấn

    Nguyễn Hoàng Kim Ngân

    Võ thị kim Yến

    Nguyễn thị Mai

    Nguyễn thị thảo Xương

    TIỂU VÙNG DUYÊN HẢI ĐÔNG BẮC

    Vị trí địa lí

    Diện tích tự nhiên 67.006 km2 (chiếm hơn 20,24 % diện tích cả nước

    Dân số: 9.543.900 người, chiếm 11,24 % dân số cả nước (2007).

    Bao gồm 11 tỉnh: Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái.

    Vùng Đông Bắc nằm ở cực Bắc của đất nước ở vị trí từ 20049′ đến 23024′ vĩ độ Bắc và từ 103031′ đến 10803′ kinh độ Đông.

    Phía Bắc giáp Đông Nam Trung Quốc, phía Tây giáp vùng Tây Bắc, phía Nam giáp đồng bằng Bắc Bộ, phía Đông giáp biển Đông.

    Biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc có 3 cửa khẩu lớn: Móng Cái, Đồng Đăng, Lào Cai

    1. điều kiện tự nhiên

    1.1. Địa hình

    Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phía Đông thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung

    Phía Tây Bắc cao hơn, với các khối núi đá và dãy núi đá cao

    1.2. Khí hậu

    Nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh giá, ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. chia làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông, có lượng mưa trung bình khá lớn.

    Do địa hình cao, ở phía Bắc, lại có nhiều dãy núi dài chạy song song, nên vào mùa Đông, vùng này có gió Bắc thổi mạnh, nên rất lạnh. Đông Bắc là khu vực có mùa đông lạnh nhất nước ta.

    1.3. Thủy văn

    Nguồn nước ở đây khá dồi dào, chất lượng tương đối tốt. Vùng này có nhiều sông lớn chảy qua như: sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (thuộc hệ thống sông Hồng), sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam (thuộc hệ thống sông Thái Bình), sông Bằng, sông Kỳ Cùng, v.v…

    2.Nhân tố xã hội nhân văn

    2.1. Vài nét về lịch sử, văn hoá và dân tộc

    Vùng Đông Bắc có Phong Châu (Phú Thọ) được coi là “cái nôi” của dân tộc.

    Vùng Đông Bắc còn là căn cứ địa chống Pháp, đuổi Nhật. Những địa danh nổi tiếng đã trở thành di tích cách mạng như căn cứ địa Việt Bắc, hang Pắc Bó, suối Lênin,….

    Đông Bắc có nhiều dân tộc khác nhau: Kinh, Tày, Nùng, Mường, Thái, Cao Lan, Sán Chỉ, Mông… Mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa độc đáo phản ánh tập quán sản xuất và sinh hoạt riêng của mình. Tất cả điều đó đã tạo nên một tổng thể văn hóa đa dạng và phong phú.

    Về cơ cấu dân tộc, đông nhất là người Việt tiếp đến là người Tày, người Nùng người Hoa, người Dao, người H`mông, Sán Chỉ,.v.v

    Người H`mông

    Người Dao

    Dân tộc Tày

    Du lịch về cội nguồn(Phú Thọ,Yên Bái,Lào Cai)

    2.2.Du lịch vùng Đông Bắc

    Nói đến du lịch vùng đông bắc Việt Nam, người ta sẽ nghỉ ngay đến Cao nguyên Đá Đồng Văn ( Hà Giang) và Hồ Ba Bể ( Bắc Cạn) .. những danh thắng nổi tiếng đang được cơ quan UNESCO xem xét công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới. Thế nhưng trước đây hiếm nhà lữ hành nào nghỉ đến việc thiết kế kết nối hai điểm này trở thành tour du lịch liên tuyến do mất nhiều thời gian di chuyển bằng đường bộ. Còn bây giờ, Hà Giang – Tuyên Quang – Bắc Cạn đã được kéo lại gần bởi nhờ con đường thủy lộ trên dòng sông Gâm – sông Năng.

    Một số hình ảnh được ghi lại qua chuyến khào sát từ Bắc Mê – Hà Giang đến Na Hang – Tuyên Quang và hồ Ba Bể – Bắc Cạn do Tổng Cục Du Lịch tổ chức từ 20/ 11 đến 25/ 11/2009.

    Cô gái Pà Thẻn trên hồ Ba Bể

    Trên hồ Ba Bể

    Núi Pác Tạ – ngọn núi cao nhất trong 99 ngọn núi ở Na Hang, Tuyên Quang

    Trên dòng sông Gâm – Tuyên Quang

    Trên thác Đầu Đảng – Bắc Cạn

    ừa

    Ngoài ra còn có một số điểm du lịch hấp dẫn khác :

    Du Lịch Cát Bà

    Du lịch Hạ Long

    Du Lịch Đồ Sơn

    Du Lịch Trà Cổ….

    Du lịch Hạ Long

    Là một thắng cảnh nổi tiếng của vùng Đông Bắc Việt Nam,thuộc tỉnh Quảng Ninh cách Hà Nội 151km về phía đông

    Hạ Long là một vịnh kín trong vùng biển rộng,có diện tích khoảng 1500km,có đường biển khúc khuỷu với bải tắm đẹp và hàng nghìn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là các đảo đá vôi,quần tựu rất tự nhiên…

    Hạ Long có sức hút kì diệu với khách du lịch bởi nó vừa hùng vĩ,vừa duyên dáng,thơ mộng….

    Vịnh Hạ Long

    Du Lịch Cát Bà

    Điểm DL này là toàn bộ khu thắng cảnh trên đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải,thành phố Hải phòng,cách Hà Nội 150km về phía đông

    Cát Bà là một vùng đất trù phú, đã được khai thác lâu đời. ở đây đã phát hiện nhiều di tích khảo cổ thời kì đồ đá mới

    Trên đảo chính Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là một nơi đang được đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái. Phía Đông Nam của đảo có vịnh Lan Hạ, phía Tây Nam có vịnh Cát Gia có một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớn thuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Trên biển xuất hiện nhiều núi đá vôi đẹp tương tự vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều bãi tắm đẹp.

    Đây là một điểm du lịch hấp dẫn đối với du khác có thể hưởng thụ và tận hưởng được một phong cảnh non nước hửu tình vừa tận hưởng được một vườn quốc gia có bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới có hơn 600 loài thực vật, động vật quý với nhiều cây quí hiến

    Con đường độc đạo chạy ven biển và xuyên qua đảo Cát Bà

    Bãi tắm Cát Cò 3

    Cát Bà

    Du lịch Trà Cổ

    Là một trong những bãi tắm đẹp nhất Việt Nam,nằm trên đảo Trà Cổ thuộc huyện Hải Ninh,tỉnh Quảng Ninh.

    Trà Cổ là một bãi biển tự nhiên rất rộng và bằng phẳng nền cát trắng mịn và trắc chảy dài tới 15km. Đây là một bãi tắm rất lý tưởng.

    Điểm du lịch Trà Cổ thích hợp với loại hình du lịch nghỉ ngơi,thể thao kết hợp với tham quan.Hiện nay điểm du lịch này còn sơ khai,cơ sỡ hạ tầng và vật chất kỷ thuật còn nghèo nàn..

    Du lịch Trà Cổ

    Nhà thờ Trà Cổ

    Đình Trà Cổ dưới vòm cây cổ kính

    Biển Trà Cổ trong ráng chiều vàng rực

    Điểm du lịch Đồ Sơn

    Là bãi biển có nhiều phong cảnh tự nhiên đẹp nằm trên bán đảo Đồ sơn thuộc huyện Đồ Sơn ngoại thành Hải phòng,cách Hà Nội 120km.

    Với đặc thù về địa hình núi rồng uốn, khu du lịch Đồ Sơn nổi tiếng với những phong cảnh sơn thủy tình hữu, được chia thành ba khu riêng biệt. Điều hay nhất là cả ba khu vực đều có nhiều di tích lịch sử giá trị, các dịch vụ du lịch hấp dẫn nên thơ, hệ thống đường giao thông hiện đại thông suốt, bãi tắm trải dài ôm mép biển. Nhiều gia đình hay đoàn du khách vẫn chọn Đồ Sơn là số một, để hò hẹn và thuởng thức các dịch vụ nên thơ nơi đây khi đến Đồ Sơn

    Ở đây thích hợp với loại hình du lịch nghỉ mát,hội thảo,thể thao để có thể tận dụng khai thác dịch vụ du lịch quanh năm

    Điểm du lịch Đồ Sơn

    Các lễ hội truyền thống

    ( tiêu biểu )

    Lễ hội đâm trâu

    Đâm trâu là lễ hội đặc sắc trong văn hóa người Tây Nguyên, thường được tổ chức nhằm tạ ơn Yang ( Thần linh ) nhân dịp mừng lúa mới hay khánh thành nhà Rông hoặc mừng chiến thắng.

    Lễ hội Đâm Trâu mừng chiến thắng đã được tái hiện bởi hơn 130 nghệ nhân người Banar được xem là một trong những hoạt động sôi nổi, độc đáo mà khách du lịch mong đợi nhất vì nó thể hiện được tinh thần thượng võ, sức mạnh và niềm kiêu hảnh của người Tây Nguyên.

    Trống Tây Nguyên trong lễ hội Đâm Trâu

    Cồng, chiên, trống trong lễ hội Đâm Trâu

    Các cô Sơn Nữ múa xòe cùng đoàn cồng chiên

    Biểu tượng sức mạnh

    Đón rước thần linh

    Chuẩn bị Đâm Trâu

    3.Cơ sỡ vật chất – kỷ thuật

    3.1. Hệ thống đô thị

    Gồm 7 thành phố, 10 thị xã và 112 thị trấn.

    3.2. Các tuyến trục giao thông và cảng biển

    – Hệ thống đường ô tô:

    Hệ thống đường bộ với tổng chiều dài chạy qua vùng Đông Bắc là 44.250 km, mật độ 66 km/km2.

    – Hệ thống đường sắt:

    Tuyến Hà Nội – Đồng Đăng dài 163 km nối với ga Bằng Tường Tuyến Hà Nội -Lào Cai,

    Tuyến Hà Nội – Quán Triều dài 76 km,

    Tuyến kép -Uông Bí 74 km và kéo dài tới Bãi Cháy.

    – Vùng Đông Bắc còn có một số cảng biển thuộc nhóm cảng phía Bắc:

    Cảng Cửa Ông là cảng chuyên dùng ở vịnh Bắc Bộ, với chức năng xuất than đá.

    Cảng Cái Lân với chức năng tổng hợp. Cảng có mực nước sâu (3 – 13 m), nằm cạnh cảng than Hồng Gai, với một lòng lạch dài 6 km, rộng 100 m, sâu 7,5 m và tàu trọng tải lớn có thể cập cảng.

    Thực Trạng Du Lịch Của Vùng

    Các sản phẩm du lịch không có sự đa dạng.

    việc khai thác và phát triển còn trong tình trạng ” mạnh ai nấy làm “.Chưa có sự liên kết.

    Chưa có những chương trình quảng bá,xúc tiến hình ảnh,thương hiệu du lịch của vùng.

    Chưa có sự trao đổi những kinh nghiệm….

    Giải pháp phát triển du lịch của vùng

    Để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng của suy giảm tài chính, suy giảm toàn cầu. giảm thiểu những thiệt hại kinh tế

    Do lượng khách du lịch suy giảm, ngành du lịch đã phối hợp với các địa phương, bộ ngành triển khai khá hiệu quả nhiều biện pháp, nhất là chiến dịch “Ấn tượng vùng” nhằm kích cầu du lịch

    GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH

    -Về phía các doanh nghiệp phải đầu tư phát triển các loại hình du lịch.Nâng cao sức cạnh tranh

    – Nhà nước cần đầu tư mạnh hơn cho việc phát triển hạ tầng du lịch

    – Có các quy hoạch rõ ràng về đất đai, diện tích dành cho du lịch

    – Có sự đầu tư nguồn nhân lực cho du lịch vùng…

    GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH

    7 giải pháp kích cầu tăng trưởng du lịch

    – Quảng bá cho sản phẩm du lịch quốc gia

    – Chính sách thuế cho các doanh nghiệp du lịch

    – Thúc đẩy du lịch đa phương

    – Xúc tiến có trọng điểm

    – Tăng cường quảng bá trên mạng internet

    – Đầu tư chiều sâu cho nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng du lịch.

    KẾT LUẬN

    Việc phát triển du lịch của vùng, trong tương lai sẽ tạo nhiều cơ hội phát triển cho người dân địa phưong.

    Đây là vùng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch biển,với nhiều bãi tắm đẹp

    Là vùng có hệ thống cảnh quan nghỉ dưỡng ven biễn.

    Thiên nhiên ở vùng này rất đặc sắc,càng trở nên giàu đẹp nhờ bàn tay khai phá của con người…

    Bài Báo Cáo Đến Đây Là Hết

    XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN

    --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Tips Tiết Kiệm Tiền Khi Du Lịch Châu Âu
  • Những Mẹo Tiết Kiệm Tiền Khi Du Lịch Châu Âu
  • Mẹo Tiết Kiệm Tiền Khi Du Lịch Châu Âu 2022
  • Những Cách Tiết Kiệm Chi Phí Khi Du Lịch Singapore Bạn Nên Biết
  • Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Tỉnh Bà Rịa
  • 7 Vùng Du Lịch Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chọn Máy Ảnh Du Lịch Canon Phù Hợp Cho Bạn
  • Cách Chụp Ảnh Khi Đi Du Lịch Đẹp Thần Thánh Với 13 Tuyệt Chiêu Cực Độc
  • 5 Cách Chụp Ảnh Ngoài Trời Đẹp Khi Đi Du Lịch
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Bụi Phú Quốc Tiết Kiệm Nhất
  • Kinh Nghiệm Du Lịch Côn Đảo Cho Người Đi Lần Đầu
  • Vùng du lịch là các tiêu chí được đặt ra nhằm phân loại các khu vực nhằm phát triển du lịch dựa trên những đặc điểm tương đồng về tuyến hay điểm du lịch trong khu vực đó. Trước đây các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong ngành du lịch phân ra 3 vùng. Tuy nhiên để có thể phát triển sâu rộng và tối ưu hơn trong việc quản lí, Việt Nam nay đã được chia ra làm 7 vùng du lịch với chiến lược phát triển tới năm 2022.

    Các tiêu chí để phân loại vùng du lịch

    • Loại hình sản phẩn
    • Điều kiện môi trường tự nhiên
    • Điều kiện môi trường nhân văn
    • Định hướng phát triển kinh tế – xã hội
    • Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

    7 Vùng du lịch – 24 trọng điểm du lịch

    Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030″ ngày 22/1/2013 xác định rõ Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trung tâm du lịch như sau:

    Bao gồm 14 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang.

    Vùng này có 5 trọng điểm du lịch là:

    1. Sơn La – Điện Biên: gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.
    2. Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.
    3. Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.
    4. Thái Nguyên – Lạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.
    5. Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang…

    Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc

    Gồm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh,

    Gồm 3 trọng điểm du lịch là:

    1. Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.
    2. Quảng Ninh – Hải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long – Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.
    3. Ninh Bình gắn với Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc – Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.

    Vùng Bắc Trung Bộ

    Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.

    Vùng này có 4 địa bàn trọng điểm du lịch là:

    1. Thanh Hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.
    2. Nam Nghệ An – Bắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng – sông Lam, Xuân Thành…
    3. Quảng Bình – Quảng Trị gắn với Phong Nha – Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng – Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.
    4. Thừa Thiên Huế

    Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

    Gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

    1. Đà Nẵng – Quảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…
    2. Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…
    3. Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…

    Vùng Tây Nguyên

    Gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch là:

    1. Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia – Suối Vàng.
    2. Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
    3. Gia Lai – Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.

    Vùng Đông Nam Bộ

    Gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch:

    1. Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.
    2. Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.
    3. Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.

    Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

    Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Vùng này có 4 trọng điểm du lịch:

    1. Tiền Giang – Bến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.
    2. Cần Thơ – Kiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.
    3. Đồng Tháp – An Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.
    4. Cà Mau gắn với U Minh – Năm Căn – mũi Cà Mau.

    Chiến lược phát triển các vùng du lịch

    Định hướng phát triển 7 vùng du lịch

    • Vùng Trung du miền núi phía Bắc phát triển theo hướng du lịch sinh thái và tìm hiểu văn hóa các dân tộc thiểu số
    • Vùng đồng bằng Sông Hồng và duyên hải Đông Bắc gắn liền với các sản phẩm là di sản thiên nhiên thế giới và nền văn minh sông Hồng
    • Vùng Bắc Trung Bộ tập trung phát triển sản phẩm du lịch là di sản thiên nhiên, di sản văn hóa thế giới, di tích lịch sử cách mạng Việt Nam
    • Vùng duyên hải Nam Trung Bộ gắn liền với du lịch biển đảo
    • Vùng Tây Nguyên sẽ tập trung phát triển và khai thác du lịch văn hóa Tây Nguyên và sinh thái cao nguyên đất đỏ
    • Vùng Đông Nam Bộ gắn với du lịch MICE, du lịch đô thị, tìm hiểu lịch sử cách mạng Việt Nam
    • Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long gắn với du lịch sông nước, miệt vườn

    Với những định hướng phát triển dựa trên lợi thế, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, dân cư có sẵn. Mục đích được đặt ra chính là định vị thương hiệu du lịch Việt Nam trên trường quốc tế, phát triển du lịch bền vững, có giá trị gia tăng cao, đảm bảo được cảnh quan, văn hóa, môi trường, bản sắc. Tầm nhìn đến năm 2030 sẽ hoàn thành 4 dòng sản phẩm du lịch, có thương hiệu và sức cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á cũng như trên quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Nét Đặc Trưng Của 7 Vùng Du Lịch Việt Nam
  • “liên Kết Phát Triển Du Lịch Tây Nguyên Và Nam Trung Bộ” Tiếp Theo 5
  • Sơ Đồ Tuyến Điểm Du Lịch Miền Bắc
  • Tour Du Lịch Từ Đà Lạt Đi Đà Nẵng Bằng Máy Bay Hội An
  • Những Con Số Biết Nói Về Cuộc Đời Sự Nghiệp Của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp
  • Liên Kết Vùng Trong Phát Triển Du Lịch Các Tỉnh Tây Bắc Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Khảo Sát, Kết Nối Du Lịch Các Tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia Lai) Với 02 Tỉnh Thanh Hóa
  • Du Lịch Các Tỉnh Tây Nguyên: Khi Nào Mới Liên Kết, Phát Huy Để Phát Triển?
  • Ứng Dụng Cntt::hướng Đi Đúng Của Ngành Du Lịch Ở Các Tỉnh Tây Nguyên
  • Ghé Thăm Vườn Trái Cây Cái Mơn
  • Vườn Trái Cây Cái Mơn
  • Thứ hai, 26 Tháng 8 2022 09:32

    (LLCT) – Liên kết vùng để tạo các sản phẩm du lịch đặc thù và độc đáo nhằm thu hút du khách đã và đang được triển khai tại nhiều nơi trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Đối với vùng Tây Bắc, liên kết đang là xu hướng tốt, được nhiều địa phương tích cực tham gia để phát triển du lịch, một số mô hình liên kết đã cho kết quả bước đầu. Bài viết này nhằm đưa ra một số gợi ý về chính sách liên kết vùng để phát triển du lịch vùng Tây Bắc trên cơ sở phân tích những kết quả đã đạt được cũng như hạn chế cần khắc phục của hoạt động này thời gian qua của các tỉnh Tây Bắc.

    Ngày nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, theo Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế, doanh thu từ kinh tế du lịch đã vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp. Tại nhiều quốc gia, du lịch là một trong ba ngành kinh tế hàng đầu. Du lịch không còn là vấn đề của riêng một vùng hay một quốc gia, mà nó đã trở thành vấn đề toàn cầu. Nhiều nước đã dùng tiêu chí du lịch như một tiêu chí để đánh giá sự phát triển kinh tế cũng như đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân quốc gia mình. Du lịch đối với mỗi quốc gia là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất trong các hoạt động thu ngoại tệ.

    Trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, xu hướng liên kết là một quy luật tất yếu của sự phát triển. Liên kết chính là phương châm cho sự phát triển du lịch trong giai đoạn tới nhằm đón đầu xu hướng thế giới dịch chuyển nguồn khách du lịch từ châu Âu sang châu Á. Liên kết vùng để tạo các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù và độc đáo nhằm thu hút sự quan tâm của du khách đã và đang được tiến hành triển khai tại nhiều nơi trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Việc liên kết vùng khiến sản phẩm du lịch có thể tận dụng được nhiều thế mạnh, nâng cao tính cạnh tranh và có độ bền vững cao. Liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch góp phần tạo ra lợi thế về quy mô, tiết kiệm các chi phí trong quảng bá, tổ chức các tour du lịch, cũng như đầu tư kết cấu hạ tầng, chi phí đào tạo…; hạn chế tính cạnh tranh giữa các địa phương trong vùng có sản phẩm du lịch giống nhau; tăng giá trị gia tăng cho các sản phẩm du lịch. Tuy nhiên, việc liên kết vùng trong du lịch yêu cầu các thành phần liên kết cần thuận lợi về không gian lãnh thổ và điểm tương đồng về tài nguyên để có thể phát huy điểm mạnh và tận dụng tối đa các tài nguyên du lịch cũng như cơ sở vật chất đáp ứng cho sản phẩm du lịch.

    1. Một số mô hình liên kết phát triển du lịch của vùng Tây Bắc

    Vùng Tây Bắc Việt Nam là một địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, chiếm 1/3 diện tích cả nước với hơn 10 triệu dân. Tây Bắc được thiên nhiên ban tặng một vẻ đẹp hùng vĩ, độc đáo về địa hình, khí hậu, địa chất, cảnh quan và hệ sinh thái có giá trị và sức hấp dẫn du lịch, với nhiều phong cảnh đẹp như: Cao nguyên đá Đồng Văn, Mù Căng Chải, đỉnh Phansipan, đèo Mã Pì Lèng, đèo Pha đin, hồ Pá Khoang, hồ sông Đà, Thác Bà, Na Hang, Núi Cốc, Thác Bản Giốc, hang Pắc Pó, động Ngườm Ngao… Những vườn quốc gia có giá trị như: Hoàng Liên, Ba Bể, Xuân Sơn, Pù Mát… và nơi có các nguồn khoáng nóng như: Kim Bôi, Thanh Thủy, Mỹ Lâm, Uva…; các vùng khí hậu ôn hòa như Sapa, Mộc Châu, Mẫu Sơn, Sìn Hồ… cùng nền văn hóa đa sắc màu với vốn ẩm thực độc đáo. Tây Bắc còn gắn với những giá trị về lịch sử dựng nước và giữ nước như: di tích Đền Hùng, bãi đá cổ Sa Pa, Xín Mần, Điện Biên Phủ, Chiến khu Tân Trào, An toàn khu Định Hóa, Bắc Mê…

    Mục tiêu phát triển du lịch Tây Bắc đó là trở thành vùng du lịch đặc trưng, là điểm đến có thương hiệu với những giá trị trải nghiệm đặc sắc về văn hóa, lịch sử và sinh thái cảnh quan hùng vĩ, đóng góp quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế – xã hội của cả vùng. Mục tiêu đến năm 2022, Tây Bắc sẽ đón 2,3 triệu lượt khách quốc tế, 14 triệu lượt khách nội địa, với 1.900 cơ sở lưu trú và 40.000 buồng lưu trú; tổng thu du lịch đạt 22.000 tỷ đồng(1).

    Đối với vùng Tây Bắc, liên kết đang là xu hướng tốt, được nhiều địa phương tích cực tham gia để phát triển du lịch, một số mô hình liên kết đã cho kết quả bước đầu. Việc đẩy mạnh liên kết hợp tác sẽ tạo điều kiện cho du lịch Tây Bắc phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng, trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của mỗi địa phương. Thí dụ, mô hình liên kết giữa 3 tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ trong chương trình “Du lịch về cội nguồn”. Theo Ban tổ chức, kể từ khi xây dựng sản phẩm “Du lịch về cội nguồn”, diện mạo kinh tế, xã hội và văn hóa của 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Phú Thọ đã có nhiều thay đổi. Nếu như trước đây, du khách không thể tìm thấy khách sạn hạng sang tại Nghĩa Lộ (Yên Bái) hay Sapa (Lào Cai) thì nay nhiều khách sạn cao cấp mọc lên. Trên địa bàn 3 tỉnh đã có gần 1.000 cơ sở lưu trú, trong đó hơn 100 cơ sở từ 1 đến 4 sao, trên 500 khách sạn và 260 nhà hàng phục vụ du khách.

    Bên cạnh đó, các sản phẩm du lịch đặc trưng phát triển nhờ việc kết nối các tour, tuyến, điểm du lịch, như “Cội nguồn đất Tổ”, “Đất ngọc Lục Yên”, “Cội nguồn Tây Bắc”, “Sắc màu vùng cao” đã thu hút du khách. Du khách được tìm hiểu phong tục tập quán, các lễ hội truyền thống, thưởng thức những món đặc sản dân tộc độc đáo, khám phá hang động tại vùng cao Tây Bắc.

    Chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ VI, năm 2014 là sự kiện lớn có quy mô cấp vùng với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú nhằm thúc đẩy tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về miền đất, con người, tiềm năng văn hóa, du lịch của 6 tỉnh vùng chiến khu Việt Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Trên cơ sở đó tăng cường mối quan hệ giao lưu, hợp tác giữa các tỉnh, đồng thời thu hút các nhà đầu tư đến liên kết, khai thác tiềm năng phát triển du lịch và thu hút khách du lịch đến với Việt Bắc ngày càng tăng.

    2. Những hạn chế trong phát triển du lịch của vùng Tây Bắc

    Có thể thấy, tiềm năng về tài nguyên du lịch của Tây Bắc rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên đến nay đây vẫn là vùng trũng trong phát triển du lịch, vẫn chưa khai thác hiệu quả và phát triển bền vững, chưa phát triển xứng tầm cả về quy mô và tính chất của vùng, sức cạnh tranh kém so với các vùng du lịch khác trong cả nước. Thực tế cho thấy, Tây Bắc là địa bàn phát triển muộn hơn, đồng thời cũng là vùng có nhiều khó khăn nhất so với các vùng khác trên cả nước, nên số lượng khách du lịch đến vùng còn hạn chế. Hiệu quả kinh tế du lịch còn khiêm tốn, chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế địa phương. Tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành du lịch Tây Bắc chỉ khoảng trên 10%, thấp hơn so với mức bình quân chung cả nước. Theo thống kê, lượng khách du lịch đến Tây Bắc hàng năm chỉ chiếm khoảng 7% lưu lượng khách cả nước, mặc dù số lượng du khách đã tăng dần theo từng năm, nhưng vẫn còn thấp so với các vùng khác. Năm 2013, khách du lịch quốc tế đến Tây Bắc chỉ khoảng 1,23 triệu lượt người (chiếm 16% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam) và tổng doanh thu du lịch của cả vùng chỉ chiếm 3,6% tổng thu du lịch cả nước. Thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2022, số khách du lịch quốc tế đến Tây Bắc là 1,6 triệu lượt so với con số hơn 7,9 triệu lượt khách quốc tế của cả nước(4). Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo chương trình hợp tác phát triển du lịch 8 tỉnh Tây Bắc, điều kiện hạ tầng còn nhiều khó khăn, hoạt động du lịch còn manh mún, nhỏ lẻ, sản phẩm du lịch còn đơn sơ, rời rạc, chất lượng chưa cao, chưa có thương hiệu thu hút thị trường trong và ngoài nước; nhân lực ngành du lịch còn thiếu và yếu, phần lớn chưa qua đào tạo sâu về chuyên môn nghiệp vụ. Về loại hình du lịch cộng đồng, chưa quy hoạch một cách khoa học, bài bản, nhiều điểm ở Tây Bắc sản phẩm tương tự nhau, chưa xây dựng được các khu du lịch sinh thái.

    Trong thời gian qua, việc khai thác du lịch nói chung và tài nguyên du lịch tự nhiên nói riêng ở Tây Bắc còn nhiều bất cập. Các tài nguyên tự nhiên như các hang động, hồ, sông, suối khoáng và các khu rừng nguyên sinh… đang được khai thác chưa bền vững. Hiện tại các vấn đề môi trường ở các tỉnh Tây Bắc do hoạt động du lịch chưa đến mức quá ngưỡng, tuy nhiên, các vấn đề môi trường nảy sinh từ các hoạt động khác cũng ảnh hưởng đến du lịch như vấn đề thiếu nước mùa khô, vấn đề rác thải không được xử lý, diện tích rừng, đặc biệt rừng nguyên sinh ngày càng bị thu hẹp, đa dạng sinh học suy giảm, thiên tai làm cản trở việc tiếp cận các điểm du lịch,… Sự gia tăng du khách cũng gây ra hiện tượng quá tải chất thải tại một số điểm du lịch, dẫn đến hiện tượng suy thoái môi trường.

    Những kết quả trong hợp tác quốc tế còn khiêm tốn so với tiềm năng và triển vọng phát triển của vùng bởi những trở ngại, thách thức do cả khách quan và chủ quan mang lại, như: điều kiện giao thông cách trở, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn nhiều yếu kém, nguồn lực hạn chế, năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ địa phương còn chưa đáp ứng yêu cầu quá trình hội nhập, toàn cầu hóa.

    Liên kết phát triển du lịch ở vùng Tây Bắc hầu như mới chỉ dừng lại ở hình thức, trao đổi kinh nghiệm, chưa huy động được nguồn lực và khuyến khích sáng tạo để đầu tư, hiệu quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Chưa phát huy lợi thế riêng có của vùng đó là du lịch cộng đồng đặc trưng gắn với văn hóa dân tộc và các điểm du lịch đặc thù, như du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh; du lịch cộng đồng gắn với di tích lịch sử… Mặt khác, các hoạt động hợp tác trong liên kết phát triển du lịch vùng Tây Bắc vẫn thiếu sự tư vấn của các chuyên gia; các doanh nghiệp du lịch lớn chưa thực sự vào cuộc để chung tay với khối cơ quan quản lý nhà nước trong phát triển du lịch và dịch vụ. Các sản phẩm du lịch chưa thực sự phong phú và mang đậm bản sắc các dân tộc Tây Bắc. Cơ chế hợp tác giữa 8 tỉnh chưa thể hiện rõ sự ràng buộc trách nhiệm của các tỉnh trong việc tham gia vào các hoạt động chung, dẫn đến kết quả triển khai các hoạt động chưa cao. Bên cạnh đó, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch tại các vùng giáp danh giữa các tỉnh chưa được quan tâm, ảnh hưởng đến việc liên kết tổ chức các tuyến du lịch trong khu vực(5).

    3. Một số gợi ý về giải pháp tăng cường liên kết vùng trong phát triển du lịch Tây Bắc thời gian tới

    Thứ nhất, xây dựng được cơ chế liên kết hiệu quả.

    Tây Bắc là vùng rộng lớn với địa hình hiểm trở, khó có điều kiện để liên kết phát triển du lịch toàn vùng. Muốn liên kết phát triển du lịch về không gian phải có sự kết nối của các tuyến đường giao thông thuận lợi, về thời gian phải có sự thống nhất tương đồng. Tuy nhiên, vùng Tây Bắc có nhiều loại hình tiểu vùng khác nhau và được kết nối bởi các tuyến đường giao thông tương đối thuận tiện cho phát triển tuyến du lịch. Để du lịch vùng Tây Bắc phát triển cần xác định liên kết nhiều cấp độ.

    Đối với liên kết theo cấp độ tiểu vùng: các tỉnh miền núi phía bắc do đặc điểm địa hình, giao thông, kinh tế, xã hội đã hình thành một số tiểu vùng như sông Đà (4 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình), sông Hồng (Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ), sông Lô (Hà Giang, Tuyên Quang), tiểu vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn. Mỗi tiểu vùng đều có tuyến đường giao thông huyết mạch chạy qua như đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, quốc lộ 6 (Hòa Bình – Sơn La – Điện Biên), quốc lộ 2 (Hà Giang – Tuyên Quang), quốc lộ 4 (Cao Bằng – Lạng Sơn)… Ngoài ra, còn các tuyến đường giao thông khác như đường Hồ Chí Minh, 32, 279… các tuyến đường này trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng để xây dựng tuyến du lịch liên kết. Bộ máy quản lý của tiểu vùng cần được xây dựng gồm có Chủ tịch tỉnh, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Chủ tịch hiệp hội các doanh nghiệp du lịch, lãnh đạo phòng nghiệp vụ du lịch… với nhiệm vụ là đề xuất các phối hợp liên kết về du lịch trong thời gian hàng năm và 5 năm. Đồng thời lãnh đạo tiểu vùng còn định hướng những giải pháp, tổ chức thực hiện các đề án, dự án phát triển du lịch mang tính chất liên vùng.

    Cùng với liên kết nội vùng, các tỉnh Tây Bắc còn cần phải liên kết với những địa phương trọng điểm du lịch như Hà Nội, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và liên kết phát triển du lịch qua biên giới thu hút khách du lịch từ Trung Quốc, Lào, nhất là các địa phương có cửa khẩu quốc tế là Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên. Hệ thống doanh nghiệp làm du lịch ở các tỉnh Tây Bắc còn ít và chủ yếu quy mô nhỏ nên bên cạnh việc tự nâng cao năng lực thì yếu tố liên kết có ý nghĩa rất quan trọng để tận dụng thế mạnh của nhau về thông tin, sản phẩm, quảng bá…

    Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, khối hợp tác phát triển du lịch 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng với sự quan tâm của Trung ương, sự chủ động sáng tạo của các địa phương trong vùng, sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức như Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), Dự án EU… đã thu được những kết quả rất tích cực: góp phần phát triển du lịch bền vững, giảm nghèo cho các cộng đồng được hỗ trợ trực tiếp từ phát triển du lịch; hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và nhân lực du lịch tại các địa phương 8 tỉnh; xây dựng những sản phẩm du lịch đặc thù, độc đáo, không trùng lặp ở các địa phương… mang lại những hiệu quả thiết thực góp phần vào sự thúc đẩy phát triển du lịch vùng và của từng địa phương.

    Thứ hai, các tỉnh liên kết nghiên cứu xây dựng các thương hiệu và các sản phẩm du lịch mang bản sắc của mỗi vùng, mỗi địa phương.

    Thực tiễn ở nhiều vùng, sự liên kết du lịch khó hiệu quả vì các địa phương đều có các sản phẩm du lịch na ná nhau, thí dụ cùng thưởng thức ẩm thực Thái, ngủ nhà sàn Thái, mua thổ cẩm của người Thái… Nhưng khi triển khai kế hoạch liên kết, mỗi tỉnh cần lựa chọn những nét đặc thù của địa phương, bước đầu quảng bá và tạo sản phẩm du lịch. Tuy cùng là cao nguyên, cùng là loại hình du lịch sinh thái núi nhưng các hoạt động du lịch của Mộc Châu khác hẳn với Sa Pa và cũng không giống với cao nguyên đá Đồng Văn. Mỗi tỉnh tìm ra lợi thế riêng, tạo sản phẩm riêng về du lịch là vấn đề quan trọng để phát huy thế mạnh của liên kết vùng.

    Thứ ba, cần coi trọng vấn đề quảng bá, xúc tiến du lịch.

    Trước đây, quảng bá du lịch ở Tây Bắc theo hướng tự phát ở mỗi địa phương, nhưng từ khi thực hiện liên kết, được sự giúp đỡ của các chuyên gia SNV và dự án EU, 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng đã nghiên cứu xây dựng logo, trang website riêng bằng tiếng Việt và tiếng Anh và tổ chức tham gia nhiều hội chợ quốc tế… Nhờ quảng bá chung nên các tỉnh đã tạo ra hiệu quả trong công tác quảng bá, xúc tiến. Bên cạnh đó, các tỉnh trong vùng cần chú trọng đầu tư cho công tác nghiên cứu thị trường, thực hiện các chương trình xúc tiến điểm đến chung Tây Bắc tại các sự kiện, hội chợ chuyên ngành trong nước và quốc tế; tổ chức các sự kiện, diễn đàn phát triển du lịch Tây Bắc gắn với thu hút thị trường khách từ Hà Nội, vùng đồng bằng sông Hồng, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… Các tỉnh trong vùng Tây Bắc cần có chính sách ưu đãi nhằm tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao, trong đó tập trung phát triển kỹ năng nghề, nâng cao nhận thức về du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm; bố trí nguồn vốn để thực hiện các dự án phát triển giao thông có tính chất động lực phát triển vùng nhằm tạo sự liên kết về không gian giữa các điểm du lịch quan trọng trên địa bàn miền núi phía Bắc…

    Thứ tư, đầu tư nghiên cứu quy hoạch vùng và quy hoạch các điểm, tuyến du lịch của mỗi tỉnh và toàn vùng, từ đó tìm ra vẻ đẹp, bản sắc riêng của mỗi địa phương để xây dựng thế mạnh liên kết.

    Vùng Tây Bắc có 30 dân tộc sinh sống, khi xây dựng các điểm du lịch cộng đồng, mỗi tỉnh cần lựa chọn một dân tộc có bản sắc riêng để xây dựng. Các điểm du lịch cộng đồng này cần được quy hoạch thống nhất, không xây dựng tràn lan, tránh sự trùng lặp về sản phẩm du lịch. Trước mắt, các tỉnh Tây Bắc cần nghiên cứu, xây dựng những khu du lịch trọng điểm mang sắc thái riêng của từng tỉnh như Sa Pa (Lào Cai), cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), hồ Ba Bể (Bắc Cạn)… Trong mỗi khu du lịch cần phát huy tài nguyên du lịch riêng, sắc thái riêng của từng địa phương để xây dựng các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận số 4-2019

    (1) https://www.thiennhien.net/2014/05/07/du-lich-vung-tay-bac-day-manh-lien-ket-de-phat-trien.

    (2) http://www.baovanhoa.vn/du-lich/artmid/ 416/articleid/1898/hợp-t225c-ph225t-triển-du-lịch-8-tỉnh-tây-bắc-mở-rộng-năm-2018-tập-trung-xây-dựng-sản-phẩm-đặc-thù.

    (3) http://www.tourdulichsapa.vn/103 tin-du-lich-sapa/1011_khoi-sac-du-lich-tay-bac-tu-mo-hinh-lien-ket-phat-trien-du-lich.html.

    (4) https://congthuong.vn/tay-bac-huong-toi-vung -du-lich-dac-trung-68228.html.

    (5) http://www.tourdulichsapa.vn/103_tin-du-lich-sapa/1011_khoi-sac-du-lich-tay-bac-tu-mo-hinh-lien-ket-phat-trien-du-lich.html.

    TS Hoàng Ngọc Hải

    Học viện Chính trị khu vực I

    TS Hồ Thanh Thủy

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Liên Kết Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Các Tỉnh Tây Bắc
  • Các Điểm Du Lịch Quanh Hà Nội Trong Bán Kính 80Km Đi Về Trong Ngày
  • “đi Trốn Với Anh” 15 Điểm Du Lịch Quanh Hà Nội 200Km Cực Lãng Mạn!
  • Miền Nam Có Bao Nhiêu Tỉnh Thành
  • Rét Đậm, Băng Tuyết Bao Phủ Các Tỉnh Miền Bắc
  • 3 Vùng Du Lịch Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Du Lịch Uy Tín Đà Nẵng
  • Những Tip Nhỏ Cần Lưu Ý Trước Khi Đi Du Lịch Lào
  • ​du Lịch Nha Trang Có Gì Hay?
  • Đi Du Lịch Nhật Bản Cần Bao Nhiêu Tiền, Chi Phí Đi Tự Túc?
  • Cẩm Nang Du Lịch Chùa Hương Mùa Thu Tự Túc Chi Tiết Nhất
  • Việt Nam là một đất nước xinh đẹp khá thu hút với các du khách nước ngoải đến với đất nước chúng ta. Việt Nam được chia ra làm ba vùng miền chính và mỗi vùng có một vẻ đẹp riêng thu hút rất nhiều du khách tới du lịch tham quan, cảnh sắc thiên nhiên không chỉ thu hút với các khách nước ngoài mà người dân của đất nước chúng ta cũng có các địa danh để chúng ta du lịch và nghỉ dưỡng vào các dịp lễ lớn.

    1. Du lịch miền bắc

    Khi nhắc tới miền bắc các bạn sẽ liên tưởng ngay tới các khu du lịch nằm trên các dãy núi cao, địa hình cao hiểm trở, các bản làng người dân tộc thân thiện, cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ và rất thiên nhiên nhưng rất cuốn hút. Hay với thủ đô Hà Nội, Sơn La, cao bằng, thanh hóa, bắc Ninh,…Tất cả các tỉnh thành nằm ở phía bắc nước ta có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và thu hút, có nhiều nét đẹp mang đậm chất người xưa được lưu truyền lại. Khi đi du lịch tại miền bắc các bạn sẽ cảm nhận được không khí lạnh nơi đây khi đến với các tình thành vùng cao, hay tham quan các địa danh nổi tiếng như vịnh Hạ long, động Phong Nha, hay tham quan 36 phố tại Hà Nội, ngắm hồ gươm và thăm Lăng Bác,..

    2. DU lịch miền trung

    Miền trung của nước ta đa số bao gồm các tỉnh thành nằm ven biển, nên các địa danh du lịch chủ yếu tại miền trung là nằm ngoài biển đảo và các bãi biển trong xanh dọc theo các tỉnh thành ven biển. Mổi địa danh lại có rất nhiều địa điểm du lịch cho các du khách lựa chọn có thể du lịch biển hay lên cao nguyên các bạn sẽ có nhiều lựa chọn hơn cho chuyến du lịch của cac bạn như ngắm thành phố hoa Đà Lạt, tham quan các địa danh nổi tiếng tại các tỉnh thành nằm ở tây nguyên, khá mới lạ với núi rừng bạt ngàn và vô số các địa danh du lịch hoang sơ nhưng rất xinh đẹp cho tất cả các du khách khi đến miền trung của nước ta. Hay tham quan các địa danh lịch sử mang đậm chất dấu ấn lịch sự hào hùng của dân tộc việt nam tại thành phố Huế, các du khách sẽ có rất nhiều kiến thức mới và cùng cảm nhận được các quá trình lịch sử hào hùng của đất nước việt nam ngày xưa.

    3. Du lịch miền nam

    Miền nam là địa danh cuối cùng của nước ta, miền nam có khí hậu nắng nóng nhất trong 3 vùng miền của nước ta. Khi du lịch tại miền nam các bạn sẽ cảm nhận được cuộc sống chân thật và vô cùng dân giã của người dân nơi đây.Cuộc sống mộc mạc và bình dị của người dân nơi đây trên dọc miền sông nước khá lênh đênh và có nhiều khó khăn, tuy nhiên thiên nhiên nơi đây lại rất phong phú và rất đáng yêu, khi đến với du lịch miền nam các bạn sẽ được khám phá những con người và cuộc sống rất lạ của con người nơi đây cùng thưởng thức các món ăn rất nam bộ và đặc sản nơi đây.

    Chúng tôi chỉ đơn giản khái quát các đại danh du lịch chủ yếu và các nét đẹp đặc trưng của đất nước chúng ta. Các du khách muốn cảm nhận chân thực hơn và phù hợp hơn với các nhu cầu và mong muốn của các bạn, hãy lựa chọn địa danh du lịch trong 3 vùng miền của nước ta để có kì nghỉ dưỡng thật vui và thú vị cùng gia đình khám phá và cảm nhận những nét đẹp trù phú mà thiên nhiên đã ban tặng cho mỗi vùng miền của nước ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đà Nẵng Định Hướng Phát Triển Du Lịch Thông Minh
  • Xu Hướng Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Cách Đi Du Lịch Bụi Thái Lan, Cẩm Nang Hướng Dẫn Kinh Nghiệm Phượt Thái Lan Giá Rẻ 2022
  • Hé Hộ Ngay Những Kinh Nghiệm Du Lịch Hongkong Tự Túc Bạn Nên Biết
  • Cẩm Nang Kinh Nghiệm Du Lịch Hongkong Tự Túc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×