Chính Sách Phát Triển Du Lịch Ở Đà Nẵng / 2023 / Top 17 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Tài Liệu Chính Sách Phát Triển Du Lịch Biển Đà Nẵng / 2023

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ————–/————– ——/—— HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN VĂN LINH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, NĂM 2017 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ————-/————– BỘ NỘI VỤ —–/—– HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN VĂN LINH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG Chuyên ngành: Chính sách công Mã số: 60 34 04 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN HỮU HẢI Hà Nội, Năm 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, bản luận văn thạc sĩ chính sách công với đề tài “Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Hữu Hải. Luận văn không sao chép ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác. Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và chính xác, các tài liệu tham khảo và trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều có xuất xứ, nguồn gốc, tác giả cụ thể và được ghi trong danh mục các tài liệu tham khảo của luận văn. Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan trên. Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Học viên Nguyễn Văn Linh 1 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn với đề tài “Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng”, trước hết tôi xin đặc biệt cảm ơn thầy hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Hữu Hải đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Tác giả luận văn xin trân trọng cám ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, lãnh đạo Khoa sau đại học, lãnh đạo Khoa Hành chính học, các thầy, các cô giáo tại Học viện Hành chính Quốc gia, Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng,… đã tạo những điều kiện tốt nhất, tham gia góp ý kiến khoa học, cung cấp tài liệu, ủng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu, điều tra khảo sát để hoàn thành luận văn. Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn hỗ trợ, động viên, chia sẻ và tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành luận văn này. Với những điều kiện khách quan và chủ quan, chắc chắn kết quả nghiên cứu của luận văn còn có những thiếu sót. Tác giả luận văn rất mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn góp phần tích cực cho công cuộc phát triển du lịch biển của Việt Nam nói chung và của thành phố Đà Nẵng nói riêng. Hà Nội, ngày …. tháng …. năm 2017 Tác giả luận văn Nguyễn Văn Linh 2 MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG ………………………………………………………………………………………………………… 4 MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………………………………………….. 4 1. Lý do chọn đề tài luận văn ………………………………………………………………………. 5 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn …………………………………….. 6 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn……………………………………………………………9 4. Đối tượng và phạm vi của luận văn ………………………………………………………….. 10 5. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………………………………… 10 6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ………………………………………….. 12 7. Kết cấu của luận văn………………………………………………………………………………. 12 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ……………………………………………………………………………………………………………………. 13 1.1. Khái niệm, nội dung chính sách phát triển du lịch biển ……………………………. 13 1.2. Vai trò của chính sách phát triển du lịch biển đối với phát triển kinh tế – xã hội ………………………………………………………………………………….20 1.3. Chính sách phát triển du lịch ở một số địa phương trong và ngoài nước ……. 23 Tiểu kết chương ………………………………………………………………………………………… 31 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG …………………………………………………………………………………………………………………………….. 32 2.1. Khái quát chung về thành phố Đà Nẵng…………………………………………………. 32 2.2. Chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng ………………………. 39 2.3. Đánh giá chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng ………………………………. 57 Tiểu kết chương ………………………………………………………………………………………… 75 Chƣơng 3: HOÀN THIỆN NỘI DUNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG ……………………………………………………………………………………………………………. 77 3.1. Định hướng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng ………………………….. 77 3.2. Đề xuất hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng ………………… 84 3.3. Một số kiến nghị cụ thể ……………………………………………………………………….. 91 Tiểu kết chương ………………………………………………………………………………………… 96 KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………………………………….. 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………….100 3 DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1. Chi phí dành cho phát triển du lịch 2011-2015……………………………. …….55 Bảng 2.2. Chi phí dành cho phát triển du lịch 2016-2020……………………………………………………56 Bảng 2.3. Số lượng khách du lịch đến Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016 …………………..63 Bảng 2.4. Doanh thu ngành du lịch của Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016…………………..63 Bảng 2.5. Tổng số vốn đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực du lịch tại Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016……………………………………………………………………………… 64 Bảng 2.6. Số lượng cơ sở lưu trú và số buồng phòng phục vụ du lịch biển Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016……………………………………………………………………………….65 Bảng 2.7 Kinh phí dự kiến dành cho xúc tiến thị trường, quảng bá du lịch Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016……………………………………………………………….71 4 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài luận văn Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, không chỉ mang đến doanh thu trực tiếp từ các lĩnh vực dịch vụ như khách sạn, tour tuyến, điểm tham quan mà còn tạo nguồn thu, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan khác như giao thông vận tải, ăn uống, giải trí, thương mại và một số dịch vụ phụ trợ khác (thông tin liên lạc, ngân hàng,…).Trong những năm qua trước yêu những yêu cầu, thách thức của hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, ngành du lịch nước ta trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể và ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong cơ cấu kinh tế quốc gia nói chung cũng như đối với các địa phương nói riêng và đặc biêt là đối với các địa phương coi du lịch là ngàng kinh tế mũi nhọn như thành phố Đà Nẵng. Đà Nẵng là một trong những thành phố có tiềm năng du lịch rất lớn của nước ta. Với những lợi thế về địa lý, điều kiện tự nhiên như sở hữu 1 trong 10 bãi biển đẹp nhất thế giới, các bán đảo, đảo, bãi tắm đẹp,… đã tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi cho việc phát triển du lịch biển cho thành phố. Sau hơn 40 năm phát triển, ngành du lịch Đà Nẵng đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng của thành phố. Du lịch phát triển đã làm thay đổi diện mạo, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần quan trọng trong việc giúp thành phố đạt được những kết quả đáng khích lệ như vậy chính là sự hợp lý, hiệu quả của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố đến thời điểm hiện tại. Hệ thống chính sách phát triển du lịch biển của thành phố trong thời gian qua đã tạo ra những tác động tích cực, cũng như tạo ra môi trường thuận lợi khuyến khích sự phát triển của du lịch biển Đà Nẵng theo định hướng của Đảng và Nhà nước nói chung cũng như của thành phố Đà Nẵng nói riêng. Bên cạnh những ưu điểm của mình, hệ thống 5 chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng cũng không thể tránh khỏi việc tồn tại những hạn chế nhất định. Như việc một số yếu tố phát triển du lịch biển chưa được đầu tư quan tâm đúng mức, một số phương án chính sách được đưa ra nhằm phát triển du lịch biển của thành phố chưa thực sự đáp ứng được các các yêu cầu, đòi hỏi thực tế đối với việc giải quyết các vấn đề của phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Trong thời gian qua, với mục đích tìm ra những phương án nhằm phát triển du lịch biển Đà Nẵng, nhiều nhà khoa học, nghiên cứu đã thực hiện những đề tài, công trình nghiên cứu kho học về thực trạng phát triển du lịch Đà Nẵng nói chung cũng như du lịch biển Đà Nẵng nói riêng, từ đó đề xuất các phương án cụ thể nhằm góp phần phát triển hơn nữa du lịch biển Đà Nẵng. Tuy nhiên, những đề tài, nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian qua phần lớn được các nhà khoa học, nghiên cứu khai thác, nghiên cứu dưới góc độ về kinh tế, du lịch, quản lý công trong khi các nghiên cứu về phát triển du lịch biển Đà Nẵng trên phương diện chính sách công còn rất hạn chế. Trong bối cảnh đó, việc làm rõ một thực trạng và đề xuất một số phương án nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng, qua đó góp phần khai thác thác tối đa các tiềm năng, tạo ra và nắm bắt các cơ hội để phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng là rất cần thiết. Đây là lý do tác giả chọn đề tài “Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng”. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Trong thời gian qua đã có rất nhiều nhà khoa học, nghiên cứu thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học, các đề tài nghiên cứu có nội dung liên quan đến phát triển du lịch biển nói chung cũng như phát triển du lịch biển Đà Nẵng nói riêng. Cụ thể: 2.1. Một số nghiên cứu về phát triển du lịch biển nói chung Tác giả Ngô Quang Duy (2008) với nghiên cứu “Phát triển Du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh”, luận văn Thạc sĩ Du lịch học – Trường đại học Khoa học Xã 6 hội và Nhân văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận về biển, đảo, du lịch biển đảo từ đó làm căn cứ cho việc nhận diện các tài nguyên du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh. Đồng thời thông qua các nghiên cứu phân tích về thực trạng hoạt động du lịch biển đảo ở Vân Đồn đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn. Tác giả Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền (2009), với nghiên cứu về “Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang”, luận văn Thạc sĩ Địa lý học – Trường đại học Sư phạm Hồ Chí Minh, đã tập trung việc tổng quan các cơ sở lý luận đối với việc phát triển du lịch biển. Đồng thời nghiên cứu, phân tích tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch biển Nha Trang theo hướng bền vững. Từ đó kết hợp với các định hướng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, của khu vực, kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững ở thành phố Nha Trang. Tác giả Vũ Đình Nguyên (2013) với nghiên cứu “Phát triển bền vững du lịch biển Cát Bà”, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Du lịch – Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã khái quát về du lịch biển và phát triển du lịch biển bền vững. Khảo sát hiện trạng hoạt động du lịch biển ở Cát Bà. Phân tích các nguyên nhân khiến du lịch biển Cát Bà thiếu bền vững. Đưa ra những giải pháp phù hợp hướng đến phát triển du lịch biển bền vững tại Cát Bà. Tác giả Châu Quốc Tuấn (2016) với nghiên cứu “Phát triển du lịch biển đảo vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh”, Luận án Tiến sĩ – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch biển đảo, làm cơ sở để thực hiện việc phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo Vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh. Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển du lịch biển đảo Vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh. 2.2. Một số công trình nghiên cứu có liên quan tới phát triển du lịch biển Đà thành phố Đà Nẵng Tác giả Nguyễn Đăng Trường, Ngô Trường Thọ, Dương Thị Thơ (2003) đã thực hiện nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu phát triển các loại hình và hoạt động 7 dịch vụ du lịch trên địa bàn TP.ĐN” ( Do Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản lý). Nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu và phát triển các loại hình sản phẩm và hoạt động dịch vụ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2003 – 2010. Cụ thể, đề tài nghiên cứu các sản phẩm du lịch, các hoạt động dịch vụ du lịch của Đà Nẵng trong mối liên hệ động với các yếu tố môi trường, trên cơ sở đó, nghiên cứu và đề xuất hệ thống các giải pháp phát triển các sản phẩm và hoạt động du lịch của Đà Nẵng. Tác giả Trần Thị Kim Ánh (2010) đã triển khai đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch biển Đà Nẵng”, Thạc sĩ chuyên ngành Du lịch – Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch biển và phát triển du lịch biển, nghiên cứu kinh nghiệm trong nước và quốc tế về phát triển du lịch biển, làm rõ tiềm năng và thực trạng khai thác phát triển du lịch ven biển tại Đà Nẵng và đưa ra định hướng cũng như đề xuất giải pháp để phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Tác giả Hoàng Thanh Hiền và Nguyễn Thị Như Liên (2010) cùng đề tài nghiên cứu “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng”, đã được đăng bài trên Tạp chí khoa học và công nghệ – Đại học Đà Nẵng số 5.2010. Đề tài đã tập trung phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch biển và phát triển du lịch biển, làm cơ sở cho việc phân tích, làm rõ tiềm năng và thực trạng khai thác phát triển du lịch biển tại Đà Nẵng. Từ đó nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Tác giả Hoàng Thị Thu Thảo (2012) đã triển khai đề tài “Phát triển sản phẩm du lịch tại thành phố Đà Nẵng”, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triểm Đại học Đà Nẵng. Thông qua đề tài, tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến các sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sản phẩm du lịch, từ đó đánh giá các sản phẩm du lịch của thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp phát triển sản phẩm du lịch của thành phố Đà Nẵng. Tác giả Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) với nghiên “Phát triển du lịch biển Đà Nẵng”, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triểm – Đại học Đà Nẵng đã làm rõ các 8 cơ sở lý luận và thực trạng phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng. Từ đó chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế còn tồn tại của du lịch biển Đà Nẵng. Từ đó làm cơ sở cho việc phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Tác giả Trần Ngọc Khánh (2014) với nghiên cứu “Một số giải pháp phát triển du lịch tại Đà Nẵng”, luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận có liên quan đến du lịch, sản phẩm du lịch trên thành phố Đà Nẵng. Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý ngành du lịch tại TP Đà Nẵng cũng như đánh giá thực trạng hoạt động dịch vụ DL trên địa bàn thành TP Đà Nẵng. Từ đó đưa ra những đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng. Mặc dù có nhiều đề tài đã đề cập đến nội dung phát triển du lịch biển Đà Nẵng, tuy nhiên, các đề tài nêu trên chỉ mới tiếp cận vấn đề ở các khía cạnh về quản lý, kinh tế và du lịch nhưng chưa tiếp cận vấn đề ở khía cạnh Chính sách. Hơn thế nữa, các giải pháp được đề xuất trong các đề tài có thể không còn phù hợp với thực trạng kinh tế – xã hội hiện tại nói chung. Chính vì vậy, việc triển khai đề tài nghiên cứu “Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng” là cần thiết, khách quan và đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của ngành du lịch địa phương. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng, luận văn đề xuất một số nội dung nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ cơ bản sau:. – Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về nội dun chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng. 9 – Phân tích, làm rõ thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng ở thời điểm hiện tại. – Từ thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng và bài học kinh nghiệm từ các địa phương trong và ngoài nước, đề xuất các phương án hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi của luận văn 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là nội dung chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. 4.2. Phạm vi nghiên cứu 4.2.1. Về Nội dung Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng, bao gồm mục tiêu và các chương trình chính sách. Các phương án nhằm hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng. 4.2.2. Về thời gian Luận văn nghiên cứu hệ thống các văn bản quản lý Nhà nước có liên quan đến nội dung chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng đang có hiệu lực thi hành ở thời điểm hiện tại. Các số liệu, phân tích, tài liệu có liên quan đến kết quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016 định hướng đến năm 2025. 4.2.3. Về không gian Đề tài nghiên cứu chính sách phát triển du lịch biển trên phạm vi thành phố Đà Nẵng. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 5.1. Phƣơng pháp luận Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở nguyên lý, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp lý thuyết và thực tiễn về chính sách công và phát 10 triển du lịch biển trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của các ngành khoa học, chính trị, xã hội và nhân văn làm phương pháp luận chung, lấy phương pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, so sánh, thống kê mô tả,… làm phương pháp luận trực tiếp để nghiên cứu và phân tích về chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng. 5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm: – Phương pháp nghiên cứu văn kiện, tài liệu Đây là phương pháp quan trọng được sử dụng để hoàn thiện luận văn này. Phương pháp được vận dụng một cách linh hoạt để có thể thu thập thông tin một cách đầy đủ, chính xác nhất về chính sách thu phát triển du lịch biển Đà Nẵng: nội dung chính sách, kết quả thực hiện chính sách trong những năm qua, các bài học, kinh nghiệm phát triern du lịch biển của một số nước, địa phương, …. – Phương pháp thống kê mô tả Phương pháp thống kê: Từ những thông tin, tài liệu đã thu thập cần được thống kê lại một cách đầy đủ, khoa học để có thể nghiên cứu, phân tích các tài liệu dễ dàng hơn, trình bày một cách dễ hiểu, đặc biệt các thông tin liên quan đến con số như: số lượng khách du lịch đến Đà Nẵng, doanh thu từ du lịch, số lượng nhân lực phục vụ du lịch biển trong giai đoạn 2011 – 2016,… – Phương pháp phân tích tài liệu, số liệu Phương pháp được áp dụng nhằm hiểu rõ được nội dung của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng, cũng như làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và cách khắc phục để hoàn thiện chính sách thì phương pháp phân tích tài liệu, số liệu là không thể thiếu. – Phương pháp so sánh Vận dụng phương pháp này để so sánh số lượng khách du lịch, doanh thu từ du lịch,… với các quận, huyện, thành phố khác để thấy được tính hợp lý và mức độ cạnh tranh với địa phương khác 11 6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6.1.Về mặt lý luận Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng. Đồng thời, luận văn đã đi sâu vào việc phân tích, hệ thống các nội dung, đặc điểm cũng như vai trò của chính sách phát triển du lịch biển. Qua đó làm cơ sở cho việc xây dựng, thực thi và đánh giá chính sách phát triển du lịch biển. 6.2. Về mặt thực tiễn Qua việc phân tích một số chính sách phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng của các địa phương trong và ngoài nước. Luận văn đưa ra một số bài học kinh nghiệm đối với chính sách phát triển du lịch biển của Đà Nẵng. Thông qua nghiên cứu phân tích các đặc điểm, điểu kiện kinh tế – xã hội – tự nhiên của thành phố Đà Nẵng, luận văn rút ra những kết luận về cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong giai đoạn sắp tới. Trên cơ sở phân tích thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển ở thời điểm hiện tại. Luận văn rút ra những ưu, nhược điểm của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng hiện nay. Từ đó luận văn đưa ra những phương án đề xuất nhằm hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu này làm dữ liệu tham khảo cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong việc xây dựng, điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn địa phương nhằm phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng trong tương lai. 7. Kết cấu của luận văn Nội dung luận văn gồm 03 chương:  Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển du lịch biển.  Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng .  Chương 3: Hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng. 12 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN 1.1. Khái niệm, nội dung chính sách phát triển du lịch biển 1.1.1. Khái niệm chính sách phát triển du lịch biển 1.1.1.1. Du lịch biển Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người. Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức về nội dung, khái niệm du lịch vẫn chưa thống nhất. Dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau (do tiếp cận trên góc độ của người đi du lịch; tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch; tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương; tiếp cận trên góc độ cộng đồng dân cư sở tại) lại có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Dưới góc độ của chính quyền địa phương, phương diện quản lý Nhà nước du lịch được hiểu là: Việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ du khách. Du lịch là tổng hợp các hoạt động kinh doanh đa dạng, được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể, là một cơ hội để bán các sản phẩm địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng các nguồn thu nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương. Du lịch biển là một loại hình du lịch gắn liền với biển, hay tài nguyên biển. Có thể hiểu “Du lịch biển loại hình du lịch gắn liền với việc sử dụng tài nguyên biển (tài nguyên biển trong du lịch bao gồm: bãi biển, hang động, các loại sinh vật biển như tôm, cá, san hô,…) gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, ăn uống, khám phá, thăm quan,… của khách du lịch và tạo sự phát triển bền vững”. 1.1.1.2. Chính sách phát triển du lịch biển Chính sách công là không phải là khái niệm mới mẻ trong hoạt động quản lý Nhà nước cũng như trong khoa học chính sách. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có 13 những quan điểm thống nhất về khái niệm này. Trong khi một số định nghĩa tiếp cận khái niệm chính sách công một cách khá phức tạp thì một số định nghĩa khác lại khá đơn giản. Cụ thể: Thomas Dye (năm 1972) đưa ra một định nghĩa rất đơn giản về chính sách công. Theo Thomas Dye “Chính sách công là bất kỳ những gì mà Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”. Wiliam Jenkins (năm 1978) đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về chính sách công. W. Jenkins định nghĩa “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền”. James Anderson lại đưa ra một định nghĩa về chính sách công chung hơn “Chính sách công là một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm”. Hay theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hải “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [11, tr.14]. Dù có nhiều quan điểm khác nhau về chính sách công, tuy nhiên có thể rút ra những điểm cơ bản về chính sách công như sau: Thứ nhất, chính sách công bắt nguồn từ quyết định do Nhà nước ban hành và bao hàm các quyết định của Nhà nước. Thứ hai, chính sách công bao hàm một tập hợp các quyết định diễn ra qua một giai đoạn dài và kéo dài vượt ra ngoài quá trình hoạch định chính sách ban đầu. Thứ ba, chính sách công hướng tới giải quyết vấn đề công và việc giải quyết vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội. Thứ tư, chính sách công hướng đến việc thay đổi hành vi của đối tượng và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng. 14 Thứ năm, chính sách công luôn thay đổi theo thời gian, vì những quyết định sau có thể có những điều chỉnh tăng dần so với quyết định trước đó, hoặc do có những thay đổi trong định hướng chính sách ban đầu. Thứ sáu, chính sách công bao gồm hai bộ phận cấu thành là mục tiêu và giải pháp chính sách. Như vậy, có thể hiểu “Chính sách công là định hướng hành động được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định” [13, tr.21-22]. Chính sách phát triển du lịch biển là một loại chính sánh cụ thể của chính sách công, là công cụ được Nhà nước sử dụng nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng của Nhà nước thông qua việc thực hiện các mục tiêu, giải pháp nhằm phát triển du lịch biển. Thông qua chính sách phát triển du lịch biển các đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển du lịch biển được cụ thể hóa và thể chế hóa. Cụ thể có thể hiểu Chính sách phát triển du lịch biển là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn thể hiện bằng một hệ thống các quyết định có liên quan với nhau (do Nhà nước ban hành), bao gồm các mục tiêu và giải pháp nhằm hướng tới phát triển du lịch biển, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo định hướng. 1.1.1.3. Đặc điểm chính sách phát triển du lịch biển Thứ nhất, chính sách phát triển du lịch biển không chỉ thể hiện định hướng của nhà hoạch định chính sách về mục tiêu giải quyết vấn đề phát triển du lịch biển, mà còn bao gồm những định hướng về cách thức thực hiện các dự định nói trên. Chính sách phát triển du lịch biển trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chính sách nhằm phát triển du lịch biển của địa phương. Song, nếu chỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản thì nó vẫn chưa phải là một chính sách. Chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng phải bao gồm các hành vi thực hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế. 15 Nếu chỉ hiểu chính sách phát triển du lịch biển một cách đơn giản là những chủ trương của Nhà nước, địa phương ban hành nhằm phát triển du lịch biển, điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương đó chỉ là những khẩu hiệu mà thôi. Thứ hai, chính sách phát triển du lịch biển gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau. Trước hết, chúng ta không nên đồng nhất khái niệm quyết định ở đây với các quyết định hành chính, càng không thể coi đó chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Khái niệm quyết định ở đây có nghĩa rộng hơn, nó có thể được coi như một sự lựa chọn hành động của Nhà nước. Các quyết định này có thể bao gồm cả luật, các quyết định dưới luật, thậm chí cả những tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ. Chính sách phát triển du lịch biển là một hệ thống hay một loạt các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách ở đây là phát triển du lịch biển, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy Nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài. Chính sách phát triển du lịch biển ở đây có thể được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp luật cho việc thực thi, song nó cũng bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển. Thứ ba, chính sách phát triển du lịch biển thay đổi theo thời gian. Do tính chất vận động liên tục của môi trường kinh tế- xã hội của đất nước cũng như thế giới, những kinh nghiệm thực tế thu được trong quá trình thực thi chính sách, những thay đổi của các vấn đề của phát triển cdu lịch biển… những điều này tác động đến chính sách phát triển du lịch biển, khiến một số định hướng, giải pháp của chính sách không còn phù hợp, hay không hiệu quả và cần có sự thay đổi, dẫn đến chính sách phát triển du lịch biển có thể có những thay đổi, điều chỉnh nhất định về định hướng chính sách, hay các phương án chính sách được sử dụng nhằm phát triển du lịch biển. Thứ tư, chính sách phát triển du lịch biển có tính kế thừa lịch sử. Lịch sử phát triển xã hội đã khẳng định quy luật phát triển xã hội luôn có trong nó sự kế thừa lịch sử. Chính sách công nói chung và chính sách phát triển du lịch biển nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật này. Việc hoạch định, thực thi, đánh giá,… chính sách phát 16 triển du lịch biển để có thể đạt được hiệu quả tốt nhất phải dựa trên những bài học, kinh nghiệm từ các chính sách đã và đang được áp dụng. Đối với chính sách phát triển du lịch biển quá trình xây dựng, thực thi chính sách ở giai đoạn trước đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế còn tồn tại của chính sách. Đây là những kinh nghiệm, cơ sở cho việc tiếp tục thực hiện hay thay đổi một số nội dung của chính sách từ đó giúp chính sách phát triển du lịch biển dần được hoàn thiện. Thứ năm, chính sách phát triển du lịch biển ảnh hưởng đến nhiều nhóm dân số khác nhau trong xã hội. Chính sách phát triển du lịch biển không chỉ tác động trực tiếp đến các nhóm đối tượng có liên quan đến du lịch biển như đội ngũ nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển, các cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ liên quan đến du lịch biển, người dân địa phương nơi có hoạt động du lịch biển, khách du lịch… thông qua các biện pháp chính sách về nâng cao số lượng, chất lượng đào tạo, nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển, các biện pháp ưu đãi đầu tư cho du lịch biển, quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ có liên quan đến du lịch biển… mà còn liên quan đến các bộ phận dân cư khác như người dân địa phương khác một cách gián tiếp thông qua các tác động của việc thực thi chính sách phát triển du lịch biển mang lại. 1.1.2. Nội dung chính sách phát triển du lịch biển Từ khái niệm về chính sách công nói chung cũng như khái niệm về chính sách phát triển du lịch biển nói riêng như đã phân tích nêu trên cho thấy nội dung cấu trúc của chính sách công nói chung cũng như chính sách phát triển du lịch biển nói riêng bao gồm hai bộ phận là mục tiêu chính sách và giải pháp chính sách. 1.1.2.1. Mục tiêu chính sách. Mục tiêu của chính sách phát triển du lịch biển là những giá trị hay kết quả mà Nhà nước mong muốn đạt được thông qua việc thực hiện các giải pháp chính sách. Các mục tiêu này thể hiện ý chí của Nhà nước trong giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch biển. Mục tiêu của chính sách cũng phản ánh thái độ của Nhà nước trước vấn đề công, thái độ đó có thể tích cực hoặc tiêu cực. Hơn đó, trong các xã hội dân chủ, mục 17 tiêu của chính sách phải thể hiện được ý chí và nguyện vọng của nhân dân trong việc giải quyết các vấn đề công. Cùng với đó, mục tiêu chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước. Ví dụ, xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, và mọi chính sách của Nhà nước phải phù hợp với mục tiêu định hướng này. Mục tiêu chính sách phát triển du lịch biển được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ mục tiêu chung đến mục tiêu cụ thể, từ định tính đến định lượng. Thông thường, mục tiêu chính sách ban hành ban đầu hay còn gọi là mục tiêu mang yếu tố định tính, tức là nó được thể hiện dưới dạng ngôn từ thay vì được thể hiện dưới dạng các con số. Nhưng mục tiêu chung này lại được cụ thể hóa thành các mục tiêu ở cấp độ cụ thể hơn hay còn gọi là chỉ tiêu. Các mục tiêu cụ thể này phản ánh những khía cạnh cụ thể của mục tiêu chung cho một giai đoạn, thời gian nhất định, phù hợp với điều kiện thực thi cụ thể. Các mục tiêu cụ thể cung cấp cơ sở cho việc giám sát, đo lường và đánh giá mức độ đạt được mục tiêu chung của chính sách. Chích sách phát triển du lịch biển được Nhà nước ban hành với các mục tiêu chính nhằm: – Tăng nguồn thu từ du lịch biển cho ngân sách địa phương; – Thúc đẩy sự phá triển của các ngành kinh tế khác; – Tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; – Bảo vệ, cải tạo môi trường du lịch biển của địa phương; – Góp phần phát triển du lịch địa phương theo định hướng của Nhà nước. Các mục tiêu chung này sẽ được cụ thể hóa thông qua các mục tiêu cụ thể như doanh thu từ du lịch biển, số lượng khách du lịch biển, số lượng cơ sở hạn tầng phục vụ du lịch biển, nguồn nhân lực,… Các mục tiêu cụ thể này được xác định cho từng giai đoạn phát triển cụ thể, phù hợp với các điều kiện, mục tiêu và định hướng của Nhà nước. 18

Luận Văn: Thực Hiện Chính Sách Phát Triển Du Lịch Biển Đà Nẵng / 2023

, DOWNLOAD ZALO 0932091562

Published on

Luận văn thạc sĩ ngành chính sách công: Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, cho các bạn tham khảo

1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGÔ PHÚ MƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2018

2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGÔ PHÚ MƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Chính sách công Mã số: 834.04.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. BÙI NHẬT QUANG HÀ NỘI, năm 2018

3. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ ta luôn quan tâm đến phát triển du lịch, đã có những chính sách đột phá để tạo động lực cho các địa phương phát triển về du lịch. Từ đó, chất lượng du lịch ở mỗi địa phương nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung phát triển mạnh mẽ, hình ảnh du lịch ngày càng được nâng cao. Nhiều điểm du lịch được đầu tư nâng cấp, mở rộng trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách trong nước và Quốc tế. Ngành Du lịch đang được Chính phủ và Lãnh đạo thành phố quan tâm. Từ năm 1997 tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được chia tách ra làm hai đơn vị hành chính, đó là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Đến nay, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng luôn quan tâm đến phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch biển. Bên cạnh những khó khăn thách thức, thì ngành du lịch cũng có những điều kiện thuận lợi để phát triển, đó là Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc… Ban chỉ đạo du lịch từ Trung ương đến địa phương được củng cố và chương trình kích cầu du lịch được Chính phủ tiếp tục đầu tư. Có thể thấy, ngành du lịch thành phố Đà Nẵng nói chung và du lịch biển nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu nổ bật, đã góp phần đáng kể vào sự phát triển chung của thành phố. Đảng bộ và chính quyền thành phố xác định du lịch biển là một ngành có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch cũng như kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng, phù hợp với vị trí địa lý, thiên nhiên ưu đãi và xu thế phát triển của đất nước. Do vậy, phát triển du lịch, trong đó phát triển du lịch biển đã được thành phố Đà Nẵng đặc biệt quan tâm và để thực hiện các mục tiêu phát triển, hàng

4. 2 loạt chương trình, chính sách đã được ban hành. Thành phố Đà Nẵng được biết đến là một thành phố xanh, sạch, đẹp, văn minh và thân thiện. Thành phố Đà Nẵng được mệnh danh là thành phố đáng sống; thêm vào đó là một thành phố trẻ, năng động, sáng tạo, tạo dựng được nhiều lợi thế về vị trí địa lý, thiên nhiên so sánh đối với các tỉnh Duyên hải miền Trung. Với những đặc điểm vốn có, Đà Nẵng có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, đặt biệt những thế mạnh hấp dẫn về du lịch biển với nhiều danh lam thắng cảnh du lịch nổi tiếng, bờ biển với tổng chiều dài khoản 60km kéo dài từ chân đèo Hải Vân cho đến Non Nước. Biển Đà Nẵng không chỉ chinh phục được du khách trong và quốc tế với nhiều cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn là một trong những bãi biển thuộc diện sạch và an toàn thu hút được một lượng khách du lịch hằng năm kéo đến đây. Cùng với những lợi thế đó, trong nhiều năm qua trên cơ sở thực hiện 03 đột phá về phát triển kinh tế – xã hội theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI Đảng bộ thành phố Đà Nẵng cùng với Nghị quyết 03 của Thành ủy về đẩy mạnh phát triển du lịch trong tình hình mới và chương trình hành động của UBND thành phố thực hiện Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị, và gần đây là Nghị quyết 92/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới; Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ chính trị về phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng đang từng bước khẳng định vị thế của mình trên bản đồ du lịch chung của Việt Nam, trong khu vực và quốc tế. Sự phát triển toàn diện của ngành du lịch đã giúp kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, Đà Nẵng tự hào khi trở thành thành phố biển nổi tiếng về du lịch. Tuy nhiên, đi đôi với sự phát triển vẫn còn nhiều tồn tại và thách thức cần khắc phục, cụ thể: Chưa có được những sản phẩm du lịch chủ lực đặc thù; chất lượng sản

5. 3 phẩm du lịch chưa cao, khả năng cạnh tranh hạn chế; nhiều khu du lịch, điểm du lịch phát triển tự phát, chưa được đầu tư đúng tầm gây ảnh hưởng, ô nhiễm môi trường tự nhiên; thiếu các khu vui chơi giải trí có quy mô lớn và sức hấp dẫn đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của du khách; nhiều chương trình du lịch còn đơn điệu, trùng lặp, đội ngũ nhân lực còn thiếu; sức hấp dẫn của du lịch Đà Nẵng trên thị trường du lịch quốc tế còn hạn chế. Tuy sở hữu một trong sáu bãi biển đẹp nhất thế giới, nhưng hiện nay tiềm năng du lịch biển Đà Nẵng chưa được khai thác phù hợp để đủ sức thu hút khách du lịch. Vấn đề làm cản trở sức hấp dẫn của du lịch biển Đà Nẵng đã được không ̣ ít du khách cho rằng: các dịch vụ vui chơi giải trí ở các khu du lịch biển dường như quá thiếu và nghèo nàn; đồng thời với chất lượng giá cả các loại hình kinh doanh dịch vụ tại các khu du lịch biển còn quá nhiều bất cập. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường do sự thiếu ý thức của người dân, của khách du lịch, của việc xử lý nước thải, rác thải của các dịch vụ phục vụ du lịch đã và đang trở thành yếu tố cản trở sự phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Vào mùa du lịch biển, các bãi biển Đà Nẵng luôn đông khách, nhưng phần lớn là người dân thành phố, khách nội địa chiếm vị trí thứ hai. Khách du lịch nước ngoài có chăng chỉ tập trung ở khu vực bãi biển các khách sạn 5 sao như: Furama, Premier, Crowne plaza… Những hạn chế nêu trên đã làm cho ngành du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng của thành phố Đà Nẵng đang đứng trước thách thức về sự phát triển. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn Thạc sỹ tốt nghiệp chuyên ngành chính sách công góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách nầy là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Phát triển du lịch nói chung hay phát triển du lịch biển nói riêng, ngày nay

6. 4 đang được Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương quan tâm, hiện đã có nhiều tác giả nghiên cứu và viết bài trên các tạp chí, sách báo về chính sách phát triển du lịch biển như: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Như Lâm – Hoàng Thanh Hiền (2010) “Thực trạng sản phẩm du lịch thành phố Đà Nẵng với khả năng liên kết phát triển du lịch vùng Duyên hải miền Trung” của tác giả Phùng Tấn Viết (2013) “Phát triển ngành du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Hồ Kỳ Minh (2011) Các đề tài tập trung nghiên cứu vào các nội dung: Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch nói chung hay du lịch biển thành phố Đà Nẵng trong những năm qua; phân tích về du lịch Đà Nẵng trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế; phân tích và dự báo nguồn khách du lịch đến Đà Nẵng; Đề xuất các nhóm giải pháp dự báo phát triển du lịch biển trên địa bàn thành phố Đà Nằng đến năm 2020 về kinh tế, văn hóa – xã hội, cùng các kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó có một số đề tài nghiên cứu về phát triển du lịch khác như: ”Xây dựng chiến lược thương hiệu du lịch thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Xuân Vinh (2010). “Phát triển loại hình dịch vụ sinh thái tại khu du lịch bán đảo Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiệp (2012) Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu đều quan tâm đến vấn đề về lý luận và thực tiễn về thực trạng phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, vấn đề phát triển du lịch biển ở Đà Nẵng mới chỉ được quan tâm đến một số khía, chủ yếu tập trung quan tâm các nội dung để phát triển du lịch biển nói riêng và ngành du lịch nói chung trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành

7. 5 phố Đà Nẵng, như tăng cường khả năng cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp du lịch tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nâng cao chất lượng phục vụ, sản phẩm du lịch, quản lý nhà nước về du lịch, phát triển mạnh kinh doanh lưu trú trong du lịch… Để phát triển du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội nhưng đảm bảo về bảo vệ môi trường và nghiên cứu các yếu tố tác động khác có thể tác động đến phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống, đề xuất giải pháp và cơ chế chính sách. Thành phố Đà nẵng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch đặc biệt là du lịch biển, nhưng việc nghiên cứu các giải pháp để phát triển chưa được đề cập nhiều. Do đó, đề tài luận văn về Thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng không trùng lặp với các công trình đã công bố. 3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1.Mục đích nghiên cứu Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển qua đó phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch biển, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng. 3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu Luận án có các nhiệm vụ như sau: Nhiệm vụ thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển du lịch biển là gì? Nhiệm vụ thứ hai: Làm rõ việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng như thế nào? Từ đó thấy được những thành tựu và hạn chế chính sách phát triển du lịch biển của thành phố. Nhiệm vụ thứ ba: Thực hiện những giải pháp để tăng cường việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1.Đối tượng nghiên cứu

8. 6 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phát triển du lịch biển từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu lĩnh vực du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng. Các số liệu được phân tích lấy từ năm 2012 đến năm 2016. 5. Phưong pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn nghiên cứu về thực hiện chính sách công một cách khoa học và áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính sách công từ lý luận đến thực tiễn và rút ra các bài học kinh nghiệm và giải pháp thực tiễn nhằm tăng cường việc thực hiện chính sách. Các quy phạm chính sách công về chương trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được áp dụng vào thực tiễn của chính sách công nhằm giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành chính sách phát triển du lịch. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn nghiên cứu chính sách công dựa trên phương pháp kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính: 5.2.1. Phương pháp thu thập thông tin Phân tích và tổng hợp, thống kê và so sách được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, tài liệu của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thế, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách phát triển du lịch cho các cơ quan nhà nước ở nước ta nói chung và thực tế tại thành phố

9. 7 Đà Nẵng nói riêng. Đồng thời, thu thập thông tin từ các tài liệu của các tổ chức và học giả trong nước liên quan đến đề tài trong thời gian qua. 5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu Phỏng vấn sâu là phương pháp được dùng khá phổ biến trong nghiên cứu xã hội học, đó là phương pháp đối thoại trực tiếp với đối tượng nhằm thu thập thông tin. Ngoài các thông tin thu thập được qua các số liệu thứ cấp tác giả đã thực hiện thêm phương pháp phỏng vấn đối với một số đối tượng để làm rõ thêm thông tin mà các phương pháp thu thập thông tin nêu trên chưa đáp ứng được. Tham khảo, nghiên cứu và sử dụng các tài liệu trong sách, báo, tạp chí nói về du lịch và du lịch biển, các trang thông tin điện tử của thành phố Đà Nẵng; các nghị quyết, chỉ thị và quy hoạch tổng thể về phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nằng; Kết quả phóng vấn, điều tra khách du lịch tại một số điểm du lịch cũng như du lịch biển. Ý kiến của các chuyên gia. nhà quản lý, doanh nhân….. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6.1. Ý nghĩa lý luận Đề tài này một phần nào đã cung cấp lý luận về chính sách công cho việc nghiên cứu các vấn đề chính sách phát triển du lịch biển cho các cơ quan ban hành chính sách công về phát triển du lịch. Hệ thống hóa một số lý luận và đánh giá thực tiễn từ thành phố Đà Nằng, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển du lịch biển cho các cơ quan nhà nước nhằm phát huy tối đa hiệu quả chính sách đã ban hành và đề xuất đổi mới chính sách. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Qua thực tiễn việc nghiên cứu chính sách phát triển du lịch cũng như du lịch biển của thành phố Đà Nằng, luận văn đã chỉ ra được những khó khăn và hạn chế trong việc ban hành và thực hiện chính sách, đồng thời đưa ra những

10. 8 kết quả nghiên cứu giúp cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các doanh nghiệp, các sở, ban, ngành có liên quan đến việc ban hành chính sách công, các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học và thực tiễn để vận dụng, điều chỉnh, sửa đổi chính sách và tổ chức thực hiện phát triển chính sách du lịch biển một cách có hiệu quả và thiết thực hơn. 7. Cơ cấu của luận văn Phần mở đầu, tiểu kết luận, mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cho nghiên cứu về chính sách phát triển du lịch biển tại Đà Nẵng. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nằng. Chương 3: Phương hướng và Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng.

11. 9 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TẠI ĐÀ NẴNG 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Các khái niệm cơ bản 1.1.1.1.Du lịch biển Du lịch biển là một ngành kinh doanh các hoạt động như hướng dẫn du lịch, trao đổi hàng hóa và các dịch vụ của các doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu thăm quan, nghỉ dưỡng, ăn uống, vui chơi, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp (định nghĩa của Khoa quản trị Kinh doanh Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân). Các nhà nghiên cứu về du lịch đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến thăm quan, nghỉ dưỡng không phải là nơi ở và là nơi làm việc của họ. Ngoài ra, còn có nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa khác: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch”. Trong đó khách du lịch là khách hàng rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đi đến các nơi khác và quay trở lại nhằm thỏa mãn các mục đích khác nhau, nhà cung ứng là các tổ chức kinh tế, đơn vị hành chính sự nghiệp cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho hoạt động du lịch; dân cư sở tại là những người dân ở tại địa phương diễn ra hoạt động du lịch; chính quyền địa phương là cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương tại điểm du lịch.

12. 10 Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với việc sử dụng tài nguyên biển (tài nguyên biển trong du lịch bao gồm: bãi biển, các loại sinh vật biển như tôm, cá, san hô,…) gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, ăn uống, khám phá, thăm quan,… của khách du lịch. Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của con người để nghỉ dưỡng sau thời gian làm việc căng thẳng cũng như có nhu cầu thăm quan tăng thêm sự hiểu biết về phong cảnh, con người xung quanh. Tuy nhiên, hiện nay quan điểm nhận xét về du lịch của người làm du lịch và các nhà nghiên cứu về du lịch vẫn còn có sự khác nhau trong lĩnh vực này. Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội. 1.1.1.2.Chính sách công và Chính sách phát triển du lịch biển Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định. Từ cách hiểu như trên ta có thể thấy chính sách công có những đặc trưng cơ bản sau: – Chính sách công là sản phẩm của chủ thể nắm giử quyền lực công nên bất cứ chủ thể nào nắm quyền lực công đều có khả năng ban hành chính sách công.

13. 11 – Với đặc trưng đặc biệt của mình nên Nhà nước luôn là chủ thể chủ yếu ban hành chính sách công. Nhà nước là cơ quan có thẩm quyền bao gồm: Quốc hội, chính phủ, các bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương các tỉnh, thành. – Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của chủ thể hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mà còn bao gồm những hoạt động tổ chức thực hiện các dự định nói trên. – Chính sách công là định hướng hành động được thể hiện bằng một tập hợp bao gồm nhiều quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, gồm các mục tiêu và giải pháp, thậm chí cả những tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ. Đó là một chuỗi các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy Nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài và mang tính lịch sử, cụ thể nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định. – Tính hợp pháp là điểm khác biệt giữa chính sách công với các chính sách của các tổ chức trong khu vực tư nhân hay của các đoàn thể xã hội… – Chính sách công là sản phẩm của quá trình thực thi quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền, cho nên chính sách đó trước hết phải mang tính giai cấp. Song bên cạnh tính giai cấp, chính sách công còn đòi hỏi phải mang tính dân tộc và tính nhân loại. – Quá trình hoạch định chính sách công luôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố thể chế, tổ chức, các nhóm lợi ích và các yếu tố văn hóa – xã hội. – Giữa quyết sách chính trị và chính sách công có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: chính sách công là một dạng biểu hiện cụ thể của quyết sách chính trị của đảng, nó thể hiện ý chí của nhà nước trong việc tổ chức, quản lý, điều hành một lĩnh vực hoạt động nào đó của đời sống xã hội.

14. 12 – Quyết sách chính trị của đảng cầm quyền và chính sách công có điểm chung đó là sự thể hiện ý chí giai cấp cầm quyền, giai cấp thống trị xã hội trong đó được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công. Chính sách phát triển du lịch: Muốn thu hút khách du lịch không chỉ đến một lần mà có thể nhiều lần hoặc chí ít là tạo ấn tượng tốt đến với khách du lịch. Thì từ tầm vĩ mô đến vi mô cần phải có những định hướng chiến lược nhằm tạo một môi trường phát triển du lịch biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn nhưng phải phù hợp với tình hình khai thác cũng như phát triển du lịch của từng địa phương.[21] Thứ nhất, cần thường xuyên đa dạng hóa các sản phẩm du lịch phải phù hợp với từng địa phương. Đồng thời phải tiếp tục hoàn thiện các sản phẩm sẵn có để có thể đáp ứng nhu cầu của khách du lịch như du lịch biển kết hợp với nghỉ dưỡng, thám hiểm đại dương, đảo, xây dựng các trung tâm mua sắm,… Thứ hai, công tác an ninh – trật tự ở các khu vực bãi biển cần phải tăng cường cao độ nhằm tạo cho khách tham quan du lịch cảm giác an toàn và thoải mái nghỉ ngơi khi đến đây; xây dựng các đội bảo vệ ven bờ biển cũng như tăng cường công tác phòng hộ trên biển. Thứ ba, cải thiện môi trường sinh thái: giải quyết vấn đề rác thải sinh hoạt, cũng như các loại thủy hải sản của ngư dân để lại. Vì thế, cần phải nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của du khách và cả người dân địa phương. Đồng thời, trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất – kĩ thuật đi kèm với việc bảo vệ môi trường xung quanh, không gây ảnh hưởng, thiệt hại về nguồn tài nguyên biển hay ô nhiễm môi trường nước, dẫn đến những thiệt hại đáng kể cho việc phát triển du lịch và mỹ quan nơi đây. Thứ tư, đẩy mạnh chương trình quảng cáo, tiếp thị nhằm thu hút khách du lịch. Đồng thời tổ chức các sự kiện, lễ hội, các hội nghị, tọa đàm cũng mời các

15. 13 chuyên gia, doanh nghiệp nước ngoài…nhằm quảng bá hình ảnh. Để họ có thể đẩu tư hoặc đưa địa điểm vào chương trình tour của mình. Nhằm tăng lượng khách đến tham quan, du lịch nhất là những thời điểm hết mùa du lịch. Từ những phân tích trên có thể thấy, muốn phát triển du lịch biển cũng như các hoạt động du lịch khác cần phải kết hợp bởi nhiều yếu tố với nhau nhằm tạo nên một hiệu quả tốt nhất. Trước hết, chính quyền cần phải triển khai một số biện pháp cứng rắn hơn như: xử lý, phạt nặng đối với những hành vi làm ô nhiễm môi trường nhất là môi trường biển; mở các lớp giáo dục đào tạo nguồn nhân lực có đủ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. 1.1.2. Lý thuyết về thực hiện chính sách phát triển du lịch biển 1.1.2.1 Sự cần thiết của chính sách phát triển du lịch biển dưới góc độ chính sách công Trong quản lý xã hội, các nhà nước đã sử dụng chính sách làm công cụ chủ yếu để giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng nhằm thúc đẩy nền kinh tế – xã hội phát triển theo định hướng. Vai trò của chính sách công được thể hiện trên những lĩnh vực sau đây: – Định hướng các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế – xã hội: Chính sách công phản ánh trực tiếp các thái độ và việc ứng xử của nhà nước trước một vấn đề công, nên chính sách công thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên các đối tượng xã hội để các đối tượng nầy vận động đạt được những giá trị đổi mới tốt đẹp mà nhà nước đang theo đuổi. Giá trí đó chính là mục tiêu của chính sách công phù hợp với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Nếu các chủ thể kinh tế – xã hội hoạt động theo chiều hướng tác động của chính sách thì không những đạt được mục tiêu phát triển, mà còn được hưởng những ưu đãi của nhà nước. Như vậy, cùng với mục tiêu, các biện pháp chính sách công cũng có vai trò định hướng cho hành động của các chủ thể kinh tế – xã hội. – Khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động kinh tế – xã hội theo định hướng:

16. 14 Để đạt được các mục tiêu chính sách, Nhà nước phải ban hành nhiều giải pháp, trong đó có những giải pháp mang tính khuyến khích sự tham gia của các chủ thể trong xã hội như miễn giảm thuế, tiếp cận với nguồn vốn có lãi suất thấp, chấp hành những thủ tục hành chính đơn giản, thụ hưỡng những khoản trợ cấp, trợ giá,… Sự tác động nầy không mang tính bắt buộc, mà chỉ mang tính khuyến khích các chủ thể thực hiện những hành động theo chủ ý của Nhà nước. Chẳng hạn, chính sách về đầu tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài của Nhà nước ta có nhiều cách thức khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn vào các ngành, lĩnh vực hay những vùng cần được ưu tiên phát triển. – Phát huy những mặt ưu điểm, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập của nền kinh tế thị trường: Trong kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các quy luật thị trường khác đã thúc đẩy các chủ thể xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội. Nhờ đó, mà toàn xã hội và từng cá nhân, tổ chức đều được hưởng lợi từ kinh tế thị trường như: hàng hóa và dịch vụ nhiều về số lượng, đa dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng ngày càng được nâng cao với giá tiêu dùng ngày càng rẻ. Tuy nhiên, sự vận hành của nền kinh tế thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ mà các nhà nghiên cứu kinh tế gọi là mặt trái thị trường như; độc quyền tự nhiên, cung ứng không đầy đủ hàng hóa công cộng, ngoại ứng, sự bất công bằng, thông tin bất đối xứng, bất ổn kinh tế vĩ mô, hàng hóa khuyến dụng và hàng hóa không khuyến dụng,…gây ảnh hưởng không tốt lên toàn xã hội và mỗi thành viên xã hội. Chính vì vậy, nhà nước phải sử dụng các công cụ chính sách để giải quyết những vấn đề tiêu cực do kinh tế thị trường gây ra, tức là khắc phục những thấy bại của thị trường như là trợ cấp, cung ứng dịch vụ công thông qua các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công và chống độc quyền…

17. 15 – Tạo lập các cân đối trong phát triển: Để kinh tế – xã hội phát triển một cách ổn định, Nhà nước phải sử dụng các chính sách để bảo đảm các cân đổi vĩ môi chính yếu như cân đối giữa hàng – tiền, cung – cầu, xuất – nhập khẩu, tiết kiệm – tiêu dùng,… Đồng thời, Nhà nước còn sử dụng chính sách để đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền của đất nước. – Kiểm soát, quản lý và phân bổ các nguồn lực trong xã hội: Nhà nước luôn quan tâm đến khai thác và sử dụng các nguồn lực cho phát triển xã hội. Mục tiêu phát triển bao gồm về số lượng và chất lượng trong hiện tại và tương lai, nên tài nguyên tự nhiên và xã hội của một quốc gia luôn trở thành một vấn đề quan tâm chính yếu của các nhà nước. Để sử dụng tài nguyên theo hướng ổn định, bền vững và có hiệu quả, nhà nước dùng chính sách để kiểm soát quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ, tái phân bổ hợp lý các nguồn lục trong xã hội. Ví dụ: chính sách xây dựng vùng kinh tế mới, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và ngoài nước… – Tạo môi trường phù hợp cho các hoạt động kinh tế – xã hội: Thông qua các chính sách công, nhà nước tạo ra những điều kiện cần thiết để tạo một môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động, thị trường vốn, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường bất động sản, phát triển kết cấu hạ tầng, chính sách hội nhập… – Thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành: Việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách không chỉ và không thể do một cơ quan Nhà nước đảm nhiệm, mà đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều cơ quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau, của nhiều tổ chức, cá nhân. Chính vì vậy, thông qua quá trình chính sách thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, các tầng lớp nhân dân, góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực hiện mục tiêu quản lý Nhà nước. Mục tiêu và biện pháp chính sách sẽ định hướng cho sự phối hợp này.

18. 16 Do vậy, Chính sách phát triển du lịch biển là định hướng hành động do Nhà nước lựa chọn thể hiện bằng một hệ thống các quyết định có liên quan với nhau (do nhà nước ban hành), bao gồm các mục tiêu và giải pháp nhằm hướng tới phát triển du lịch biển, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo định hướng. Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian qua đã tạo động lực cho sự phát triển của du lịch biển của thành phố. Cụ thể lượng khách du lịch và doanh thu từ du lịch liên tục tăng. Chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch ngày càng được nâng cao. Sản phẩm dịch vụ du lịch biển ngày càng đa dạng với chất lượng ngày càng cao. Hệ thống cơ sở lưu trú được cải thiện về số lượng và chất lượng. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển dần đáp ứng được nhu cầu về nhân lực của hoạt động du lịch biển. Thích ứng với những thay đổi, biến động của môi trường kinh tế – xã hội. Tạo cơ sở cho việc tăng cường sự phối hợp giữa các ngành và địa phương, sự tham gia của người dân vào sự phát triển của du lịch biển. 1.1.2.2. Đặc điểm, vai trò của chính sách phát triển du lịch biển + Đặc điểm của chính sách phát triển du lịch biển: Thứ nhất, chính sách phát triển du lịch biển không chỉ thể hiện định hướng của nhà hoạch định chính sách về mục tiêu giải quyết vấn đề phát triển du lịch biển, mà còn bao gồm những định hướng về cách thức thực hiện các dự định nói trên. Thứ hai, chính sách phát triển du lịch biển gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau. Thứ ba, chính sách phát triển du lịch biển thay đổi theo thời gian. Thứ tư, chính sách phát triển du lịch biển có tính kế thừa lịch sử. Thứ năm, chính sách phát triển du lịch biển ảnh hưởng đến nhiều nhóm ngành nghề khác nhau trong xã hội. + Vai trò của chính sách phát triển du lịch biển

19. 17 Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động phát triển du lịch biển. Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế – xã hội theo mục tiêu chung. Thứ ba, phát huy những mặc tích cực, đồng thời khắc phục những bất cập của nền kinh tế thị trường. Thứ tư, tạo lập sự cân đối trong phát triển. Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong lĩnh vực du lịch biển. Thứ sáu, tạo môi trường phù hợp cho các hoạt động kinh tế – xã hội. Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp nhịp nhàng các hoạt động giữa các cấp, các ngành trong nhiều lĩnh vực. 1.1.2.3. Các bước Tổ chức thực hiện chính sách phát triến du lịch biển Việc ban hành các văn bản thực hiện chính sách là một khâu cấu thành trong chu trình chính sách, là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định. Chính sách công nói chung hay chính sách phát triển du lịch biển nói riêng thường được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc thi hành, trong đó có thể bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển. Để thực hiện chính sách phát triển du lịch biển, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương cần có hệ thống văn bản thực hiện chính sách phù hợp bao gồm chính sách dài hạn và chính sách cấp bách ngắn hạn và thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, các chương trình, đề án phát triển du lịch biển. Chính sách phải đảm bảo khuyến khích, huy động tập trung nguồn lực, khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh. Bảo tồn và phát huy được những giá trị truyền thống, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

20. 18 Thực tiễn, việc ban hành các văn bản thực hiện chính sách phát triển du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng trong giai đoạn vừa qua đã đáp ứng cơ bản về yêu cầu phát triển và mục tiêu của chính sách. Theo đó, sau khi Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, các bộ ngành, địa phương đã ban hành hàng loạt hệ thống văn bản thực hiện chính sách để đảm bảo mục tiêu phát triển du lịch như: “chính sách kích cầu, đầu tư phát triển sản phẩm du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch, phát triển du lịch cộng đồng, chính sách gia hạn miễn thị thực cho công dân các nước, chính sách tăng cường hợp tác đối tác Công – Tư …” Các chính sách để thực hiện mục tiêu phát triển du lịch có mối liên quan hữu cơ với nhau được ban hành và thực hiện đồng bộ gắn với những điều kiện tiên quyết cùng với sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, các địa phương có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của chính sách. 1.1.2.4. Những yêu cầu đối với việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển + Bước một, Phổ biến, tuyên truyền chính sách phát triển du lịch biển Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách là một hoạt động rất quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan Nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách. Tuyên truyền, phổ biến tốt chính sách giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực hiện hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách. Về tính đúng đắn và phù hợp của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và tính khả thi có hiệu quả của chính sách. Qua đó, người dân tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của Nhà nước. Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức và tổ chức có trách nhiệm nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm

21. 19 các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao. Do vậy, cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng và Nhà nước về vai trò, vị trí động lực của ngành Du lịch trong phát triển kinh tế – xã hội đối với doanh nghiệp, tổ chức và người dân để tạo sự đồng thuận của xã hội về phát triển kinh tế du lịch trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Phải xác định, lựa chọn các kỹ năng, phương pháp phổ biến, tuyên truyền chính sách phù hợp cho từng loại đối tượng. Tùy từng đối tượng mà tổ chức các hình thức phổ biến, tuyên truyền và quán triệt thực hiện chính sách phù hợp như: mở các lớp tập huấn tập trung, hội thảo chuyên ngành, họp báo để quán triệt nghiên cứu các nội dung chính sách, bàn các giải pháp và phân công thực hiện. Tổ chức các cuộc họp báo tuyên truyền chính sách cho các cơ quan thông tin đại chúng, công chức và viên chức làm công tác tuyên truyền, xây dựng văn bản hướng dẫn phổ biến cụ thể việc thực hiện chính sách gửi cho các cơ quan, đơn vị để họ tự nghiên cứu xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách. Ngoài ra, có thể tuyên truyền qua báo chí, trang thông tin điện tử để các đối tượng được thụ hưởng chính sách và mọi người dân biết để thực hiện. + Bước hai, Trách nhiệm giải trình và phân công phối hợp thực hiện chính sách phát triển du lịch biển Chính sách phát triển du lịch biển được thực hiện trên phạm vi rộng lớn, vì thế số lượng các đối tượng cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện chính sách là rất lớn. Vì vậy, muốn tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý các ban, ngành, các cấp chính quyền địa phương, quá trình, phân công, phối họp thực hiện chính sách cần thực hiện chặt chẽ, khoa học và hợp lý, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và không rõ trách nhiệm. Việc thành công của một chính sách do nhiều yếu tố cấu thành, nhân tố

22. 20 cấu thành. Do đó, để cho việc thực thi chính sách thực hiện được đúng mục tiêu quản lý thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động và liên quan. Hoạt động phân công, phối hợp thực hiện chính sách diễn ra theo tiến trình thực hiện một cách chủ động, luôn sáng tạo để duy trì chính sách được ổn định, phát triển góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách. Để thực hiện chính sách phát triển du lịch biển. Thành phố Đà Nẵng đã thành lập Ban Chỉ đạo về du lịch là cơ quan có chức năng giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo các hoạt động du lịch. Chỉ đạo việc phối hợp hoạt ộng của du lịch và văn hóa – xã hội, liên quan trong việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các chương trình phát triển du lịch trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Nghiên cứu, đề xuất với Lãnh đạo thành phố giải pháp, cơ chế, chính sách về phát triển du lịch. Sở Du lịch là cơ quan chủ trì, tham mưu cho Lãnh đạo thành phố về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách. Ngoài ra, còn có một số cơ quan nhà nước có liên quan đến việc thực hiện chính sách phát triển du lịch gồm: 1. Sở Kế hoạch và Đầu tư 2. Sở Tài chính 3. Sở Thông tin và Truyền thông 4. Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố 5. Sở Ngoại vụ 6. Công an thành phố 7. Sở Tài nguyên và Môi trường 8. Sở Khoa học Công nghệ 9. Sở Y tế 10. Sở Giao thông -Vận tải 11. Sở Xây dựng 12. Sở Công Thương

23. 21 13. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 14. Sở Giáo dục và Đào tạo 15. Quận Sơn Trà, quận Ngũ Hành Sơn, quận Thanh Khê và quận Liên Chiểu + Bước ba, Duy trì chính sách phát triển du lịch Duy trì chính sách là các giải pháp, biện pháp bảo đảm cho chính sách được duy trì, tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế. Muốn cho chính sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự nhất trí và quyết tâm cao của các ngành, người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại. Trong quá trình thực hiện chính sách nếu không có các giải pháp, biện pháp duy trì và phát triển thì sẽ dẫn đến hiệu quả thực hiện chính sách thấp, gây lãng phí, không đáp ứng được yêu cầu quản lý, yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Do vậy, để duy trì chính sách cần phải đảm bảo đầy đủ yêu cầu về nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật để thực thi chính sách. Đối với các cơ quan nhà nước, là tổ chức ban hành các chính sách công, phải thường xuyên quan tâm đến việc tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực hiện chính sách. Nếu việc thực hiện chính sách gặp nhiều khó khăn do môi trường thực tế thay đổi, thì các cơ quan nhà nước phải sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động, chỉ đạo nhằm tạo môi trường thuận lợi nhất cho việc thực hiện chính sách. Đồng thời, chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, các cơ quan nhà nước có thể kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính để duy trì chính sách. + Bước bốn, Điều chỉnh chính sách phát triển du lịch biển: Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển du lịch biển, việc điều chỉnh chính sách cho phù hợp là hoạt động diễn ra thường xuyên nếu gặp khó khăn do môi trường thực tế thay đổi hay do chính sách còn những bất cập, hạn

24. 22 chế chưa phù hợp với thực tiễn thì cần phải có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu quản lý và phù hợp với tình hình thực tế. Về nguyên tắc, thì thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung các chính sách cho phù hợp là của các cơ quan, tổ chức ban hành chính sách. Nhưng, trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp, các cơ chế chính sách của các ngành, các địa phương diễn ra rất năng động và linh hoạt trong thực hiện chính sách để phù hợp với điều kiện thực tế. Do đó, các bên tham gia thực hiện chính sách cần phải có những đề xuất điều chỉnh về giải pháp, biện pháp, cơ chế để chính sách thực hiện có hiệu quả, bảo đảm mục tiêu chính sách đã đề ra đạt được hiệu quả cao. Việc điều chỉnh chính sách phát triển du lịch phải đảm bảo các nguyên tác nhất định, tức là chỉ thực hiện điều chỉnh về các biện pháp, giải pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu chính sách theo yêu cầu thực tế của bộ, ngành, địa phương tham gia. Nếu việc điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đồi chính sách thì coi như chính sách đó bị thất bại. Như vậy, có thể thấy với việc phân định rõ vai trò, trách nhiệm của các chủ thể chính sách. Uỷ ban nhân dân thành phố với vai trò là chủ thể quan trọng nhất đã định hướng cho các ngành, các cấp, các thành phần kinh tế – xã hội, trong đó du lịch biển là hạt nhân trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách phát triển ngành du lịch ở thành phố Đà Nẵng. 1.1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển + Các yếu tố bên ngoài Xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập nền kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật hiện nay của kinh tế thế giới. Và ngày nay, du lịch là một ngành kinh tế đã là một xu hướng phổ biến trên toàn cầu, trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh nhất, lớn nhất và bền vững nhất trên thế giới, góp phần vào sự phát triển kinh tế và thịnh vượng của

25. 23 mỗi quốc gia. Trong xu thế phát triển du lịch, du lịch biển thành phố Đà Nẵng đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen. Hội nhập quốc tế về du lịch đã tạo ra cơ hội cho ngành du lịch biển thành phố Đà Nẵng gia tăng tiếp cận nguồn khách quốc tế khi Việt Nam hội nhập toàn diện với khu vực và thế giới, qua đó tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của các nước thông qua các chương trình, quảng bá, tuyên truyền về dịch vụ du lịch trong các khuôn khổ ASEAN, APEC, GMS, WTO… tạo điều kiện cho ngành du lịch biển phát triển mạnh. Bên cạnh những thuận lợi là những thách thức không nhỏ của ngành du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng trong xu thế hội nhập khi thị trường thế giới biến động; hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động mạnh tới quy mô, tính chất của thị trường khách đến tham quan và du lịch tại Việt Nam. Năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch biển của thành phố Đà Nẵng còn non trẻ, chất lượng, hiệu quả thấp, trong khi môi trường cạnh tranh giữa các quốc gia, các nước trong khu vực và giữa các ngành, các vùng, sản phẩm ngày càng gay gắt khi hội nhập toàn diện vào khu vực và thế giới. Xu thế hội nhập khu vực và thế giới, sự cạnh tranh quyết liệt và những biến động khó lường hiện nay của tình hình quốc tế ảnh hưởng lớn đến với chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. Điều đó đòi hỏi ngành du lịch cần phải thực sự năng động, luôn đổi mới để đón nhận những cơ hội và vượt qua khó khăn. + Các yếu tố bên trong Sự ổn định chính trị của đất nước, chính sách ngoại giao rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa của đảng và chính phủ Việt Nam với các nước trên thế giới đã nhận được sự hợp tác, hỗ trợ tích cực của các quốc gia trên quốc tế. Tạo điều kiện thu hút đầu tư vốn và công nghệ nói chung và đầu tư du lịch nói riêng vào Việt Nam tạo điều kiện cho du lịch biển phát triển.

26. 24 Kinh tế trong nước phát triển, thu nhập và đời sống của đại bộ phận tầng lớp trung lưu trở lên ở nước ta ngày càng gia tăng tạo ra động lực kích cầu du lịch mạnh mẽ. Số lượng khách du lịch nội địa đông đảo đã trở thành động lực tạo cơ hội cho ngành Du lịch mở rộng quy mô và thúc đẩy tăng trưởng các lĩnh vực dịch vụ về mọi phương diện và loại hình du lịch đa dạng. Chính sách, pháp luật của Nhà nước tạo nền tảng pháp lý đảm bảo cho sự phát triển. Tính đúng đắn, kịp thời, đồng bộ của các chính sách có liên quan tạo nền tảng pháp lý đảm bảo cho sự phát triển của ngành du lịch. Năng lực thực thi chính sách, điều kiện cơ sở vật chất của cơ quan, đội ngũ cán bộ, công chức và hệ thống các giá trị văn hóa – xã hội là một trong những yếu tố quyết định ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch biển. 1.2. Cơ sở thực tiển 1.2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội tại thành phố Đà Nẵng có liên quan đến việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển 1.2.1.1. Đặc điểm tự nhiên Thành phố Đà Nẵng phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam phía Đông giáp với biển Đông. Đà Nẵng khí hậu điều hòa nên được khách du lịch yêu thích. Thời tiết không quá lạnh, quá ẩm, quá nóng hoặc quá khô, nhiệt độ nước biển điều hoà (khoảng từ 20ºc -> 30ºc). Khí hậu ôn hoà, lượng mưa ít vào thời vụ du lịch, số giờ nắng trung bình trong ngày du lịch cao. Nhiệt độ trung bình của không khí vào ban ngày không cao lắm thích hợp cho khách du lịch tắm nắng ngoài trời. Nhiệt độ không khí vào ban đêm không cao, thuận tiện cho việc nghỉ ngơi, thích hợp cho phát triển du lich biển. Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 60 km kéo dài từ chân đèo Hải Vân cho đến Non Nước. Biển Đà Nẵng không chỉ chinh phục được du khách trong nước với nhiều cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn là một trong những bãi

27. 25 biển thuộc diện sạch và an toàn thu hút được một lượng lớn khách du lịch bốn phương hằng năm kéo về đây. Biển Đà Nẵng nổi tiến với những bãi biển như: Mỹ Khê, Bắc Mỹ An, Non Nước, Xuân Thiều, Nam Ô… đều mang trong mình những nét đẹp riêng biệt dành cho thành phố này. Với những con sóng nhỏ, nước êm ả trong xanh bốn mùa, không bị ô nhiễm, là một nơi rất thích hợp cho du khách đến đây du lịch tắm biển. Bên cạnh đó du khách có thể tham gia các hoạt động biển sôi nổi được tổ chức thường niên tại biển nầy. Đa dạng phải kể đến là: Thuyền buồm, lướt sóng, dù bay, câu cá thể thao trên biển, lặn biển ngắm san hô, du thuyền ban đêm, nhiều trò chơi, hoạt động giải trí đồng thời Đà Nẵng cũng nằm trên các tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ thuận lợi cho việc đón các tàu du lịch Quốc tế. Mặc khác, vùng biển Đà Nẵng có diện tích rộng trên 15.000km2, có các loại động vật biển phong phú trên 266 giống loài. Ngoài ra, biển Đà Nẵng nằm gần trung tâm mua bán , hệ thống ăn uống, nghỉ ngơi và gần trục đường giao thông thuận lợi cho việc phát triển du lịch biển. Cùng với bãi biển Bahia-Barazin, Bondi-Úc, Castelo-Bồ Đào Nha, LasMinitas-Dominia Wailea thuộc Hawai của Mỹ. Biển Đà Nẵng được tạp chí Forbes Mỹ bình chọn là một trong 6 bãi biển đẹp nhất hành tinh. Hệ động thực vật vùng biển xanh tươi, đa dạng, môi trường trong lành và hấp dẫn du khách. Các loài hải sản đa dạng, để cho khách thưởng thức, ngoài ra còn là đối tượng để phát triển các loại hình du lịch câu cá, du lịch lặn, du lịch khảo cứu sinh vật biển . . . 1.2.1.2. Đặc điểm kinh tế – xã hội Đà Nẵng có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế – xã hội; nằm trên trục giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không; là cửa ngõ chính ra Biển Đông của các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên và các nước tiểu vùng sông Mê Kông và là điểm cuối trên trục Hành lang kinh tế Đông – Tây. Đà Nẵng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng

28. 26 đặc biệt là nguồn tài nguyên về du lịch với hệ thống các danh lam thắng cảnh, các bãi biển đẹp và là nơi giao lưu và hội tụ những nét văn hóa của nhiều vùng, miền trong cả nước. Bên cạnh đó, Đà Nẵng còn là trung điểm và là điểm kết nối chính trong hành trình “con đường Di sản văn hóa thế giới miền Trung”. Với vị trí chiến lược, quan trọng như vậy, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị khóa IX “Về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, trong đó xác định “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế – xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế…”, trong đó, một trong số các nhiệm vụ phải tập trung thực hiện đó là “Đầu tư phát triển mạnh du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố; xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm du lịch lớn của đất nước, là đầu mối trung chuyển, quá cảnh và giao lưu hàng hóa – dịch vụ của miền Trung – Tây Nguyên”. [2] Kết luận Chương 1 Chương 1 đã đi sâu, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về cho nghiên cứu về chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng và làm rõ các khái niệm có liên quan. Luận văn chủ yếu tập trung đến nội dung chính sách công về chính sách phát triển du lịch biển, trên cơ sở vận dụng kiến thức được trang bị về ngành chính sách công, nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng, bao gồm: vấn đề chính sách, mục tiêu chính sách, giải pháp chính sách, tổ chức thực hiện chính sách thu hút đầu tư, nhân lực, vai trò, trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách và các yếu tố ảnh hưởng

29. 27 đến việc thực hiện chính sách. Qua đó, góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề về lý luận, những mặt ưu, khuyết điểm, tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách phát triển du lịch biển ở thành phố Đà Nẵng hiện nay.

30. 28 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1. Khái quát về tình hình phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Những năm qua, bên cạnh việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch, thành phố Đà Nẵng đã vận dụng sáng tạo các cơ chế, chính sách, huy động các nguồn lực để chỉnh trang đô thị, đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, xây dựng các điểm, các loại hình, sản phẩm du lịch… đặc sắc, mang tính riêng của thành phố Đà Nẵng. Góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển, trở thành một trong các trung tâm du lịch lớn của cả nước, có vai trò đầu tàu, là trung tâm phân phối nguồn khách du lịch cho các địa phương khu vực miền Trung và Tây Nguyên… Ngành du lịch dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng; giải quyết công ăn việc làm; bảo vệ môi trường sinh thái và đưa hình ảnh Đà Nẵng đến với bạn bè thế giới… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng còn nhiều hạn chế, bất cập, kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu các khu mua sắm, khu vui chơi và dịch vụ giải trí về đêm. Thiếu các dịch vụ, sản phẩm du lịch đặc sắc riêng mang đẳng cấp quốc tế. Công tác xúc tiến, quảng bá hiệu quả chưa cao, thị trường khách thiếu ổn định… Từ những vấn đề đặt ra ở trên, cần nghiên cứu, đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế, đúc kết các bài học kinh nghiệm từ đó đề xuất các cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng phát triển mạnh, nhất là du lịch cao cấp, hình thành trung

31. 29 tâm du lịch ven biển lớn tầm cỡ quốc gia và quốc tế. 2.2. Tình hình thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Nghị quyết số 33-NQ/TW đề ra phương hướng “phát triển mạnh du lịch, nhất là du lịch cao cấp, hình thành trung tâm du lịch ven biển lớn tầm cỡ quốc gia và quốc tế”. Điều đó đã khẳng định vai trò, vị trí của du lịch đối với sự phát triển của Đà Nẵng. Đồng thời, là căn cứ quan trọng để thành phố xây dựng các chương trình, đề án, vận dụng sáng tạo các cơ chế, chính sách, tạo sự đột phá để phát triển trong những năm qua. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã đoàn kết, nỗ lực thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, giữ được sự ổn định tình hình và phát triển du lịch tương đối toàn diện. Thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW, Ban Thường vụ Thành uỷ Đà Nẵng đã phê duyệt nhiều chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình hành động cụ thể để chỉ đạo, tạo cơ chế, điều kiện thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội thành phố; Kế hoạch số 19-KH/TU triển khai quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết và Chương trình hành động số 16-CTr/TU, trong đó đề ra 12 chương trình trọng tâm trên các ngành, lĩnh vực để thực hiện Nghị quyết, trong đó, du lịch thuộc chương trình số 03 được phê duyệt tại Quyết định số 109/2004/QĐ-UB ngày 22/6/2004 ban hành Chương trình “Tập trung phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ lớn của cả nước” và Quyết định số 188/2004/QĐ-UB ngày 25/11/2004 phê duyệt Kế hoạch triển khai “Chương trình Tập trung phát triển mạnh du lịch và các dịch vụ mà thành phố có thế mạnh, xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại, du lịch, dịch vụ lớn của cả nước”. Ngoài ra, căn cứ tình hình thực tiễn, ban hành các chương trình, kế hoạch,

32. 30 đề án phát triển du lịch: – Quyết định số 7099/QĐ-UBND ngày 17/9/2010 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, thể thao và du lịch thành phố Đà Nẵng đến năm 2020”; – Quyết định số 5528/QĐ-UBND ngày 30/6/2011 ban hành “Chương trình Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2015”; – Quyết định số 7383/QĐ-UBND ngày 11/9/2015 ban hành “Đề án Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016-2020”; – Kế hoạch số 10652/KH-UBND ngày 30/12/2017 ban hành kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; – Đề án phát triển dịch vụ thành phố Đà Nẵng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020. Đề án Quản lý và khai thác các bãi biển du lịch Đà Nẵng. Đề án Phát triển nguồn nhân lực du lịch giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020. Đề án Phát triển mạnh các ngành dịch vụ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, định hướng đến năm 2035… Thành phố đã đầu tư xây dựng các tuyến đường du lịch như: Đường Nguyễn Tất Thành, đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa, nhằm phục vụ khách du lịch. Hệ thống bãi tắm công cộng trên tuyến đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa và đường Nguyễn Tất Thành cơ bản phục vụ tốt cho người dân và khách du lịch đến Đà Nẵng. Đến nay đã có 11 bãi tắm công cộng được đầu tư với tổng vốn 82,2 tỷ đồng đưa vào phục vụ người dân và du khách. Hệ thống thông tin liên lạc cơ bản đã hoàn thành và đưa vào phục vụ cho các dự án đầu tư tại bán đảo Sơn Trà; đã triển khai lắp đặt mạng lưới Wifi tại một số vị trí trung tâm thành phố để phục vụ khách đến tham quan và du lịch tại Đà Nẵng.

33. 31 Thành phố tập trung kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế, trọng tâm là các dự án tại bán đảo Sơn Trà, ven biển đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa, khu vực Làng Vân, Nam Ô… Ngoài ra, thành phố đầu tư trồng cây xanh, phát triển hệ thống điện chiếu sáng và trang trí, vệ sinh môi trường đảm bảo, trật tự xã hội ổn định góp phần thu hút du khách đến Đà Nẵng. 2.3. Kết quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Thứ nhất, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội: Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, lượng khách du lịch đến thành phố Đà Nẵng tăng bình quân 21%/năm, trong đó khách quốc tế tăng bình quân 30%/năm, khách nội địa tăng bình quân 17%/năm. Từ hơn 2.700.000 lượt khách năm 2012 tăng lên 5.510.000 lượt khách năm 2016 Các bộ, ngành Trung ương hỗ trợ, đầu tư xây dựng một số công trình trọng điểm phục vụ dân sinh và phát triển du lịch, như: Hầm đường bộ Hải Vân, Quốc lộ 14B, Cầu Trần Thị Lý, Cung Thể thao Tiên Sơn, Cầu Thuận Phước, Ga hàng không quốc tế Đà Nẵng, đường Đà Nẵng – Hội An…, góp phần tác động mạnh mẽ đến tình hình phát triển kinh tế – xã hội thành phố và khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Ngoài ra, thành phố đã chủ động phối hợp lập quy hoạch sử dụng đất quốc phòng tại các khu vực Nam Hải Vân, bán đảo Sơn Trà… phục vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh. Ngoài ra, thành phố đã chủ động xin Bộ Quốc phòng cho sử dụng một phần đất tại bán đảo Sơn Trà (300m từ mực nước biển trở lên) để phục vụ phát triển du lịch biển. Thành phố tập trung kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế, trọng tâm là các dự án tại bán đảo Sơn Trà, ven biển đường Sơn Trà – Điện Ngọc (nay là đường Hoàng Sa – Võ Nguyên

34. 32 Giáp – Trường Sa), khu vực Làng Vân, Nam Ô, Bà Nà, phía Tây và trung tâm thành phố. Bảng 2.1. Kết quả thực hiện chỉ tiêu khách du lịch giai đoạn 2012 – 2016 Chỉ tiêu đạt Đơn vị tính Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Tăng trưởng BQ (%) 1. Tổng lượt khách Lượt khách 2.700.000 3.100.000 3.800.000 4.700.000 5.510.000 21 Khách quốc tế Lượt khách 650.000 743.000 955.000 1.250.000 1.660.000 30 Khách nội địa Lượt khách 2.000.000 2.357.000 2.800.000 3.350.000 3.840.000 18 2. Doanh thu ngành du lịch Tỷ đồng 6.000 7.784 9.740 12.768 16.000 27 (Nguồn: Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng cung cấp) Việc đánh giá sức hấp dẫn của từng bãi biển được xác định trên giá trị khai thác phát triển. Từng bãi biển có sự so sánh với nhau trên cơ sở tính hấp dẫn của từng bãi biển, các yếu tố đưa ra gồm: độ trong sạch, cảnh quan đẹp, sức thu hút, tính biệt lập… Các bãi biển được đánh giá chỉ mang tính tương đối và dựa trên quan điểm của khách du lịch. Từ các yếu tố đánh giá trên đây, có thể chia các bãi biển Đà Nẵng thành ba loại gồm: Các bãi biển có khả năng thu hút khách quốc tế, các bãi biển có khả năng thu hút khách nội địa và các bãi biển thu hút dân cư địa phương. – Các bãi biển có khả năng thu hút khách du lịch quốc tế: Non Nước, Bắc Mỹ An, Phước Mỹ, Bãi Bụt, Bãi Nam, Bãi Bắc, Tiên Sa.

35. 33 – Các bãi biển có khả năng thu hút khách nội địa: Xuân Thiều, Nam Ô. – Các bãi biển có khả năng thu hút dân cư địa phương: Thanh Bình, Thanh Khê, Thọ Quang, Mân Thái… Bảng 2.2. Đánh giá sức thu hút của các bãi biển ở Đà Nẵng (Ghi chú: Theo thang điểm: Độ sạch của nước biển, phong cảnh, sức chứa, khả năng phát triển sản phẩm, khả năng thu hút, tính biệt lập…) Điểm thu hút (các bãi biển) Độ sạch Phong cảnh Sức chứa K/năng pt sản phẩm Khả năng thu hút Tính biệt lập TỔNG ĐIỂM 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ 1-5 đ Làng Vân 4 3,5 3 4 3 4 21,5 Nam Ô 3 3 2 2 2,5 2,5 15 Xuân Thiều 3,5 2,5 4 2,5 3,5 2 18 Thanh Khê 3 2 3 1 2 1,5 12,5 Xuân Hà 3 2 3 1 2 1,5 12,5 Tam Thuận 3 2 3 1 2 1,5 12,5 Thanh Bình 3 2,5 2 1 2 1,5 12 Tiên Sa 4 3,5 2 3 3,5 2,5 18,5 Bãi Bắc 4 3,5 2 3 1 3 16,5 Bãi Nam 4 3,5 2 3 2 3 17,5 Bãi Bụt 4 3,5 2 3 2,5 3 18 Thọ Quang 3 2 3 1 1 1,5 11,5 Mân Thái 3 2 3 1 1 1,5 11,5 Phước Mỹ 3,5 2,5 4 3 4,5 2 19,5 Bắc Mỹ An 3,5 2,5 4 2 4,5 2 18,5 Sân Bay Nước Mặn 3,5 2,5 3 2 3 2 16 Non Nước 3,5 3,5 4 3 4,5 2,5 21 (Nguồn: sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng đánh giá năm 2008)

36. 34 Hiện nay, UBND thành phố giao nhiệm vụ cho Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố nghiên cứu hiện tượng xâm thực vào bờ biển (biển Cửa Đại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam đã bị xâm thực mất bờ biển) và đã được Ngân hàng Châu Á (ADB) tài trợ 55.000USD cho kinh phí nghiên cứu và dự kiến sẽ mời một Công ty tư vấn của Nhật Bản tham gia vào dự án nầy bắt đầu tháng 10.2018. Tính đến nay, trên địa bàn thành phố có 85 dự án, nhiều dự án ven biển đẳng cấp du lịch quốc tế đã đi vào hoạt động như: Intercontinental DaNang, Sun Premier village Resort, Pullman DaNang Beach Resort, Khu giải trí biển quốc tế San Hô, Công viên giải trí – du lịch – thể thao biển Quê Việt, Fusion Maia, Silver Shores, Hyatt Regency, Vinpearl Luxury, VinaCapital.., vốn đầu tư 7,2 tỷ USD (gần 164.000 tỷ đồng). Trong đó, có 22 dự án đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư 1,175 tỷ USD (gần 27.000 tỷ đồng). Hiện nay, thành phố có 693 khách sạn với tổng số phòng là 28.780 phòng, trong đó có 19 khách sạn 5 sao và tương đương với 5.270 phòng, 42 khách sạn 4 sao và tương đương với 6.379 phòng, 91 khách sạn 3 sao và tương đương với 5.947 phòng. Công suất phòng sử dụng bình quân từ 50-55% qua các năm. Hoàn thành các khu vui chơi giải trí lớn đã đề ra như: Khu vui chơi giải trí đặc biệt dành cho người nước ngoài Club Casino, Crown Plaza, Sân golf Hòa Hải, Các khu vui chơi thể thao biển, Công viên Châu Á, Khu phức hợp vui chơi giải trí trong nhà Helio Center… cũng đáp ứng phần nào nhu cầu của du khách đến Đà Nẵng. Với những nỗ lực trên, Đà Nẵng được các nước ASEAN bình chọn Đà Nẵng là 01 trong 10 thành phố của ASEAN đoạt giải thưởng thành phố bền vững về môi trường ASEAN tại Hội nghị nhóm công tác ASEAN về thành phố bền vững môi trường lần thứ 9 tổ chức tại Yangon (Myanman) vào tháng 5/2011. Đà Nẵng là thành phố duy nhất của Việt Nam đoạt giải thưởng này. – Phát biểu tại hội nghị, Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn

37. 35 Tuấn nhận định, du lịch Đà Nẵng thời gian qua đã có bước phát triển mạnh mẽ, trở thành điểm đến nổi tiếng trong và ngoài nước. Những chính sách phát triển du lịch Đà Nẵng đã được nhân dân thành phố hưởng ứng. Đây chính là những bài học, mô hình hay để nhân rộng trên cả nước. – Đặc biệt năm 2016 thành phố Đà Nẵng được chọn là nơi tổ chức Đại hội Thể thao Bãi biển Châu Á lần thứ 5 (ABG5). Các hoạt động trong sự kiện: Cuộc đua thuyền buồm quốc tế Clipper Race đã góp phần quảng bá hình ảnh, thu hút du khách đến với thành phố. Năm 2016 ước đón 5,51 triệu lượt khách du lịch, đạt 107,2% KH, tăng 17,7%(1) ; tổng thu từ hoạt động du lịch ước đạt 15.979 tỷ đồng, bằng 107,1% KH, tăng 24,7%. Thành phố vinh dự được nhận danh hiệu “Điểm đến hàng đầu Châu Á về sự kiện và lễ hội” tại Lễ trao giải thưởng du lịch thế giới World Travel Awards năm 2016. Bốn năm liên tiếp từ năm 2013 đến năm 2016 đạt danh hiệu “Top 10 điểm đến nghỉ dưỡng hàng đầu Châu Á” do độc giả Tạp chí Smart Travel Asia bình chọn, tiếp tục khẳng định thương hiệu của du lịch thành phố đã bắt đầu lan toả đến thị trường quốc tế. Du lịch thành phố Đà Nẵng đã xây dựng nhiều tour tuyến, sản phẩm du lịch đưa vào phục vụ khách như: tour du lịch city tour “Khám phá phố biển Đà Nẵng”, tour lặn biển ngắm san hô, câu cá, khám phá Sơn Trà, xích lô du lịch, tour đường thủy nội địa… nhưng chủ yếu vẫn là các điểm tham quan danh thắng Ngũ Hành Sơn, bán đảo Sơn Trà, Bảo tàng Đà Nẵng, Bà Nà… Qua cuộc điều tra khảo sát, sự đóng góp của du lịch trong GRDP thành phố Đà Nẵng, hoạt động du lịch đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua thuế sản phẩm năm 2016 đạt 1.847 tỷ đồng. Đóng góp tổng hợp của du lịch vào GRDP Đà Nẵng năm 2016 đạt 23,72% (16.544 tỷ đồng), trong đó: đóng góp trực tiếp là 13,24% (9.234 tỷ đồng) và đóng góp gián tiếp (lan tỏa) là 10,48% (7.310 tỷ đồng). Để đạt được những con ( 1) Khách quốc tế ước đạt 1,67 triệu lượt, đạt 126,2% KH, tăng 31,6%.

38. 36 số ấn tượng này, không thể không kể đến vai trò của việc đầu tư, nâng cấp các sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn như: quần thể du lịch sinh thái Bà Nà – Suối Mơ, bán đảo Sơn Trà, các khu du lịch Hòa Phú Thành, Helio, Công viên Núi Thần Tài, Công viên Châu Á… Bên cạnh đó, công tác xúc tiến, quảng bá được chú trọng quan tâm cả ở trong nước và nước ngoài; các sự kiện lớn thu hút khách du lịch được thành phố tổ chức hàng năm như: Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, Cuộc thi marathon quốc tế, Cuộc đua thuyền buồm quốc tế Clipper Race, Khai trương mùa du lịch biển, Đà Nẵng – Điểm hẹn mùa hè, Đại hội Thể thao bãi biển Châu Á. Đồng thời, công tác đảm bảo môi trường du lịch tiếp tục được giữ vững, đảm bảo về an ninh, an toàn, nhiều mô hình mới được đưa vào hoạt động hiệu quả tạo tâm lý an tâm cho du khách như Trung tâm hỗ trợ du khách, Đội cứu hộ biển, Lực lượng chống chèo kéo khách du lịch, Tổ phản ứng nhanh. Thứ hai, giải quyết việc làm trong ngành du lịch. Du lịch tạo ra theo tác động tổng hợp là 140.536 việc làm, chiếm 25,43% tổng số lao động có việc làm trên địa bàn thành phố năm 2016 (552.696 người – Cục Thống kê), trong đó trực tiếp tạo ra 77.026 việc làm, chiếm 13,94% tổng số lao động có việc làm tại Đà Nẵng. Gián tiếp tạo ra 63.511 việc làm cho các ngành khác, chiếm 11,49% tổng số lao động có việc làm tại Đà Nẵng. Trong đó, tập trung chủ yếu tại khách sạn 47,2%, nhà hàng 34,2%, quản lý Nhà nước 0,5%. Chất lượng nguồn nhân lực du lịch tuy có bước phát triển nhưng chưa cao, số lao động được đào tạo đúng chuyên môn về du lịch còn thấp, chỉ chiếm 40.6% số lao động toàn ngành, nhà hàng 16,4%, khách sạn 49,4%, lao động chưa có ngoại ngữ 61,97% (Nguồn: Đề án Phát triển nguồn nhân lực du lịch). Trong những năm qua, với sự hỗ trợ tích cực của Trung ương và sự chủ động phát huy nội lực của địa phương, thành phố đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp thiết thực, tạo điểm nhấn quan trọng trong việc phát triển liên kết Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, trong đó bước đầu đã tạo lập và được sự

39. 37 thừa nhận về vai trò khu vực, phát triển khá toàn diện trong lĩnh vực du lịch. Nhiều công trình, dự án quy mô lớn được đầu tư xây dựng, góp phần rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết phát triển kinh tế – xã hội. Hạ tầng du lịch được tập trung đầu tư, nhiều khu du lịch, tour, tuyến, sản phẩm, từng bước liên kết và tạo không gian kinh tế thống nhất toàn Vùng. 2.4. Ưu điểm và hạn chế trong thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng 2.4.1. Ưu điểm Thứ nhất, cơ chế chính sách phát triển du lịch của thành phố phù hợp với tình hình thực tế tạo điều kiện cho du lịch biển phát triển, ổn định về chính trị, an ninh trật tự, là điểm đến an toàn thân thiện cho du khách. Thứ hai, trong thời gian qua các sở, ngành, địa phương cũng đã cố gắng trong việc huy động tiềm năng và nguồn lực để tập trung phát triển du lịch. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trẻ làm du lịch có chuyên môn nghiệp vụ chuyên nghiệp bước đầu được quan tâm hơn. Thứ ba, sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, quận, huyện trong phát triển du lịch đã có sự chuyển biến tích cực. Nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng đối với hoạt động du lịch được nâng cao đồng bộ, môi trường du lịch được cải thiện tốt. Thứ tư, thương hiệu du lịch Đà Nẵng ngày càng được khẳng định là điểm đến an toàn, thân thiện, sản phẩm và dịch vụ đa dạng, đẳng cấp với thế mạnh về du lịch nghỉ dưỡng biển, MICE và các loại hình giải trí phong phú, đặc sắc khác2 ; Thành phố đã tổ chức thành công nhiều sự kiện lớn, mang tầm quốc tế 2 Hệ thống các khu vui chơi giải trí lớn: Khu vui chơi giải trí đặc biệt dành cho người nước ngoài Crown Plaza, các khu vui chơi thể thao biển, Công viên Châu Á… đáp ứng phần nào nhu cầu của du khách đến Đà Nẵng. Nhiều tour tuyến, sản phẩm du lịch đưa vào phục vụ khách như: Tour liên kết của Đà Nẵng – Huế – Quảng Nam và các tỉnh miền Trung Tây Nguyên đã đưa vào khai thác các chương trình tour “Con đường di sản miền Trung”, “Con đường xanh Tây Nguyên”, “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại”; tour du lịch city tour “Khám phá phố biển Đà Nẵng”, tour lặn biển ngắm san hô, câu cá, khám phá Sơn Trà, tour đường thủy nội địa với các điểm tham quan chính như: Danh thắng Ngũ Hành Sơn, bán đảo Sơn Trà, Bảo tàng Đà Nẵng, Bà Nà, Bảo tàng Mỹ

40. 38 như: Tuần lễ cấp cao APEC 2017, Cuộc thi Pháo hoa quốc tế, Cuộc thi Marathon, Dù lượn và đua Thuyền buồm quốc tế, Đại hội Thể thao bãi biển Châu Á – ABG5, Đại hội Du lịch Golf Châu Á … Đồng thời, tập trung đầu tư và kêu gọi đầu tư hạ tầng du lịch, hình thành các trung tâm du lịch biển quốc tế, trọng tâm là các dự án ven biển Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn. Thứ năm, việc mở thêm các đường bay mới đến Đà Nẵng đã tạo điều kiện khai thác khách du lịch đến bằng đường hàng không tăng cao. Cụ thể, các hãng hàng không Korean Air, Asiana Airlines đã tăng chuyến bay từ 2 chuyến/tuần lên 3-4 chuyến/tuần, Hãng Silk Air tăng 4 chuyến/tuần lên 5 chuyến/tuần. Tính đến nay, thành phố có 31 đường bay quốc tế trực tiếp đến Đà Nẵng, trong đó có 143 đường bay trực tiếp thường kỳ và 174 đường bay trực tiếp thuê chuyến với tổng tần suất 269 chuyến/tuần. Thứ sáu, du lịch đường biển đã có sự tăng trưởng đáng kể. Năm 2017 đón 78 chuyến tàu với 120.000 lượt khách. Tuy nhiên, việc mở các tuyến du lịch đường biển như: Đà Nẵng – Singapore, Đà Nẵng – Hồng Kông đến nay vẫn chưa thực hiện được do các tuyến này hiện nay đều nắm trong hải trình chung khu vực Đông Nam Á của các hãng du lịch tàu biển. Nguồn khách có nhu cầu đi bằng đường biển tại các điểm trên đến Đà Nẵng không nhiều và chưa phát triển, Thuật… Khu du lịch Bà Nà Hills cũng đã được đầu tư xứng tầm quốc tế, bao gồm nhiều hạng mục như Cáp treo, khu vui chơi giải trí trong nhà Fantasy Park, khách sạn và nhiều hạng mục khác đã đưa vào khai thác khách du lịch từ năm 2009 đến nay. 3 Singapore-Đà Nẵng (Silk Air), Hồng Kông-Đà Nẵng (Dragon Air, HK Express, Jetstar), Siêm Riệp – Đà Nẵng (Vietnam Airlines, Silk Air), Incheon – Đà Nẵng (Asiana Airlines, Korean Airlines, Vietnam Airlines, Jin Air, Jeju Air, T’way Air), Quảng Châu – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Narita – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Kuala Lumpur – Đà Nẵng (Air Asia), Hàng Châu – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Busan – Đà Nẵng (Air Busan, JinAir, T’Way), Macao-Đà Nẵng (Air Macau), Bangkok – Đà Nẵng (Bangkok Airways, Thai Air Asia), Đài Bắc – Đà Nẵng (Jestar), Daegu – Đà Nẵng (T’ways), Osaka – Đà Nẵng (Jetstar). 4 Bắc Kinh – Đà Nẵng (China Eastern Airlines), Thành Đô – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Thượng Hải – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Nam Ninh – Nam Kinh – Đà Nẵng (China Eastern Airlines, Vietnam Airlines), Quảng Châu – Đà Nẵng (Hainan), Tam Á – Đà Nẵng (Far Eastern Air), Lan Châu – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Thẩm Quyến – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Côn Minh – Đà Nẵng (China Eastern), Trịnh Châu – Đà Nẵng (China Southern Airlines), Hợp Phi – Đà Nẵng (Vietnam Airlines), Tần Hoàng Đảo – Đà Nẵng (Vietjet Air), Vũ Hán – Đà Nẵng (Vietjet Air), Tây An – Đà Nẵng (Vietjet Air), Cheongju – Đà Nẵng (Jin Air), JeJu – Đà Nẵng (Eastar), Muan – Đà Nẵng (T’way).

41. 39 việc mở các tuyến này chưa thật sự thu hút các đối tác đầu tư. 2.4.2. Những hạn chế, bất cập Những thành tựu là rất rõ nét. Tuy nhiên, so với mục tiêu xây dựng du lịch biển nói riêng và ngành du lịch nói chung trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố thì Đà Nẵng cần phải có bản sắc riêng, mang tầm vóc quốc tế vẫn đang là thách thức lớn trước mắt và lâu dài. Ngành du lịch biển còn thiếu chính sách ưu đãi đầu tư, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài, nhằm phát triển sản phẩm du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí, nhất là giải trí về đêm; doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn trong vấn đề tiếp cận đất đai đầu tư để phát triển tạo thêm sản phẩm du lịch mới; chưa có nhiều sản phẩm đặc trưng hướng tới thị trường khách quốc tế. Tại hội nghị Thành ủy Đà Nẵng (mở rộng) lần thứ 18, năm 2015, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Trần Thọ đánh giá: Mặc dù, du lịch Đà Nẵng đạt được nhiều thành công, song cũng lưu ý là “lượng khách du lịch lưu trú tại Đà Nằng vẫn còn thấp hơn so với tỉnh Quảng Nam anh em”, do nhiều du khách vẫn chỉ xem Đà Nẵng là điểm trung chuyển để ra Huế hoặc vào Hội An lưu trú. Tại kỳ họp thứ 11 HĐND TP Đà Nẵng khóa VIII, Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND TP Đà Nẵng Mai Đức Lộc đã chỉ rõ: “Đà Nẵng tuy được đánh giá là một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn nhưng lượng khách quốc tế chưa nhiều và điều đáng quan tâm là các chỉ số về thời gian lưu trú, mức chi tiêu của du khách vẵn chưa có sự cải thiện căn bản. Theo ông Mai Đức Lộc, “nguồn đóng góp cho ngân sách từ lĩnh vực du lịch chưa tương xứng với sự đầu tư rất lớn mà Đà Nẵng đã bỏ ra trong những năm qua”. Thành phố phát triển tốt về cơ sở hạ tằng giao thông, lưu trú. Nhưng những dịch vụ cho một nền du lịch chất lượng cao như: nhân lực, mua sắm, giải trí… chưa đáp ứng yêu cầu và đến nay Đà Nằng vẫn chưa triển khai việc hoàn thuế VAT cho du khách.

42. 40 – Chính sách hỗ trợ cho một số hoạt động du lịch của thành phố chậm được ban hành. Doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn trong vấn đề tiếp cận nguồn vốn để đầu tư, phát triển sản phẩm, chưa chủ động tạo sản phẩm du lịch đặc sắc, các sản phẩm du lịch hiện có chủ yếu phục vụ du lịch nội địa, chưa có nhiều sản phẩm đặc trưng hướng tới thị trường khách quốc tế. Việc chèo kéo du khách vẫn chưa được khắc phục triệt để. Trong kế hoạch phát triển tổng thể kinh tế, thành phố Đà Nẵng chưa giải quyết thỏa đáng bài toán lựa chọn ưu tiên giữa phát triến vùng du lịch ven biển với vùng dịch vụ hậu cần nghề cá và cảng biển… – Nhiều dự án đầu tư ven biển và tại trung tâm thành phố triển khai xây dựng chậm, thiếu quỹ đất để hình thành cụm khu vực mua sắm, vui chơi giải trí, nhất là vui chơi giải trí về đêm cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Các dịch vụ giải trí, thể thao biển chỉ mới khai thác một số môn thể thao nhưng giá dịch vụ còn cao. – Thành phố đã quy hoạch vị trí xây dựng cầu tàu, bến du thuyền, tuy nhiên các dự án chậm triển khai; điểm đến, tour tuyến chưa phong phú; thiếu cảng biển chuyên phục vụ du lịch; chưa khai thác hết tiềm năng tuyến biển đường Nguyễn Tất Thành; chậm hình thành chợ đêm và các khu mua sắm, ẩm thực, giải trí tập trung quy mô lớn. – Du lịch biển là thế mạnh, nhưng hình thành chưa đủ mạnh để cạnh tranh với các nước trong vùng và quốc tế, việc xác định sản phẩm đặc thù của Đà Nẵng vẫn còn chưa rõ nét. – Về phát triển tour, tuyến, tuy có sự phát triển mở rộng không gian, hình thành nhiều tour, tuyến mới nhưng việc khai thác vẫn còn hạn chế, chưa thực sự hấp dẫn thị trường khách quốc tế. – Chưa xây dựng và triển khai nhiều các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng để đổi mới tư duy về phát triển du lịch biển.

43. 41 – Nguồn nhân lực phục vụ du lịch mặc dù đã được đào tạo, bổ sung cải thiện nhiều song vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển mạnh của ngành du lịch. – Sự phát triển nhanh của hệ thống khách sạn, condotel; một số thị trường khách quốc tế tăng nhanh (Trung Quốc, Hàn Quốc) dẫn đến quá tải, không đáp ứng kịp về cơ sở hạ tầng và nhân lực. – Các doanh nghiệp du lịch thiếu chủ động kết nối trong chuỗi dịch vụ cung ứng; doanh nghiệp lữ hành Đà Nẵng phần lớn là quy mô nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh yếu. – Biển Đà Nẵng được tạp chí Forbes Mỹ bình chọn là một trong 6 bãi biển đẹp nhất hành tinh. Nhưng công tác xúc tiến quảng bá hình ảnh Đà Nẵng chưa được cải thiện; công tác nghiên cứu, dự báo thị trường, xúc tiến quảng bá du lịch ra nước ngoài vẫn còn hạn chế. – Sự phát triển quá nhanh của một số thị trường như: Trung Quốc, Hàn Quốc… nên công tác quản lý nhà nước và phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng vẫn còn hạn chế. – Tình trạng ô nhiễm tại các cống xả thải ra biển đã ảnh hưởng đến môi trường du lịch biển. – Hiệp hội Du lịch và các tổ chức xã hội nghề nghiệp du lịch đã có một số hoạt động, tổ chức sự kiện đóng góp vào sự phát triển du lịch. Tuy nhiên, số lượng hội viên tham gia còn ít, Hiệp hội chưa phát huy được vai trò, tôn chỉ mục đích liên kết doanh nghiệp du lịch, hợp tác hỗ trợ nhau trong bình ổn thị trường, trong kinh doanh dịch vụ, đảm bảo môi trường du lịch. 2.4.3. Nguyên nhân của hạn chế Những hạn chế còn tồn tại nêu trên đối với chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan khác nhau: – Vai trò và sự tham gia của các bên liên quan trong chu trình chính sách

44. 42 phát triển du lịch biển còn hạn chế. – Kinh phí đầu tư cho phát triển du lịch biển chưa xứng tầm. – Năng lực của nhà quản lý trong hoạch định chính sách còn hạn chế về một số kỹ năng chính như kỹ năng dự báo, định hướng vấn đề… Kết luận Chương 2 Chương 2 đã đề cập đến quá trình thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng, các văn bản chính sách về du lịch đã đựợc Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành. Chính sách đánh giá ưu, khuyết điểm và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách: cách tiếp cận, phương pháp thực hiện; kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; công tác phổ biến, tuyên truyền; phân công phối hợp triển khai thực hiện giữa các sở, ban, ngành; công tác duy trì, điều chỉnh, kiểm tra, giám sát, đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách. Qua việc phân tích, đánh giá thực trạng, những vấn đề được rút ra về ưu, khuyết điểm và những tồn tại cần khắc phục trong thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng ở chương 2 là cơ sở thực tiễn quan trọng nhằm đề xuất những phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng.

45. 43 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Để việc thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng được nâng cao hơn nữa thì cần phải đổi mới tư duy phát triển du lịch, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trong các cấp, các ngành và nhân dân về vị trí, vai trò của ngành du lịch trong phát triển kinh tế – xã hội. Chuyển hướng du lịch thành phố theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ và sản phẩm du lịch; hình thành các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhằm kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của khách. Phát huy hơn nữa các lợi thế, xây dựng Đà Nẵng trở thành là điểm đến có thương hiệu, hấp dẫn và có sức cạnh tranh cao trong khu vực, nơi thường xuyên tổ chức các sự kiện lớn tầm cỡ khu vực và quốc tế; là điểm đến du lịch “xanh” hấp dẫn, an toàn, môi trường trong lành, con người thân thiện, văn minh; giữ vai trò trung tâm trong chuỗi phát triển du lịch miền Trung, tạo không gian du lịch toàn vùng, có đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều việc làm cho xã hội và có sức lan tỏa kéo theo nhiều ngành kinh tế khác phát triển. 3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Trong thời gian tới, ngành du lịch nói chung trong đó du lịch biển nói riêng, đặc biệt là ngành du lịch biển cao cấp được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố. Thông qua việc phát triển ngành du lịch nói chung trong đó có ngành du lịch biển nói riêng tạo cơ sở cho các ngành khác phát triển.

Đưa Chính Sách Phát Triển Du Lịch Vào Cuộc Sống / 2023

Có thể hiểu rằng, Chính sách phát triển du lịch là tập hợp các chủ trương và hành động của Nhà nước để đấy mạnh phát triển du lịch bằng cách tác động vào việc cung cấp và giá cả của các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng); tác động tới giá sản phẩm du lịch; tác động đến số lượng khách du lịch; tác động việc thay đổi tổ chức và năng lực của nguồn nhân lực du lịch; tác động vào việc chuyển giao công nghệ du lịch… Hai vế quan trọng của chính sách là chủ trương và hành động, chủ trương tốt và hành động quyết liệt sẽ đảm bảo chính sách thành công.

Trong bối cảnh hiện nay, rất cần những chính sách phát triển du lịch chủ yếu sau:

Chính sách tạo nguồn lực: Về chủ trương, cần huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển để bảo đảm du lịch phát huy vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn. Về hành động, ưu tiên, hỗ trợ phát triển các loại hình du lịch biển đảo, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lich văn hóa, du lịch MICE; ưu tiên các dự án phát triển du lịch gắn liền với bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Chính sách về đất đai và vốn: Chủ trương là khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch; tuyên truyền, quảng bá du lịch; phát triển nguồn nhân lực du lịch; nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm du lịch mới; hiện đại hóa hoạt động du lịch; xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch cao cấp và khu du lịch quốc gia; phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch nhưng điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, ở vùng sâu, vùng xa, nhằm sử dụng lao động, hàng hóa và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xóa đói, giảm nghèo. Hành động là: giảm tiền thuê đất, ưu tiên cho cơ sở lưu trú và khu du lịch sử dụng nhiều diện tích đất cho tạo cảnh quan và bảo vệ môi trường; được cấp và cho vay tín dụng với lãi suất ưu đãi, ân hạn dài; ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo du lịch đạt chuẩn.

Chính sách bố trí ngân sách: Chủ trương là ưu tiên cho công tác quy hoạch; hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực du lịch. Về hành động, cần xem xét một cách minh bạch, đơn giản hóa thủ tục quyết định cấp ngân sách và cấp ngân sách đủ, đúng, nhanh theo lộ trình.

Chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho tiếp cận điểm đến: Chủ trương là tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch. Hành động là: tiếp tục xem xét mở rộng diện miễn visa nhập cảnh đơn phương cho công dân một số thị trường du lịch trọng điểm của Việt Nam; áp dụng cấp visa tại cửa khẩu; đơn giản hóa thủ tục cấp visa; thực hiện cấp visa trực tuyến; đẩy mạnh phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; ưu đãi đầu tư xây dựng các điểm dừng chân đạt chuẩn trên các tuyến du lịch quốc gia; xây dựng cảng biển du lịch tại các cảng biển trọng điểm của Việt Nam; tạo điều kiện cho khách quốc tế mang phương tiện giao thông riêng vào Việt Nam du lịch.

Chính sách xã hội hóa du lịch: Về chủ trương, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế về du lịch. Hành động là: đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động du lịch; huy động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia quảng bá cho du lịch Việt Nam, hỗ trợ thành lập và hoạt động của văn phòng đại diện du lịch Việt Nam tại nước sở tại ngoài…

Chính sách về quỹ hỗ trợ phát triển du lịch: Chủ trương là khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch từ các nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Hành động là: Áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% đối với doanh thu đón khách du lịch quốc tế vào Việt Nam; hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách du lịch quốc tế khi mua hàng của Việt Nam mang ra; giảm và cho chậm nộp thuế trong các trường hợp cần thiết; sử dụng lãi suất từ tiền ký quỹ của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế gửi ngân hàng thương mại để thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch; vận động, khai thác và tiếp nhận đóng góp cho quỹ hỗ trợ phát triển du lịch của mọi tổ chức và cá nhân tình nguyện.

Chính sách về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch: Chủ trương là cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi hợp pháp từ hoạt động du lịch. Về hành động, cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bản sắc văn hoá địa phương của cộng đồng; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường để tạo sự hấp dẫn du lịch; tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư được đầu tư phát triển du lịch, khôi phục và phát huy các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công truyền thống; sử dụng lao động và nguyên liệu địa phương để sản xuất hàng hóa phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương;

Chính sách về hiệp hội du lịch: Chủ trương là cho phép và tạo điều kiện cho hiệp hội du lịch được thành lập và hoạt động thuận lợi theo quy định của pháp luật. Về hành động, cần xem xét đơn giản hóa thủ tục thành lập hiệp hội, hội và câu lạc bộ nghề nghiệp du lịch; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và góp phần thúc đẩy sự phát triển của các thành viên; tạo điều kiện thuận lợi cho hiệp hội du lịch tham gia tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch, tham gia xây dựng, tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về du lịch.

Chính sách quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch: Chủ trương là: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch; cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch; chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch. Hành động là: Các Bộ, ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch quốc gia phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

Chính sách về bảo vệ môi trường du lịch: Về chủ trương, môi trường du lịch cần được bảo vệ, tôn tạo và phát triển nhằm bảo đảm du lịch xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh. Theo đó, các b ộ, ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình ban hành các quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch; Ủy ban nhân dân các cấp có biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương; tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình gây ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong cơ sở kinh doanh của mình; khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và các tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và Du lịch Việt Nam; ưu tiên các dự án du lịch gắn với sử dụng năng lực sạch, áp dụng mô hình 3R góp phần giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.

Như vậy, chính sách phát triển du lịch phải là một hệ thống đồng bộ những chủ trương và hành động thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, phù hợp xu thế phát triển du lịch của thời đại, đáp ứng mong muốn của nhân dân và đúng định hướng phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước.

TS. Nguyễn Văn Lưu (Tạp chí Du lịch)

Thể Chế Chính Sách Mở Đường Cho Du Lịch Phát Triển / 2023

Để phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cần triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, thể chế chính sách được coi là nhân tố quan trọng nhất, có ý nghĩa mở đường cho du lịch phát triển.

1. Thể chế, chính sách với phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay

“Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30 tháng 12 năm 2011 (Quyết định số 2473/QĐ-TTg) và “Quy hoạch Tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” được phê duyệt ngày 22 tháng 01 năm 2013 ( Quyết định số 201/QĐ-TTg) là những mốc quan trọng đối với sự phát triển của ngành du lịch. Để cụ thể hoá các định hướng của Chiến lược và Quy hoạch tổng thể cấp quốc gia, giai đoạn 2013 – 2017 công tác quy hoạch cấp vùng, các khu du lịch quốc gia, các địa phương đã được quan tâm triển khai thực hiện và đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy du lịch phát triển ở cả cấp độ quốc gia, cấp vùng và địa phương. Tuy nhiên, giai đoạn 2011 – 2014 là giai đoạn khó khăn của ngành du lịch do nhiều yếu tổ chủ quan và khách quan mang lại. Các chỉ tiêu tăng trưởng du lịch đều rất thấp. Năm 2014, ngành Du lịch đã đón được 7,87 triệu lượt khách quốc tế (tăng 3,96% so với năm 2013, trong 4 năm mới tăng khoảng 1,8 triệu lượt) và phục vụ khoảng 38.5 triệu lượt khách nội địa (tăng 10% so với năm 2013). Mức tăng trưởng khách bình quân cho cả giai đoạn đạt khoảng 9,4% đối với khách quốc tế và 8,67% đối với khách nội địa. Tổng thu từ khách du lịch năm 2014 đạt 230 nghìn tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2013, tăng trưởng trung bình cho cả giai đoạn đạt 20,9%.

Trước bối cảnh khó khăn của ngành du lịch chưa có lối thoát, ngày 8/12/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 92/NQ-CP về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch trong thời kỳ mới. Nghị quyết đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng yếu, mang tính đột phá nhằm thúc đẩy du lịch phát triển như: Nâng cao nhận thức của xã hội về phát triển du lịch; Tăng cường hỗ trợ của nhà nước cho phát triển du lịch; Tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm an ninh, an toàn để thu hút khách và phát triển du lịch; Hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp du lịch;

quản lý nhà nước về du lịch ở một số địa phương, khu, điểm du lịch còn chưa nghiêm, còn để xảy ra nhiều tình trạng ăn theo du lịch như cò mồi, chèo kéo, trộm cắp, cướp giật tài sản của khách, ăn xin,… gây ảnh hưởng lớn tới hình ảnh du lịch quốc gia; chất lượng dịch vụ du lịch còn nhiều hạn chế; môi trường du lịch, vệ sinh, an toàn chậm được cải thiện; sức cạnh tranh còn thấp, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và thiếu bền vững. Chỉ thị số 14/CT-TTg về việc tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch. Chỉ thị 14 được triển khai trong thực tế đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề tồn tại của ngành du lịch, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch và phát triển du lịch.

Hiệu lực, hiệu quả của các Văn bản pháp quy được ban hành trong hai năm 2014, 2015 đã tạo chuyển biến tích cực trong ngành du lịch. Quản lý nhà nước về du lịch được nâng cao; hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch, chất lượng dịch vụ du lịch được cải thiện; những tiêu cực ở các khu, điểm du lịch gây ảnh hưởng tới khách du lịch giảm thiểu rõ rệt; với sự hỗ trợ tích cực của nhà nước, các hoạt động đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch ngày càng được cải thiện và nâng cao; công tác xúc tiến quảng bá được đẩy mạnh; môi trường kinh doanh du lịch được đảm bảo, năng lực cạnh tranh du lịch được nâng cao. Năm 2015, năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam tăng 5 bậc so với năm 2013, xếp hạng 75/141 quốc gia; khách quốc tế tuy tăng nhẹ so với năm 2014 (tăng 0,9%) nhưng khách nội địa đã tăng đột biến, đạt 57 triệu lượt khách (tăng 48% so với năm 2014); tổng thu từ khách du lịch cũng tăng đáng kể, đạt 337,83 nghìn tỷ đồng (tăng 46,9% so với năm 2014). Có thể coi năm 2015 là năm tạo đà cho sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam.

Ngày 16/01/2017, Bộ Chính trịđã ban hànhNghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đây là văn kiện có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề hết sức quan trọng và tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của du lịch trong giai đoạn mới. Cũng trong năm 2017, Luật Du lịch sửa đổi (Luật số 09/2017/QH14 được ban hành ngày 19 tháng 6 với nhiều yếu tố mới , có độ cởi mở cao , đã trở thành khung pháp lý vững chắc cho sự phát triển của ngành du lịch trong bối cảnh, tình hình hiện nay.

Để tăng cường thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế, việc tạo thuận lợi về thủ tục visa và nhập cảnh là hết sức quan trọng. Từ năm 2015 đến năm 2017, Chính phủ đã triển khai thí điểm các chính sách miễn thị thực và cấp thị thực điện tử cho khách du lịch của một số quốc gia trên thế giới. Cụ thể, và Nghị quyết số 39/NQ-CP và Nghị quyết số 46/NQ-CP của Chính phủ về việc miễn thị thực có thời hạn đối với công dân 6 nước; Nghị định số 0 7Nghị quyết số 124/NQ-CP của Chính phủ quy định cấp thị thực điện tử (e-visa) cho công dân 46 nước. Đây là điểm nhấn quan trọng về cơ chế chính sách, tạo điều kiện cho việc thu hút khách du lịch quốc tế.

Các thể chế, cơ chế, chính sách của Đảng và Chính phủ đã được ban hành và triển khai vào thực tế trong 03 năm qua (2015-2017) đã mang lại hiệu quả rất lớn, tạo hiệu ứng tích cực đối với ngành du lịch, đưa du lịch Việt Nam vượt qua thời kỳ có khăn, bước vào gia đoạn phát triển mới, với diện mạo mới và vị thế mới trong khu vực và trên thế giới. Năm 2017, ngành du lịch đã thu hút được hơn 12,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 63% (5,03 triệu lượt khách) so với năm 2014 và phục vụ 73,2 triệu lượt khách nội địa, tăng 90% (34,7 triệu lượt khách) so với năm 2014. Tổng thu từ khách du lịch năm 2017 đạt 541 nghìn tỷ đồng, tăng 135,2% (311 nghìn tỷ đồng) so với năm 2014. Các chỉ số khác về cơ sở lưu trú, lao động du lịch, đóng góp của du lịch vào GDP cả nước,… cũng tăng lên đáng kể.

Do xu thế phát triển nhanh chóng của du lịch cũng như những tác động của các vấn đề mới nảy sinh trên thế giới như cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hợp tác và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển nhanh chóng của ngành hàng không – đặc biệt là sự xuất hiện của hàng không giá rẻ, các chính sách nới lỏng về thị thực và nhập cảnh với khách du lịch, tác động của các vấn đề kinh tế – thương mại toàn cầu (chiến tranh thương mại), cạnh tranh du lịch quốc tế ngày càng trở nên khốc liệt,… đã đặt du lịch Việt Nam trước những thách thức to lớn để thích ứng và phát triển. Mặc dù hệ thống chính sách, pháp luật về du lịch của Việt Nam hiện nay tương đối hoàn chỉnh, cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành du lịch, tuy nhiên, thể chế, chính sách về du lịch của nước ta vẫn còn rất nhiều vấn đề đặt ra. Cụ thể:

– Một số c hính sách phát triển du lịch chưa thực sự thông thoáng, hiệu quả chưa cao; Nh iều văn bản quy phạm hướng dẫn triển khai chính sách pháp luật về du lịch còn chậm, nên tính thực thi bị hạn chế. Một số quy định chưa phù hợp, mang tính hình thức nên không áp dụng được hoặc áp dụng khó khăn . Hoạt động tuyên truyền hướng dẫn thực hiện văn bản, chính sách pháp luật du lịch chưa tốt, nên tính hiệu quả của văn bản chưa cao . Nhiều v ăn bản còn thiếu đồng bộ, một số văn bản ra đời chậm so với yêu cầu thực tiễn , hiệu quả và hiệu lực thấp. Thiếu những chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc thù có sức cạnh tranh, xây dựng thương hiệu, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.

3. Một số giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn mới

Thứ nhất: Đổi mới, hoàn thiện hệ thống luật pháp; tăng cường hợp tác công – tư; nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách phù hợp để huy động tối ưu và sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước và xã hội cho phát triển du lịch; xây dựng chiến lược đầu tư du lịch bền vững; chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển du lịch, nhất là các khu vực động lực, địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa có tiềm năng du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và đào tạo nhân lực du lịch; chính sách phát triển du lịch tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên;

Thứ hai: Bổ sung, hoàn thiện và ban hành chính sách tạo điều kiện thuận lợi tối đa, đơn giản hóa thủ tục thị thực nhập cảnh và hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách du lịch quốc tế đến Việt Nam; h oàn thiện cơ chế quản lý và sử dụng hiệu quả Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch;

Thứ ba: Ban hành cơ chế, chính sách ưu tiên cho đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật ngành d u lịch ; khuyến khích các nhà đầu tư chiến lược và các tập đoàn đa quốc gia về du lịch chuyên nghiệp hàng đầu thế giới đầu tư hình thành các khách sạn, khu nghỉ dưỡng, khu dịch vụ du lịch phức hợp , các trung tâm mua sắm, giải trí chất lượng cao, đẳng cấp quốc tế tại các khu vực động lực và địa bàn trọng điểm.

Thứ tư: Dành nguồn lực thích hợp từ ngân sách nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, nhất là tại các địa bàn trọng điểm, động lực và khu vực còn khó khăn nhưng có tiềm năng du lịch ; nâng cao khả năng kết nối giao thông tới các khu, điểm du lịch, kiểm soát chất lượng dịch vụ và đảm bảo an toàn giao thông cho khách du lịch ; đ ầu tư các điểm dừng, nghỉ trên các tuyến du lịch đường bộ.

Thứ năm: Đ ẩy mạnh thực hiện chính sách “mở cửa bầu trời”, tạo điều kiện cho các hãng hàng không mở các đường bay mới kết nối Việt Nam với thị trường nguồn, tăng cường tần suất các đường bay hiện có; giải quyết các điểm nghẽn và tình trạng quá tải tại các cảng hàng không , xây dựng sân bay mới, hiện đại tại một số địa bàn trọng điểm; t ập trung đầu tư một số cảng biển và cảng thủy nội địa chuyên dụng tại các địa bàn có điều kiện thuận lợi phát triển du lịch đường biển và đường sông ; c ải thiện hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt phục vụ khách du lịch;

Thứ sáu: Ưu tiên ngân sách nhà nước và có cơ chế thích hợp huy động nguồn vốn từ xã hội để đầu tư cho công tác xây dựng quy hoạch du lịch, đào tạo nguồn nhân lực du lịch , xúc tiến, quảng bá du lịch, bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa lịch sử, lễ hội dân gian , làng nghề truyền thống phục vụ du lịch và phát triển du lịch cộng đồng.