Quy Hoạch Và Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam

ThienNhien.Net – Với 3.260 km bờ biển, đứng thứ 27 trong 156 quốc gia có biển trên thế giới; có vùng biển rộng gần 1 triệu km2 và khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ…, Việt Nam có quá nhiều lợi thế để phát triển du lịch biển, đảo. Thậm chí, so với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam không thua kém nước nào về tài nguyên biển và điều kiện tự nhiên phát triển du lịch biển đảo.

Trung bình, 100 km 2 đất liền Việt Nam có 1 km bờ biển, một tỉ lệ cao so với trung bình 600 km 2 đất liền- 1 km bờ biển của thế giới. Trong số hàng nghìn hòn đảo của Việt Nam có 3 đảo diện tích lớn hơn 100 km 2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km 2, 82 đảo có diện tích hơn 1 km 2 và khoảng 1.400 đảo chưa có tên.

Vùng biển và ven biển Việt Nam có vị trí địa chính trị, địa kinh tế là “mặt tiền” quan trọng của đất nước để thông ra Thái Bình Dương và mở cửa mạnh mẽ ra nước ngoài. Dọc bờ biển hiện đã xác định được 125 bãi biển đẹp có điều kiện thuận lợi cho tắm biển, vui chơi, nghỉ dưỡng, có quy mô và tầm cỡ quốc tế. Các bãi biển của Việt Nam bằng phẳng, nguyên sơ, tràn ngập nắng, cát, nước trong, sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ. Sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với cảnh quan văn hóa, xã hội của vùng biển, ven biển và các hải đảo cùng điều kiện thuận lợi về địa lý, địa hình tạo lợi thế phải triển du lịch biển đảo hơn hẳn các loại hình khác trên đất liền.

Không thể phủ nhận, du lịch biển Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước. Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 đã xác định 7 khu vực ưu tiên phát triển du lịch biển đảo, trong đó có 5 khu thuộc ven biển: Hạ Long- Cát Bà- Đồ Sơn; Lăng Cô- Cảnh Dương- Non Nước; Đại Lãnh- Văn Phong- Nha Trang; Long Hải- Vũng Tàu- Côn Đảo; Rạch Giá- Phú Quốc.

Ở các khu vực ven biển đang tập trung khoảng 70% các khu điểm, du lịch trong cả nước, trong đó có nhiều khu du lịch biển cao cấp, nổi tiểng trong và ngoài nước: Tuần Châu (Hạ Long), Vạn Chài (Thanh Hóa), Sun Spa resort Quảng Bình, Lang Co beach (Huế), Furama (Đà Nẵng), The Nam Hai resort, Palm Garden resort (Quảng Nam), Vinpearl Nha Trang, Mũi Né (Bình Thuận), Long Hải, Sài Gòn – Côn Đảo resort (Vũng Tàu), Sài Gòn – Phú Quốc resort (Kiên Giang)… Hằng năm, du lịch biển đảo thu hút lượng khách quốc tế đến Việt Nam lớn nhất (khoảng 70%) và trên 50% lượng khách du lịch nội địa; thu hút 65% lượng lao động toàn ngành, 50% lượng buồng phòng khách sạn, trong đó, 80% đạt tiêu chuẩn từ 3-5 sao. Thu nhập từ hoạt động du lịch biển chiếm tỉ trọng cao trong thu nhập du lịch cả nước, khoảng 60%. Chiếm 3 trên 4 khu du lịch quốc gia, 12 trên tổng số 30 khu du lịch chuyên đề và 10 trên 11 khu đô thị du lịch trên cả nước.

“Mặc dù có nhiều tiềm năng du lịch biển đặc sắc, với nhiều đảo ven bờ nhưng biển đảo Việt Nam vẫn chưa được khai thác du lịch tương xứng, chưa xác định được cho mình một vị trí không thể thay thế, một hình ảnh riêng về phát triển du lịch biển đảo trên bản đồ du lịch biển đảo các nước trong khu vực và trên thế giới”- ông Phạm Trương Hoàng- Trường ĐH Kinh tế quốc dân nói.

Do điều kiện tự nhiên, hiện nay, từ khu vực Thừa Thiên – Huế trở ra Bắc, các khu du lịch biển đảo chủ yếu đón khách nội địa (ngoại trừ Hạ Long và Huế vẫn đông khách quốc tế) và kinh doanh theo mùa vụ (chủ yếu trong những tháng hè). Những hạn chế này vẫn chưa được khắc phục dù những nhà làm du lịch chuyên nghiệp Việt Nam đã nhiều lần đi nước ngoài học tập, chính quyền các địa phương cũng đã quyết tâm cao.

Việc tự phát “băm nát” bờ biển, tận diệt tài nguyên, ồ ạt xây dựng và kinh doanh resort, khách sạn ở ven biển đã được cảnh báo nhiều lần nhưng tình trạng này vẫn đang diễn ra. Điển hình nhất là phát triển vô tội vạ các resort ở Bình Thuận và các tỉnh miền Trung. Gần đây nhất là việc resort mọc lên như nấm ở đảo Phú Quốc… Muốn phát triển đúng hướng và bài bản, bền vững và lâu dài thì cũng chưa được vì đến bây giờ, cả quy hoạch tổng thể lẫn quy hoạch chi tiết để phát triển du lịch biển đảo của Việt Nam đều… chưa có.

Nếu không nhanh chóng xây dựng quy hoạch phát triển biển đảo Việt Nam thì e rằng sẽ mất dần đi những bãi biển đẹp. Những vẻ đẹp này có được từ sự kiến tạo của thiên nhiên trong hàng vạn, hàng triệu năm nhưng phá thì rất nhanh, biến mất cũng chỉ trong tích tắc.

Giới Thiệu Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Việt Nam

Hội thảo thu hút sự quan tâm của đông đảo các đại biểu đến từ một số tỉnh thành, các cơ sở đào tạo du lịch, viện nghiên cứu, các đối tác quốc tế…

Phát biểu khai mạc hội thảo, Tổng cục trưởng TCDL Nguyễn Văn Tuấn đánh giá trong vài năm gần đây ngành Du lịch Việt Nam đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng khách khá tích cực, năm 2010 đón trên 5 triệu lượt khách quốc tế, tăng 34,8% so với năm trước; năm 2011 đón trên 6 triệu lượt, tăng 19,1% và năm 2012 đón trên 6,8 triệu lượt, tăng 13,8%. Năm 2012, tổng thu du lịch đạt 160 nghìn tỷ đồng, đóng góp hơn 5% GDP đất nước.

Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu thời gian qua đã có những tác động tiêu cực đến ngành Du lịch thế giới, trong đó có Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến các thị trường nguồn của du lịch Việt Nam. Bối cảnh đó đòi hỏi ngành Du lịch phải tìm ra các giải pháp phát triển bền vững và có trách nhiệm. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2024, tầm nhìn 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22/1/2013 vừa qua là cơ sở quan trọng để phát triển du lịch Việt Nam theo đúng quan điểm trong Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2024, tầm nhìn 2030 là đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội; phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.

Theo TS. Hà Văn Siêu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch – đơn vị chủ trì xây dựng Quy hoạch, du lịch Việt Nam đặt ra mục tiêu đón 7,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 37 triệu lượt khách nội địa; tổng thu du lịch đạt 10,3 tỷ USD vào năm 2024; 10,5 triệu lượt khách quốc tế và 47,5 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt 18,5 tỷ USD vào năm 2024; và 18 triệu lượt khách quốc tế, 71 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt 35,2 tỷ USD vào năm 2030.

Theo quy hoạch, Việt Nam được chia thành 7 vùng du lịch với những sản phẩm đặc trưng theo từng vùng; 46 khu du lịch quốc gia; 41 điểm du lịch quốc gia; 12 đô thị du lịch và một số khu, điểm du lịch quan trọng khác tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch cho các vùng và cả nước.

Để thực hiện những mục tiêu đó, quy hoạch đưa ra các nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, vốn đầu tư, nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá, tổ chức quản lý quy hoạch, ứng dụng khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch, ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu.

Tại hội thảo, TS. Trương Sỹ Vinh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, cũng đã giới thiệu nội dung cơ bản của quy hoạch phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ và vùng Tây Nguyên. Các quy hoạch vùng này sẽ được trình lên Bộ trưởng Bộ VHTTDL để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong thời gian tới.

Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Việt Nam Đến Năm 2024

Ngày 22/01/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 201/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2030.

Theo Quy hoạch, đến năm 2024, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp với hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới. Và đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển.

Cụ thể, đến năm 2024, du lịch thu hút 10,5 triệu lượt khách quốc tế, 47,5 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng khách quốc tế là 7%/năm, nội địa là 5,1%/năm; tổng thu đạt 372 nghìn tỷ đồng, tương đương 18,5 tỷ USD; chiếm 7% GDP cả nước; tạo ra việc làm cho 2,9 triệu lao động (trong đó 870 nghìn lao động trực tiếp)…

Năm 2030, du lịch thu hút 18 triệu lượt khách quốc tế, 71 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng tương ứng 5,2% và 4,1%/năm; tổng thu đạt 708 nghìn tỷ đồng, tương đương 35,2 tỷ USD; chiếm 7,5% GDP cả nước; tạo ra việc làm cho 4,7 triệu lao động (trong đó 1,4 triệu lao động trực tiếp)…

Với mục tiêu đó, ngành Du lịch định hướng phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh. Đồng thời, phát triển cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế; tăng cường quản lý du lịch ra nước ngoài. Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; đảm bảo hài hòa tương tác giữa khai thác phát triển du lịch với bảo vệ giá trị tài nguyên tự nhiên và nhân văn…

Theo Quy hoạch, du lịch Việt Nam chia thành bảy vùng du lịch với những sản phẩm đặc trưng theo từng vùng; 46 khu du lịch quốc gia; 41 điểm du lịch quốc gia; 12 đô thị du lịch và một số khu, điểm du lịch quan trọng khác tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch cho các vùng và cả nước:

Vùng Trung du, miền núi Bắc Bộ có 14 tỉnh, thành phố tập trung khai thác các loại hình du lịch về nguồn, tham quan tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc, nghỉ dưỡng, thể thao, khám phá…

Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc có 11 tỉnh, thành phố tập trung khai thác các loại hình du lịch như du lịch văn hóa gắn với văn minh lúa nước sông Hồng, du lịch biển đảo, du lịch MICE (hội họp, khuyến thưởng, hội nghị, triển lãm), du lịch sinh thái nông nghiệp nông thôn…

Vùng Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố tập trung khai thác các loại hình du lịch như tham quan di sản, di tích lịch sử văn hóa, biển, đảo, tham quan, nghiên cứu hệ sinh thái…

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có 8 tỉnh, thành phố tập trung khai thác các loại hình du lịch như du lịch biển, đảo, tham quan di tích (hệ thống di sản) kết hợp du lịch nghiên cứu bản sắc văn hóa (văn hóa Chăm, các dân tộc thiểu số ở Đông Trường Sơn), du lịch MICE…

Vùng Tây Nguyên có 5 tỉnh tập trung khai thác các loại hình du lịch như du lịch văn hóa Tây Nguyên, nghỉ dưỡng núi, tham quan nghiên cứu hệ sinh thái cao nguyên…

Vùng Đông Nam Bộ có 6 tỉnh, thành phố tập trung khai thác các loại hình du lịch như du lịch MICE, văn hóa, lễ hội, giải trí, nghỉ dưỡng biển, thể thao, mua sắm…

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành phố tập trung khai thác các loại hình du lịch như du lịch sinh thái (miệt vườn, đất ngập nước), du lịch biển, đảo, văn hóa, lễ hội…

Để đạt được các mục tiêu đề ra, Quy hoạch cũng đưa ra chi tiết các nhóm giải pháp thực hiện về: cơ chế, chính sách; huy động vốn đầu tư; nguồn nhân lực; xúc tiến, quảng bá; tổ chức quản lý quy hoạch; ứng dụng khoa học, công nghệ; hợp tác quốc tế; bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch và giải pháp ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu…./.

DANH MỤC CÁC ĐỊA ĐIỂM TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH QUỐC GIA, ĐIỂM DU LỊCH QUỐC GIA VÀ ĐÔ THỊ DU LỊCH GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2024, TẦM NHÌN NĂM 2030(Ban hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ)

Vùng trung du miền núi Bắc bộ

Điểm du lịch thành phố Lào Cai

Điểm du lịch thành phố Lạng Sơn

Vùng đồng bằng Sông Hồng và duyên hải đông bắc

Điểm du lịch Hoàng thành Thăng Long

Điểm du lịch thành phố Bắc Ninh

Điểm du lịch Đền Trần – Phủ Giầy

Điểm du lịch Thành Nhà Hồ

Điểm du lịch Lưu niệm Nguyễn Du

Điểm du lịch Ngã Ba Đồng Lộc

Điểm du lịch thành phố Đồng Hới

Điểm du lịch thành cổ Quảng Trị

Vùng duyên hải Nam Trung bộ

Điểm du lịch Ngũ Hành Sơn

Điểm du lịch Ngã ba Đông Dương

Điểm du lịch Thị xã Gia Nghĩa

Điểm du lịch TW Cục miền Nam

Điểm du lịch Hồ Trị An – Mã Đà

Điểm du lịch Cù lao Ông Hổ

Điểm du lịch thành phố Cần Thơ

Điểm du lịch thị xã Hà Tiên

Điểm du lịch Lưu niệm Cao Văn Lầu

a) Đô thị du lịch Sa Pa, thuộc tỉnh Lào Cai

b) Đô thị du lịch Đồ Sơn, thuộc thành phố Hải Phòng

c) Đô thị du lịch Hạ Long, thuộc tỉnh Quảng Ninh

d) Đô thị du lịch Sầm Sơn, thuộc tỉnh Thanh Hóa

đ) Đô thị du lịch Cửa Lò, thuộc tỉnh Nghệ An

e) Đô thị du lịch Huế, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế

g) Đô thị du lịch Đà Nẵng, thuộc thành phố Đà Nẵng

h) Đô thị du lịch Hội An, thuộc tỉnh Quảng Nam

i) Đô thị du lịch Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hòa

k) Đô thị du lịch Phan Thiết, thuộc tỉnh Bình Thuận

l) Đô thị du lịch Đà Lạt, thuộc tỉnh Lâm Đồng

m) Đô thị du lịch Vũng Tàu, thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Quản Lý Quy Hoạch Phát Triển Các Khu Du Lịch “Resort” Tại Việt Nam

Thứ năm, 27/07/2006 00:00

Một số nội dung về Quy hoạch phát triển và quản lý khu du lịch “Resort”

Xác định cơ sở hình thành và phát triển:Để xác định tính khả thi của dự án đầu tư phát triển KDL, cần căn cứ một số tiêu chí quy hoạch, đầu tư xây dựng, kinh doanh khai thác đã được quy định trong Luật Du lịch; khu du lịch được xếp hạng KDl quốc gia, KDL địa phương theo các tiêu chí tài nguyên du lịch, quy mô phát triển, điều kiện cơ sở hạ tầng, dịch vụ, khả năng thu hút, phục vụ khách du lịch, đang được soạn thảo tại các văn bản hướng dẫn luật, sau đây là một số tiêu chí chủ yếu:– Có tài nguyên du lịch, đặc biệt hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch cao; không gian, môi trường; có ranh giới được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định với quy mô, diện tích tối thiểu 1.000ha KDL quốc gia, tối thiểu 200 ha.– Có quỹ đất tối đa không vượt quá 20% tổng diện tích khu du lịch để xây dnựg các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch phù hợp với tiêu chuẩn, quy phạm được Nhà nước ban hành đối với loại hình du lịch đã được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch; các công trình, phương tiện, trang thiết bị, kỹ thuật được xây dựng đồng bộ, đạt tiêu chuẩn quy phạm và quy định kỹ thuật được Nhà nước ban hành, trong đó tối thiểu đạt 70% tiêu chuẩn quốc tế; phù hợp với tính chất của khu du lịch và quy hoạch phát triển du lịch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và được quản lý khai thác có hiệu quả; đảm bảo phục vụ cho ít nhất 1.000.000 lượt khách du lịch/năm KDL quốc gia; 100.000 lượt khách du lịch/năm KDL địa phương.– Cơ sở lưu trú đủ khả năng phục vụ 200.000 lượt khách du lịch lưu trú trở lên KDL quốc gia, 10.000 lượt khách du lịch lưu trú trở lên KDL địa phương.

Xác định thị trường, nhu cầu khách du lịch, dự báo các sản phẩm du lịch:Yêu cầu bắt buộc khi thực hiện nghiên cứu dự án đầu tư xây dựng KDL, quyết định đến sự hình thành, tồn tại bền vững của KDL, về khía cạnh kinh tế là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của chủ đầu tư khi huy động nguồn lực để thực hiện dự án là xác định yếu tố thị trường khách du lịch xác định nhu cầu sử dụng. Thị trường khách du lịch được khảo sát theo loại khách, lứa tuổi, dân tộc, khả năng chi trả các dịch vụ du lịch…quyết định đến nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của khách du lịch cần được khảo sát để xác định loại hình du lịch, dịch vụ, sản phẩm du lịch cung cấp cho khách. Là tiền đề quan trọng để luận chứng hình thành phát triển KDLVề sản phẩm du lịch, thực chất là xác định các khả năng cung cấp dịch vụ vui chơi giải trí đáp ững nhu cầu của khách du lịch gồm: lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, văn hoá, nghệ thuật, thể thao, mua sắm và các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí đồng thời là tiền đề xác định quy mô, hạng mục đầu tư xây dựng các công trình, phương tiện được sử dụng phục vụ các hoạt động của khách du lịch.

Xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, quản lý sử dụng đất đai, kiến trúc cảnh quan và chất lượng xây dựng công trình:Bảo đảm yêu cầu tạo lập môi trường thuận lợi, tiện nghi cho khách du lịch, tăng tính hấp dẫn khách, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Kinh nghiệm đầu tư xây dựng KDL ở Mỹ, dự án phát triển các KDL được quy định rất chặt chẽ về quy mô, quản lý kiến trúc, sử dụng đất, môi trường, bảo vệ cảnh quan: KDL biển loại lớn có diện tích tối thiểu 64 ha 16 ha với KDl biển có vị trí cách bờ biển dưới 4km; tỷ lệ không gian trống trên 50%; tính đồng bộ của cơ sở vật chất hạ tầng được biểu hiện ở mức đầu tư tối thiểu 7 triệu USD, trong đó đòi hỏi tối thiểu 150 phòng lưu trú, cơ sở dịch vụ ăn uống đảm bảo trên 100 người, cơ sở vui chơi giải trí theo tiêu chuẩn xây dựng chuyên ngành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch 50.000 lượt khách lưu trú, 100.000 lượt khách tham quan/năm. Đối với KDL loại nhỏ, diện tích tối thiểu là 8 ha, tối thiểu phải đầu tư 2 triệu USD cho 25-75 phòng lưu trú, phòng họp, nhà hàng cho lượng khách du lịch lưu trú 12.000 lượt khách, 25.000 lượt khách tham quan/nămHiện nay nước ta đang thiếu các tiêu chuẩn quy phạm phù hợp với từng loại KDL, đang phải vận dụng từ nhiều tiêu chuẩn quy phạm khác nhau, dự kiến một số tiêu chuẩn cụ thể sẽ được ban hành như sau:– Mật độ xây dựng tối đa theo loại hình KDL từ 5-25%; mật độ phòng lưu trú, khách sạn tối đa từ 20-75 phòng/ha, tuỳ theo quy mô KDL, tính chất hoạt động chủ yếu của KDL. Hệ số sử dụng đất phụ thuộc vào quy định kiến trúc cảnh quan cho phép đối với công trình xây dựng trong KDL với mục tiêu bảo vệ cảnh quan, tạo lập môi trường sinh thái thuận lợi cho du khách; độ cao tối đa cho phép đối với khách sạn không quá 16m, 8m đối với công trình khác; hệ số sử dụng đất tối đa không vượt quá 1,0 đối với khu vực dành để xây công trình. Ngoài ra yếu cầu khác về quản lý xây dựng, bảo vệ cảnh quan, theo vị trí, điều kiện cảnh quan, tài nguyên, khoảng lùi của công trình, lô đất xây dựng KDL được quy định cụ thể, từ 30m đối với KDL vùng núi, 50m đối với khu nghỉ biển đảo…

Xây dựng, ban hành và thực hiện quy chế quản lý khu du lịch:Luật Du lịch năm 2005 đã quy định các KDL phải có Ban Quản lý, có chức năng quản lý khai thác, kinh doanh và phát triển KDl phù hợp với đặc thù của một khu vực hoạt động giải trí, nghỉ ngơi của khách du lịch, vừa là cơ sở kinh doanh đòi hỏi chất lượng cao về mọi mặt. Nội dung quản lý KDL bao gồm: quản lý ranh giới KDL, phân khu chức năng hoạt động du lịch theo quy hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt; quản lý hoạt động, một số chính sách và quản lý Nhà nước đối với KDL; quản lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, quản lý đầu tư phát triển, quản lý sử dụng và khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng du lịch; quản lý hoạt động của khách du lịch, các tổ chức cá nhân có hoạt động kinh doanh du lịch; sự tham gia của cộng đồng tại KDL; phối hợp các ngành trong việc quản lý KDl theo quy hoạch, kế hoạch đã được cấp thẩm quyền phê duyệt.

Tác giả: TS. KTS Lê Trọng Bình Nguồn tin: T/C Quy hoạch xây dựng, số 2/2006

Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Ninh Bình

Với địa thế thuận lợi cùng với nền lịch sử lâu đời, nơi đây còn từng là kinh đô đầu tiên của nước ta nên là nơi hội tụ nhiều yếu tố chính trị, văn hóa, kinh tế của nước ta thời xưa.

Du lịch của Ninh Bình có nhiều tiềm năng để phát triển mạnh mẽ

Ninh Bình còn chứa đựng nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được thế giới công nhận đó lại là một thế mạnh nữa khiến Ninh Bình trở thành nơi có nguồn tài nguyên du lịch lớn. Việc quy hoạch và phát triển du lịch Ninh Bình không những giúp nền du lịch của nước ta được đẩy mạnh trên thế giới mà còn giúp cải thiện nền kinh tế chính trị của tỉnh thành phố và của toàn thể đất nước.

Nền du lịch của Ninh Bình đã phát triển từ cách đây rất lâu, lượng khách đến với Ninh Bình ngày một đông hơn, với ngân sách thu lại ngày một nhiều. Theo thống kê của một số cơ sở, Ninh Bình, Hà Nội và Hạ Long đang là những điểm du lịch có lượng khách đến nhiều nhất khu vực đồng bằng Sông Hồng và duyên hải.

Theo một số thông tin quy hoạch tầm đến năm 2030 Ninh Bình sẽ trở thành thành phố du lịch với một số vùng tại Ninh Bình sẽ trở thành thị trấn như Vân Long. Bên cạnh đó, ngành du lịch được tính đề cập đến như một ngành mũi nhọn của Ninh Bình, mà trong những năm gần đây các công trình tu sửa và những cảnh quan đã được chú trọng gìn giữ và bảo tồn hơn.

Cụ thể về định hướng các sản phẩm quy hoạch chủ yếu tập trung vào nhóm các danh lam thắng cảnh, những nơi du lịch văn hóa tâm linh, khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí và thể dục thể thao, khu du lịch sinh thái biển và phát triển một số các dịch vụ khác.

Trọng tâm của dự án quy hoạch phát triển du lịch Ninh Bình là vào trung tâm tỉnh Ninh Bình, bên cạnh đó hỗ trợ phát triển một số vùng có tiềm năng khác ở đây. Một lý do khiến Ninh Bình trở thành nơi tiềm năng về du lịch là những thắng cảnh và di tích lịch sử lâu đời được thế giới công nhận.

Khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư được công nhận là một trong những nơi chứa những di tích lịch sử quan trọng của đất nước như: đền thờ những vị vua, công chúa bên cạnh đó là những động và ngôi chùa cổ kính có lịch sử lâu đời.

Khu văn hóa tâm linh núi: Nơi đây chứa nhiều ngôi chùa có tuổi đời dài theo lịch sử như chùa Bái Đính, được công nhận là một trong những ngôi chùa lớn trên thế giới,

Kiến trúc nhà thờ lớn: hệ thống 9 nhà thờ được kết hợp với nhau cùng đó là những kiến trúc hòa quyện giữa cổ xưa và hiện đại tạo nên sự độc đáo đầy mới mẻ.

Nơi đây có hệ thống du lịch sinh thái cảnh quan đa dạng, phong phú, với nhiều động thực vật và thảm thực vật quý hiếm

Hệ thống nước tự nhiên, cùng những con sông, dòng nước, hồ nước và thung lũng đẹp mê lòng người.

Hệ thống núi trùng điệp kèm với cảnh quan hang động đan xen những công trình cổ xưa và hiện đại khiến nơi đây trở thành nơi được nhiều người mê đắm, tò mò.

Những lễ hội truyền thống có từ lâu đời như lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội Tràng An… ở nơi đây có tổng cộng 443 lễ hội hàng năm.

Nhiều làng nghề truyền thống như làng nghề cói, làng thêu, làng hoa, làng nghề đá mỹ nghệ và rất nhiều làng nghề khác.

Bên cạnh những di tích lịch sử và hệ sinh thái đa dạng, Ninh Bình còn được biết đến với những cử chỉ thân thiện thái độ mến khách của người dân nơi đây, những đặc sản nổi trội và những món quà đặc trưng:

Nơi nghỉ dưỡng, khách sạn giá cả hợp lý với từng nhu cầu sử dụng của từng người, hệ thống quản lý và không gian đẹp.

Người dân cởi mở, mến khách, giản dị và cần cù chịu khó.

Nơi đây được biết đến với nhiều món ăn đặc sản như thịt dê, cá rô, cơm cháy, rượu kim sơn và rất nhiều các loại đặc sản ngon khác..

Hệ thống giao thông nối với Ninh Bình cũng khá thuận lợi. Du khách có thể chọn lựa cho mình phương tiện đi lại hợp lý nhất, để tới Ninh Bình bạn cũng có thể đi xe khách, tàu hỏa hay xe máy nếu bạn gần…

Việc phát triển khu du lịch Ninh Bình theo các ban lãnh đạo nhằm khai thác hiệu quả những lợi thế về tiềm năng du lịch, phát triển theo hướng chuyên nghiệp, tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo có tính đặc thù, chất lượng cao, bên cạnh đó phải gắn với công tác bảo tồn, phát huy các giá trị tự nhiên, các giá trị văn hóa lịch sử. Phải đảm bảo về vấn đề môi trường; an ninh, quốc phòng và phát triển bền vững.