Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Việt Nam / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Quy Hoạch Và Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Việt Nam

ThienNhien.Net – Với 3.260 km bờ biển, đứng thứ 27 trong 156 quốc gia có biển trên thế giới; có vùng biển rộng gần 1 triệu km2 và khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ…, Việt Nam có quá nhiều lợi thế để phát triển du lịch biển, đảo. Thậm chí, so với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam không thua kém nước nào về tài nguyên biển và điều kiện tự nhiên phát triển du lịch biển đảo.

Trung bình, 100 km 2 đất liền Việt Nam có 1 km bờ biển, một tỉ lệ cao so với trung bình 600 km 2 đất liền- 1 km bờ biển của thế giới. Trong số hàng nghìn hòn đảo của Việt Nam có 3 đảo diện tích lớn hơn 100 km 2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km 2, 82 đảo có diện tích hơn 1 km 2 và khoảng 1.400 đảo chưa có tên.

Vùng biển và ven biển Việt Nam có vị trí địa chính trị, địa kinh tế là “mặt tiền” quan trọng của đất nước để thông ra Thái Bình Dương và mở cửa mạnh mẽ ra nước ngoài. Dọc bờ biển hiện đã xác định được 125 bãi biển đẹp có điều kiện thuận lợi cho tắm biển, vui chơi, nghỉ dưỡng, có quy mô và tầm cỡ quốc tế. Các bãi biển của Việt Nam bằng phẳng, nguyên sơ, tràn ngập nắng, cát, nước trong, sóng gió vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ. Sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với cảnh quan văn hóa, xã hội của vùng biển, ven biển và các hải đảo cùng điều kiện thuận lợi về địa lý, địa hình tạo lợi thế phải triển du lịch biển đảo hơn hẳn các loại hình khác trên đất liền.

Không thể phủ nhận, du lịch biển Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước. Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 đã xác định 7 khu vực ưu tiên phát triển du lịch biển đảo, trong đó có 5 khu thuộc ven biển: Hạ Long- Cát Bà- Đồ Sơn; Lăng Cô- Cảnh Dương- Non Nước; Đại Lãnh- Văn Phong- Nha Trang; Long Hải- Vũng Tàu- Côn Đảo; Rạch Giá- Phú Quốc.

Ở các khu vực ven biển đang tập trung khoảng 70% các khu điểm, du lịch trong cả nước, trong đó có nhiều khu du lịch biển cao cấp, nổi tiểng trong và ngoài nước: Tuần Châu (Hạ Long), Vạn Chài (Thanh Hóa), Sun Spa resort Quảng Bình, Lang Co beach (Huế), Furama (Đà Nẵng), The Nam Hai resort, Palm Garden resort (Quảng Nam), Vinpearl Nha Trang, Mũi Né (Bình Thuận), Long Hải, Sài Gòn – Côn Đảo resort (Vũng Tàu), Sài Gòn – Phú Quốc resort (Kiên Giang)… Hằng năm, du lịch biển đảo thu hút lượng khách quốc tế đến Việt Nam lớn nhất (khoảng 70%) và trên 50% lượng khách du lịch nội địa; thu hút 65% lượng lao động toàn ngành, 50% lượng buồng phòng khách sạn, trong đó, 80% đạt tiêu chuẩn từ 3-5 sao. Thu nhập từ hoạt động du lịch biển chiếm tỉ trọng cao trong thu nhập du lịch cả nước, khoảng 60%. Chiếm 3 trên 4 khu du lịch quốc gia, 12 trên tổng số 30 khu du lịch chuyên đề và 10 trên 11 khu đô thị du lịch trên cả nước.

“Mặc dù có nhiều tiềm năng du lịch biển đặc sắc, với nhiều đảo ven bờ nhưng biển đảo Việt Nam vẫn chưa được khai thác du lịch tương xứng, chưa xác định được cho mình một vị trí không thể thay thế, một hình ảnh riêng về phát triển du lịch biển đảo trên bản đồ du lịch biển đảo các nước trong khu vực và trên thế giới”- ông Phạm Trương Hoàng- Trường ĐH Kinh tế quốc dân nói.

Do điều kiện tự nhiên, hiện nay, từ khu vực Thừa Thiên – Huế trở ra Bắc, các khu du lịch biển đảo chủ yếu đón khách nội địa (ngoại trừ Hạ Long và Huế vẫn đông khách quốc tế) và kinh doanh theo mùa vụ (chủ yếu trong những tháng hè). Những hạn chế này vẫn chưa được khắc phục dù những nhà làm du lịch chuyên nghiệp Việt Nam đã nhiều lần đi nước ngoài học tập, chính quyền các địa phương cũng đã quyết tâm cao.

Việc tự phát “băm nát” bờ biển, tận diệt tài nguyên, ồ ạt xây dựng và kinh doanh resort, khách sạn ở ven biển đã được cảnh báo nhiều lần nhưng tình trạng này vẫn đang diễn ra. Điển hình nhất là phát triển vô tội vạ các resort ở Bình Thuận và các tỉnh miền Trung. Gần đây nhất là việc resort mọc lên như nấm ở đảo Phú Quốc… Muốn phát triển đúng hướng và bài bản, bền vững và lâu dài thì cũng chưa được vì đến bây giờ, cả quy hoạch tổng thể lẫn quy hoạch chi tiết để phát triển du lịch biển đảo của Việt Nam đều… chưa có.

Nếu không nhanh chóng xây dựng quy hoạch phát triển biển đảo Việt Nam thì e rằng sẽ mất dần đi những bãi biển đẹp. Những vẻ đẹp này có được từ sự kiến tạo của thiên nhiên trong hàng vạn, hàng triệu năm nhưng phá thì rất nhanh, biến mất cũng chỉ trong tích tắc.

Quản Lý Quy Hoạch Phát Triển Các Khu Du Lịch “Resort” Tại Việt Nam

Thứ năm, 27/07/2006 00:00

Một số nội dung về Quy hoạch phát triển và quản lý khu du lịch “Resort”

Xác định cơ sở hình thành và phát triển:Để xác định tính khả thi của dự án đầu tư phát triển KDL, cần căn cứ một số tiêu chí quy hoạch, đầu tư xây dựng, kinh doanh khai thác đã được quy định trong Luật Du lịch; khu du lịch được xếp hạng KDl quốc gia, KDL địa phương theo các tiêu chí tài nguyên du lịch, quy mô phát triển, điều kiện cơ sở hạ tầng, dịch vụ, khả năng thu hút, phục vụ khách du lịch, đang được soạn thảo tại các văn bản hướng dẫn luật, sau đây là một số tiêu chí chủ yếu:– Có tài nguyên du lịch, đặc biệt hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch cao; không gian, môi trường; có ranh giới được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định với quy mô, diện tích tối thiểu 1.000ha KDL quốc gia, tối thiểu 200 ha.– Có quỹ đất tối đa không vượt quá 20% tổng diện tích khu du lịch để xây dnựg các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch phù hợp với tiêu chuẩn, quy phạm được Nhà nước ban hành đối với loại hình du lịch đã được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch; các công trình, phương tiện, trang thiết bị, kỹ thuật được xây dựng đồng bộ, đạt tiêu chuẩn quy phạm và quy định kỹ thuật được Nhà nước ban hành, trong đó tối thiểu đạt 70% tiêu chuẩn quốc tế; phù hợp với tính chất của khu du lịch và quy hoạch phát triển du lịch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và được quản lý khai thác có hiệu quả; đảm bảo phục vụ cho ít nhất 1.000.000 lượt khách du lịch/năm KDL quốc gia; 100.000 lượt khách du lịch/năm KDL địa phương.– Cơ sở lưu trú đủ khả năng phục vụ 200.000 lượt khách du lịch lưu trú trở lên KDL quốc gia, 10.000 lượt khách du lịch lưu trú trở lên KDL địa phương.

Xác định thị trường, nhu cầu khách du lịch, dự báo các sản phẩm du lịch:Yêu cầu bắt buộc khi thực hiện nghiên cứu dự án đầu tư xây dựng KDL, quyết định đến sự hình thành, tồn tại bền vững của KDL, về khía cạnh kinh tế là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của chủ đầu tư khi huy động nguồn lực để thực hiện dự án là xác định yếu tố thị trường khách du lịch xác định nhu cầu sử dụng. Thị trường khách du lịch được khảo sát theo loại khách, lứa tuổi, dân tộc, khả năng chi trả các dịch vụ du lịch…quyết định đến nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của khách du lịch cần được khảo sát để xác định loại hình du lịch, dịch vụ, sản phẩm du lịch cung cấp cho khách. Là tiền đề quan trọng để luận chứng hình thành phát triển KDLVề sản phẩm du lịch, thực chất là xác định các khả năng cung cấp dịch vụ vui chơi giải trí đáp ững nhu cầu của khách du lịch gồm: lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, văn hoá, nghệ thuật, thể thao, mua sắm và các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí đồng thời là tiền đề xác định quy mô, hạng mục đầu tư xây dựng các công trình, phương tiện được sử dụng phục vụ các hoạt động của khách du lịch.

Xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, quản lý sử dụng đất đai, kiến trúc cảnh quan và chất lượng xây dựng công trình:Bảo đảm yêu cầu tạo lập môi trường thuận lợi, tiện nghi cho khách du lịch, tăng tính hấp dẫn khách, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Kinh nghiệm đầu tư xây dựng KDL ở Mỹ, dự án phát triển các KDL được quy định rất chặt chẽ về quy mô, quản lý kiến trúc, sử dụng đất, môi trường, bảo vệ cảnh quan: KDL biển loại lớn có diện tích tối thiểu 64 ha 16 ha với KDl biển có vị trí cách bờ biển dưới 4km; tỷ lệ không gian trống trên 50%; tính đồng bộ của cơ sở vật chất hạ tầng được biểu hiện ở mức đầu tư tối thiểu 7 triệu USD, trong đó đòi hỏi tối thiểu 150 phòng lưu trú, cơ sở dịch vụ ăn uống đảm bảo trên 100 người, cơ sở vui chơi giải trí theo tiêu chuẩn xây dựng chuyên ngành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch 50.000 lượt khách lưu trú, 100.000 lượt khách tham quan/năm. Đối với KDL loại nhỏ, diện tích tối thiểu là 8 ha, tối thiểu phải đầu tư 2 triệu USD cho 25-75 phòng lưu trú, phòng họp, nhà hàng cho lượng khách du lịch lưu trú 12.000 lượt khách, 25.000 lượt khách tham quan/nămHiện nay nước ta đang thiếu các tiêu chuẩn quy phạm phù hợp với từng loại KDL, đang phải vận dụng từ nhiều tiêu chuẩn quy phạm khác nhau, dự kiến một số tiêu chuẩn cụ thể sẽ được ban hành như sau:– Mật độ xây dựng tối đa theo loại hình KDL từ 5-25%; mật độ phòng lưu trú, khách sạn tối đa từ 20-75 phòng/ha, tuỳ theo quy mô KDL, tính chất hoạt động chủ yếu của KDL. Hệ số sử dụng đất phụ thuộc vào quy định kiến trúc cảnh quan cho phép đối với công trình xây dựng trong KDL với mục tiêu bảo vệ cảnh quan, tạo lập môi trường sinh thái thuận lợi cho du khách; độ cao tối đa cho phép đối với khách sạn không quá 16m, 8m đối với công trình khác; hệ số sử dụng đất tối đa không vượt quá 1,0 đối với khu vực dành để xây công trình. Ngoài ra yếu cầu khác về quản lý xây dựng, bảo vệ cảnh quan, theo vị trí, điều kiện cảnh quan, tài nguyên, khoảng lùi của công trình, lô đất xây dựng KDL được quy định cụ thể, từ 30m đối với KDL vùng núi, 50m đối với khu nghỉ biển đảo…

Xây dựng, ban hành và thực hiện quy chế quản lý khu du lịch:Luật Du lịch năm 2005 đã quy định các KDL phải có Ban Quản lý, có chức năng quản lý khai thác, kinh doanh và phát triển KDl phù hợp với đặc thù của một khu vực hoạt động giải trí, nghỉ ngơi của khách du lịch, vừa là cơ sở kinh doanh đòi hỏi chất lượng cao về mọi mặt. Nội dung quản lý KDL bao gồm: quản lý ranh giới KDL, phân khu chức năng hoạt động du lịch theo quy hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt; quản lý hoạt động, một số chính sách và quản lý Nhà nước đối với KDL; quản lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, quản lý đầu tư phát triển, quản lý sử dụng và khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng du lịch; quản lý hoạt động của khách du lịch, các tổ chức cá nhân có hoạt động kinh doanh du lịch; sự tham gia của cộng đồng tại KDL; phối hợp các ngành trong việc quản lý KDl theo quy hoạch, kế hoạch đã được cấp thẩm quyền phê duyệt.

Tác giả: TS. KTS Lê Trọng Bình Nguồn tin: T/C Quy hoạch xây dựng, số 2/2006

Quy Hoạch Phát Triển Du Lịch Quảng Ninh

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến 2020, tầm nhìn 2030 đã được tỉnh Quảng Ninh lựa chọn Tập đoàn tư vấn Boston – BCG (Mỹ) là đơn vị lập quy hoạch.Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến 2020, tầm nhìn 2030 đã được tỉnh Quảng Ninh lựa chọn Tập đoàn tư vấn Boston – BCG (Mỹ) là đơn vị lập quy hoạch.

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến 2020, tầm nhìn 2030 đã được tỉnh Quảng Ninh lựa chọn Tập đoàn tư vấn Boston – BCG (Mỹ) là đơn vị lập quy hoạch.

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến 2020, tầm nhìn 2030 đã được tỉnh Quảng Ninh lựa chọn Tập đoàn tư vấn Boston – BCG (Mỹ) là đơn vị lập quy hoạch.

Đến nay, đơn vị tư vấn cùng với các sở, ban, ngành của tỉnh đã thực hiện lập quy hoạch dự án được gần 2 tháng. Trong giai đoạn đầu, dự án tập trung vào việc đánh giá hiện trạng phát triển du lịch, sau đó sẽ đưa ra những định hướng chiến lược và xây dựng kế hoạch triển khai.

Với mục đích để xây dựng dự án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh một cách tốt nhất, tại hội thảo, Tập đoàn tư vấn Boston – BCG đã đưa ra bảng câu hỏi khảo sát về những vấn đề hạn chế mà du lịch Quảng Ninh đang phải chịu tác động, xác định mức độ ưu tiên các vấn đề khác nhau trong phát triển du lịch của tỉnh; giới thiệu, tìm hiểu, đánh giá thị trường khách du lịch Trung Quốc, một thị trường khách quốc tế lớn nhất đến Quảng Ninh hiện nay và đưa ra những giải pháp Quảng Ninh cần làm để thu hút thị trường khách trọng tâm này.

Bên cạnh đó, hội thảo cũng nghiên cứu mô hình phát triển du lịch của Malaysia và rút ra các bài học kinh nghiệm cho Quảng Ninh về phát triển du lịch như: Xây dựng thương hiệu, phân khúc thị trường mục tiêu, khuyến khích đầu tư để cải thiện các dịch vụ giao thông vận tải, tăng cường kết nối giao thông đường không…

Đẩy mạnh Du lịch quốc gia 2014 Đặt phòng khách sạn Hạ Long

Quy Hoạch Tổng Thể Phát Triển Du Lịch Việt Nam Đến Năm 2022, Tầm Nhìn Đến Năm 2030

Đánh giá 15 năm thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển, ngành Du lịch đã có nhiều tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Luật Du lịch năm 2005 khẳng định một bước tiến lớn về khuôn khổ pháp lý. Hệ thống quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương tới địa phương không ngừng đổi mới và hoàn thiện cùng với sự hình thành phát huy vai trò của Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch. Sự ra đời của Hiệp hội Du lịch Việt Nam; Sự trưởng thành và lớn mạnh không ngừng của hệ thống doanh nghiệp du lịch; Các quy hoạch phát triển du lịch, các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án.v.v.. phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước tạo diện mạo mới cho đất nước và làm tiền đề cho du lịch Việt Nam phát triển trong giai đoạn tiếp theo.

Những kết quả được đánh giá thông qua các chỉ tiêu về lượng khách, thu nhập, tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳng định vai trò của ngành Du lịch trong nền kinh tế quốc dân. Ngành Du lịch đã có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế; góp phần vào xoá đói, giảm nghèo; đảm bảo an sinh xã hội; nâng cao dân trí; bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống; bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh quốc phòng.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, đánh giá qua 15 năm thực hiện quy hoạch cho thấy ngành Du lịch phát triển còn nhiều hạn chế và bất cập; nhiều khó khăn, trở ngại chưa có giải pháp thoả đáng; chưa có bước phát triển đột phá để khẳng định thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn; kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước; phát triển nhưng vẫn ẩn chứa nhiều nguy cơ, yếu tố thiếu bền vững.

Xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mở rộng và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới đang tạo những cơ hội to lớn đồng thời cũng là thách thức đối với phát triển du lịch. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Việt Nam với việc gia nhập các tổ chức khu vực và thế giới đã, đang và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại, trong đó có du lịch phát triển. Trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào năm 2007, Việt Nam đang đón nhận những cơ hội to lớn đối với ngành du lịch như: thu hút ngày càng tăng khách du lịch quốc tế vào Việt Nam; Tăng thu hút đầu tư nước ngoài đi kèm với chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, tình hình trên thế giới cũng có nhiều biến động phức tạp về an ninh chính trị, kinh tế, thiên tai, dịch bệnh, khủng bố.v.v…trong đó đáng chú ý là suy thoái kinh tế toàn cầu đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến ngành du lịch Việt Nam.

Cả nước đã hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược phát triển 10 năm 2001-2010 với những thành tựu đáng ghi nhận và những bài học kinh nghiệm quý báu. Bước sang giai đoạn phát triển mới với định hướng chiến lược phát triển của cả thời kỳ được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI là tập trung phát triển về chiều sâu chất lượng phấn đấu đưa Việt Nam đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Trong bối cảnh và xu hướng phát triển mới với những cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức hiện hữu, ngành Du lịch Việt Nam đã tiến hành xây dựng Chiến lược phát triển du lịch cho giai đoạn 10 năm tới. Chiến lược bám sát định hướng phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong giai đoạn tới phát triển tập trung về chiều sâu, đảm bảo hiệu quả bền vững với tính chuyên nghiệp cao, phát triển có ưu tiên, trọng tâm trọng điểm, có chất lượng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh. Những nội dung của quy hoạch phát triển du lịch giai đoạn 1995-2010 không còn phù hợp nữa. Để cụ thể hóa những định hướng chiến lược phát triển tiếp sức phát triển cho giai đoạn tới, ngành Du lịch cần thiết tiếp tục phải thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển cho giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

2. Căn cứ lập quy hoạch

2.1. Các căn cứ pháp lý

– Luật Du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/6/2005 và Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 1/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch.

– Luật Di sản văn hoá số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 ngày 18/06/ 2009; Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/09/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hoá.

– Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội; Nghị định 04/2008/NĐ-CP ngày 11/1/2008 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP.

– Thông tư 01/2007/TT-BKH ngày 7/2/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP; Thông tư 03/2008/TT-BKH ngày 1/7/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 04/2008/NĐ-CP

– Quyết định số 281/2007/QĐ-BKH của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 26/3/2007 về việc ban hành định mức chi phí lập, thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch các sản phẩm chủ yếu.

– Quyết định số 4136/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 8/9/2010 về việc phê duyệt nội dung đề cương Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

– Quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 15/11/2010 về việc phê duyệt nội dung dự toán xây dựng Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

– Quyết định số 426/QĐ-TCDL của Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch ngày 14/9/2010 về việc giao nhiệm vụ xây dựng Đề án ” Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030″.

2.2. Các căn cứ khác

– Định hướng Chiến lược phát triển kinh kinh tế – xã hội Việt Nam đến năm 2020;

– Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011;

– Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 175/QĐ-TTg ngày 27/01/2011;

– Điều chỉnh Chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng phê duyệt Chính phủ tại Quyết định số 35/2009/QĐ-TTg ngày 03/03/2009;

– Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24/12/2009;

– Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển ngành giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1436/QĐ-TTg ngày 09/11/2009;

– Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng phê duyệt Chính phủ tại Quyết định số 1327/QĐ-TTg ngày 24/08/2009;

– Quy hoạch chi tiết đường bộ ven biển Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 129/QĐ-TTg ngày 18/01/2010;

– Quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn sau 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1734/QĐ-TTg ngày 12/01/2008;

– Tình hình thực tế phát triển du lịch và đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch Tổng thể Phát triển du lịch Việt Nam 1995-2010; nhu cầu và xu hướng phát triển du lịch thế giới, khu vực và du lịch trong nước trong giai đoạn mới;

3. Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ quy hoạch

3.1. Quan điểm quy hoạch

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đảm bảo các nguyên tắc về quy hoạch ngành được quy định trong Luật Du lịch:

– Phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội và Chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

– Đảm bảo chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch và môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

– Bảo đảm tính khả thi cân đối cung và cầu du lịch; phát huy lợi thế quốc gia, thế mạnh từng vùng, địa phương; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên; đáp ứng nhu cầu du lịch.

– Tuân thủ phương pháp lập quy hoạch

3.2. Mục tiêu

Cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch của Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 nhằm:

– Thực hiện công tác quản lý phát triển du lịch đảm bảo có hiệu quả và thống nhất trên toàn quốc.

– Tạo cơ sở lập các quy hoạch phát triển du lịch vùng, địa phương, các khu du lịch trọng điểm, các dự án đầu tư phát triển du lịch.

3.3.Nhiệm vụ của quy hoạch

– Xác định vị trí, vai trò và lợi thế của ngành du lịch trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

-Phân tích, đánh giá các nguồn lực và hiện trạng phát triển du lịch, trong đó có đánh giá các chỉ tiêu, những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân so với quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995-2010.

– Xác định quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn đến năm 2020; Dự báo các chỉ tiêu và luận chứng các phương án phát triển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

– Tổ chức không gian du lịch, đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.

– Đánh giá tác động môi trường, các giải pháp bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường.

– Đề xuất cơ chế, chính sách; giải pháp, mô hình tổ chức quản lý, phát triển du lịch theo quy hoạch.

4. Phương pháp lập quy hoạch

– Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa trong nước và nước ngoài.

– Phương pháp tổng hợp, phân tích.

– Phương pháp chuyên gia.

– Phương pháp sơ đồ, bản đồ.

5. Quá trình lập Quy hoạch

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được bắt đầu xây dựng từ năm 2010, qua các bước sau:

– Tổ chức đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995-2010

– Khảo sát thực tế hoạt động du lịch trên địa bàn cả nước mang tính đại diện.

– Tổ chức khảo sát học tập kinh nghiệm quy hoạch phát triển du lịch tại Malaixia, Inđônêxia

– Xây dựng nội dung định hướng quy hoạch phát triển du lịch giai đoạn đến 2020 và tầm nhìn đến 2030

– Tổ chức hội thảo chuyên ngành; lấy ý kiến chuyên gia

– Tiến hành đánh giá môi trường chiến lược đối với Quy hoạch