Tài Nguyên Du Lịch Lâm Đồng / 2023 / Top 18 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Cùng Bản Đồ Tỉnh Lâm Đồng Ghé Thăm Cao Nguyên Lâm Viên / 2023

Nhìn tổng quan từ bản đồ Việt Nam bạn có thể thấy các đặc điểm chính của tỉnh Lâm Đồng như sau:

Thuộc vùng Tây Nguyên và là tỉnh không giáp với các nước lân cận nằm ở độ cao trong khoảng 800 – 1000m. Với diện tích tự nhiên 9.765 km2, Lâm Đồng là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông suối lớn và nằm trên ba cao nguyên.

Tỉnh Lâm Đồng nằm ở phía Nam Tây Nguyên, địa phận tỉnh Khánh Hòa sẽ giáp về hướng Bắc, phía Nam và đông nam giáp với tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp với tỉnh Đăk Nông, phía Đông giáp với tỉnh Ninh Thuận.

Lâm Đồng là một tỉnh của Tây Nguyên có vị trí thuộc phía nam trên bản đồ của khu vực Tây Nguyên, và là khu vực đầu nguồn của một chuỗi sông suối lớn của khu vực này, địa hình đa số là núi cùng nhiều thung lũng nhỏ, tuy là thung lũng nhưng nó lại khá bằng phẳng về địa hình

Nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô là các tháng còn lại trong năm. Nhiệt độ trung bình 18-250C, thời tiết ôn hoà mát mẻ quanh năm. Trung bình 1750-3150 mm chính mức nước mưa đo được trong năm, còn về độ ẩm Lâm Đồng đạt đến 85-87% trung bình cả năm, độ nắng ở đây chỉ đạt 1890-2500 giờ trong cả một năm.

Bản đồ quy hoạch tỉnh Lâm Đồng

Lâm Đồng có tổng cộng khoảng 255.407 ha đất đã và đang có tiềm năng sản xuất nông nghiệp, trong đó chiếm khoảng 200.000 ha là đất bazan chủ yếu có ở cao nguyên Bảo Lộc-Di Linh việc trồng cây công nghiệp dài ngày là thích hợp nhất. Diện tích trồng chè và cà phê khoảng 145.000 ha, diện tích sản xuất rau, hoa khoảng 23.783 ha tập trung tại Đà Lạt, Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà, Lạc Dương. Lâm Đồng nổi tiếng với sự phong phú chủng loại cũng như chất lượng tốt khi nói đến chè, cà phê, rau, hoa

Kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho đến năm 2020 được hiểu như sau. Tổng diện tích đất nông nghiệp vào năm 2020 là 2650 ha. Trong đó, đất rừng phòng hộ là 361 ha, đất rừng đặc dụng là 176 ha, đất rừng sản xuất là 2059 ha, còn lại là đất nuôi tròng thủy sản.

Các đơn vị hành chính của Tỉnh Lâm Đồng gồm hai thành phố lớn là Đà Lạt và Bảo Lộc. Lâm đồng có 10 huyện đó là: Bảo Lâm, Di Linh, Cát Tiên, Đam Rông, Đạ Huoai, Đạ Terh, Đơn Dương, LẠc Dương, Đức Trọng, Lâm Hà. Bạn có thể tìm mua bản đồ quy hoạch các tỉnh thành khác để biết thông tin quy hoạch của các tỉnh trong thời gian tới.

Đà Lạt là thành phố của tình yêu, là một trong những thành phố không chỉ thu hút khách du lịch trong nước mà còn thu hút cả khách du lịch nước ngoài. Với vẻ đẹp mộng mơ, huyền ảo, cùng cái không khí lạnh đặc trưng đã thu hút rất nhiều bạn trẻ tìm đến nơi đây. Cũng tương tự như vậy, bản đồ du lịch thành phố Đà Lạt sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn về thành phố này.

Bản đồ giao thông tỉnh Lâm Đồng

Bản đồ hành chính tỉnh Lâm Đồng

Bản đồ du lịch tỉnh Lâm Đồng

Bản đồ thành phố Đà Lạt

Bản đồ các huyện tỉnh Lâm Đồng

Mua bản đồ tỉnh Lâm Đồng ở đâu

Khi bạn đang có nhu cầu tìm mua bản đồ hành chính các tỉnh nói chung và bản đồ tỉnh Lâm Đồng nói riêng nhưng chưa tìm được ở đâu bán bản đồ. Hiểu và nắm bắt được nhu cầu của khách hàng, bản đồ Trí Ân ra đời dựa trên phương châm lấy sự hài lòng của khách hàng làm kim chỉ nam cho việc kinh doanh và phục vụ. Với hàng trăm, hàng ngàn mẫu bản đồ luôn được cập nhật mới nhất, bên cạnh chế độ bảo hành cũng như dịch vụ vận chuyển sản phẩm miễn phí trên toàn quốc đã giúp Bản đồ Trí Ân là đối tác tin cậy của nhiều khách hàng trong và ngoài nước. Vậy còn chờ gì nữa, nếu bạn đang có nhu cầu mua bản đồ tỉnh Lâm Đồng hoặc bất kỳ loại bản đồ nào khác, bạn chỉ cần nhấc máy và gọi cho chúng tôi theo số: 0986.093.362, nhân viên chúng tôi sẽ tư vấn và chọn cho bạn mẫu bản đồ phù hợp nhất.

Tài Nguyên Du Lịch Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch / 2023

5

/

5

(

6

bình chọn

)

1. Khái niệm tài nguyên du lịch là gì?

Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch và là cơ sở phát triển của ngành du lịch. Theo định nghĩa trong Luật Du Lịch, chương II Tài nguyên du lịch, điều 13: “Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.”

Theo đó, tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn như truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, di tích lịch sử, văn nghệ dân gian, khảo cổ học, kiến trúc học,… được sử dụng để phục vụ mục đích du lịch.

2. Phân loại tài nguyên du lịch

Người ta chia ra 3 loại tài nguyên du lịch, đó là: Tài nguyên du lịch thiên nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch xã hội.

Tài nguyên du lịch thiên nhiên: Đó là các điều kiện và địa hình tự nhiên ban tặng cho con người như khí hậu, địa hình, phong cảnh,… v.v

Tài nguyên du lịch nhân văn: Đó là các vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể, những di sản do con người tạo ra qua nhiều thế hệ, cụ thể: 

Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể: di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật,… 

Tài nguyên nhân văn phi vật thể: các truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, các phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống,… v.v.

Tài nguyên du lịch xã hội: Đó là các sự kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội do con người đương đại tổ chức tạo ra sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch. Ví dụ như: các sự kiện thể thao thế giới, các cuộc thi hoa hậu thế giới và khu vực, các hội nghị chính trị – kinh tế (Hội nghị thượng đỉnh ASEAN, Hội nghị APEC),…. v.v.

Về phía các nhà khoa học, tài nguyên du lịch cũng chia ra làm hai loại, đó là tài nguyên du lịch hiện thực và tài nguyên du lịch tiềm năng còn chưa khai phá.

Tìm hiểu ngay Khách du lịch là gì, các nghiên cứu thống kê về khách du lịch để có cái nhìn khách quan về mối liên hệ giữ tài nguyên du lịch và khách du lịch.

3. Đặc điểm của tài nguyên du lịch

Tải nguyên du lịch bao gồm các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên, chúng là cơ sở cần thiết để xác định những tiềm năng của lãnh thổ và khả năng khai thác du lịch, nghỉ ngơi.

Thời gian khai thác xác định tính mùa vụ của du lịch và nhịp điệu của dòng khách. Đặc điểm của lãnh thổ là điều khó thay đổi, đó chính là yếu tố tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng và dòng khách du lịch đến khám phá tài nguyên đó.

Để đầu tư cho các loại tài nguyên du lịch, chúng ta chỉ cần một khoản vốn nhỏ, chi phí sản xuất thấp lại xây dựng nhanh mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hơn nữa, tài nguyên du lịch còn có khả năng tái sử dụng nhiều lần nếu thực hiện các biện pháp bảo vệ và tuân theo các quy định về sử dụng tài nguyên.

Tài nguyên du lịch có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc khai thác và thu hút du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao.

4. Các quy định của nhà nước về tài nguyên du lịch 

Các quy định của nhà nước về tài nguyên du lịch được ghi rõ trong Luật Du lịch 2005, đặc biệt qua điều 13 đến điều 16:

Điều 13. Các loại tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác.

Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân.

    Điều 14. Điều tra tài nguyên du lịch

    Điều 15. Nguyên tắc bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch

    Tài nguyên du lịch phải được bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững.

    Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước, có chính sách và biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch.

    Điều 16. Trách nhiệm quản lý, bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch

    Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương, các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý tài nguyên du lịch, phối hợp trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch.

    Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm bảo vệ, đầu tư, tôn tạo tài nguyên du lịch, tạo điều kiện cho khách đến tham quan, thụ hưởng giá trị của tài nguyên du lịch theo quy định của pháp luật.

    Khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch.

    Tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước về du lịch có thẩm quyền trong việc sử dụng và khai thác tài nguyên du lịch cho các mục tiêu kinh tế khác, bảo đảm không làm giảm độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch.

    Nếu có bất kỳ thắc mắc gì khi tìm hiểu về tài nguyên du lịch, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0915 686 999 hoặc qua email: luanvanviet.group@gmail.com. Xin cảm ơn và hẹn gặp lại các bạn trong bài viết sau!

    Nguồn: Luận Văn Việt

    0/5

    (0 Reviews)

    Hiện tại tôi đang đảm nhiệm vị trí Content Leader tại Luận Văn Việt. Tất cả các nội dung đăng tải trên website của Luận Văn Việt đều được tôi kiểm duyệt và lên kế hoạch nội dung. Tôi rất yêu thích việc viết lách ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Và đến nay thì tôi đã có hơn 5 năm kinh nghiệm viết bài.

    Hy vọng có thể mang đến cho bạn đọc thật nhiều thông tin bổ ích về tất cả các chuyên ngành, giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất!

Tài Nguyên Du Lịch Quảng Bình / 2023

Quảng Bình, dãi đất hẹp nhất trong các tỉnh duyên hải miền Trung, toạ độ địa lý ở vào 18005’12” (điểm cực Bắc); 17005’02” (điểm cực Nam); 106059’37”(điểm cực Đông); 105036’55” (điểm cực Tây). Diện tích đất liền của Quảng Bình là 8.052 km2 với vùng lãnh hải gần 20.000 km2, gồm 5 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn La, Hòn Gió, Hòn Cọ, Hòn Nồm và Hòn Chùa.

Phía Bắc tỉnh Quảng Bình giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài 116,04 km 2 và phía Tây giáp Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, có đường chung biên giới dài 201,87 km 2. Từ Bắc vào Nam có 5 hệ thống sông chảy ra biển với 5 cửa: sông Roòn, sông Gianh, sông Lý Hoà, sông Dinh và sông Nhật Lệ. Do địa hình ở đây cao về phía Bắc và phía Tây, thoải dần về phía Nam và phía Đông, cho nên, phần lớn các sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam hoặc Tây Đông. Tuy nhiên, có nơi do các cồn cát cao, tạo thành một trở lực, cho nên có sông lại chảy theo hướng Bắc.

Phía Tây Quảng Bình là dãy Trường Sơn, ” bức tường thành khổng lồ kéo dài suốt từ phía Nam sông Cả đến tận các ngọn núi phía Bắc thung lũng sông Bung “.

Những biến động địa chất và các vận động kiến tạo đã làm cho địa bàn khu vực Bắc Trường Sơn ” nâng lên dạng vòm, nhưng cũng chỉ làm cho dãy núi hơi chao đảo một ít phía Tây thành một nếp lồi có sườn không đối xứng, vì vậy, sườn phía Tây Trường Sơn Bắc chạy dài thoai thoải xuống Mê Công, còn sườn phía Đông thì ngắn và dốc, thành ra các sông suối chảy trên sườn này xuống biển Đông càng có điều kiện để chia cắt địa hình mạnh hơn nữa “.

Trong tổng thể địa hình, cảnh quan của tỉnh Quảng Bình, khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng là một di sản tự nhiên kỳ diệu mà thiên nhiên đã ban tặng cho địa bàn này.

Phong Nha – Kẻ Bàng là một vùng núi đá vôi có diện tích chừng 10.000 km 2, độ cao trung bình khoảng 600 – 700 m tạo thành một dãy dài khoảng 50 km dọc biên giới Việt – Lào với các kiểu địa hình núi đá vôi, kiểu địa hình phi Karst, kiểu địa hình chuyển tiếp.

Hầu hết các dòng chảy trong khu vực đá vôi Kẻ Bàng đều dồn vào các sông ngầm, len lỏi trong lòng Karst. Chỉ ở những ven rìa mới thấy xuất hiện những cánh đồng Karst có dòng chảy trên mặt với một số thung lũng nhỏ bị vây bọc bởi những vách núi đá dựng đứng.

Hệ thống núi đá ở đây nối liền nhau trùng điệp, có nhiều ngọn núi đá với hình chóp nối dài liên tục, giữa chúng có khi gián đoạn bởi những thung lũng Karst. Núi đá trùng điệp, các thung lũng, các dòng chảy đứt quãng đột ngột xuất hiện, rồi lại biến mất và lại xuất hiện ra ở một nơi khác tạo nên những mạch nước ngầm (đồng bào quen gọi là rục nước), đã hình thành nên những sinh cảnh kỳ vĩ, trong đó có nhiều hang động nổi tiếng. Giá tri địa chất và sinh cảnh nơi đây đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, thu hút sự quan tâm và ngưỡng mộ của cộng đồng quốc tế. Vì thế, tháng 7 năm 2003, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng đã được Tổ chức UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới.

Nằm ở vị trí trung lộ của cả nước, địa bàn Quảng Bình vừa bị chia cắt mạnh về tự nhiên, vừa là khu vực tranh chấp quyết liệt giữa các thế lực thống trị trong lịch sử, lại là địa bàn tiếp nhận và chuyển tiếp các giá trị văn hoá của cả hai miền Bắc – Nam.

Trong quá trình đấu tranh cách mạng và trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, lãnh thổ Quảng Bình là địa bàn diễn ra cuộc đọ sức hết sức quyết liệt và là nơi ghi dấu những chiến công hào hùng. Những người con anh hùng của Quảng Bình đã đi vào lịch sử dân tộc như anh hùng Lâm Uý, Nguyễn Viết Xuân, Mẹ Suốt,… và hàng trăm tấm gương kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu và sản xuất được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang và anh hùng lao động. Những địa danh nổi tiếng như sông Gianh, Nhật Lệ, đường Trường Sơn, quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp… chứa đựng trong đó rất nhiều sự tích kỳ diệu và thiêng liêng.

Tất thảy những giá trị phong phú, đa dạng quý hiếm và độc đáo về tự nhiên, văn hoá đã hợp thành tài sản vô cùng quý giá, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội địa phương, trong đó đặc biệt là tài nguyên du lịch.

Tài nguyên du lịch Quảng Bình được hợp thành từ 5 thành tố:

Tài nguyên sinh cảnh, bao gồm các hệ thống danh lam thắng cảnh như hệ Karst Phong Nha – Kẻ Bàng, thắng cảnh Hoành Sơn, vịnh Hòn La, biển Đá Nhảy, Nhật Lệ, hồ Bàu Tró, đèo Mụ Giạ, núi Thần Đinh, suối khoáng nóng Bang…

Tài nguyên văn hoá vật thể chứa đựng trong hệ thống các di sản kiến trúc như các phế tích thành quách, đền tháp tồn tại từ thời kỳ ngự trị của văn hoá Chăm, đến các đền chùa, miếu, mạo… trong di sản kiến trúc cộng đồng người Việt.

Tài nguyên văn hoá phi vật thể xếp lớp giá trị văn hoá các thời đại thể hiện trong rất nhiều loại hình sinh hoạt cộng đồng như các loại lễ hội, hát xướng, trò chơi dân gian, dân nhạc và các sinh hoạt cộng đồng khác.

Tài nguyên văn hoá tộc người với sự bảo tồn các giá trị nguyên sơ của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường và Môn – Khơme.

Hệ thống hạ tầng cơ sở cho du lịch cũng là một nguồn tài nguyên đang được xây dựng theo các chuẩn tiên tiến và hiện đại, trong đó có khu nghỉ dưỡng “Sun Spa Resort”, khách sạn “Sài Gòn – Quảng Bình Tourist” đạt tiêu chuẩn 5 sao, cùng với hàng loạt các khách sạn, nhà nghỉ cao cấp, các cơ sở dịch vụ phục vụ cộng đồng như bưu điện, ngân hàng, bệnh viện, bến cảng hàng không, đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và các cơ sở hoạt động dịch vụ vui chơi, giải trí, ẩm thực và nghỉ dưỡng khác.

Do có nhiều lợi thế về tiềm năng và đã chú trọng dịch vụ phục vụ du khách, nên hoạt động du lịch Quảng Bình có bước tiến rất nhanh. Năm 1990 chỉ có 2.820 lượt khách du lịch nội địa, các năm tiếp theo lượng khách du lịch có tăng, nhưng chậm, chủ yếu là khách nội địa. Năm 1991 có 2.970 lượt khách, so với năm 1990 tăng 5,3%, năm 1992 có 4.072 lượt khách, so với năm 1991 tăng 37,1%. Từ năm 1993 đến 1995 và tiếp đến năm 2000 lượng khách tham quan du lịch tăng với tốc độ nhanh, đạt tới trên 250.000 khách, trong đó 1,2% là khách quốc tế.

Trong những năm gần đây, tổng số du khách đến với Quảng Bình hàng năm lên tới 260.000 đến 280.000 lượt, đặc biệt du khách nước ngoài lên tới trên 14.000 lượt người/năm, trong đó trên 5% là khách quốc tế, tăng 80% so với đầu thập kỷ.

Trong tổng thể nguồn tiềm năng du lịch rất phong phú và độc đáo của địa phương, ngành du lịch Quảng Bình đã chủ động đưa vào khai thác loại hình tham quan tại 2 khu du lịch chủ yếu là Vườn Quốc gia – Di sản Thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng và suối nước khoáng nóng Bang. Ngoài ra, theo xu thế tự phát, du khách đã đến với nhiều khu danh thắng và các điểm di tích lịch sử – văn hoá, các công trình kiến trúc cổ, các thành luỹ, đền đài, các khu tưởng niệm và lưu niệm các danh nhân, các địa chỉ văn hoá khác để tham quan, nghỉ dưỡng, nghiên cứu khoa học và tham gia du lịch cộng đồng. Trong thời điểm hiện tại, Quảng Bình có đủ khả năng để khai thác các loại hình du lịch sau đây:

– Tham quan và thưởng ngoạn tại các khu danh thắng Phong Nha – Kẻ Bàng, Đèo Ngang – Hòn La, Lý Hoà – Đá Nhảy, Nhật Lệ – Bảo Ninh, Bang – Thanh Sơn, Quán Hàu – Thần Đinh, Bàu Sen – Dốc Sỏi…

– Tham quan và nghiên cứu tại các di tích thuộc hệ thống đường Hồ Chí Minh huyền thoại, các di tích lịch sử phân bố trên hầu hết các địa phương thuộc địa bàn Quảng Bình.

– Tham quan và nghiên cứu hệ thống thành luỹ cổ, đặc biệt là hệ thống thành luỹ Đào Duy Từ, thành Vauban Đồng Hới, hệ thống thành luỹ Chiêm Thành như luỹ cổ Hoàn Vương, Lâm Ấp phế luỹ, thành Khu Túc (Kẻ Hạ), thành Ninh Viễn (Nhà Ngo)…

– Du lịch sinh thái tại các khu vực Karst Kẻ Bàng, Khe Net – Giăng Màn, Đảo Yến…

– Tắm nóng và chữa bệnh tại suối Bang.

– Nghỉ dưỡng và tắm biển tại biển Nhật Lệ, biển Đá Nhảy.

– Nghỉ dưỡng, tắm biển và tham gia các trò chơi, lễ hội tại Sun Spa Resort, biển Nhật Lệ, Đá Nhảy.

– Du lịch mạo hiểm tại một số điểm trong khu vực Karst Kẻ Bàng, Hang Sơn Đoòng, Hang Tối…

– Du lịch tâm linh như: Viếng mộ Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, Đền Công Chúa Liễu Hạnh, Hang Tám Cô, Chùa Hoằng Phúc…

– Tham quan và nghiên cứu văn hoá tộc người tại các bản của tộc người Rục (Thượng Hoá) và A Rem (Tân Trạch).

– Du lịch cộng đồng tại một số làng văn hoá nổi tiếng như “Bát Danh hương” Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngoạ, Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại và một số địa chỉ khác.

– Các hoạt động dã ngoại phục vụ các cơ quan, tổ chức kinh tế – xã hội, các đoàn thể quần chúng, các trường học tham quan, học tập thực địa và vui chơi giải trí tại các thắng cảnh, khu vực đa dạng sinh học, các di tích lịch sử văn hoá địa phương.

Có thể nói, Quảng Bình có nhiều lợi thế để phát triển du lịch bền vững, thu hút khách trong nước và ngoài nước vào tham gia các chương trình du lịch địa phương và có lợi thế tổ chức cho khách nội địa đi du lịch ở nước ngoài. Vì vậy, ngành du lịch Quảng Bình có triển vọng phát triển mạnh trong tương lai.

Tài Nguyên Du Lịch Tự Nhiên Hue / 2023

TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN1.

Địa hình

Địa hình thừa thiên huế khá phức tạp gồm nhiều dạng: vùng đồi núi, đồng bằng,biển. Cấu trúc của địa hình theo chiều ngang từ Đông sang Tây gồm:biển đầmphá, đồng bằng nhỏ hẹp, vùng đồi thấp và núi. Đại hình thừa thiên huế có cấutạo dạng bậc khá rõ rệt.-vùng đồi núi :Hệ thống búi của Thừa Thiên huế chiếm khoảng 75% diện tích của tỉnh, từ biêngiới Việt Lào và kéo dài đến thành phố Đà Nẵng, là bộ phận phía nam của dảiTrường Sơn Bắc. Dãy núi phía tây chạy theo hướng tây bắc-đông nam càng vềphía nam càng cao dần và bẻ quặt theo hướng tây-đông(dãy Bạch Mã). Độ caotrung bình từ 500m- 600m, độ cao này tăng dần về phía tây, phía nam và đôngnam.–

Vùng đồng bằng duyên hải:

Đồng bằng Thừa Thiên Huế điển hình cho kiểu đồng bằng mài mòn, tích tụ, có

cồn cát, đầm phá. Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 1.400km2.–

Vùng đầm phá:Là một hệ cảnh quan độc đáo của thừa Thiên Huế, vùng đầm phá có diệntích 22.040 ha, dài 68 km, bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu phía bắc chạy songsong với bờ biển đến cửa Tư Hiền, chiều rộng từ 1 đến 6 km. Độ sâu tăngdần từ Tây sang Đông. Hiện nay sự lắng tụ phù sa, làm độ sâu của đầm pháđang có chiều hướng cạn dần. Ảnh hưởng của địa hình đến phát triển du lịch:Do ảnh hưởng của địa hình, đại bộ phạn dân cư của tỉnh Thừa Thiên Huếphân bố không đều. Miền núi là địa bàn cư trú của đồng bào thiểu số. Sựphân bố dân cư này làm cho du lịch tập trung phát triển hơn ở một sốvùng trọng điểm nhất định và hướng tới hình thức du lịch văn hóa, tìmhiểu các nền văn hóa của các dân tộc Việt Nam.Sự phân hóa của địa hình đã tạo nên nhiều vùng tự nhiên khá thuận lợicho phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng…Tuy nhiên địa hình vùng trung du nhỏ hẹp làm độ dốc giảm, gây ra hiệntượng xói mòn mạnh, nhất là trong mùa mưa lũ. Điều này cực kỳ nguy

hiểm đối với phát triển du lịch và việc xây dựng các cơ sở vật chât mangtính lâu dài, thu hút đầu tư quy mô lớn nhằm phục vụ du lịch.Khí hậuĐặc điểm chung của khí hậu Thừa Thiên Huế là nhiệt độ cao, độ ẩm lớn ,mưa theo mùa. Do vị trí địa lý và sự kéo dài của lãnh thổ theo vĩ tuyến, kếthợp với hướng địa hình và hoàn lưu khí quyển đã tác động sâu sắc đến việchình thành một kiểu khí hậu đặc trưng và tạo nên những hệ quả phức tạptrong chế độ mưa, chế độ nhiệt và các yếu tố khí hậu khác.Nhiệt độ trung bình hàng năm của Thừa Thiên huế khoảng 250C. Tổng lượngbức xạ nhiệt trung bình năm tăng dần từ Bắc vào Nam của tỉnh và dao độngtrong khoảng từ 110 đến 140 kcal/cm2 , ứng với hai lần mặt trời qua thiênđỉnh tổng lượng bức xạ có hai cực đại: lần thứ nhất vào tháng V và lần thứhai vào tháng VII, lượng bức xạ thấp nhất vào tháng 12. Cán cân bức xạnhiệt trung bình từ 75 đến 85 kcal/cm2 , ngay cả tháng lạnh nhất vẫn mangtrị số dương. Do tác động của vị trí, địa hình và hình dạng lãnh thổ, nhiệt độcó sự thay đổi theo không gian và thời gian:+ phân bố theo không gian : theo chiều Đông – Tây nhiệt độ vùng núi (Nam

Đông và A Lưới) trung bình năm thường chênh lệch với vùng đồng bằng từ00C đến 30C. Riêng trong mùa lạnh, sự phân hóa nhiệt sâu sắc hơn.+ phân bố theo thời gian : do sự tác động của gió mùa nên đã hình thanhfhaimùa với sự khác biệt về chế độ nhiệt rõ rệt.Mùa lạnh : là khoảng thời gian nhiệt độ trung bình trong ngày ổn định dưới200 C. Thời gian lạnh của Thừa Thiên Huế tùy theo vùng có thể kéo dài từ30 đến 60 ngày.Mùa nóng : là thời kỳ nhiệt độ trung bình ổn định trên 250C. Mùa nóng bắtđầu từ tháng IV đến hết tháng IX. Những tháng đầu mùa nhiệt độ tăng kháđều trên các vùng, nhiệt độ cực đại vào tháng VII và giảm dần cho đến thángI năm sau. Từ tháng Vcho đến tháng IX, hiệu ứng phơn Tây Nam đã làmnhiệt độ tăng cao, độ ẩm giảm thấp gây ra những đợt nóng kéo dài ảnhhưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và các hoạt động sản xuất nông nghiệp.Biên độ nhiệt : Thừa Thiên Huế có nhiệt độ trung bình hằng năm gần 100C.Đây là một điểm rất đặc biệt vì tính cách khắc nghiệt của khí hậu gần giốngvới những vùng lãnh thổ có vĩ độ cao hay của những lãnh thổ nằm sâu trongluc địa.

4.

Do sự tác động phối hợp giữa địa hình và hướng dịch chuyển của các khốikhí theo mùa , Thừa Thiên Huế có thời kỳ khô và ẩm bị lệch pha so với cảnước.+ Từ tháng IX đến tháng III độ ẩm không khí cao trên 90% trùng với mùamưa và thời gian hoạt động của khối không khí lạnh biến tính từ biển đôngtràn vào lãnh thổ+Hàng năm Thừa Thiên Huế nhận được một lượng mưa lớn, trung bình trên3000mm, song phân bố không đều. Mưa phần lớn tập trung vào tháng X vàXI, trong khoản thời gian này bão thường xuất hiện gây nên những cơn lũlớn. Năm 1953 (4937mm); năm 1975(3278mm) lụt vượt mức báo động 3với đỉnh lũ là 6m (kim long). Ảnh hưởng của khí hậu đến du lịch:Khí hậu của tỉnh Thừa Thiên Huế có sự thuận lợi nhất định cho việc pháttriển du lịch. Tuy nhiên , khí hậu có nhiều biến động khá phức tạp, hiệntượng lệch pha so với khí hậu cả nước đòi hỏi Thừa Thiên Huế phải có kếhoạch tổ chức các hoạt động du lịch phù hợp. Thời gian mưa kéo dàikhiến du lịch theo thời vụ ở Huế là rất rõ nét. Bên cạnh đó, theo thống kêmỗi năm có ít nhất một cơn bão đổ bộ trực tiếp vào lãnh thổ gây thiệt hạivà khó khăn rất lớn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng du lịch.Thủy văn:Thừa Thiên – Huế có hệ thống sông ngòi khá dày đặc nhưng các sông đềunhỏ, độ dốc lớn. Phần lớn bắt nguồn từ phía đônn của trường sơn, chảy theohướng Tây – Đông, cửa sông hẹp. Tổng chiều dài các song chính chảy trênlãnh thổ của tỉnh là khoảng 300km trên đó hệ thống sông Hương chiếm đến60%. Nhìn chung, sông ngòi ở huế ngắn và dốc, ít có sông lớn. Các sông cósự chênh lệch rất lớn về dòng chảy trong năm. Tổng lượng nước trong batháng mùa lũ lớn gấp 2 lần tổng lượng nước trong 9 tháng mùa cạn. Diệntích các lưu vực sông không lớn, lớn nhất là sông Hương với diện tích lưuvực khoảng 1626 km2 Đánh giá:Với mạng lưới sông ngòi và đầm phá, Thừa Thiên Huế có thể nối liền cáchuyện và thành phố rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, phục vụ dulịch. Các cảng biển Thuận An, Chân Mây thuận lợi cho việc đón các dukhách quốc tế. Sông hương với những nét văn hóa đậm chất Huế đã vàđang thu hút một lượng khách không nhỏ mỗi năm.Sinh vật:

Thừa Thiên Huế có vị trí chuyển tiếp của 2 miền khí hậu Bắc và Nam đãhình thành thảm thực vật rừng nhiệt đới đa dạng, hội tụ nhiều loại cây: câybản địa như lim, gõ, kiền,chò…(cây họ đậu phương Bắc) cây di cư như dẻ,re, thông, bàng và các cây họ dầu phương Nam…Diện tích rừng chiếmkhoảng 57% đất tự nhiên, độ che phủ 55%(2008).Động vật thiên nhiên của Thừa Thiên Huế khá phong phú, có giá trị kinh tếcao.+ Động vât rừng: ngoài những động vật phổ biến trong rừng như: khỉ , hươu,nai, công, gà rừng…nhiều động vật quý hiếm đã được phát hiện ở NamĐông, Phú Lộc, A Lưới như: voi, hổ, trĩ, sao, gà lôi, chồn bay, gấu chó…+Thủy sản: với gần 126 km đường bờ biển, 22.000 ha đầm phá và một hệsông ngòi phong phú, Thừa Thiên Huế có lượng thủy sản đa dạng với nhiềuloại quý hiếm có giá trị kinh tế cao: sò huyết, mực, tôm, rau câu… Đánh giá:Hệ thống sinh vật phong phú góp phần tạo nên cảnh quan môi trườngsinh thái và cảnh quan du lịch của vùng, vườn quốc gia Bạch Mã có khíhậu mát mẻ cùng sự đa dạng sinh vật đã trở thành một trung tâm du lịchsinh thái rất hấp dẫn.TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂNTài nguyên du lịch nhân văn của Thừa Thiên Huế có nhiều loạihình phong phú và đa dạng rất khác nhau. Hệ thống kiến trúc thànhquách, cung điện, chùa, di sản văn hóa (được công nhận là di sản vănhóa thế giới). Tài nguyên phi vật thể: lễ hội, ẩm thực, làng nghề, nhãnhạc cung đình Huế (di sản văn hóa phi vật thể)..các tài nguyên đó đã tạocho Thừa Thiên Huế có tiềm năng to lớn để trở thành trung tâm du lịchcủa cả nước.Nét đặc sắc là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian và văn hóa cungđình. Thừa Thiên-Huế là một trong những trung tâm du lịch văn hóa củacủa Việt Nam, là nơi duy nhất còn giữ lại được một kho tàng sử liệu vậtchất đồ sộ, một di sản văn hóa vô cùng phong phú với hàng trăm côngtrình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng.Huế là “một kiệt tác về thơ – kiến trúc đô thị”. Vì lẽ đó mà cuối năm1993, UNESCO đã chính thức công nhận Huế là một di sản văn hóa thếgiới.1.Các di tích lịch sử văn hóa:

Xứ Huế vốn nổi tiếng bởi những công trình lăng tẩm, đền đài, cung điệnnổi tiếng và là kinh đô xưa của triều đại Nguyễn kéo dài gần 2 thế kỷ.Trải qua thời gian Huế vẫn phần nào giữ được những nét cổ kính và trầmlắng và vô cùng quyến rũ. Các khu di tích rất đặc sắc tại đây có thể kểđến như: Chùa Thiên Mụ, Quần thể Cố Đô HUẾ…Tên di tích

Đặc điểm

Chùa Thiên Mụ

Chùa nằm cách trung tâm thànhphố huế khoảng 5km, trên đồi HàKhê, tả ngạn song Hương, xãHương Long. Trước các điện,quanh chùa là các vườn hoa câycảnh xanh tươi, rực rỡ. phía saucùng là vườn thông tĩnh mịch,phong cảnh nên thơ. Chùa bị hưhỏng nặng năm 1943. Từ năm1945, Hòa thượng Thích Đôn Hậuđã tổ chức công cuộc đại trùng tukéo dài hơn 30 năm.Quần thể di tích Cố Đô Huế nằmdọc bên bờ sông Hương thuộcthành phố Huế và một vùng phụcận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế làtrung tâm văn hóa, chính trị, kinh tếcủa tỉnh, là cố đô của Việt Nam thờiphong kiến dưới triều nhà Nguyễn,từ năm 1802 đén 1945. Bên bờ Bắccủa con song Hương, hệ thống kiếntrúc biểu thị cho quyền uy của chếđộ trung ương tập quyền Nguyễn làba tòa thành: Kinh thành Huế,Hoàng thành Huế, Tử cấm thànhHuế, lồng vào nhau được bố tríđăng đối trên một trục dọc xuyênsuốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. hệthống thành quách ở đây là mộtmẫu mực của sự kết hợp hài hòanhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến

Quần thể di tích Cố Đô Huế(di sản văn hóa thế giới)

trúc Đông và Tây, được đặt trongmột khung cảnh thiên nhiên kỳ thúvới nhiều yếu tố biểu tượng sẵn cótự nhiên đến mức người ta mặcnhiên xem đó là những bộ phận củakinh thành Huế – đó là núi NgựBình, dòng Hương giang, cồn GiãViên, cồn Bộc Thanh… Hoàngthành giới hạn bởi một vòng tườngthành gần vuông với mỗi chiều xấpxỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độcđáo nhất thường được lấy làm biểutượng của cố đô: Ngọ Môn, chínhlà khu vực hành chính tối cao củatriều đình Nguyễn. Bên trongHoàng thành, hơi dịch về phía sau,là Tử cấm thành, hơi dịch về phíasau, là Tử cấm thành – nơi ăn ởsinh hoạt của Hoàng Gia.

Đánh giá:Các địa điểm di tích lịch sử, văn hóa nêu trên là những di tích nổi bật thuhút đông đảo du khách tham quan, vãn cảnh. Đa số các di tích lịch sử,văn hóa tâp trung ở thành phố Huế. Các di tích còn tồn tại cho tới ngàynay đều là những di tích, danh thắng nổi tiếng, những công trình có giá trịphục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, học tập của các đối tượngkhách trong và ngoài nước. Đây là một điều kiện thuận lợi để phát triểnloại hình du lịch văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh.2. Lễ hội:Thừa Thiên Huế là một vùng đất có truyền thống văn hóa, tuy không lâuđời như ở miền Bắc, nhưng cũng có hơn 700 năm lịch sử. Từ khi chúaNguyễn đặt thủ phủ tại đây cho đến khi nhà Nguyễn cáo chung (1945),có thể nói Huế là nơi hội tụ những con người hoạt động văn hóa có tầmcỡ, là nơi gặp gỡ của các luồng tư tưởng Đông Tây Kim Cổ. Văn hóaHuế có truyền thống từ Bắc tràn vào, theo những lưu dân lập nghiệp trênvùng đất mới. Tại đây còn tồn tại dân tộc Chăm với nền văn hóa Ấn Độ.Và sau này văn hóa phương Tây cũng có cơ hội thâm nhập vào từ thời

chúa Nguyễn . Các lễ hội truyền thống được duy trì, phát triển cũng từnhững nguồn văn hóa ấy.Lễ hội các loại là một nhu cầu sinh hoạt văn hóa của con người ThừaThiên Huế đã trở thành truyền thống. Nhìn tổng quát về lễ hội và sự thamgia lễ hội của cư dân vùng này, ta sẽ thấy lễ hội ở Thừa Thiên Huế tuykhông phong phú như Miền Bắc, nhưng cũng khá đa dạng, có hai loại lễhội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. Lễ hội cung đình phản ánh sinhhoạt lễ nghi của triều Nguyễn . Phần lớn chỉ chú trọng về “lễ” hơn “hội”.Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, có thể kể đến một số lễ hộitiêu biểu như sau: lễ hội Huệ Nam (điện Hòn Chén) hay còn gọi là lễrước sắc nữ thần Thiên Y A Na theo tín ngưỡng của người Chamwpaxưa… Trong những dịp tế lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích nư đuathuyền, kéo co, đấu vật… còn được tổ chức và thu hút rất đông ngườixem.Hội đua ghe truyền thống: Hội đua ghe truyền thống tỉnh Thừa Thiên Huế làmột lễ hội mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm1975. Hội được tổ chức trong một ngày nhằm ngày lễ Quốc kanhs 29(dương lịch). Địa điểm đua là bờ Nam song Hương trước trường Quốc học.Hội nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho thanh niên nam nữ có cơ hội thi tàitrên song nước, qua đó rèn luyện tăng cường bảo vệ sức khỏe và tạo khôngkhí vui vui tươi lành mạnh cho nhân dân .Hội vật làng sình: Vật võ cũng là một hình thức để tưởng nhớ ngài khai canhlàng đã truyền dạy dân làng nghề vật. Nên đến ngày giỗ Ngài, dân làng tổchức vật võ.…….Festival Huế: tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, đén nay Festival Huế tổchức được 7 lần (2000,2002,2004,2006,2008,2010,2012…). Đây là sự kiệnvăn hóa lớn có quy mô quốc gia tầm cỡ quốc tế, có ý nghĩa quan trọng trongđời sống của người dân Huế. Là điều kiện quan trọng để xây dựng Huếthành phố Festival cuả Việt Nam. Đánh giá:Thừa Thiên Huế có khá nhiều lễ hội lớn với các loại hình khác nhau: lễhội vui chơi giải trí, lệ hội cầu ngưu, lễ hội đua thuyền… Những lễ hộinày nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa vùng miền, và chúng góp phần thuhút đông đảo các khách du lịch từ các địa phương khác trong cả nướccũng như khách du lịch nước ngoài.

3. Văn hóa , ẩm thực:Văn hóa vật thể: quần thể di tích Huế được UNESCO công nhận là di sảnvăn hóa thế giới. Ngoài ra, Huế còn quê hương của nhiều công trình kiếntrúc tôn giáo độc đáo.Văn hóa phi vật thể: Nhã nhạc cung đình Huế cũng được UNESCO côngnhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Ngoài ra, Huế còn bảo tồnđược rất nhiều phong tục tập quán thông qua các lễ hội dân gian được tổchức hàng năm như: lễ hộ điện Hòn Chén, hội võ làng Sình…

Ẩm thực đặc sắc: Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, cócả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn. Bản thực đơn ngựthiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị vàtổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ. Các món ăn dân dã rất phổ biếntrong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chếbiến khéo léo hương vị quyến rũ màu sắc hấp dẫn , coi trọng phần chấthơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởngthức tinh tế.Làng nghề truyền thống:Làng nghề nón bài thơ Tây Hồ.Làng nghề phường đúc đồng.Làng nghề làm hoa giấy Thanh Tiên.Tranh làng sình.…….