Tiềm Năng Du Lịch Biển Việt Nam / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Du Lịch Biển Việt Nam: Giàu Tiềm Năng

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn về biển, hải đảo khi có hơn 1 triệu km2 diện tích mặt biển, bờ biển dài hơn 3.000km trải dài khắp Bắc-Trung-Nam; hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ cùng những bãi tắm cát trắng, nước xanh và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tài nguyên dồi dào

Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang là những địa danh du lịch nổi tiếng của Việt Nam, trong khi bãi biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes bình chọn là 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh. Đây chính là những điều kiện lý tưởng để Việt Nam khai thác tiềm năng du lịch biển.

Hiện nay, du lịch Việt Nam vẫn chưa trả lời được 4 câu hỏi quan trọng nhất của phát triển du lịch biển. Đó là Ai đến? Đến đây làm gì? Đến bằng cách nào? Để lại cái gì?

Các chuyên gia trong ngành có số liệu chung chung về du khách quốc tế chọn biển Việt Nam làm điểm đến, nhưng chưa phân tích rõ từng thị trường vì mỗi thị trường khách có nhu cầu khác nhau.

Câu hỏi đến đây để làm gì cũng chưa được trả lời thỏa đáng, vì biển Việt Nam thiếu quá nhiều dịch vụ bổ trợ hoặc không đa dạng sản phẩm vui chơi giải trí trên biển như các nước trong khu vực.

Ở một khía cạnh khác, du lịch Việt Nam đang lãng phí trong quá trình khai thác tiềm năng du lịch biển. Quy hoạch của nhiều bãi biển đẹp ở Việt Nam đã bị phá vỡ, phát triển manh mún và khó điều chỉnh.

Điển hình là bãi biển Mũi Né đang kẹt cứng trong không gian ven bờ khi có quá nhiều khách sạn, resort chen dày ở mặt tiền biển.

Ngành du lịch tàu biển ở Việt Nam chưa thu hút du khách vì hiện tại Việt Nam vẫn chưa có cảng hành khách tàu biển chuyên biệt. Các tàu biển du lịch đang phải cập cảng chung với cảng hàng hóa, nên chất lượng dịch vụ cũng như điều kiện kỹ thuật tại các cảng này chưa đảm bảo chất lượng cao cho khách du lịch.

Mặt khác, sản phẩm du lịch ở các điểm dừng chân của du khách còn đơn điệu, vấn đề an ninh du lịch còn nhiều bất cập, trình độ nhân lực phục vụ cho ngành du lịch còn nhiều hạn chế về kỹ năng, ngoại ngữ..

Nhu cầu khách đến biển vào dịp cuối tuần tăng rất cao, các trung tâm du lịch biển đều quá tải. Nhược điểm lớn nhất là dịch vụ ở các nơi này thiếu, yếu và ít dịch vụ bổ trợ cho du khách vui chơi, mua sắm.

Một số vùng biển còn tiềm năng lớn nhưng rất khó đưa khách đến với số lượng đông như Hà Tiên, Hòn Chông và Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, do thiếu hạ tầng, dịch vụ hoặc đường bay chưa thật thuận lợi.

An ninh trật tự và quản lý giá cũng là những vấn đề khiến nhiều doanh nghiệp du lịch bức xúc. Rất nhiều khu du lịch lên giá vào giờ chót làm cho khách bất bình. Giá có thể cao vào những ngày cao điểm nhưng không nên vượt quá 50% so với ngày thường và điều này cần được thông báo trước cho khách, cũng như các công ty lữ hành.

Theo bà Trương Thị Như Ngọc, Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Trà Vinh, các bãi biển Việt Nam cho đến nay phát triển theo lối tự phát và phần nào tùy tiện, mang tính riêng lẻ và không có đặc trưng.

Các khu nghỉ dưỡng ven biển ở Việt Nam có giá cao, chủ yếu nhắm vào đối tượng khách quốc tế và một phần du khách giàu có trong nước, rốt cuộc đã đẩy du khách có thu nhập trung bình đi du lịch ra nước ngoài. Trong khi đó, khách quốc tế vào Việt Nam chỉ đi theo mùa (thường là bốn tháng cuối năm), còn lại phần lớn thời gian không khai thác hết công suất phòng.

Trên suốt chiều dài 3.260km bờ biển, Việt Nam có nhiều lợi thế để xây dựng một trung tâm cho du khách, nhưng cho đến nay vẫn không có một cảng chuyên biệt nào dành cho du khách.

Nhiều tàu biển chở khách vào Việt Nam vẫn phải neo đậu nhờ các cảng hàng hóa, gây bất tiện và không khai thác được gì thêm các giá trị gia tăng khác như mua sắm, giải trí, ăn uống tại cảng.

Hành trình di chuyển từ cảng vào trung tâm thành phố mất quá nhiều thời gian, do đây là đoạn đường có nhiều xe tải chở hàng, khiến khách phàn nàn. Do đó, du lịch Việt Nam đã mất đi phần nào cơ hội từ thị trường khách này mang lại.

Bên cạnh đó, việc khai thác tiềm năng du lịch biển ở một số địa phương chưa hợp lý. Minh chứng là hệ thống di sản được thế giới công nhận nằm ven biển chỉ có Hội An, Hạ Long, Huế được khai thác tốt, còn Phong Nha-Kẻ Bàng thì chưa.

Du khách chủ yếu tập trung ở các bãi biển miền Trung, những bãi biển khác chỉ đón khách theo mùa. Việc phát triển các bãi biển không theo quy hoạch, khiến sản phẩm bị trùng lặp.

Chẳng hạn trong khi bãi biển Lăng Cô ảnh hưởng nhiều bởi khí hậu phía Bắc, mưa kéo dài trong năm, nhưng lại tổ chức các sản phẩm nghỉ dưỡng giống như Đà Nẵng, Quảng Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu phía Nam.

Phát triển du lịch biển hấp dẫn nhất Đông Nam Á

Với định hướng đến năm 2020 du lịch biển Việt Nam đứng vào nhóm các nước có du lịch biển phát triển nhất Đông Nam Á (cùng Thái Lan, Indonesia, Malaysia), từ nay đến năm 2020, Việt Nam hình thành 5 khu vực du lịch biển có sức cạnh tranh cao trong khu vực gồm khu Hạ Long-Cát Bà; Lăng Cô-Sơn Trà-Hội An; Nha Trang-Cam Ranh; Phan Thiết- Mũi Né; khu du lịch Phú Quốc.

Bên cạnh đó, các khu du lịch biển giàu tiềm năng khác cũng được đầu tư phát triển như Vân Đồn-Cô Tô; bước đầu khai thác tour du lịch ra Trường Sa; đầu tư, khai thác cảng du lịch chuyên dụng.

Du lịch sinh thái được xem là một loại hình mới mẻ nhưng hứa hẹn sẽ phát triển mạnh trong tương lai vì tiềm năng sinh thái hết sức đa dạng. Việt Nam hiện có hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau.

Các hệ sinh thái này có giá trị dịch vụ rất lớn, là nơi cư trú, sinh sản, ươm nuôi của nhiều loài thủy hải sản sinh vật bản địa và di cư, cũng như một số hệ sinh thái có năng suất sinh học cao là rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn.

Toàn bộ vùng biển Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với sự khác biệt đáng kể về khí hậu giữa các vùng biển, rất thuận lợi để hình thành những khu hệ động thực vật có tính đa dạng sinh học cao. Chính vì vậy, tổ chức thực hiện tốt công tác bảo tồn biển sẽ tạo đà cho việc phát triển thương hiệu “Biển Việt Nam.”

Để nâng cao tầm vóc và xây dựng thương hiệu du lịch biển Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 201/QĐ-TTg, về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Với quan điểm phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, nên ngay từ bây giờ, ngành du lịch Việt Nam cần sớm khắc phục được các mặt hạn chế, nhanh chóng phát triển du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, trở thành điểm đến hấp dẫn và tiện ích cho mọi du khách trong và ngoài nước./.

Du Lịch Biển Đảo Việt Nam: Tiềm Năng Và Hướng Phát Triển

Du lịch biển đảo ngày càng trở thành một xu hướng và động lực mới, với nhiều tiềm năng ở Việt Nam.

Thực tế cũng cho thấy, với lượng khách đến tăng nhiều trong những năm qua và luôn chiếm khoảng 70% tổng khách du lịch cả nước, du lịch biển đảo hiện đang là loại hình du lịch chủ đạo, góp phần quan trọng đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam.

* Giàu tiềm năng

Việt Nam có nhiều tiềm năng về du lịch biển đảo khi sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km và hơn 3.000 hòn đảo, với những bờ cát trắng, vịnh biển hoang sơ, những hòn đảo nhiệt đới quanh năm tươi tốt…

Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới và là nước có diện tích ven biển lớn ở khu vực Đông Nam Á. Và có tới 125 bãi biển mà hầu hết là các bãi tắm đẹp, trong đó bãi biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes bầu chọn là 1 trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh. Việt Nam cũng là 1 trong 12 quốc gia có các vịnh đẹp nhất thế giới là Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang.

Về mặt hành chính, 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các địa phương có biển, với diện tích tự nhiên là 126.747 km2, dân số (năm 2010) là 37,2 triệu người, bằng 38,2% diện tích tự nhiên và 41,1% dân số cả nước.

Bên cạnh đó, lãnh thổ vùng đất ven biển, vùng biển và hệ thống các đảo, nơi diễn ra du lịch biển đảo và vùng ven biển tập trung tới 7/13 di sản thế giới ở Việt Nam; 6/8 các khu dự trữ sinh quyển; nhiều vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên…

Ngoài ra, từ bao đời nay, biển đảo không chỉ là nơi cung cấp nguồn sống, mà còn là không gian để cộng đồng người Việt tạo lập nên một nền văn hóa biển đảo, với những di sản văn hóa đặc sắc. Đó là hệ thống di tích lịch sử-văn hóa liên quan đến môi trường biển, hệ thống thần linh biển, những bậc tiền bối có công trong công cuộc chinh phục biển, xác lập và thực thi chủ quyền quốc gia trên biển…; các lễ hội dân gian của cư dân miền biển; tín ngưỡng, phong tục tập quán liên quan đến biển; văn hóa sinh kế, văn hóa cư trú, văn hóa ẩm thực, diễn xướng dân gian, tri thức bản địa… Ðây chính là nguồn tài nguyên giàu có để phát triển du lịch biển đảo bền vững.

Biển trong xanh và yên bình thu hút nhiều du khách đến với Điệp Sơn (Ảnh: Trọng Đạt – TTXVN)

* Phát huy lợi thế

Nắm bắt thế mạnh trên, thời gian qua, nhiều khu du lịch biển tiềm năng đã được quy hoạch và đầu tư phát triển như: bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa); bãi biển Non Nước, Mỹ Khê (Đà Nẵng); vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa); bãi biển Mũi Né (Bình Thuận); bãi biển Vũng Tàu (Bà Rịa-Vũng Tàu)…

Việt Nam đã hình thành 3 trung tâm du lịch biển có sức hút với khách quốc tế, gồm vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Đà Nẵng, Nha Trang (Khánh Hòa) với những cơ sở lưu trú hiện đại 4-5 sao, có thể đón những đoàn khách đến nghỉ dưỡng và phát triển du lịch MICE (du lịch hội nghị, hội thảo).

Cùng với việc đầu tư xây dựng hạ tầng du lịch, nhiều dịch vụ giải trí, thể thao biển đã được đưa vào hoạt động như: chèo thuyền du lịch, kéo dù bằng ca nô, lướt ván, đua thuyền, bóng đá, bóng chuyền bãi biển… Đặc biệt, loại hình ngắm biển bằng dù lượn, khinh khí cầu, máy bay mô hình (ở biển Nha Trang, Đà Nẵng) hay bằng máy bay trực thăng (ở vịnh Hạ Long) đang được rất nhiều khách du lịch yêu thích.

Với sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng cùng các dịch vụ giải trí, du lịch biển đã thu hút hàng triệu lượt khách đến thăm quan và nghỉ dưỡng mỗi năm. Hoạt động du lịch biển đảo hiện chiếm khoảng 70% hoạt động của ngành du lịch Việt Nam.

Các sản vật địa phương liên quan đến biển cũng theo đó mà phát triển thành thương hiệu, đậm dấu ấn địa phương, góp phần đáng kể vào việc phát triển sản phẩm gắn với các tour du lịch. Có thể kể đến một số sản phẩm nổi tiếng như: nước mắm Phú Quốc, chả mực Hạ Long, tỏi Lý Sơn, yến sào Nha Trang, mật ong rừng Cát Bà…

Việc du lịch biển, đảo Việt Nam có lượng du khách lớn, đã khiến các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường đầu tư vào lĩnh vực này. Đến năm 2015, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực du lịch biển, đảo đã có ở 23 tỉnh/thành phố của cả nước, chiếm trên 70% số các dự án đầu tư trong lĩnh vực du lịch. Trong đó có một số dự án lớn như: Dự án của tập đoàn Platinum Dragon Empire (Mỹ) phát triển khu du lịch vui chơi giải trí tại Bà Rịa-Vũng Tàu với số vốn lên đến 550 triệu USD; dự án đầu tư của Tập đoàn Rockingham (Anh) xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp và các khu vui chơi giải trí, trường đua ô tô 1.000 ha tại Phú Quốc, quy mô dự án lên đến 1 tỷ USD…

Du lịch biển phát triển cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác; tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội dải ven biển, nơi hiện có khoảng 21,2 triệu người trong độ tuổi lao động và góp phần bảo đảm an ninh – quốc phòng, bảo vệ môi trường biển.

* Để làm giàu từ biển

Việc phát triển mạnh mẽ của du lịch biển đảo trong những năm qua, đã mang lại cơ hội xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân ở vùng ven biển nhiều địa phương trong cả nước.

Song theo đánh giá của các chuyên gia, kết quả này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng lớn của du lịch biển, đảo Việt Nam. Thực tế cho thấy, du lịch biển, đảo ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: Dịch vụ du lịch còn thiếu, nghèo nàn; sản phẩm du lịch biển chưa đa dạng; an ninh trật tự và việc quản lý giá tại một số khu, điểm du lịch chưa đảm bảo; quy hoạch của nhiều bãi biển đẹp đã bị phá vỡ, phát triển manh mún và khó điều chỉnh…

Nhằm khắc phục những hạn chế cũng như tạo sức bật cho du lịch biển, đảo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020”. Mục tiêu của đề án là đến năm 2020, du lịch biển sẽ trở thành động lực của kinh tế biển Việt Nam, góp phần đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển và bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh. Đề án cũng đề ra mục tiêu vào năm 2020, du lịch biển thu hút 22 triệu lượt khách quốc tế, 58 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch biển đạt 200.000 tỷ đồng.

Các chuyên gia cũng nhận định, việc chú trọng đẩy mạnh phát triển du lịch biển đảo là một định hướng đúng đắn, phù hợp với thế mạnh của ngành du lịch Việt Nam và mang ý nghĩa đặc biệt trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất nước. Tuy nhiên, để du lịch biển đảo phát triển bền vững, tương xứng với tiềm năng và tạo được thương hiệu riêng thì ngoài việc phải khắc phục những hạn chế đã tồn tại nhiều năm qua, cần có sự đầu tư và quản lý một cách chiến lược cả về cơ sở vật chất, dịch vụ và con người cho các trung tâm du lịch biển đảo đã được xác định. Đặc biệt, cần phát huy yếu tố văn hoá của từng địa phương trong phát triển du lịch biển để tạo dấu ấn riêng và thu hút khách du lịch quay trở lại nhiều lần./.

Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái Việt Nam

Về các tiềm năng tự nhiên cho phát triển du lịch sinh thái, nét thể hiện rõ nhất là ở Việt Nam có tính đa dạng sinh học khá cao, cũng như các hệ sinh thái đặc trưng.

Về thành phần các loài động thực vật, tại Việt Nam có tới 14.624 loài thực vật thuộc gần 300 họ, trong đó có nhiều loài cổ xưa và hiếm có, ví dụ như Tuế phát triển từ Đại Trung Sinh, các loài có giá trị kinh tế gồm hơn 1000 loài lấy gỗ, 100 loài có dầu, hơn 1000 loài cây thuốc, 100 loài quả rừng ăn được… Về động vật có tới 11.217 loài và phân loài, trong đó có 1.009 loài và phân loài chim, 265 loài thú, 349 loài bò sát lưỡng cư, 2000 loài cá biển, hơn 500 loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài tôm, cua, nhuyễn thể và thủy sinh vật khác. Về các loài thú, Việt Nam có 10 loài đặc trưng nhiệt đới: Cheo, Đồi, Chồn bay, Cầy mực, Cu li, Vượn, Tê tê, Voi, Heo vòi, Tê giác, và đặc biệt, trong thế kỷ 20 có 5 loài thú lớn mới được phát hiện thì đều ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ tính đa dạng sinh học của nước ta khá cao và có thể còn có nhiều loài sinh vật mới có mặt tại Việt Nam.

Cùng với các loài động thực vật tự nhiên, Việt Nam là một trong những cái nôi của cây trồng nhân tạo. Trên thế giới có 8 trung tâm cây trồng thì 3 trung tâm tập trung ở khu vực Đông Nam Á (Nam Trung Hoa – Hymalaya; Ấn Độ – Miến Điện; Đông Dương – Indonexia) với khoảng 270 loài cây nông nghiệp, riêng tại Việt Nam đã có hơn 200 loài cây trồng, trong đó có tới 90% cây trồng thuộc Trung tâm Nam Trung Hoa, 70% cây trồng thuộc trung tâm Ấn, Miến. Đây là tiền đề cho tổ chức du lịch sinh thái canh nông.

Về các hệ sinh thái tự nhiên có thể khai thác phục vụ phát triển du lịch sinh thái, ở Việt Nam có một số hệ sinh thái đặc trưng gồm:

Hệ sinh thái san hô ở Việt Nam khá giàu về thành phần loài, tương đương với các khu vực giàu san hô khác ở Tây Thái Bình Dương, trong đó ở khu vực ven bờ phía Bắc có 95 loài, ở khu vực ven bờ phía Nam có 255 loài. Trong các rạn san hô quần tụ nhiều loài sinh vật khác nhau, nhiều loài có màu sặc sỡ và có giá trị kinh tế cao.

Hệ sinh thái đất ngập nước ở các vùng có những đặc thù riêng, trong đó nổi bật là các hệ sinh thái ngập mặn ven biển trải dài suốt dọc bờ biển từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Mũi Nai (Kiên Giang). Tiêu biểu nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long phân bố một diện tích lớn các hệ sinh thái đất ngập nước, chủ yếu là các hệ sinh thái ngập mặn và các hệ sinh thái đất ngập phèn. Trong các hệ sinh thái ngập mặn thì các hệ sinh thái rừng ngập mặn châu thổ sông Cửu Long nuôi dưỡng một số lớn diệc, cò, cò lớn, cò quăm. Tại đây, có các sân chim lớn của Việt Nam. Rừng ngập mặn là nơi sinh sản, cư trú của nhiều hải sản, chim nước, chim di cư và các loài động vật có ý nghĩa kinh tế lớn như khỉ, lợn rừng, kỳ đà, chồn, trăn… Một dạng hệ sinh thái đất ngập nước điển hình khác là các đầm lầy nội địa hoặc đầm phá ven bờ, trong đó có các hệ sinh thái rừng tràm U Minh, tứ giác Long Xuyên là nổi tiếng và có giá trị cao. Các hệ sinh thái đầm lầy nội địa kết hợp với các vùng sình lầy cửa sông tạo nên các vùng đất ngập nước lớn ở hai châu thổ, nơi có số lượng lớn chim cư trú và chim di cư hàng năm cùng với nguồn lợi quý là mật ong rừng.

Hệ sinh thái vùng cát ven biển của nước ta đa dạng với 60 vạn ha, tập trung chủ yếu ở ven biển miền Trung. Các nhóm hệ sinh thái cát hình thành trên các loại cát khác nhau: hệ sinh thái vùng cồn cát trắng vàng; hệ sinh thái vùng đất cát biển; hệ sinh thái vùng đất cát đỏ. Đặc biệt lớn là khối cát đỏ ở Tây Bắc Phan Thiết với các cồn cát di động (do gió tạo nên) vừa có sức hấp dẫn lớn với du khách, vừa có thể phục vụ sản xuất nông nghiệp (trồng hoa màu, dưa hấu, đào lộn hột…).

Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới với nét đặc trưng là hệ thống các khu rừng đặc dụng là nơi lưu trữ các nguồn gen quý của nước ta phân bố ở khắp từ Nam ra Bắc, từ đất liền tới các hải đảo. Tính đến nay, cả nước đã có 107 khu rừng đặc dụng trong đó có 30 vườn quốc gia, 43 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa – lịch sử – môi trường với tổng diện tích là 2.092.466 ha.

Bên cạnh đó,các tiềm năng văn hóa cho phát triển du lịch sinh thái văn hóa ở Việt Nam cũng rất đa dạng và phong phú. Dân tộc Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với nền văn hóa đa dạng bản sắc của 54 dân tộc anh em, trong đó có nhiều tài nguyên đặc biệt có giá trị. Chỉ tính riêng về các di tích, trong số khoảng 40.000 di tích hiện có thì hơn 2.500 di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Tiêu biểu nhất Hoàng Thành Thăng Long, Khu di tích danh thắng Tràng An, Thành Nhà Hồ, Cố Đô Huế; đô thị cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Ngoài ra, còn có nhiều di sản văn hóa phi vật thể khác cũng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của Nhân loại (Dân ca Quan họ, Ca Trù, hát Xoan, Nhã nhạc Cung đình Huế…).

Ngoài các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, nhiều nghề thủ công truyền thống với kỹ năng độc đáo, nhiều lễ hội truyền thống gắn liền với sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc, cùng với những nét riêng, tinh tế của nghệ thuật ẩm thực được hòa quyện, đan xen trên nền kiến trúc phong cảnh có giá trị triết học phương Đông đã tạo cho Việt Nam sức hấp dẫn về du lịch.

Tiềm Năng Của Du Lịch Mice Tại Việt Nam

MICE – Meeting Incentive Conference Event (du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, khen thưởng, sự kiện) được đánh giá là loại hình du lịch mang lại giá trị doanh thu cao gấp nhiều lần du lịch thông thường. Cũng như một số công ty lữ hành khác, Vietrantour đã đưa du lịch MICE là một hướng đi chiến lược.

Với tiềm năng về du lịch nghỉ dưỡng, khí hậu ôn hòa, cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều kỳ quan thiên nhiên thế giới, cùng với việc tham gia ngày càng nhiều vào các tổ chức quốc tế, Việt Nam đang nổi lên là một địa điểm diễn ra nhiều hội nghị, hội thảo, sự kiện quốc tế quan trọng. Những năm gần đây, lượng khách MICE quốc tế và trong nước không ngừng tăng mạnh. So với các nước trong khu vực, có thể nói Việt Nam có tiềm năng phát triển du lịch Mice nổi trội. Khảo sát từ Vietrantour cho thấy các đoàn MICE thường chọn Hà Nội, Hạ Long, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Pha Thiết, Vũng Tàu và Tây Nam bộ. Ngoại trừ thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị – xã hội tập trung các sự kiện mang tầm quốc tế và quốc gia, các địa phương được các đoàn MICE lựa chọn là các thành phố nghỉ dưỡng, điểm đến du lịch nổi tiếng có cơ sở hạ tầng tốt, cảnh quan đẹp, không khí trong lành.

Các thành phố như Hạ Long, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Đà Lạt đều là các thành phố du lịch nổi tiếng. Cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ được quan tâm đầu tư và không ngừng được nâng cấp, cải thiện. Mũi Né (Phan Thiết) được coi là thiên đường Resoft với các dịch vụ cao cấp tiêu chuẩn 4 đến 5 sao, Đà Lạt với hệ thống biệt thự kiến trúc Pháp cổ kính, lãng mạn nhưng không kém phần tiện nghi, sang trọng, Đà Nẵng với cơ sở hạ tầng đồng bộ, cao cấp thỏa mãn được những khách MICE khó tính nhất. Hạ Long, Hội An, Nha Trang, Vũng Tàu có cảng biển, thỏa mãn dịch vụ hội nghị du thuyền, trò chơi mạo hiểm, du lịch khám phá.

Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào nhiều tổ quốc quốc tế, khu vực. Ổn định chính trị, khí hậu ôn hòa, con người thân thiện, Việt Nam ngày càng được tín nhiệm và đơn vị chủ nhà tổ chức nhiều sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao quốc tế và khu vực. Hà Nội, Hạ Long, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Đà Lạt là các thành phố có nhiều kinh nghiệm tổ chức sự kiện và đã gây được tiếng vang trong và ngoài nước. Cuộc thi Hoa hậu hoàn vũ, Hoa hậu Việt Nam, Hoa hậu Thế giới người Việt, Hoa hậu Trái đất tổ chức tại Nha Trang, Cuộc thi trình diễn pháo hoa, thi Robocon, thi Dù bay quốc tế tại Đà Nẵng, Lễ hội hoa Đà Lạt, Hội nghị APEC, Hội nghị cao cấp ASEAN tại Hà Nội, Lễ hội khinh khí cầu quốc tế, chạy đua bán Marathon quốc tế tại Phan Thiết, sự kiện Carnaval Hạ Long v.v.. là các sự kiện tiêu biểu nâng tầm Việt Nam ra khu vực và quốc tế. Kinh nghiệm, uy tín trong tổ chức sự kiện, hội nghị là vấn đề tiên quyết giúp đoàn khách MICE nhanh chóng đưa ra quyết định lựa chọn địa điểm du lịch.

Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, là đầu mối giao thông quan trọng từ Thái Bình Dương – Ấn Độ dương và châu Úc – Đại Dương nên các đoàn MICE quốc tế lựa chọn là nơi tổ chức sự kiện, hội nghị, hội thảo đa quốc gia lý tưởng.Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới. Vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang cũng giúp Việt Nam trở thành 1/12 quốc gia có vịnh đẹp nhất. Với bãi biển đẹp, khí hậu thuận lợi là điều kiện tuyệt vời để quy hoạch các thành phố du lịch, phục vụ tốt nhuc cầu nghỉ dưỡng và tổ chức sự kiện, hội nghị của các đoàn MICE trong và ngoài nước. Việt Nam có 400 nguồn nước nóng từ 40-150 độ, trong đó nhiều suối có hạ tầng xây dựng khá tốt như suối nước nóng thiên nhiên Đam Rông, Lâm Đồng; suối nước nóng Kim Bôi Hòa Bình, suối nước nóng Bình Châu Bà Rịa-Vũng Tàu, suối nước nóng Quang Hanh Quảng Ninh. Những ưu đãi từ nhiên nhiên này, giúp hình thành các khu Resoft, trung tâm Spa, nghỉ dưỡng cao cấp giữ chân khách du lịch. Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.400 km với 125 bãi tắm trải dài qua 28 tỉnh thành, trên 20 khu du lịch quốc gia, 30 vườn quốc gia, 7 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, cùng với những lợi thế khác về khí hậu, vị trí địa lý, tình hình chính trị, có thể nói Việt Nam có cơ hội trở thành một quốc gia phát triển mạnh về loại hình du lịch MICE.

Những năm gần đây, nhu cầu du lịch MICE ngày càng tăng, du lịch MICE tại Việt Nam sẽ tăng trưởng tốt trên cơ sở điều kiện cơ sở hạ tầng du lịch của Việt Nam được quan tâm phát triển. Hạ tầng giao thông đô thị, hệ thống khách sạn, resoft, trung tâm mua sắm cao cấp cần chú trọng đầu tư đồng bộ. Vấn đề chất lượng dịch vụ, cảnh quan môi trường Viêt Nam cũng cần cải thiện nếu muốn giữ chân các đoàn MICE quốc tế. Khai thác du lịch MICE hiệu quả sẽ mang lại nguồn thu trước mắt từ du lịch mà thông qua các sự kiện hội họp, đặc biệt là những sự kiện mang tính quốc tế, du lịch MICE còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế – xã hội trong nhiều lĩnh vực.

Vietrantour: 33 Tràng Thi – Hà Nội. ĐT: 043.655.6789.