Vùng Du Lịch Ở Việt Nam / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Các Vùng Du Lịch Ở Việt Nam

Các vùng du lịch Việt Nam là tiêu chí phân vùng trên cơ sở tuyến hay điểm du lịch và dựa trên sự liên kết những điểm tương đồng hay các điểm du lịch. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 chia ra 7 vùng du lịch thay vì 3 vùng như chiến lược đến năm 2010, các vùng du lịch gồm: Trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ.

” Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011

Các tiêu chí phân vùng du lịch (Việt Nam)

Loại hình sản phẩm du lịch độc đáo.

Điều kiện môi trường tự nhiên về du lịch.

Điều kiện môi trường nhân văn, đặc biệt là các di sản văn hóa, lịch sử, các lễ hội truyền thống.

Định hướng phát triển kinh tế – xã hội, phát triển đô thị hóa và mức thu nhập bình quân đầu người.

Điều kiện kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành, đặc biệt là hệ thống khách sạn, nhà hàng, tổ chức vui chơi giải trí, đi lại, thông tin liên lạc.

“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” ngày 22/1/2013 xác định rõ Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trung tâm du lịch như sau:

Bao gồm 14 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang. Vùng này có 5 trọng điểm du lịch là:

Sơn La – Điện Biên: gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.

Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.

Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.

Thái Nguyên – Lạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.

Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang…

Gồm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh, gồm 3 trọng điểm du lịch là:

Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.

Quảng Ninh – Hải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long – Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.

Ninh Bình gắn với Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc – Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.

Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

Thanh Hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.

Nam Nghệ An – Bắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng – sông Lam, Xuân Thành…

Quảng Bình – Quảng Trị gắn với Phong Nha – Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng – Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.

Thừa Thiên Huế

Gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:

Đà Nẵng – Quảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…

Bình Định – Phú Yên – Khánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…

Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…

gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch là:

Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia – Suối Vàng.

Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Gia Lai – Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.

Gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch:

Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.

Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.

Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.

Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Vùng này có 4 trọng điểm du lịch:

Tiền Giang – Bến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.

Cần Thơ – Kiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.

Đồng Tháp – An Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.

Cà Mau gắn với U Minh – Năm Căn – mũi Cà Mau.

Theo viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam – Tài liệu Quy hoạch Du lịch.

Quy hoạch du lịch – Trần Văn Thông – Đại học Văn Lang.

Vùng Tây Bắc (Việt Nam)

Vùng Tây Bắc hay Tây Bắc Bộ là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc. Vùng này là một trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng).

Không gian địa lý của vùng Tây Bắc hiện còn chưa được nhất trí. Một số ý kiến cho rằng đây là vùng phía nam (hữu ngạn) sông Hồng. Một số ý kiến lại cho rằng đây là vùng phía nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn. Nhà địa lý học Lê Bá Thảo cho rằng vùng Tây Bắc được giới hạn ở phía đông bởi dãy núi Hoàng Liên Sơn và ở phía tây là dãy núi Sông Mã.

Địa hình Tây Bắc núi cao và chia cắt sâu, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m. Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà). Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã. Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản. Cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh.

Lịch sử hình thành vùng Tây Bắc bắt đầu từ cách đây 500 triệu năm và đến bây giờ vẫn tiếp tục. Thuở ban đầu, vùng này là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã là nổi lên trên mặt biển. Biển liên tục rút ra xa rồi lại lấn vào suốt hàng trăm triệu năm. Trong quá trình ấy, đã có những sự sụt lún mạnh, góp phần hình thành các tầng đá phiến và đá vôi. Vào cuối đại Cổ sinh (cách đây chừng 300 triệu năm), dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã đã được nâng hẳn lên. Địa máng sông Đà lúc đó vẫn chìm dưới biển. Cho đến cách đây 150 triệu năm, chu kỳ tạo núi Indochina làm cho hai bờ địa máng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp uốn khổng lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên trên tầng đá phiến, tạo thành những cao nguyên đá vôi ngày nay. Trong quá trình tạo núi, còn có sự xâm nhập của macma. Kết quả là, vùng Tây Bắc được nâng lên với một biên độ đến 1000 mét.

Vì là địa máng, vùng vỏ rất động của trái đất, nên Tây Bắc là vùng có nguy cơ động đất cao nhất Việt Nam.

Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhưng sự biểu hiện của nó không giống nhau theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng. Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngăn không cho gió mùa đông (hướng đông bắc – tây nam) vượt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùng Đông bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam. Vì vậy, trừ khi do ảnh hưởng của độ cao, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc, chênh lệch có thể đến 2-3 O C. Ở miền núi, hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườn đón gió (sườn đông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi sườn tây tạo điều kiện cho gió “phơn” (hay quen được gọi là “gió lào”) được hình thành khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc. Nhìn chung, trong điều kiện của trung du và miền núi, việc nghiên cứu khí hậu là rất quan trọng vì sự biến dạng của khí hậu xảy ra trên từng khu vực nhỏ. Những biến cố khí hậu ở miền núi mang tính chất cực đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủ thổ nhưỡng bị thoái hoá. Mưa lớn và tập trung gây ra lũ nhưng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ quét; hạn vào mùa khô thường xảy ra nhưng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối.

Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc hiện nay gồm 6 tỉnh với diện tích trên 5,645 triệu ha (tỷ lệ 10,5% so với tổng diện tích cả nước) với 4.713.048 dân (tỷ lệ 15,5% so với tổng dân số cả nước), bình quân khoảng 88 người trên 1 cây số vuông.

Mục dân số và diện tích ghi theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam trên trang Wikipedia của các tỉnh thành Việt Nam.

Một số phần của Phú Thọ và 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái nằm ở hữu ngạn sông Hồng, do dòng sông chảy qua giữa địa phận các tỉnh này, song phạm vi hành chính của vùng Tây Bắc không bao gồm Phú Thọ, đôi khi 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái cũng được xếp vào Đông Bắc Bộ. Tuy nhiên, hiện nay trụ sở của Ban chỉ đạo Tây Bắc nằm ở thành phố Yên Bái, tỉnh lỵ của tỉnh Yên Bái.

Về cơ bản, vùng Tây Bắc là không gian văn hóa của dân tộc Thái, nổi tiếng với điệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi tiếng được nhiều người biết đến. Mường là dân tộc có dân số lớn nhất vùng. Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác như H’Mông, Dao, Tày, Kinh, Nùng,… Ai đã từng qua Tây Bắc không thể quên được hình ảnh những cô gái Thái với những bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho Tây Bắc. tây bắc là vùng có sự phân bố dân cư theo độ cao rất rõ rệt: vùng rẻo cao(đỉnh núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao, Tạng Miến,với phương thức lao động sản xuất chủ yếu là phát nương làm rẫy, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên; vùng rẻo giữa(sườn núi) là nơi cư trú của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, phương thức lao động sản xuất chính là trồng lúa cạn, chăn nuôi gia súc và một số nghề thủ công; còn ở vùng thung lũng, chân núi là nơi sinh sống của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, Thái – Kadai,điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn để phát triển nông nghiệp và các ngành nghề khác. sự khác biệt về điều kiện sinh sống và phương thức lao động sản xuất cũng gây ra sự khác biệt văn hóa rất lớn! mặc dù văn hóa chủ thể và đặc trưng là văn hóa dân tộc Mường.

Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long và châu Đô Kim (nay thuộc Tuyên Quang), vua Lý Thái Tổ sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sáp nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Cồ Việt.

Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Thái (châu Văn Bàn, châu Thủy Vĩ) ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.

Năm 1294, thượng hoàng Trần Nhân Tông, cùng Phạm Ngũ Lão, đi đánh bại Ai Lao thu nạp đất đai. Năm 1297, Trần Anh Tông sai Trần Nhật Duật đánh A Lộc (Ai Lao), Trần Quốc Tảng đánh Sầm Tử, Phạm Ngũ Lão đánh tan Ai Lao thu lại đất cũ ở sông Chàng Long. Năm 1301, Phạm Ngũ Lão đánh Ai Lao ở Mường Mai (Châu Mai, nay là đất Mai Châu). Các vùng đất thu nạp được thời kỳ này nhà Trần đặt làm huyện Mông đạo Đà Giang, đến đời thuộc Minh là đất hai huyện Mông và Tư Mang, sang thời nhà Lê sơ là toàn bộ châu Mộc (Mộc Châu (nay là Mộc Châu, Vân Hồ), Đà Bắc, Mã Nam (nay là huyện Sop Bao Lào)), và châu Mai phủ Gia Hưng.

Năm 1329, thượng hoàng Trần Minh Tông đi đánh mán Ngưu Hống, thổ tù Mường Mỗi, tại Mang Việt đạo Đà Giang thu nạp đất châu Yên (Mang Việt), Phù Hoa, Mường Mỗi (châu Thuận) là các vùng đất nay là các huyện Yên Châu, Phù Yên, Thuận Châu, Tuần Giáo, Sơn La, Mai Sơn tỉnh Sơn La.

Theo Minh sử, năm 1405, Đèo Cát Hãn dâng sớ lên triều đình nhà Minh tố cáo nhà Hồ đánh chiếm 7 trại Mãnh Man thuộc châu Ninh Viễn dưới quyền Đèo Cát Hãn, vốn thuộc phủ Lâm An của tỉnh Vân Nam, giết con rể của ông, bắt con gái của ông để khống chế. Trong các nguyên do mà nhà Minh viện ra khi sang đánh nhà Hồ có lý do này. Nhà Hồ lúc đó yếu thế phải trả lại Đèo Cát Hãn các trại này. Châu Ninh Viễn đến thời Lê sơ gọi là Mường Lễ.

Đến năm 1431, Lê Lợi thu phụ Đèo Cát Hãn, có thêm châu Phục Lễ (Mường Lễ), vùng thượng lưu sông Đà do Đèo Cát Hãn cai quản, từng là châu Ninh Viễn của Vân Nam, nhập về. Mường Lễ sau đổi Thành Phục Lễ phủ An Tây gồmː đất Mường Lễ (châu Lai), Tuy Phụ (Mường Tè), Hoàng Nham (Mường Toong, Mường Nhé), Chiêu Tấn (Phong Thổ), Lễ Tuyền (Mường Boum), Hợp Phì (Xiềng My, nay là Giả Mễ huyện Kim Bình, Vân Nam), Khiêm Châu (Mường Tinh), Quảng Lăng (Mường La, nay là Mường Lạp huyện Kim Bình, Vân Nam), Tung Lăng (Phù Phang), Luân Châu (Mường Báng), Quỳnh Nhai (Mường Chăn).

Năm 1467 Lê Thánh Tông thu nạp vùng sách Câu Lộng (Mã Giang) từ Ai Lao (nay là khoảng huyện Sông Mã tỉnh Sơn La).

Năm 1478, vua Lê Thánh Tông, sau khi thu phục tiểu vương quốc Bồn Man đã sáp nhập vùng phía tây Sơn La (thượng lưu sông Mã, nay là khoảng các huyện Sốp Cộp, Sông Mã tỉnh Sơn La), các huyện phía tây Thanh Hóa, Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn của Lào ngày nay vào đất Đại Việt. Đến thời Lê Thánh Tông, cơ bản vùng Tây Bắc Việt Nam đã hình thành và thuộc vào lãnh thổ Đại Việt. Và từ đây cho đến cuối thế kỷ 19, toàn bộ vùng Tây Bắc Việt Nam đều tương đương với cương vực của một địa danh duy nhất mang tên Hưng Hóa, ban đầu là thừa tuyên Hưng Hóa, rồi đến xứ Hưng Hóa, sau đó là trấn Hưng Hóa và cuối cùng là tỉnh Hưng Hóa.

Đến cuối triều Lê trung hưng, trong những năm 1684- 1777, khoảng 7 châu của trấn Hưng Hóa Đại Việt, giáp giới với tỉnh Vân Nam đã bị mất về lãnh thổ Trung Quốc, gồm: Mường La-Quảng Lăng, Mường Tè-Tuy Phụ, Mường Tong-Hoàng Nham, Phong Thổ-Chiêu Tấn, Mường Boum hoặc M.Léo-Lễ Tuyền, Tché My (Xiềng My)-Hợp Phì, Khiêm Châu – Mường Tinh (M.Tía), Tung Lăng – Phù Phang (Pou Fang gần Mường Nhé (M.Nhié)) hoặc Quảng Lăng (Ta Leng Po).

Năm 1768-1769, quân nhà Lê- Trịnh, tiến đánh Hoàng Công Chất cát cứ Mường Thanh của Lào Lung, thu nạp đất này lập ra châu Ninh Biên ( Điện Biên Phủ) thuộc trấn Hưng Hóa.

Cũng cuối nhà Lê trung hưng, triều Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng 36 (1776), châu Mộc chia tách thành 3 châu làː châu Đà Bắc, châu Mộc (nay là huyện Mộc Châu và Vân Hồ), châu Mã Nam. Sau đó khoảng những năm 1780 đến đầu thời nhà Tây Sơn, Thổ tù các châu này vốn là anh em họ Xa, bất hòa. Thổ tù châu Mã Nam về theo châu Xiềng Khô của Vương quốc Luang Phrabang (Lào Lung). Từ đó vùng lãnh thổ của trấn Hưng Hóa Đại Việt nằm bên bờ nam sông Mã là châu Mã Nam (nay là khoảng huyện Sop Bao) tiếp giáp phía nam tỉnh Sơn La ngày nay trở thành lãnh thổ Lào, mà không còn thuộc Tây bắc Việt Nam nữa.

Sang thời nhà Nguyễn vùng Tây Bắc Việt Nam là vùng lãnh thổ thuộc trấn Hưng Hóa (1802-1831) sau là tỉnh Hưng Hóa (1831-1884). Tuy nhiên, thời này vùng Tây Bắc Việt Nam không bao gồm các vùng lãnh thổ Hưng Hóa mất sang nhà Thanh Trung Quốc (7 châuː Tung Lăng, Quảng Lăng, Tuy Phụ, Hoàng Nham, Lễ Tuyền, Hợp Phì, Khiêm) và châu Mã Nam mất về Lào).

Tháng Tư năm 1884 quân Pháp dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Brière de l’Isle mở cuộc hành chinh đánh lấy thành Hưng Hóa. Quân nhà Nguyễn cùng quân Cờ Đen thấy không giữ được nên nổi lửa đốt thành rồi bỏ ngỏ đồn lũy, rút lên mạn ngược (khu vực sau là các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái). Chiếm được Hưng Hóa, người Pháp cho phân định lại địa giới, cắt thêm những tỉnh mới cùng tiểu quân khu để dễ dàng cai trị: tháng 5 năm 1886 thành lập tỉnh Chợ Bờ (tức tỉnh Mường, sau đổi thành tỉnh Hòa Bình); ngày 7 tháng 1, 1899 thành lập đạo quân binh IV bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai, Tiểu quân khu Vạn Bú… Lào Cai là đạo lỵ (về sau đổi thành các tỉnh dân sự như: tỉnh Yên Bái (1895), tỉnh Vạn Bú (1895, sau đổi thành tỉnh Sơn La), tỉnh Lào Cai (tháng 7 năm 1907) và tỉnh Lai Châu (tháng 6 năm 1909)…

Sau khi cắt đi 16 châu, 4 phủ và hai huyện Trấn Yên, Văn Chấn để thành lập đạo quan binh IV với các tiểu quân khu, khu quân sự… Tỉnh Hưng Hoá chỉ còn lại huyện Tam Nông và huỵện Thanh Thuỷ. Toàn quyền Đông Dương đã điều chỉnh một số huyện của tỉnh Sơn Tây sang, cộng với 2 huyện còn lại để thành lập tỉnh Hưng Hoá mới.

Năm 1887, Pháp ký kết với nhà Thanh công ước Pháp-Thanh hoạch định biên giới, quy định cắt toàn bộ khu vực lãnh thổ châu Chiêu Tấn phủ An Tây tỉnh Hưng Hóa nhà Nguyễn (tức là khu vực các huyện Sìn Hồ, Phong Thổ, Tam Đường, Nậm Nhùn tỉnh Lai Châu, huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai) về cho nhà Thanh. Khu vực này cùng với khu vực 6 châu phủ An Tây Đại Việt đã mất vào thời nhà Lê là Mường Tè (Tuy Phụ), Mường Nhé (Hoàng Nham), Mường Chà (Khiêm Châu), Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tung Lăng, Mường La (Quảng Lăng) vốn là đất thế tập tự trị của dòng họ Đèo người Thái trắng. Châu Chiêu Tấn, đương thời do Đèo Văn Trị cần vương kháng Pháp cai quản, bị Pháp chuyển cho nhà Thanh.

Ngày 8 tháng 9 năm 1891, ba huyện Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây nhập vào tỉnh Hưng Hoá.

Ngày 9 tháng 12 năm 1892 huyện Cẩm Khê thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây nằm trong địa bàn tiểu quân khu Yên Bái nhập về tỉnh Hưng Hoá.

Ngày 5 tháng 6 năm 1893, huyện Hạ Hòa thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây nằm trong địa bàn tiểu quân khu Yên Bái được nhập vào tỉnh Hưng Hoá.

Năm 1895, cùng với sự đầu hàng của Đèo Văn Trị và sự suy yếu của nhà Thanh, Pháp đã ký kết với nhà Thanh công ước hoạch định biên giới sửa đổi, quy định lấy lại phần đất tỉnh Hưng Hóa cũ đã mất cho nhà Thanh trong công ước năm 1887, và lấy thêm các phần đất nay là các huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu, Mường Nhé, Mường Chà tỉnh Điện Biên về cho xứ Bắc Kỳ thuộc Pháp. Phần đất các huyện Mường Tè, Mường Nhé, Mường Chà này là một phần (3/6 châu) của 6 châu (Tuy Phụ, Hoàng Nham, Khiêm Châu, Tung Lăng, Lê Tuyền, Hợp Phì) đã mất cho nhà Thanh Trung Quốc từ thời nhà Lê trung hưng, đến suốt thời nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn độc lập chưa lấy lại được. Các phần đất này sau nhập vào tỉnh Lai Châu thời Pháp thuộc. Tuy nhiên, đổi lại Pháp cắt cho Trung Quốc phần còn lại sau công ước 1887 của vùng đất Tụ Long Hà Giang, nơi có nhiều mỏ khoáng sản quý.

Ngày 17 tháng 7 năm 1895, hai châu Thanh Sơn và Yên Lập thuộc khu quân sự Đồn Vàng chuyển về tỉnh Hưng Hoá.

Ngày 24 tháng 8 năm 1895 hai huyện Hùng Quan và Ngọc Quan của phủ Đoan Hùng thuộc tiểu quân khu Tuyên Quang; đạo quan binh 3 Yên Bái nhập vào tỉnh Hưng Hoá.

Như vậy tỉnh Hưng Hóa mới gồm 2 phủ 10 huyện và 2 châu. Trong đó 2 huyện Tam Nông, Thanh Thủy và 2 châu Thanh Sơn, Yên Lập vốn là đất cũ của tỉnh Hưng Hoá; phủ Đoan Hùng với 2 huyện Hùng Quan và Ngọc Quan, phủ Lâm Thao và 6 huyện: Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Hạc Trì là những phủ, huyện mới từ tỉnh Sơn Tây chuyển sang. Tỉnh lỵ tỉnh Hưng Hoá đặt tại thị xã Hưng Hóa (thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1895, vốn là thành Hưng Hóa), đóng tại xã Trúc Khê, huyện Tam Nông (nay là thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ).

Ngày 5 tháng 5 năm 1903 tỉnh Hưng Hóa mới (phần còn lại) được đổi tên thành tỉnh Phú Thọ.

Tại vùng Tây Bắc thời Pháp thuộc đã lập ra xứ Thái tự trị. Năm 1955, Khu tự trị Thái-Mèo được thành lập, gồm 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ, và đến năm 1962 gọi là Khu tự trị Tây Bắc. Khu tự trị này giải thể năm 1975.

Vùng Tây Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng Tây Bắc do Quân khu 2, Quân khu 3 bảo vệ.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây đã diễn ra nhiều trận đánh và chiến dịch quân sự ác liệt mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngoài ra còn có trận Nà Sản cũng trong thời kì Chiến tranh Đông Dương

Đặt Trưng Của 7 Vùng Du Lịch Việt Nam

Chúng ta vẫn thường biết rằng Việt Nam có 3 miền là Bắc, Trung, Nam nên khu vực du lịch cũng dựa theo đó mà được chia làm 3 phần khác nhau. Nhưng về sau, để dễ bề quản lý và thống kê được mức độ phát triển của mỗi khu vực được rõ ràng, chi tiết hơn, nhà nước đã chia nhỏ 3 khu vực này thành các vùng nhỏ hơn. Vậy Việt Nam có bao nhiêu tiểu vùng du lịch ? Câu trả lời chính là có 7 vùng tương ứng với 7 vùng địa lý Việt Nam :

Các điểm đặc trưng của 7 vùng du lịch Việt Nam

1. Vùng du lịch trung du miền núi phía Bắc

Có 14 tỉnh thành tập trung tại khu vực trung du miền núi phía Bắc này là Bắc Giang, Lạng, Sơn, Cao bằng, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Phú Thọ, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình. Tuy là một khu vực có nhiều tỉnh thành nhưng những địa điểm du lịch nổi tiếng chỉ có chủ yếu ở 5 tỉnh: Hà Giang, Thái Nguyên, Lào Cai, Phú Thọ và Sơn La. Chắc hẳn rằng bạn cũng đã nghe qua những điểm du lịch quan trọng ở mỗi tỉnh thành này như:

Tại Hà Giang sẽ có Mèo Vạc, cảnh quan Mã Pí Lèng, Mốc biên giới Lũng Cú, Cao nguyên đá Đồng Văn…

Tại Thái Nguyên, Lạng Sơn thì có hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Cây đa Tân Trào, Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, Khu nghỉ mát Mẫu Sơn.

Cùng bà con trải nghiệm cảm giác đi bộ qua nhiều cung đường khác nhau.

Leo núi chinh phục đỉnh Phan Xi Păng cao vút hay các đỉnh Tây Côn Lĩnh, Bạch Mộc Lương Tử… và thử đi qua các con đường đèo quanh co, khúc khuỷu như Mã Pì Lèng, đèo Pha Đin, cao nguyên đá Đồng Văn…

Tham quan và tìm hiểu về lối sống của bà con dân tộc thiểu số. Tham gia vào những lễ hội, phiên chợ để xem họ buôn bán, vui chơi.

Thưởng thức ẩm thực ở mỗi tỉnh, mỗi dân tộc mang một hương vị rất riêng, không thể pha lẫn.

Thưởng ngoạn phong cảnh và cùng trải qua sự chuyển mùa của các loài thực vật, cây trồng nông nghiệp như tháng 2 sẽ là mùa của hoa đào, hoa mận và thu hoạch cam cao phong, sang đến tháng 3 là mùa của hoa cải, hoa ban…

Thăm quan chiến khu Việt Bắc ở Thái Nguyên hay di tích lịch sử Điện Biên Phủ…

Nếu ở trung du miền núi phía Bắc có nhiều di tích lịch sử cùng các dân tộc thiểu số thì tại Bắc Bộ lại tập trung nhiều danh lam thắng cảnh cùng các khu du lịch. Hơn nữa, các tỉnh thành thuộc khu vực này đều là những điểm đến của rất nhiều du khách khi vừa muốn tham quan vừa nghỉ ngơi, thư giãn.

So với hai khu vực trên thì trung du miền núi Bắc Bộ có phần hiện đại hơn với hoạt động sống vô cùng náo nhiệt. Khu vực này gồm có các tỉnh thành: Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc.

Tuy nơi đây mang phong cách hiện đại nhưng những nét cổ xưa vẫn không hề phai mờ. Thêm nữa, chính những đặc điểm cổ kính này đã tạo nên sự hiếu kỳ, thích thú với những du khách từ xa đến.

4. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ

Không như những tỉnh thành phía Bắc, tất cả các tỉnh của vùng duyên hải Nam Trung Bộ đều giáp với biển. Cũng chính vì thế mà mỗi tỉnh đều sẽ gắn liền với những bãi biển đẹp nổi tiếng.

5. Vùng du lịch Tây Nguyên

Khu vực Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh thành và cũng có nhiều điểm đến du lịch vô cùng hấp dẫn, thu hút không kém những khu vực phát triển khác.

Tương tự như khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ cũng được chia làm 3 trọng điểm du lịch với nhiều địa danh nổi tiếng như:

Không có nhiều biển như duyên hải Nam Trung Bộ hay nhiều núi như khu vực phía Bắc nhưng Đông Nam Bộ vẫn là một địa điểm thu hút rất đông khách du lịch khi có nhiều khu du lịch đặc sắc như Hồ Cốc, di tích Tàu không số trên dòng sông Ray, làng Bưởi Tân Triều, núi Bà Đen, khu du lịch Đại Nam… có thể mang đến cho bạn những trải nghiệm độc đáo và lý thú.

7. Vùng du lịch Tây Nam Bộ – Đồng bằng sông Cửu Long

Tuy có nhiều tỉnh thành như Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Long An nhưng nơi tập trung nhiều điểm du lịch nhất thì chỉ nằm trong 4 nơi sau:

Đến Cần Thơ, bạn có thể ghé vào đảo Phú Quốc, Hà Tiên, văn hóa chợ nổi Cái Răng…

Đến với Cà Mau thì có rừng U Minh, Mũi Cà Mau.

Đến Tiền Giang, Bến Tre, bạn có thể trải nghiệm trong những khu du lịch miệt vườn Thới Sơn.

Còn ở Đồng Tháp, An Giang thì có thể du lịch tại vườn quốc gia Tràm Chim, Tứ giác Long Xuyên.

Khi đến với vùng du lịch Tây Nam Bộ này, bạn sẽ có cơ thể được thưởng thức những sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng này như được trải nghiệm di chuyển bằng thuyền, xuôi theo dòng nước qua các rặng dừa xum xuê, tham quan các hoạt động thường ngày của người dân địa phương, các chợ nổi, ngắm nhìn quang cảnh sông Vàm Cỏ, các khu vườn đầy cây ăn trái hay nếm thử các món ăn đặc sản như đuông dừa, cháo cá lóc, cháo cua đồng, lẩu mắm…

Việt Nam – Lào Nỗ Lực Phát Triển Du Lịch Vùng Biên Giới

Việt Nam – Lào nỗ lực phát triển du lịch vùng biên giới

  Khu vực biên giới Việt Nam– Lào là khu vực có nhiều tiềm năng nổi bật về du lịch sinh thái và du lịch văn hóa. Vì vậy, hai nước Việt Nam – Lào đã và đang nỗ lực bắt tay để thúc đẩy du lịch vùng biên giới phát triển hiệu quả, bền vững.  Trong những năm qua, hợp tác du lịch biên giới giữa hai nước Viêt Nam – Lào đã có những phát triển vượt bậc thông qua các chương trình du lịch liên kết giữa hai nước với các quốc gia trên Hành lang kinh thế Đông Tây. Việt Nam và Lào đang nổi lên là điểm đến hấp dẫn mới với sự quyến rũ về cảnh quan thiên nhiên hoang sơ và văn hóa bản địa đặc sắc. Mặc dù du lịch Việt Nam – Lào có nhiều điều kiện để cùng phát triển nhưng kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của hai nước. Số lượng khách trao đổi giữa hai nước còn thấp so với lượng khách Việt Nam ra nước ngoài. Lượng khách đường bộ từ thị trường nước thứ 3 của khu vực ASEAN khác chưa được trú trọng khai thác.   Lượng khách trao đổi giữa hai bên còn ở phạm vi hẹp, chủ yếu là khách đi ngắn ngày. Khách đi du lịch với mục đích nghỉ dưỡng, khách có khả năng chi trả cao chưa nhiều… Điều đó, xuất phát từ… … Chưa có sự gắn kết giữa hai vùng biên giới Theo đánh giá của các doanh nghiệp, việc hợp tác chung trong khai thác du lịch chưa được triển khai một cách tích cực, đặc biệt trong công tác phối hợp đón khách, xây dựng sản phẩm và xúc tiến quảng bá du lịch giữa Lào và Việt Nam. Chất lượng, dịch vụ du lịch trên tuyến hành lang Đông – Tây còn nhiều hạn chế, đặc biệt là thiếu dịch vụ giải trí, các dịch vụ có ý nghĩa quyết định thu hút khách du lịch nói chung. Điều đó sẽ dẫn đến việc khó cạnh tranh và không có sức hút so với các tuyến du lịch đường bộ từ Singapore, Malaysia sang Thái Lan và ngược lại… Ông Nguyễn Đức Hiền, Tổng Giám đốc Công ty CP Du lịch Nghệ An lý giải về điều này là do công tác quy hoạch các tuyến điểm, vùng du lịch khu vực biên giới Việt Nam – Lào còn chưa được quan tâm đúng mực. Một số địa phương quy hoạch mang tính tự phát, chưa gắn liên kết vùng và khu vực hai bên biên giới. Các sản phẩm du lịch nghèo nàn, đơn điệu, phát triển manh mún, nhỏ lẻ thiếu tính đặc trưng, chưa tạo thành thương hiệu của từng vùng miền. Công tác xã hội hóa để phát triển du lịch vùng biên chưa được quan tâm và phát huy, chủ yếu là ngân sách hai nước, chưa thu hút và khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiến hành đầu tư các dự án có tầm. Vì vậy, chưa tạo được tính đột phá và điểm nhấn thu hút khách du lịch. Trong khi đó, nguồn nhân lực trực tiếp phục vụ khách du lịch từ quản lý đến hướng dẫn viên đều thiếu am hiểu văn hóa truyền thống của các dân tộc vùng biên. Việc giải quyết thủ tục qua lại cho khách du lịch còn cứng nhắc, chậm chạp khiến chi phí qua lại đường biên trong ngày còn khó khăn và mức phí cao. Đơn cử như việc tổ chức tour “Một ngày xuất ngoại” cho khách du lịch tắm biển Cửa Lò nhiều đoàn khách quan tâm nhưng do chi phí qua lại cao nên không thu hút, phát triển nguồn khách này. Còn theo ông Trần Đức Nam, Giám đốc Công ty TNHH Tân Hồng, Chi nhánh Hà Tĩnh cho rằng, trong thời gian qua, việc liên kết du lịch giữa hai nước Việt Nam – Lào còn nhiều bất cập, chưa thành lập một ban quản lý chung về du lịch. Hiện mỗi nước tự quản lý phần lãnh thổ của riêng mình chứ chưa có sự thống nhất trong liên kết về cơ sở vật chất, thủ tục hành chính, về thời gian làm việc, cơ chế quản lý du lịch cũng như chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch. Bởi vậy, điều quan trọng để phát triển du lịch bền vững giữa hai nước Việt Nam – Lào là đưa ra… … Thống nhất các giải pháp liên kết Có thể nói, sự tăng trưởng quá nhanh trong một thời gian ngắn trong khi yếu tố thị trường chưa phát triển đồng bộ đã làm nảy sinh nhiều bất cập chưa tương xứng với tiềm năng và khả năng phát triển. Hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật ngành du lịch còn kém phát triển. Hệ thống nhà hàng khách sạn, trạm dừng chân, trạm tiếp xăng dầu, hệ thống đường dẫn đến các điểm du lịch chưa đồng bộ, chất lượng chưa đảm bảo… Vì vậy, để phát triển du lịch đường bộ qua các cửa khẩu du lịch biên giới Việt Nam – Lào phát triển ổn định, lâu dài và bền vững, ông Nguyễn Hữu Bắc, Phó TGĐ Công ty Lữ hành Quốc tế Thái Sơn cho rằng, cần đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và thực hiện đồng bộ các nhóm liên kết: Liên kết trong Xây dựng cơ chế chính sách, liên kết trong phát triển hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật, liên kết trong hoạt động lữ hành, liên kết trong hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch, trong hoạt động đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch… Vụ Lữ hành đề nghị, để liên kết phát triển du lịch hiệu quả giữa hai nước trong tương lai, hai nước cần có những quy định nhất quán về phương tiện vận chuyển đón khách và lưu hành trên lãnh thổ của nhau, cho phép xe Việt Nam được đón khách tại Lào và ngược lại. Ngoài ra, giảm và tiến tới bỏ hẳn các loại phí cửa khẩu cho khách du lịch qua lại các cửa khẩu đường bộ, hạn chế việc thu phí trên các phương tiện vận chuyển, tiến hành một quy trình xuất nhập cảnh đơn giản, nhanh chóng cho các đoàn khách du lịch… là những giải pháp hữu hiệu thúc đẩy phát triển du lịch biên giới giữa hai nước.

Lượng khách trao đổi giữa hai bên còn ở phạm vi hẹp, chủ yếu là khách đi ngắn ngày. Khách đi du lịch với mục đích nghỉ dưỡng, khách có khả năng chi trả cao chưa nhiều… Điều đó, xuất phát từ…Theo đánh giá của các doanh nghiệp, việc hợp tác chung trong khai thác du lịch chưa được triển khai một cách tích cực, đặc biệt trong công tác phối hợp đón khách, xây dựng sản phẩm và xúc tiến quảng bá du lịch giữa Lào và Việt Nam. Chất lượng, dịch vụ du lịch trên tuyến hành lang Đông – Tây còn nhiều hạn chế, đặc biệt là thiếu dịch vụ giải trí, các dịch vụ có ý nghĩa quyết định thu hút khách du lịch nói chung. Điều đó sẽ dẫn đến việc khó cạnh tranh và không có sức hút so với các tuyến du lịch đường bộ từ Singapore, Malaysia sang Thái Lan và ngược lại…Ông Nguyễn Đức Hiền, Tổng Giám đốc Công ty CP Du lịch Nghệ An lý giải về điều này là do công tác quy hoạch các tuyến điểm, vùng du lịch khu vực biên giới Việt Nam – Lào còn chưa được quan tâm đúng mực. Một số địa phương quy hoạch mang tính tự phát, chưa gắn liên kết vùng và khu vực hai bên biên giới. Các sản phẩm du lịch nghèo nàn, đơn điệu, phát triển manh mún, nhỏ lẻ thiếu tính đặc trưng, chưa tạo thành thương hiệu của từng vùng miền. Công tác xã hội hóa để phát triển du lịch vùng biên chưa được quan tâm và phát huy, chủ yếu là ngân sách hai nước, chưa thu hút và khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiến hành đầu tư các dự án có tầm. Vì vậy, chưa tạo được tính đột phá và điểm nhấn thu hút khách du lịch. Trong khi đó, nguồn nhân lực trực tiếp phục vụ khách du lịch từ quản lý đến hướng dẫn viên đều thiếu am hiểu văn hóa truyền thống của các dân tộc vùng biên. Việc giải quyết thủ tục qua lại cho khách du lịch còn cứng nhắc, chậm chạp khiến chi phí qua lại đường biên trong ngày còn khó khăn và mức phí cao. Đơn cử như việc tổ chức tour “Một ngày xuất ngoại” cho khách du lịch tắm biển Cửa Lò nhiều đoàn khách quan tâm nhưng do chi phí qua lại cao nên không thu hút, phát triển nguồn khách này.Còn theo ông Trần Đức Nam, Giám đốc Công ty TNHH Tân Hồng, Chi nhánh Hà Tĩnh cho rằng, trong thời gian qua, việc liên kết du lịch giữa hai nước Việt Nam – Lào còn nhiều bất cập, chưa thành lập một ban quản lý chung về du lịch. Hiện mỗi nước tự quản lý phần lãnh thổ của riêng mình chứ chưa có sự thống nhất trong liên kết về cơ sở vật chất, thủ tục hành chính, về thời gian làm việc, cơ chế quản lý du lịch cũng như chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch. Bởi vậy, điều quan trọng để phát triển du lịch bền vững giữa hai nước Việt Nam – Lào là đưa ra…Có thể nói, sự tăng trưởng quá nhanh trong một thời gian ngắn trong khi yếu tố thị trường chưa phát triển đồng bộ đã làm nảy sinh nhiều bất cập chưa tương xứng với tiềm năng và khả năng phát triển. Hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật ngành du lịch còn kém phát triển. Hệ thống nhà hàng khách sạn, trạm dừng chân, trạm tiếp xăng dầu, hệ thống đường dẫn đến các điểm du lịch chưa đồng bộ, chất lượng chưa đảm bảo… Vì vậy, để phát triển du lịch đường bộ qua các cửa khẩu du lịch biên giới Việt Nam – Lào phát triển ổn định, lâu dài và bền vững, ông Nguyễn Hữu Bắc, Phó TGĐ Công ty Lữ hành Quốc tế Thái Sơn cho rằng, cần đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và thực hiện đồng bộ các nhóm liên kết: Liên kết trong Xây dựng cơ chế chính sách, liên kết trong phát triển hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật, liên kết trong hoạt động lữ hành, liên kết trong hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch, trong hoạt động đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch…Vụ Lữ hành đề nghị, để liên kết phát triển du lịch hiệu quả giữa hai nước trong tương lai, hai nước cần có những quy định nhất quán về phương tiện vận chuyển đón khách và lưu hành trên lãnh thổ của nhau, cho phép xe Việt Nam được đón khách tại Lào và ngược lại. Ngoài ra, giảm và tiến tới bỏ hẳn các loại phí cửa khẩu cho khách du lịch qua lại các cửa khẩu đường bộ, hạn chế việc thu phí trên các phương tiện vận chuyển, tiến hành một quy trình xuất nhập cảnh đơn giản, nhanh chóng cho các đoàn khách du lịch… là những giải pháp hữu hiệu thúc đẩy phát triển du lịch biên giới giữa hai nước.