Xã Hội Hóa Du Lịch

– Được kỳ vọng là khu vực hứa hẹn mang lại thương hiệu đẳng cấp cho du lịch Việt Nam, thế nhưng thực tế, miền Trung – Tây Nguyên vẫn chưa tạo ra bứt phá để trở thành điểm đến có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Ngay trong chính công tác quảng bá du lịch của khu vực vẫn tồn tại tư duy “có gì dùng nấy”.

Một bang của Úc chi tiền quảng bá gấp 40 lần Việt Nam

“Australia, Anh, hay các nước khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia… chi tiêu nhiều vào hoạt động quảng bá với hàng chục hoặc hàng trăm triệu USD. Chỉ riêng Ủy ban Du lịch khu vực Nam Australia cũng dành 80 triệu USD mỗi năm để quảng bá du lịch. Con số này ở Việt Nam là khoảng 2 triệu USD.

Bên cạnh ngân sách hạn hẹp thì cách thức quảng bá, nội dung quảng bá cũng là vấn đề. Việc tham gia các Hội chợ xúc tiến du lịch còn khá manh mún, rời rạc, chưa tập hợp được sức mạnh tập thể của các doanh nghiệp trong nước. Nội dung quảng bá còn nghèo nàn”.

Đó là những ý kiến được ông Đặng Minh Trường – Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Sun Group nêu lên tại Hội nghị Du lịch miền Trung, Tây Nguyên được tổ chức mới đây ở Huế.

Cũng tại Hội nghị, chúng tôi Trần Đình Thiên – nguyên Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam thẳng thắn cho rằng, thời gian qua du lịch miền Trung – Tây Nguyên mới chỉ khai thác theo cách “tận khai”, “ăn sẵn” tức là “có gì dùng nấy” mà thiếu sự đầu tư đồng bộ trong quy hoạch và chính sách. Các sản phẩm du lịch còn khá đơn điệu và trùng lặp, dịch vụ phục vụ du lịch thiếu hụt. Đặc biệt, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch còn yếu, chưa tới tầm đã khiến ngành công nghiệp không khói khu vực chưa thể “cất cánh” như kỳ vọng.

Theo xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới, Việt Nam chỉ đứng thứ 80 trong danh sách 136 quốc gia về hiệu quả quảng bá cho du lịch. Chỉ số này thấp hơn nhiều các quốc gia khác trong khu vực, đứng sau cả Lào (xếp hạng 53) và Campuchia (xếp hạng 73).

Ông John Lindquist, Cố vấn cấp cao Boston Consulting Group (BCG), thành viên Hội đồng cơ quan Du lịch Vương quốc Anh cho rằng, để đưa du lịch Việt Nam lên tầm cao mới, cần phải đầu tư nhiều hơn và có các chiến dịch rộng hơn mang tầm thương hiệu quốc gia.

Để thấy được sự ảnh hưởng của một chiến lược quảng bá bài bản và nhất quán, đại diện BCG cũng dẫn chứng hai trường hợp tiêu biểu là Dubai và Malaysia.

Dubai hiện trở thành một trong những điểm đến thành công nhất thế giới. Không chỉ xây dựng được một thương hiệu mang tầm quốc gia, Dubai còn định hướng rõ ràng được ba trụ cột cần hướng tới là mua sắm, sang trọng – nghỉ dưỡng và giải trí gia đình. Điều này đã tạo ra sức bật rất lớn, giúp Dubai trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nhất thế giới.

Hay Malaysia cũng đã xây dựng định hướng giá trị rõ ràng, gồm đa dạng về văn hóa, sang trọng – hợp túi tiền, niềm vui gia đình và phiêu lưu với thiên nhiên. Nhờ một chiến dịch bài bản, Malaysia cũng đã thành công khi hướng tới những phân khúc khác nhau với nguồn thu cao nhất có thể.

Xã hội hóa quảng bá du lịch, tại sao không?

Đi tìm lời giải cho bài toán làm sao để công tác quảng bá du lịch miền Trung- Tây Nguyên nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung được hiệu quả, ông Đặng Minh Trường đề xuất, ngành du lịch các địa phương cần có cơ chế xã hội hóa công tác quảng bá để đạt được những hiệu quả cao nhất.

Đồng quan điểm, chúng tôi Phạm Trung Lương, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch cũng cho rằng, để miền Trung – Tây Nguyên trở thành điểm sáng du lịch mang tầm khu vực, thế giới thì ngoài việc phát triển các sản phẩm du lịch, hạ tầng cơ sở, cần phải có cơ chế để thúc đẩy xúc tiến, quảng bá một cách hiệu quả.

Xã hội hóa quảng bá du lịch cũng không khác gì xã hội hóa trong đầu tư phát triển hạ tầng du lịch những năm gần đây. Sự tham gia của kinh tế tư nhân vào những lĩnh vực này đã khiến du lịch nhiều địa phương khởi sắc. Đà Nẵng là một ví dụ. Giai đoạn 10 năm 2007-2024, lượng du khách đến Đà Nẵng tăng gấp 5 lần, từ 1,2 triệu lượt lên gần 7 triệu lượt, doanh thu xấp xỉ 20 ngàn tỷ đồng. Số lượng khách sạn trong 10 năm qua cũng tăng 10 lần và du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đưa Đà Nẵng trở thành “thủ phủ du lịch miền Trung”.

Khi nhắc đến thành công của Đà Nẵng, người ta không thể không nhắc đến các công trình sản phẩm đẳng cấp và chất lượng của Tập đoàn Sun Group, đã mang về những kết quả kinh doanh ấn tượng, những danh hiệu quốc tế cao quý nhất, làm nên niềm tự hào của Đà Nẵng nói riêng và Việt Nam nói chung. Như Sun World Ba Na Hills với cây Cầu Vàng đưa Đà Nẵng vươn ra thế giới, Sun World Danang Wonders, Lễ hội pháo hoa DIFF, các khu nghỉ dưỡng sang trọng hàng đầu thế giới như InterContinental Danang Sun Peninsula Resort khiến cả thế giới ngưỡng mộ… dấu ấn của “sếu đầu đàn” Sun Group là minh chứng cho việc, kinh tế tư nhân, xã hội hóa trong đầu tư du lịch sẽ mang đến những hiệu quả bất ngờ.

Việt Nam phấn đấu đến năm 2030, du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là nhóm nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu khu vực. Để đạt được mục tiêu này, rõ ràng những nỗ lực trong việc xây dựng các sản phẩm du lịch chất lượng thôi chưa đủ mà cần phải có chính sách quảng bá, xúc tiến hiệu quả, mang tầm quốc tế. Từ câu chuyện thay đổi diện mạo của du lịch Đà Nẵng nhờ kinh tế tư nhân thì lời giải cho bài toán này có lẽ cũng đã hai năm rõ mười. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian và sự quyết tâm của chính quyền các địa phương và lãnh đạo ngành mà thôi.

Huyền Thanh

Mạng Xã Hội Là Gì? Hiểu Đầy Đủ Nhất Về Mạng Xã Hội

Mạng xã hội một cụm từ không còn quá xa lạ đối với chúng ta. Ngày nay hầu như không có ai không sử dụng cho mình một mạng xã hội, nó đã trở nên thông dụng. Tuy nhiên bạn đã biết mạng xã hội là gì chưa? Bạn đã hiểu rõ về mạng xã hội?

Mạng xã hội là gì?

Dịch vụ mạng xã hội, tiếng Anh: social networking service là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Những người tham gia vào dịch vụ mạng xã hội còn được gọi là cư dân mạng.

Mạng xã hội, hay còn có thể biết đến dưới những tên gọi khác như “cộng đồng ảo” hay “trang hồ sơ”, là một trang web mang mọi người đến với nhau để nói chuyện, chia sẻ ý tưởng và sở thích, hay làm quen với những người bạn mới.

Dịch vụ mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận. Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới. Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán…

Hiện nay thế giới có hàng trăm dịch vụ mạng xã hội khác nhau, với MySpace và Facebook nổi tiếng nhất trong thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu; Orkut và Hi5 tại Nam Mỹ; Friendster tại châu Á và các đảo quốc Thái Bình Dương. Dịch vụ mạng xã hội khác gặt hái được thành công đáng kể theo vùng miền như Bebo tại Anh Quốc, CyWorld tại Hàn Quốc, Mixi tại Nhật Bản và tại Việt Nam xuất hiện rất nhiều các dịch vụ mạng xã hội như: Zing Me, YuMe, Tamtay…

Trang WhatIs định nghĩa việc mở rộng kết nối xã hội là việc gia tăng số lượng người liên hệ trong công việc và/hoặc xã hội thông qua các kết nối giữa các cá nhân, thường là trên các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter, LinkedIn hay Google+.

Mạng xã hội là một loại hình dịch vụ kinh doanh. Tại sao lại nói như vậy, bởi nó sẽ công cụ kết nối mọi người khắp cả nước lại với nhau thông qua internet về các vấn đề sở thích, hay thông tin quan trọng … nó không phân biệt đối tượng sử dụng và có thể kết nối ở bất kì không gian thời gian nào. Khi ta sử dụng đồng nghĩa ta phải bỏ tiền ra thì ta mới có thể kết nối với mọi người, do đó đây là loại hình kinh doanh dịch vụ thu tiền gián tiếp từ người sử dụng.

Đặc điểm cơ bản của mạng xã hội đó chính là : bao gồm 2 đặc điểm cơ bản. Đặc điểm thứ nhất là có sự tham gia trực tuyến của các cá nhân hay các chủ thể… Đặc điểm thứ hai là mạng xã hội sẽ có các trang web mở, người chơi tự xây dựng nội dung trong đó và các thành viên trong nhóm đấy sẽ biết được các thông tin mà người dùng viết. Ngày nay có rất nhiều các mạng xã hội, một số các loại mạng xã hội tiêu biểu hay được sử dụng ở nước ta phải đến ở đây là: facebook, zalo, viber, tango, clip.vn,… Việc sử dụng mạng xã hội nũng có cái tốt nhưng cũng có nhiều cái bất cập. Cái tốt mà nó đem lại đó là người dùng biết thêm nhiều thông tin mới ,bổ ích và kết nối được nhiều bạn bè.Tuy nhiên cái xấu ở đây là mạng xã hội chính là một thế giới ảo, không có thật nhưng nhiều người sử dụng nó quá lâu sẽ gây ra hội chứng cho rằng mọi điều trên mạng xã hội là thật, nó tạo sự phụ thuộc của nhiều người vào nó.

Đặc điểm mạng xã hội là gì?

Mạng xã hội là gì bạn đã biết rồi chứ. Máy bán hàng tự động giá rẻ khuyên bạn Hãy đọc bài viết và hãy là người sử dụng mạng xã hội một cách thông minh đừng có phụ thuộc vào nó và hãy biết chừng mực về việc sử dụng mạng xã hội.

Dựa trên khái niệm phân tách 6 cấp độ (ý tưởng cho rằng 2 người trên thế giới không thể có quan hệ với nhau qua mỗi chuỗi nhiều hơn 5 người trung gian), mạng xã hội thiết lập một cộng đồng mạng (đôi khi gọi là biểu đồ xã hội) giúp con người liên kết với những người mà họ nên biết nhưng lại không có cơ hội.

Dựa trên các nền tảng mạng xã hội, các thành viên có thể liên kết với thành viên khác, ban đầu là những người mà họ có liên hệ, rồi tới bất kì ai có liên hệ với người trung gian đó.

Dù các mối liên kết xã hội đã tồn tại từ lâu, sự xuất hiện của mạng Internet đã khiến hiện tượng này bùng nổ. Bên cạnh các nền tảng mạng xã hội, việc tương tác giữa mọi người cũng được đưa vào nhiều ứng dụng doanh nghiệp.

Ngày nay, mạng xã hội, hay cộng đồng ảo, thường để chỉ một trang web/ứng dụng cho phép mọi người nói chuyện, chia sẻ ý tưởng, tương tác và kết bạn. Kiểu hợp tác và chia sẻ này được gọi là social media. Không như các phương thức xã hội kiểu cũ thường tạo bởi không quá 10 người, social media có thể chứa nội dung tạo ra bởi hàng trăm, hàng triệu người.

Lịch sử mạng xã hội:

Dịch vụ mạng xã hội xuất hiện lần đầu tiên năm 1995 với sự ra đời của trang Classmate với mục đích kết nối bạn học, tiếp theo là sự xuất hiện của SixDegrees vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích.

Năm 2002, Friendster trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với hàng triệu thành viên ghi danh. Tuy nhiên sự phát triển quá nhanh này cũng là con dao hai lưỡi: server của Friendster thường bị quá tải mỗi ngày, gây bất bình cho rất nhiều thành viên.

Năm 2004, MySpace ra đời với các tính năng như phim ảnh (embedded video) và nhanh chóng thu hút hàng chục ngàn thành viên mới mỗi ngày, các thành viên cũ của Friendster cũng lũ lượt chuyển qua MySpace và trong vòng một năm, MySpace trở thành mạng xã hội đầu tiên có nhiều lượt xem hơn cả Google và được tập đoàn News Corporation mua lại với giá 580 triệu USD.

Năm 2006, sự ra đời của Facebook đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống mạng xã hội trực tuyến với nền tảng lập trình “Facebook Platform” cho phép thành viên tạo ra những công cụ (apps) mới cho cá nhân mình cũng như các thành viên khác dùng. Facebook Platform nhanh chóng gặt hái được thành công vượt bậc, mang lại hàng trăm tính năng mới cho Facebook và đóng góp không nhỏ cho con số trung bình 19 phút mà các thành viên bỏ ra trên trang này mỗi ngày.

Thành phần cấu thành mạng xã hội?

Nút (node): Là một thực thể trong mạng. Thực thể này có thể là một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một tổ chức bất kỳ nào đó

Liên kết (tie): là mối quan hệ giữa các thực thể đó. Trong mạng có thể có nhiều kiểu liên kết. Ở dạng đơn giản nhất, mạng xã hội là một đơn đồ thị vô hướng các mối liên kết phù hợp giữa các nút. Ta có thể biểu diễn mạng liên kết này bằng một biểu đồ mà các nút được biểu diễn bởi các điểm còn các liên kết được biểu diễn bởi các đoạn thẳng.

Mục tiêu của mạng xã hội?

Tạo ra một hệ thống trên nền Internet cho phép người dùng giao lưu và chia sẻ thông tin một cách có hiệu quả, vượt ra ngoài những giới hạn về địa lý và thời gian.

Xây dựng lên một mẫu định danh trực tuyến nhằm phục vụ những yêu cầu công cộng chung và những giá trị của cộng đồng.

Nâng cao vai trò của mỗi công dân trong việc tạo lập quan hệ và tự tổ chức xoay quanh những mối quan tâm chung trong những cộng đồng thúc đẩy sự liên kết các tổ chức xã hội.

Mạng xã hội có thể giúp bạn tạo nên một cuộc sống khác?

Ngày nay mạng xã hội được nhiều người sử dụng bởi nó giúp họ cập nhật thông tin về bạn bè, người thân cũng như tìm kiếm bạn bè mới. Đây cũng là nơi bạn có thể tìm được nhiều thông tin, hình ảnh… thú vị từ những người có cùng mối quan tâm với mình.

Mỗi trang mạng xã hội có quy trình đăng ký tài khoản và sử dụng khác nhau nhưng hầu hết đều miễn phí và rất đơn giản. Nếu đang sử dụng Internet và mong muốn tìm kiếm những điều thú vị, hãy chọn cho mình những mạng xã hội theo yêu cầu của bạn.

Facebook – Mạng xã hội phổ biến nhất hiện nay trên Internet. Facebook là điểm đến tuyệt vời cho người dùng để họ tự tạo dựng nên những trang cá nhân của mình, kết nối với bạn bè, chia sẻ phim ảnh, bàn luận về những gì đang làm…

Instagram – Dịch vụ chia sẻ hình ảnh có mặt trên Android, iOS và Windows Phone.

LinkedIn – Một trong số những địa điểm tốt nhất để kết nối với những đồng nghiệp hiện tại – quá khứ và tương lai. Đây là dịch vụ mạng xã hội theo hướng kinh doanh. Chức năng cơ bản của LinkedIn là cho phép người dùng (bao gồm người sử dụng lao động và nhân viên) tạo trang cá nhân và kết nối đến những người khác (họ phải có quan hệ chuyên nghiệp trong đời thực). Người dùng có thể mời bất kỳ ai (là thành viên của LinkedIn hoặc không) để tạo kết nối, tuy nhiên nếu có quá nhiều lời mời được đánh dấu là “Tôi không biết” hoặc “Spam” thì tài khoản người mời sẽ bị hạn chế hoặc bị khóa.

MySpace – Một trong số những mạng xã hội và website được xem nhiều nhất trên Internet.

Tumblr – Nền tảng blog với các tính năng của mạng xã hội. Tumblr cho phép bạn chia sẻ bất kỳ thứ gì. Bạn có thể đăng tải bài viết, hình ảnh, trích dẫn, âm nhạc và video từ trình duyệt web trên máy tính, điện thoại, email hoặc bất kỳ nơi nào. Tumblr lai giữa mạng xã hội như Facebook hay Twitter và nền bảng blog. Tumblr có lượng người dùng “trẻ” hơn so với các mạng xã hội khác và yêu cầu bạn phải trên 13 tuổi để có thể đăng kí sử dụng.

​​

Xã Hội Hóa Giáo Dục Là Gì? Lợi Ích Của Người Dân Khi Nhà Nước Áp Dụng

Một chủ trương giáo dục nào đó được thực hiện trên một vùng lãnh thổ hoặc cả quốc gia được gọi là xã hội hóa giáo dục (XHHGD). Chủ trương giáo dục đặc biệt này không chỉ được thực hiện mạnh ở những quốc gia có nền kinh tế kém phát triển mà ngay cả ở những nước phát triển cũng đã và đang áp dụng rất thành công. Trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu khái niệm về xã hội hóa giáo dục là gì và những đặc điểm cơ bản của chủ trương này.

Xã hội hóa là gì?

Trước khi đi tìm hiểu về XHHGD thì ta cần hiểu về thuật ngữ “xã hội hóa” (XHH). Khái niệm xã hội hóa xuất hiện vào thời kỳ đầu của thế kỷ 20. Thuật ngữ này được các nhà khoa học sử dụng trong rất nhiều các lĩnh vực khác nhau.

Xã hội hóa là một quá trình mà cá nhân được hòa nhập vào trong xã hội hoặc vào trong một nhóm người thông qua việc học các quy tắc, giá trị đối với từng nhóm xã hội đó. XHH còn được hiểu là quá trình biện chứng, trong đó mỗi thành viên trong nhóm người đều có năng lực hành động và duy trì nó để tái xuất xã hội. Hiểu nôm na theo một cách ngắn gọn thì xã hội hóa là sử dụng các tư liệu sản xuất để trao đổi giá trị thành của công.

Ý nghĩa của xã hội hóa là tăng tính cộng đồng, giảm thiểu tối đa chủ nghĩa cá nhân trong các lĩnh vực trong xã hội.

Xã hội hóa giáo dục là gì?

Xã hội học tập (XHHT) có nghĩa là tất cả mọi người trong xã hội đều làm giáo dục, giáo dục lẫn nhau và tất cả mọi người đều được giáo dục. Xã hội học tập đảm bảo được quyền lợi học tập của con người, đưa giáo dục trở thành một phần của không thể thiếu của nhân quyền. XHHT hướng tới sự phát triển của nhân cách, tôn trọng quyền tự do của con người và những quyền cơ bản tối thiểu của con người. XHHT giúp cho giáo dục trở thành trách nhiệm của tất cả mọi người. UNESCO đã bày tỏ rõ quan điểm về giáo dục trong thế kỷ 21 đó là mọi người đều được giáo dục và mọi người đều làm giáo dục.

Phi tập trung hóa giáo dục gồm có:

Thực hiện phân chia rõ quyền hạn cũng như trách nhiệm từ cấp trung ương cho tới địa phương. Các quyền hạn được chỉ đích danh, rõ ràng từ các cấp cao nhất cho tới các cấp thấp hơn.

Huy động toàn cộng đồng từ các tổ chức phi chính phủ lẫn các tổ chức quần chúng đều cần tham gia vào việc phát triển giáo dục.

Rất nhiều nước phát triển đều tham gia mô hình này như: Đức, Mỹ, Anh,…

Từ đó chúng ta có thể thấy rằng quan điểm về xã hội hóa giáo dục không thực sự thống nhất cả về tư tưởng cũng như tên gọi của nó ở tất cả mọi nơi. Tuy nhiên, một số đặc điểm chung mà ta có thể rút ra trong khi thực hiện xã hội hóa giáo dục sau:

XHHGD phải hướng tới lợi ích chung của cộng đồng

XHHGD nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm của toàn xã hội với tư tưởng chung là phát triển giáo dục

Giáo dục là việc rất cần thiết của một đất nước, từ các cấp chính quyền, chính phủ đến các cá nhân mà chính phủ tin tưởng ủy nhiệm để phục vụ cho nhân dân, cộng đồng

Từ những khái niệm trên, có thể thấy rằng xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam hiện nay được áp dụng để chuyển giao các công việc, trách nhiệm giáo dục trước đây vốn chỉ thuộc về nhà nước sang các tổ chức và nguồn lực khác trên toàn xã hội cà ngoài nhà nước. Đưa giáo dục trở thành nhiệm vụ của cả quá trình cổ phần hóa, tư nhân hóa. Các cơ sở giáo dục của nhà nước cũng dần được chuyển giao cho các tổ chức dân lập, tư nhân. Tóm lại là nhà nước đang chuyển giao một phần lớn công việc từ xưa đến nay do nhà nước thực hiện cho các cá nhân và tổ chức dân lập. Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm lớn hơn trong việc quản lý thực hiện của các tổ chức này.

Xã hội hóa giáo dục hoàn toàn khác so với tư nhân hóa giáo dục. Vì tư nhân hóa giáo dục biến trách nhiệm giáo dục cho tư nhân đảm nhiệm, biến giáo dục thành hàng hóa tư nhân. XHHGD tức là nhà nước vẫn cần phải chăm lo, quản lý và đảm bảo chất lượng cung cấp các dịch vụ giáo dục cho người dân. Nhà nước không cần phải trực tiếp thực hiện cung cấp dịch vụ này mà chuyển giao cho các tổ chức khác thực hiện nhưng sẽ cần phải đảm bảo được tuân theo các yêu cầu và chuẩn mực nhà nước đặt ra. Nhà nước sẽ có trách nhiệm đảm bảo thanh tra, giám sát thực hiện, đảm bảo chất lượng của các dịch vụ giáo dục mà người dân đang được cung cấp.

Có thể nói XHHGD là một bước đột phá, bước tiến lớn trong ngành giáo dục, nó giải quyết được tình trạng thiếu hụt tài chính từ ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu giáo dục. Giảm bớt sự can thiệp của nhà nước đến việc giáo dục nhưng lại giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.

Xã Hội Hóa Trong Phát Triển Du Lịch: Từ Cộng Đồng Đến Toàn Xã Hội

– Công tác xã hội hóa trong phát triển du lịch dựa trên cơ sở huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, khai thác tối ưu lợi thế so sánh, đề cao vai trò, trách nhiệm của mọi thành phần, đặc biệt là vai trò của cộng đồng, những người đang góp phần tạo dựng nên môi trường du lịch an toàn, lành mạnh, thân thiện và ấn tượng đối với du khách.

Thu hút sự tham gia của cộng đồng

Nếu nhìn nhận xã hội hóa chỉ dưới góc độ huy động nguồn lực kinh tế, thiết nghĩ là chưa đủ. Nghị quyết 92 của Chính phủ về “Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới”, đã đặt ra yêu cầu đối với các địa phương trong việc tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, vận động nhân dân tự giác và tích cực tham gia giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; thực hiện nếp sống văn minh, lịch sự, tôn trọng pháp luật; xây dựng phong trào ứng xử văn minh, có thái độ cởi mở, chân thành đối với khách du lịch. Điều đó cho thấy tính cộng đồng trách nhiệm trong phát triển du lịch là rất lớn.

Bởi con số hàng triệu lượt khách và hàng nghìn tỷ đồng doanh thu du lịch mỗi năm, không chỉ là kết quả của những chính sách vĩ mô, những dự án đầu tư, hay các công trình hạ tầng kỹ thuật hiện đại, mà còn từ sự nỗ lực tưởng chừng nhỏ bé của từng cá nhân, ở mỗi khâu, đoạn.

Gia đình anh Hà Văn Minh (xã Lũng Cao, huyện Bá Thước) là một trong những hộ đầu tiên làm du lịch homestay tại Bá Thước. Anh cho biết, năm 2010, gia đình anh và một số hộ dân trong bản được dự án FFI (Tổ chức phi chính phủ Hà Lan) tập huấn kiến thức làm du lịch cộng đồng (nấu ăn, hướng dẫn viên địa phương…) và hỗ trợ xây dựng nhà vệ sinh, bể nước, chăn ga gối đệm. Thời gian đầu khách đến chưa nhiều, nên làm homestay chỉ là việc “làm thêm”, cũng là vừa làm vừa tích luỹ kinh nghiệm. Dần dà, các hộ đã kết nối được với một công ty lữ hành để có nguồn khách thường xuyên hơn. Hiện mỗi năm gia đình anh đón được khoảng 200 lượt khách, trong đó, đa phần là khách nước ngoài. Nhờ vào nguồn thu nhập tương đối ổn định, anh và những hộ làm du lịch cộng đồng ở đây đã đầu tư thêm nhiều đồ dùng gia đình, cải tạo, nâng cấp cơ sở lưu trú. Đặc biệt, tích cực đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng của địa phương như: làm đường giao thông nông thôn, nhà văn hóa… góp phần phục vụ khách du lịch tốt hơn.

Làm du lịch mang lại sinh kế cho nhiều hộ dân, đồng thời việc trao quyền cho người dân cũng là một giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực từ phát triển du lịch đến môi trường.

Nhiều đơn vị, doanh nghiệp tích cực tham gia các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch thông qua các hội chợ. Doanh nghiệp ngày càng tích cực tham gia xã hội hóa

Có thể nói, việc tham gia hoạt động xã hội hóa cũng chính là cơ hội để xây dựng uy tín, thương hiệu của mỗi doanh nghiệp khi tham gia. Bởi ngoài các cơ quan, đơn vị Nhà nước thì chính các doanh nghiệp du lịch là yếu tố để khai thác đa dạng các kênh tiếp cận khách hàng.

Công tác xã hội hóa du lịch là một trong những hoạt động thiết thực, mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Tuy nhiên, cũng cần khách quan nhìn nhận, các cơ chế thu hút nguồn lực đầu tư phát triển du lịch, hiện vẫn chưa thực sự tạo được cú hích lớn. Điều đó khiến cho việc huy động nguồn lực xã hội hóa đầu tư vào du lịch còn hạn chế. Chính vì vậy, các cấp, các ngành và chính quyền địa phương cần sớm đưa ra lộ trình, chiến lược cụ thể để đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong thời gian tới. Đồng thời có chính sách đặc thù, khuyến khích các doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động này.

Hiểu Thế Nào Về “Xã Hội Hóa”?

Hiểu thế nào về “xã hội hóa”?

Phan Thị Bình Thuận

(TBKTSG) – Nhân đọc bài Hãy gọi đúng tên “tư nhân hóa” trên TBKTSG số ra ngày 12-3-2024, tôi xin nêu một số vấn đề về việc xã hội hóa hiện nay.

Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, với chủ trương phát huy nội lực, kêu gọi sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, cá nhân, tổ chức vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, thì cụm từ “xã hội hóa” xuất hiện và được nhắc đến trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, như việc xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, y tế… Gần đây là xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp như công chứng, giám định tư pháp, thi hành án… Từ đó, các bệnh viện tư, trường học tư, văn phòng công chứng tư, thừa phát lại… đã ra đời và đi vào hoạt động.

Nên hiểu và thực hiện việc “xã hội hóa” như thế nào cho đúng và phù hợp? Chúng ta có đang lạm dụng cụm từ này hay không? Hiện còn có các quan điểm khác nhau về việc này.

Trước hết, theo Đại từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin thì thuật ngữ xã hội hóa được giải thích như sau: xã hội hóa- làm cho thành của chung.

Giáo sư Bùi Trọng Liễu viết trên VietNamNet từ năm 2007: “Ở các nước phương Tây, dù là người cộng sản hay không, cụm từ “xã hội hóa” (tiếng Pháp là socialisation), từ trước đến nay, vẫn thường được dùng theo nghĩa “tập thể hóa”, “đặt dưới chế độ cộng đồng”, “quản lý hay điều khiển của nhà nước nhân danh xã hội”…và ông cho rằng “cụm từ xã hội hóa ở Việt Nam càng ngày càng bị sử dụng một cách thản nhiên theo nghĩa ngược lại”.

Tương tự, khi bàn về khái niệm “xã hội hóa”, Tiến sĩ Nguyễn Quang A viết: “Xã hội hóa được Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên từ giữa những năm 1980) giải thích là làm cho trở thành của chung của xã hội, với thí dụ xã hội hóa tư liệu sản xuất, tức là quốc hữu hóa tư liệu sản xuất. Nghĩa của cụm từ này trong các tiếng nước ngoài cũng tương tự (đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ hay sở hữu tập thể; luyện cho hợp với môi trường xã hội; làm cho phù hợp với tư tưởng và triết lý xã hội chủ nghĩa; quốc hữu hóa…)”.

Còn theo những gì Tiến sĩ Nông Phú Bình viết trong cuốn Một số thuật ngữ hành chính do Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2000, thì “xã hội hóa là quá trình chuyển hóa, tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới của một số lĩnh vực hoạt động kinh tế – xã hội, trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước”.

Nếu đặt trong hoàn cảnh, thực tiễn mới hiện nay, thì khái niệm về xã hội hóa mà Tiến sĩ Nông Phú Bình đưa ra tỏ ra phù hợp. Tuy nhiên, vấn đề là cần có sự phân định rạch ròi, việc nào là của Nhà nước, việc nào của tổ chức, cá nhân khác và việc nào Nhà nước và tổ chức, cá nhân khác cùng làm để tránh tình trạng Nhà nước ôm đồm, độc quyền nhưng thực hiện không hiệu quả, những việc mà đáng ra thuộc về các tổ chức, cá nhân khác. Cần xác định việc nào thì Nhà nước không thể ôm đồm, độc quyền mà nên giao trả lại cho tổ chức, cá nhân khác.

Muốn vậy, cần phải đánh giá một cách tổng thể về vấn đề “xã hội hóa” hiện nay, về hiệu quả của việc “xã hội hóa” mà chúng ta đã thực hiện. Đồng thời, cần phải có quy định và cơ chế quản lý phù hợp, đừng để cho việc “xã hội hóa” bị lợi dụng.