Xu Hướng 1/2023 # Xây Dựng Kịch Bản Phát Triển Du Lịch Giai Đoạn 2022 # Top 1 View | Tuyensinhtdnceovn.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Xây Dựng Kịch Bản Phát Triển Du Lịch Giai Đoạn 2022 # Top 1 View

Bạn đang xem bài viết Xây Dựng Kịch Bản Phát Triển Du Lịch Giai Đoạn 2022 được cập nhật mới nhất trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngày 8-12, Sở Du lịch cho biết, UBND thành phố vừa ban hành “Kế hoạch phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021-2025”. Theo đó, định hướng phát triển du lịch Đà Nẵng giai đoạn 2021-2025 dự kiến có 2 kịch bản với các mục tiêu cụ thể.

Kịch bản thứ nhất đưa ra dự báo theo hướng nhận định lạc quan khi dịch bệnh được kiểm soát tại thành phố Đà Nẵng và Việt Nam vào cuối quý 4-2020. Đầu năm 2021 thành phố có các chương trình kích cầu nội địa, vắc-xin được thử nghiệm thành công và cung cấp từ quý 3-2021.

Theo đó, năm 2021, tổng lượng khách đạt khoảng 60-70% so với năm 2019; trong đó lượng khách nội địa phục hồi đạt khoảng 90% so với năm 2019, lượng khách quốc tế chỉ phần lớn là khách công vụ, các chuyên gia, lao động nước ngoài, ước khoảng 30% so với năm 2019. Năm 2022, sau khi mở cửa lại các đường bay quốc tế, tổng lượng khách hồi phục tương đương với năm 2019 khoảng 8,6-8,7 triệu lượt.

Phấn đấu đến năm 2025, tổng lượng khách tham quan, du lịch Đà Nẵng ước đạt 12,3 triệu lượt khách, tăng 1,4 lần so với năm 2019; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoan 2020-2025 của tổng khách du lịch ước đạt 5-6%/năm. Tổng thu du lịch đến năm 2025 ước đạt 61.000 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với năm 2019. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2020-2025 của tổng thu du lịch ước đạt 12-12,5%/năm; tỷ trọng đóng góp của du lịch vào GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn) phấn đấu đến năm 2025 đạt 27%. Năm 2025, thành phố phấn đấu ngày lưu trú bình quân của du khách ước đạt 2,75 ngày, tăng 0,07 ngày so với năm 2019, trong đó ngày khách quốc tế lưu trú ước đạt 3 ngày, khách nội địa 2,53 ngày.

Kịch bản thứ hai được đưa ra với dự báo theo hướng khi dịch bệnh được kiểm soát tại thành phố Đà Nẵng và Việt Nam vào thời gian quý 1-2021, vacxin được thử nghiệm thành công vào cuối quý 4-2021 để cung cấp cho người dân, song khách du lịch vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng việc đã kiểm soát dịch. Dự kiến lượng khách nội địa năm 2021 phục hồi khoảng 55-65% so với năm 2019, lượng khách quốc tế rất ít, phần lớn là khách công vụ, các chuyên gia, lao động nước ngoài, chiếm khoảng 5% so với năm 2019.

Trong quý 2-2022, thành phố sẽ mở cửa lại các đường bay quốc tế nhưng chỉ dành cho khách công vụ, chuyên gia, lao động nước ngoài. Tổng lượng khách đạt khoảng 65-70% so với năm 2019, trong đó lượng khách nội địa phục hồi năm 2022 tương đương so với 2019, lượng khách quốc tế chỉ phần lớn là khách công vụ, các chuyên gia, lao động nước ngoài, ước đạt khoảng 30% so với năm 2019.

Năm 2023, thành phố sẽ mở lại hầu hết các đường bay quốc tế dành cho khách, các sản phẩm du lịch mới được đưa vào hoạt động, tổng lượng khách hồi phục tương đương với năm 2019. Phấn đấu đến năm 2025, tổng lượng khách tham quan, du lịch Đà Nẵng ước đạt 11,6 triệu lượt khách, tăng 1,3 lần so với năm 2019; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2020 – 2025 của tổng thu du lịch ước đạt 9-10%/năm. Tỷ trọng đóng góp của du lịch vào GRDP phấn đấu đến năm 2025 tỷ trọng đóng góp đạt 23,8%; Tổng thu du lịch ước đạt 54 ngàn tỷ đồng, tăng 1,8 lần so với năm 2019. Năm 2025, thành phố phấn đấu ngày lưu trú bình quân của du khách ước đạt 2,75 ngày, tăng 0,07 ngày so với năm 2019, trong đó ngày khách quốc tế lưu trú ước đạt 3 ngày, khách nội địa 2,53 ngày.

Cùng với hai kịch bản trên, ngành du lịch Đà Nẵng sẽ tập trung phát triển du lịch bền vững theo 5 định hướng trọng tâm gồm: quy hoạch định hướng phát triển; định hướng thị trường tăng tỷ lệ vào khách có khả năng chi trả cao và đa dạng hóa thị trường khách quốc tế; định hướng sản phẩm du lịch theo các nhóm chủ lực; định hướng về môi trường du lịch; định hướng về chất lượng dịch vụ – nguồn nhân lực…

THU HÀ

Các Giai Đoạn Phát Triển Của Ngành:

Tải bản đầy đủ – 32trang

III. Các giai đoạn phát triển của ngành:

1. Từ 1960- 1992: Ngành kinh doanh khách sạn và dịch vụ lưu trú ở Việt Nam mới bắt đầuxuất hiện từ những năm 1960, khi Công ty Du lịch Việt Nam nay là Tổng cục6Du lịch Việt Nam được thành lập vào ngày 09071960. Nói chung, trong giai đoạn triển khai, từ năm 1960 đến năm 1992, ngành du lịch cũng như kinh doanhkhách sạn của Việt Nam không mấy phát triển do thiếu tính thống nhất về mơ hình tổ chức ở các địa phương. Trong vòng 32 năm từ năm 1960 đến năm 1992đã có 6 lần chuyển đổi tổ chức bộ máy ngành Du lịch. Vì vậy sự chỉ đạo trực tiếp của bộ máy quản lý nhà nước từ Trung ương xuống địa phương mất tínhliên tục, hạn chế hiệu quả khiến cho ngành Du lịch trong nước bị tụt hậu so với các nước có điều kiện tương đồng. Đến thời điểm năm 1988, nghĩa là 28 nămsau ngày Công ty du lịch Việt Nam được thành lập, Việt Nam chỉ đón lượng khách du lịch quốc tế bằng 110 Philippines, 15 Indonesia và xấp xỉ 140Malaysia, Thái Lan hoặc Singapare. Tổ chức bộ máy cũng chưa thực sự ngang tầm với vị trí, vai trò và tiềm năng vốn có của du lịch Việt Nam. Cán bộ phântán, khơng có tính thừa kế và cơ chế quản lý khơng bao quát. Sự kém phát triển của ngành du lịch nói chung làm cho ngành kinh doanhkhách sạn và dịch vụ lưu trú không mấy phát triển. Đa số các cơ sở lưu trú trên cả nước vào giai đoạn này đều có quy mơ nhỏ, khơng đạt chuẩn, phục vụ chủyếu cho nhu cầu nghỉ của cán bộ các ngành, một số chuyên gia và lượng khách du lịch ít ỏi. Các khách sạn 5 sao thời kỳ này còn rất thưa thớt, chỉ có một sốkhách sạn đã được xây dựng và tồn tại từ thời Pháp thuộc như Sofitel Metropole Hanoi khách sạn 5 sao đầu tiên tại Việt Nam hay khách sạn Caravelle ở Sàigòn. Hầu hết những khách sạn này đều được đầu tư xây dựng bởi các tập đoàn hoặc chủ đầu tư quốc tế, với bộ máy quản lý và nhân viên đa số là người nướcngoài. 1. Từ 1992 đến nayNgành kinh doanh khách sạn Việt Nam mới thực sự bắt đầu bước vào giai đoạn tăng trưởng từ đầu thập kỷ 90 khi Việt Nam mở cửa, mở rộng quan hệhợp tác quốc tế đa phương và bước vào nền kinh tế thị trường. Ngày 17101992, chính phủ đã có nghị định 05CP thành lập lại Tổng cục du lịch, quy định lại vềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức lại bộ máy của Tổng cục. Đồng thời các cơ chế chính sách phát triển du lịch được bổ sung cũng tạo điều kiện cho dulịch hoạt động thông thoáng. Tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn cũng được đưa ra, đặt ra tiêu chuẩn về chất lượng cho các cơ sở lưu trú. Chính trị ổn định, lại thêm7sự kiện Việt Nam gia nhập WTO cũng làm tăng sức hấp dẫn về đầu tư tại Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngồi.Từ chỗ chỉ đón tiếp khoảng 250 000 khách quốc tế vào năm 1990, đến năm 2011, số lượng du khách đến Việt Nam đã vượt ngưỡng 5 triệu. Nếu như 20năm trước, cả nước mới có khoảng vài trăm cơ sở lưu trú với khoảng hơn 10000 phòng thì hiện nay số cơ sở lưu trú trên cả nước đã lên tới hơn 10000 với hơn200000 buồng. Trong đó, có khoảng 2000 khách sạn được xếp hạng, cung ứng khoảng hơn 70000 buồng phục vụ nhu cầu lưu trú của khách.Bảng 1. Số lượng cơ sở lưu trú 1990-tháng 62009Năm 19901994 19961998 20002002 20042006 20072008 6 thángđầu năm 2009Số lượngCSLTDL 3501928 25402510 32674390 58476720 855010.400 10.800Số buồng100016 3650 6172,2 92,5125,4 160,5184,8 205213,2Nguồn: Tổng cục du lịch Việt NamBảng 2. Khách sạn xếp hạng tính đến tháng 62009Stt Hạng Số lượng Số buồng1 5 sao 338.564 2 4 sao90 10.9503 3 sao 17612.674 4 2 sao850 31.4505 1 sao 99020.790 6 Đạt tiêu chuẩn tối thiểu3.100 46.724Tổng cộng 5.239131.152Nguồn: Tổng cục du lịch Việt NamTrong 2 năm gần đây, sau khi bị ảnh hưởng bởi suy thối tồn cầu năm 2009, ngành kinh doanh khách sạn Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu phục hồi vàtiến lên đà phát triển. Cơng suất th phòng, giá phòng cũng như doanh thu lợi nhuận đều tăng trung bình 3,4năm. Dự báo trong thời gian tới, ngành nghềkinh doanh khách sạn sẽ còn tiếp tục phát triển, do tiềm năng du lịch của ta còn dồi dào, mức sống được cải thiện tạo ra nhiều nhu cầu hơn cùng với sự rađời của hàng loạt những khách sạn và khu nghỉ dưỡng mới với cơ sở vật chất tiện nghi hiện đại nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng gia tăng đó.8CHƯƠNG IIPHÂN TÍCH MƠI TRƯỜNG VĨ MƠ

I. Mơi trường chính trị

Khái Quát Phát Triển Du Lịch Việt Nam Giai Đoạn 2010

– Trong giai đoạn vừa qua, Du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng. Nhiều điểm đến trong nước được du khách quốc tế yêu thích và bình chọn. Sản phẩm du lịch ngày càng được nâng cao về chất lượng và tính cạnh tranh. Cơ sở vật chất của ngành Du lịch từng bước được đầu tư nâng cấp theo hướng hiện đại. Đóng góp của ngành Du lịch ngày càng cao trong nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của cả nước.

Bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách tạo đà cho du lịch phát triển

Thời gian qua ngành Du lịch đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội, từ Chính phủ, các bộ ngành, địa phương cho đến người dân trên cả nước. Qua đó hệ thống cơ sở pháp lý của ngành đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện. Luật Du lịch đã được Quốc hội thông qua tháng 6/2005 trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Du lịch, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Qua 10 năm triển khai thực hiện, để đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới, tạo hành lang pháp lý thuận lợi nhất cho sự phát triển của Ngành, Tổng cục Du lịch đang tập trung hoàn thiện Luật Du lịch (sửa đổi) trình Quốc hội xem xét. Tổng cục Du lịch cũng đang xây dựng và trình Chính phủ, Bộ Chính trị Đề án phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Gần đây, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các nghị quyết và chỉ thị nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tháo gỡ khó khăn cho ngành Du lịch như Nghị quyết 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/06/2015 về việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch…

Chính phủ đang từng bước tháo gỡ những hạn chế về chính sách visa, tạo thuận lợi để thu hút khách bằng việc ban hành Nghị quyết 39/NQ-CP ngày 01/06/2015 về việc miễn thị thực có thời hạn đối với công dân nước Cộng hòa Belarus; Nghị quyết 46/NQ-CP ngày 18/06/2015 về việc miễn thị thực có thời hạn đối với công dân các nước: Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia và tiếp tục được gia hạn 01 năm (đến 30/6/2017) bằng Nghị quyết 56/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/6/2016. Đồng thời triển khai áp dụng miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam bằng việc ban hành Nghị định số 82/2015/NĐ-CP ngày 24/9/2015.

Đóng góp của ngành Du lịch ngày càng cao trong nền kinh tế quốc dân

Kết quả đạt được trong giai đoạn 2010-2015, khách quốc tế đến duy trì đà tăng trưởng trung bình hàng năm cao hơn so với giai đoạn 2006 – 2010 (9,48% so với 8,95%). Năm 2015, ngành Du lịch đã đón trên 7,94 triệu lượt khách quốc tế, tăng 1,57 lần so với năm 2010 là 5,05 triệu; khách du lịch nội địa đạt 57 triệu lượt, tăng hơn 2 lần so với 28 triệu lượt của năm 2010; tổng thu từ khách du lịch đạt 338.000 tỷ đồng, tăng hơn 3,5 lần so với 96.000 tỷ đồng của năm 2010. Theo Báo cáo tác động kinh tế của ngành Du lịch của Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới (WTTC), năm 2015 đóng góp của du lịch Việt Nam xếp hạng 40 thế giới; về giá trị tương đối (tỷ lệ đóng góp trong GDP), du lịch Việt Nam xếp hạng 55 trên thế giới. Theo Tổng cục Thống kê, trong 5 năm 2011-2015, xuất khẩu dịch vụ du lịch chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của nước ta, trong khoảng 67-71% (năm 2015 tính sơ bộ khoảng 7,3 tỷ đô-la Mỹ).

Đẩy mạnh liên kết trong phát triển sản phẩm du lịch

Trong giai đoạn toàn ngành đã tập trung khai thác, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, dựa trên 4 dòng sản phẩm chủ đạo là du lịch biển đảo, du lịch văn hóa, du lịch gắn với thiên nhiên và du lịch thành phố. Việc liên kết đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng theo 7 vùng (Vùng Trung du và miền núi Bắc bộ, Vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, Vùng Bắc Trung bộ, Vùng duyên hải Nam Trung bộ, Vùng Tây Nguyên, Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Vùng Đông Nam bộ) được chú trọng trong thời gian qua, tạo ra sự độc đáo, khác biệt và thu hút được nhiều du khách trong nước và quốc tế. Từng bước hình thành rõ hơn các vùng động lực phát triển của du lịch Việt Nam, bao gồm: Hà Nội – Quảng Ninh – Hải Phòng – Ninh Bình; Quảng Bình -Thừa Thiên Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam; Khánh Hòa – Lâm Đồng; Bình Thuận – Bà Rịa-Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh – Kiên Giang (Phú Quốc). Việc liên kết hỗ phát triển sản phẩm du lịch giữa các địa phương được thực hiện trên nguyên tắc phát triển du lịch bền vững, triển khai đồng bộ và thiết thực hơn, góp phần tạo hiệu ứng lan tỏa giữa các vùng và các địa phương. Phát triển du lịch cộng đồng được ưu tiên phát triển trên cơ sở khai thác những giá trị, bản sắc văn hóa của mỗi địa phương được triển khai rộng khắp trên toàn quốc, tạo việc làm ổn định cho bà con các dân tộc, góp phần xóa đói, giảm nghèo.

Cơ sở vật chất kỹ thuật từng bước được đầu tư nâng cấp theo hướng hiện đại

Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống cơ sở hạ tầng hàng không, đường bộ và các cảng biển cùng với sự phát triển của hệ thống cơ sở vật chất ngành Du lịch đã góp phần kết nối điểm đến du lịch Việt Nam và quốc tế. Tốc độ tăng trưởng trung bình về lưu lượng hành khách qua các cảng hàng không tăng 16%/năm trong giai đoạn 2005-2015; đạt 63 triệu lượt năm 2015, tăng 24,3% so với năm 2014. Việt Nam hiện có 52 hãng hàng không quốc tế đến từ 25 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 54 đường bay quốc tế kết nối với Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang… Bên cạnh đó, phải kể đến sự tham gia vào thị trường hàng không của các hãng hàng không giá rẻ như AirAsia Berhad, Jetstar Asia, Tiger Airways, Thai AirAsia, Cebu Pacific, Lion Air, Indonesia AirAsia… đã đem lại cơ hội đi du lịch thuận lợi cho du khách. Với 48 đường bay nội địa hiện nay đã kết nối chặt chẽ các điểm đến du lịch trong nước tương đối dễ dàng. Hệ thống đường bộ cao tốc được xây dựng và nâng cấp trong cả nước, nâng cao khả năng kết nối và liên kết phát triển du lịch giữa các vùng và các địa phương, đem lại sự thuận tiện cho du khách.

Du lịch phát triển còn thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư của xã hội cho hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành. Đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng nhiều các tập đoàn đầu tư chiến lược trong nước như VinGroup, SunGroup, Mường Thanh, FLC, BIM, Tuần Châu… xây dựng các khu vui chơi giải trí, khách sạn có quy mô và chất lượng mang tầm quốc tế tại các địa bàn du lịch trọng điểm như Hạ Long, Đà Nẵng, Phú Quốc, Nha Trang và hơn 30 tỉnh/thành trong cả nước tạo ra động lực và đòn bẩy cho sự phát triển du lịch của điểm đến. Sự đầu tư đó đã từng bước hình thành hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện đại, đồng bộ tại nhiều địa phương trong cả nước, nâng cao năng lực cạnh tranh, từng bước khẳng định thương hiệu du lịch Việt Nam theo hướng chất lượng.

Cùng với đó là sự gia tăng không ngừng cả về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú. Năm 2010, cả nước có 12.352 cơ sở lưu trú với hơn 237.000 buồng thì đến hết năm 2015, cả nước có 18.800 cơ sở lưu trú với hơn 355.000 buồng, tăng khoảng 1,5 lần, tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2010-2015 là 8,76%/năm về số cơ sở và 8,42%/năm về số buồng. Đáng lưu ý, trong giai đoạn 2010-2015, số lượng các khách sạn từ 3-5 sao tăng cao hơn mức tăng trung bình chung (tăng 16% đối với khách sạn 5 sao, 14% đối với khách sạn 4 sao và 13% đối với khách sạn 3 sao). Về doanh nghiệp lữ hành quốc tế, năm 2010 cả nước có 888 doanh nghiệp thì đến hết năm 2015 có 1.573 doanh nghiệp, tăng 1,77 lần, tốc độ tăng trung bình khoảng 12,1%/năm.

Hình ảnh Việt Nam ngày càng được nâng cao thông qua các hoạt động xúc tiến du lịch

Trong thời gian qua, hình ảnh du lịch quốc gia ngày càng được nâng cao, bạn bè trên thế giới càng hiểu biết hơn về đất nước và con người Việt Nam là điểm đến hấp dẫn, an toàn và thân thiện; góp phần củng cố tình hữu nghị, giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế giữa Việt Nam với các nước. Nhiều tổ chức, website và báo chí quốc tế đã bình chọn Việt Nam là điểm đến lý tưởng hấp dẫn đối với du khách…

Nhận thức về vai trò phát triển du lịch của các cấp, các ngành và toàn xã hội chuyển biến theo hướng tích cực. Qui mô và phạm vi hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và quốc tế được đầu tư mở rộng. Chất lượng hoạt động xúc tiến du lịch được cải thiện, công tác xúc tiến từng bước chuyên nghiệp hơn. Nhằm tạo đột phá cho phát triển du lịch gần đây Chính phủ đã đồng ý với chủ trương cho phép thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch trên cơ sở xã hội hóa với một phần vốn nhà nước, trong đó có mục tiêu đẩy mạnh hoạt động xúc tiến cho du lịch Việt Nam.

Xây Dựng Và Phát Triển Du Lịch Bà Rịa

Đề án “Thực trạng và định hướng phát triển du lịch trên lãnh thổ dải ven biển Việt Nam đến năm 2020” đã coi Bà Rịa – Vũng Tàu và Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh) là khu du lịch chuyên đề quốc gia. “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Nam Trung Bộ – Nam Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” đã xác định Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ, có sức hút kinh tế và du lịch lớn nhất trong toàn vùng và cả nước.

Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều xác định Bà Rịa – Vũng Tàu là một địa bàn trọng điểm phát triển du lịch của cả nước. Một số nghiên cứu xác định một số điểm du lịch của tỉnh có tầm quốc tế (như khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu; Nhà tù Côn Đảo; Nghĩa trang Hàng Dương…). Tuy nhiên, các mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh đưa ra cho các năm 2020 và 2030 cũng chỉ đạt ngang với một số địa phương khác và cao hơn trung bình cả nước không nhiều. Do vậy, nếu thực hiện được cũng chưa thể đưa Du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đạt tới một tầm cao mới, chưa thể trở thành một địa chỉ du lịch có tầm khu vực và quốc tế tương xứng với tiềm năng và vị thế của du lịch Tỉnh.

Kinh nghiệm phát triển khu du lịch quốc tế ở Bali và Phuket

Qua khảo sát về thực trạng phát triển du lịch ở Bali và Phuket, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, khi đã xác định du lịch là mũi nhọn thì phải đặt vị thế của nó đúng tầm, mục tiêu phải đột phá, mạnh dạn có sự đột phá trong ưu tiên về đầu tư, ưu đãi về chính sách cho việc thực hiện mục tiêu đó. Chính phủ Thái Lan và Indonesia đều có những chính sách phát triển du lịch đúng đắn, chọn những địa điểm có tiềm năng du lịch độc đáo và phong phú để phát triển du lịch. Sau đó, tập trung đầu tư mạnh và liên tục vào các điểm du lịch đó với những tính toán táo bạo về doanh thu du lịch mà các khu, điểm du lịch đó sẽ mang lại.

Thứ hai, quy mô khu du lịch phải đủ lớn để có không gian cho phát triển và đảm bảo các liên kết mang lại hiệu quả cao. Quy mô khu du lịch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiếp nhận lượng khách du lịch đến mỗi năm đồng thời cũng là lời giải cho bài toán liên kết du lịch có hiệu quả hay không. Vì khi tăng cường liên kết và đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến du lịch, lượng khách đổ về nhiều nhưng khu du lịch không có sức chứa cũng mang lại những kết quả tiêu cực.

Thứ ba, ở các khu du lịch không chỉ có hoạt động du lịch mà còn phát triển nhiều ngành kinh tế khác để khai thác tổng hợp hết các tiềm năng của khu, của địa phương, đồng thời đóng vai trò hỗ trợ, phục vụ tốt hơn cho hoạt động du lịch của toàn khu. Cũng có nhiều ngành kinh tế được hưởng lợi từ hoạt động du lịch, đóng góp tích cực vào GDP địa phương. Trong các khu này, du lịch đóng vai trò chủ đạo, thường chiếm khoảng 30 – 50% tổng giá trị gia tăng được tạo ra (ở Bali là 30%, còn ở Phuket là 37%).

Thứ tư, ở những khu du lịch mang tầm quốc tế như Bali và Phuket, cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch cũng như các dịch vụ khác đều rất cao cấp, đạt chuẩn quốc tế. Phuket có sân bay quốc tế và hàng loạt khách sạn 5 sao, khu nghỉ dưỡng sang trọng, sân goft đạt tiêu chuẩn quốc tế. Các dịch vụ ở Bali cũng được khách quốc tế đánh giá rất cao. Ngoài hệ thống nhà hàng, khách sạn sang trọng, hòn đảo này còn gây ấn tượng bởi số lượng các quán bar trên bờ biển thuộc hàng đẹp nhất hành tinh.

Điều kiện để Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành địa danh du lịch mang tầm quốc tế

Bà Rịa – Vũng Tàu có tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú, nhiều tài nguyên mang tầm quốc gia, quốc tế. Bên cạnh đó, bối cảnh trong nước và quốc tế đang rất thuận lợi, nếu có cơ chế, chính sách đột phá thì việc thu hút các nguồn lực toàn cầu vào khai thác các tài nguyên trên nhằm tạo ra sự phát triển vượt trội cho du lịch tỉnh là hoàn toàn hiện thực. Bà Rịa – Vũng Tàu được sự đồng thuận rất cao của xã hội xác định là một trọng điểm phát triển du lịch của cả nước.

Vị trí địa lý nằm trong vùng trọng điểm gần các địa phương có các thế mạnh du lịch riêng nên có thể liên kết để tạo ra một tập hợp các sản phẩm đủ sức thu hút khách quốc tế. Các tuyến du lịch liên tỉnh có thể phát huy là Vũng Tàu – Biên Hòa – TP. Hồ Chí Minh – Đà Lạt và Vũng Tàu với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Bà Rịa – Vũng Tàu đã có sẵn một cơ sở vật chất, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch khá tốt làm tiền đề ban đầu cho phát triển. Đặc biệt, đã mở chuyến bay TP. Hồ chí Minh – Côn Đảo thu hút khá đông du khách. Bên cạnh đó, thương hiệu Du lịch Vũng Tàu cũng đã khá nổi tiếng là cơ sở quan trọng để có thể xâm nhập vào thị trường du lịch thế giới.

Lãnh đạo Đảng, chính quyền Tỉnh đồng thuận trong việc thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế – xã hội, trong đó có du lịch. Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để đưa ngành Du lịch Tỉnh phát triển đột phá lên một đỉnh cao mới.

Tuy nhiên, để Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành địa danh du lịch mang tầm quốc tế cần tạo ra những đột phá mạnh cho du lịch, cần thiết phải có những đề xuất mới về cơ chế, chính sách. Việc này sẽ gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi mất nhiều thời gian, công sức để thuyết phục, tháo gỡ.

Đồng thời, vốn đầu tư cho phát triển và hoạt động du lịch để thực hiện mục tiêu tiêu sẽ tương đối lớn, thậm chí lớn hơn nhiều so với tổng vốn đầu tư cho phát triển du lịch đã được quy hoạch trước đây. Do vậy, Tỉnh sẽ phải đối mặt với bài toán huy động các nguồn vốn đầu tư và sử dụng một cách hiệu quả, tập trung. Mặt khác, đầu tư của Nhà nước vào khu du lịch dự kiến cũng không nhỏ và phải liên tục.

Cuối cùng, vấn đề xây dựng hình ảnh nổi trội và thương hiệu du lịch độc đáo, mang nét đặc trưng riêng của Bà Rịa – Vũng Tàu trên thị trường khu vực và quốc tế cũng là một thách thức mà Tỉnh phải đối mặt. Việc này cũng đồng nghĩa với việc cạnh tranh với các thương hiệu nổi tiếng khác trong khu vực trong đó có Bali và Phuket.

Một số đề xuất

Để Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành địa danh du lịch mang tầm quốc tế cần lập một khu du lịch tổng hợp với tổng diện tích là 908,8km2, bao gồm toàn bộ huyện Long Đất (266,6km2) và Xuyên Mộc (642,2km2). Khu này có diện tích tương đương Phuket (Phuket có diện tích là 930km2, trong đó 70% diện tích là rừng và đồi thấp, chỉ có phía Nam và trung tâm là địa hình đồng bằng), quy mô diện tích và không gian đủ lớn cho phát triển khu du lịch mang tầm quốc tế.

Với tinh thần như vậy, khu vực lựa chọn có thể được phát triển thành nhiều khu với các công trình kiến trúc lớn, ấn tượng, các dịch vụ hoàn hảo, chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Dự kiến một số hạng mục cơ bản của mỗi khu gồm có: khu khách sạn 5 sao, biệt thự, các khu nghỉ dưỡng sang trọng; sân golf tiêu chuẩn quốc tế; các tổ hợp vui chơi giải trí cao cấp, hiện đại với nhiều dịch vụ độc đáo và trí tuệ; trung tâm phục hồi sức khỏe, khám chữa bệnh; trung tâm thể thao giải trí; các phương tiện tham quan đặc sắc (cáp treo, xe điện, xe thô sơ…); sân bay (có thể là sân bay taxi); cảng du lịch; hệ thống, nhà hàng, quán bar cao cấp ven biển…

Với mục đích tạo lập sự đột phá về du lịch tạo nên sự chuyển dịch căn bản cơ cấu kinh tế của Tỉnh, việc xây dựng và phát triển khu du lịch tổng hợp mang tầm quốc tế Bà Rịa – Vũng Tàu phải được tiến hành dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Những công trình xây dựng kiến trúc, văn hóa phục vụ, ẩm thực… trong khu phải mang đậm bản sắc văn hóa của Bà Rịa – Vũng Tàu nhằm tạo sự khác biệt và so với các khu du lịch tầm cỡ quốc tế khác, đặc biệt là các khu du lịch trong cùng khu vực châu Á.

Bà Rịa – Vũng Tàu phát triển sau cũng là một lợi thế, có thể tham khảo những công trình trước với các kinh nghiệm thành bại của họ, do vậy phải xây dựng một công trình lớn hơn, hoành tráng và đẳng cấp hơn các khu du lịch quốc tế trước đó để tạo ấn tượng trên thị trường trong nước và quốc tế, thu hút khách du lịch.

Chính quyền địa phương cần có những đột phá trong chính sách đầu tư, đặc biệt: đầu tư mạnh, trường kỳ vào những lĩnh vực chủ chốt (như xúc tiến, quảng bá du lịch, hỗ trợ nâng cấp hạ tầng, tôn tạo cảnh quan môi trường …); tạo sự thông thoáng về cơ chế, chính sách để thu hút các nhà đầu tư lớn về du lịch; tạo một sân chơi bình đẳng, công bằng, cạnh tranh lành mạnh cho người chơi; đồng thời cần xây dựng một chiến lược riêng về văn hóa phục vụ tại khu du lịch để đạt được các mục tiêu đề ra.

Phát triển du lịch phải đi liền với phát triển các ngành kinh tế khác nhằm khai thác tổng hợp các tiềm năng sẵn có của Tỉnh từ các ngành nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp phục vụ cho các hoạt động du lịch và nhu cầu mua sắm của khách.

Như vậy, những ý tưởng hết sức khái quát nhưng đầy đột phá ở trên sẽ là một lựa chọn, một hướng đi mới cho Du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu theo đúng tinh thần chiến dịch tái cơ cấu kinh tế Tỉnh. Tuy nhiên, để thực hiện ý tưởng táo bạo đó, cần nhiều nỗ lực hơn nữa từ trong và ngoài tỉnh trong đó quyết tâm của chính quyền Tỉnh đóng vai trò chủ đạo.

Mai Hương

(Nguồn: Tạp chí Du lịch)

Cập nhật thông tin chi tiết về Xây Dựng Kịch Bản Phát Triển Du Lịch Giai Đoạn 2022 trên website Tuyensinhtdnceovn.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!